Chúa Nhật 5 Mùa Chay vẫn thường được gọi là Chúa Nhật thương khó, một cách tiếp cận trước những gì Chúa Giêsu trải nghiệm trong cái chết của Người. Cái chết ấy mang ý nghĩa trước hết và sâu xa hơn hết, đó là “đã đến giờ Con Người được tôn vinh”. Đây chính là bản sắc phải được thấy trong cử hành Thứ Sáu Thánh của Giáo hội: cử hành chiến thắng và vinh quang của Thập giá Đức Ki tô.
Chiến thắng và vinh quang này được sinh nở từ cái chết, theo qui luật ‘chết-sống’ của hạt lúa gieo vào lòng đất. Hạt lúa cần phải thối đi, mục nát đi!… Đối diện với sự ‘chết đi’ ấy, Chúa Giêsu xao xuyến như bất cứ người nào. Nhất là khi đó là cái chết bi tráng vô song! “Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ này. Nhưng chính vì thế mà Con đã đến trong giờ này. Lạy Cha, xin hãy làm vinh danh Cha” (x. Ga 12,20-33).
Nỗi xao xuyến ở đây chính là cơn hấp hối của Chúa Giêsu, được tác giả Thư Do thái gợi lại, như sau: “Khi còn sống ở đời này, Chúa Kitô đã lớn tiếng và rơi lệ dâng lời cầu xin khẩn nguyện lên Ðấng có thể cứu Người khỏi chết”. Chính văn mạch này xác nhận Chúa Giêsu “đã được nhậm lời”. Không phải ‘nhậm lời’ theo nghĩa ‘khỏi chết’, mà theo nghĩa ‘chết đi sống lại’ trong sự sống mới. Sự sống Phục sinh – chứ không phải cái chết – mới là tiếng nói cuối cùng. Biện chứng hạt lúa mục nát và nảy mầm được Thư Do thái diễn đạt: “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu, và khi hoàn tất, Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những kẻ tùng phục Người.” (x. Dt 5,7-9).
Tất cả kinh nghiệm chết-sống ấy của Chúa Giêsu, như hạt lúa chết đi sống lại, kêu gọi chúng ta điều gì? Thật quá rõ, Chúa mời gọi ta đi vào trải nghiệm tiến trình chết-sống của hạt lúa – như Người! Chính Người đã chẳng từng nói ai muốn theo Người phải vác thập giá đấy sao? Người đã chẳng khẳng định ai tìm sống sẽ chết và ai liều chết sẽ sống đấy sao?…
Sự sống mới, xét như hoa trái của việc kết hợp với Thập giá Chúa Ki tô, được lời Chúa hôm nay mô tả bằng hình ảnh “trái tim mới”, gắn liền với giao ước mới: “Ta sẽ đặt lề luật của Ta trong đáy lòng chúng, và sẽ ghi trong tâm hồn chúng; Ta sẽ là Chúa của chúng, và chúng sẽ là dân của Ta” (x. Gr 31,31-34). Thánh vịnh 50 thì diễn tả khát vọng về một “trái tim trong sạch”, trái tim của những người “nhìn thấy Thiên Chúa”, theo chú giải của chính Chúa Giêsu.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con cùng chết với Chúa… để cũng được sống lại với Chúa, trong một trái tim mới, một trái tim trong sạch. Amen.
Lm. Lê Công Đức
Nếu mùa đông, cây cối không rụng lá thì sẽ chẳng có mùa xuân đâm chồi nảy lộc. Cành mai sẽ không nở hoa nếu không được bứt lá. Như thế, lời của Đức Giêsu: “Nếu hạt lúa mì gieo vào lòng đất không chết đi, không thối đi thì nó vẫn trơ trọi một mình, còn nếu nó chết đi thì nó sẽ sinh nhiều bông hạt khác” muốn nói với chúng ta điều gì?
Bước vào Chúa Nhật Thứ Năm, hành trình Mùa Chay dần kết thúc. Sắp đến ngày dân Chúa từ khắp nơi trở về Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua, Đức Giêsu cũng lên. Người lên vì giờ của Người đã đến, “giờ Con Người được tôn vinh”. Trong Chúa Nhật tuần thứ tư, Chúa Giêsu đã nói: “Như Môsê đã treo con rắn lên ở sa mạc thế nào, thì Con Người cũng sẽ phải treo lên như vậy, để tất cả những ai tin ở Người, sẽ được sống đời đời”.Chúa Nhật hôm nay, Người loan báo trước cái chết và sự Phục sinh của Ngài qua hình ảnh hạt lúa gieo vào lòng đất sẽ chết đi. Đối với những người không có niềm tin, chết là hết, không còn gì để hy vọng. Tuy nhiên, đối với Chúa, cái chết của Người không phải là dấu chấm hết nhưng là lúc Người đi vào vinh quang, thời sự sống chiến thắng tử thần và chương trình cứu độ của Chúa Cha nên trọn vẹn.
Hạt lúa được đem gieo, chôn vùi trong lòng đất, khi gặp điều kiện thuận lợi theo thời gian nó sẽ bị hủy ra, bị bóc tách. Dần dần từ nơi nó, một mầm non sẽ xuất hiện và chồi lên khỏi mặt đất, một sự sống mới chào đời. Chúa Giêsu tự ví Ngài như là hạt lúa mì chịu chôn vùi, chịu thối đi bởi tội lỗi nhân loại, chịu nghiền nát bởi những lằn roi điên dại nhưng hạt lúa đó đang chờ đợi ngày nảy mầm, trỗi dậy và phục sinh.
Chúng ta thử đặt mình vào thân phận hạt lúa mì. Chúng ta muốn chết đi như hạt lúa mì để sinh nhiều hạt khác hay là muốn mình được an toàn, nguyên vẹn, trơ trọi. Đó là một chọn lựa. “Chết đi, thối đi” có lẽ thật kinh khủng, đó là lúc chúng ta sẽ không còn hình dạng chính mình. Tuy nhiên, đó mới chỉ là thân xác, điều Chúa muốn nói đến là con người bên trong mỗi người. “Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, và ai ghét sự sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời.” Để trở nên một người mới, trưởng thành, chúng ta phải chấp nhận từ bỏ chính mình, chết đi cho những tính hư nết xấu của mình, chịu bầm dập, tôi luyện bản thân qua những khó khăn, thử thách, gian nan, chịu cắt tỉa, gọi giũa đớn đau. Muốn xây dựng một tập thể, cộng đoàn hiệp nhất và thăng tiến, ta cần phải bỏ đi “cái tôi” cố hữu, chủ nghĩa cá nhân, ý kiến bảo thủ, độc đoán, bỏ đi sự cứng nhắc, hà khắc với anh chị em. Đó là sự chết đi mỗi ngày, một cuộc tử đạo liên lỉ, không quy ngã về mình, nhưng quy về Chúa, nhường chỗ cho lợi ích chung của cộng đoàn, của anh chị em.
Hạt lúa gieo vào lòng đất, để có thể nảy mầm, sinh được nhiều hạt khác, hạt lúa tốt cần được gieo vào đất tốt. Nếu không phù hợp, hạt lúa sẽ trơ trọi, chết khô, và đi vào quên lãng, không ai biết đến. Cũng vậy, nếu chúng ta chỉ biết sống cho mình, chúng ta sẽ cô độc và chết khô. Lúc đó, cuộc đời chúng ta sẽ là dấu chấm hết. Như hạt lúa, chúng ta cần ra khỏi vùng an toàn của mình để sống giữa cộng đoàn, liên đới với mọi người, đến với những vùng ngoại vi, nhất là những nơi khó khăn, thiếu thốn, khắc nghiệt, đến với anh chị em nghèo để thấu cảm, quảng đại sẻ chia, dấn thân phục vụ, mang lại niềm vui, niềm an ủi và nâng đỡ họ.
Chúng ta chỉ thực sự tìm thấy mình khi biết trao ban. Như hạt lúa mì đã chết đi như thế nào, ta cũng hãy chết đi cho tha nhân để có sự sống tròn đầy. Xin Chúa ban thêm sức mạnh để chúng ta can đảm từ bỏ chính mình, đón lấy trách nhiệm của cuộc sống, biết kết hợp với Chúa qua những hy sinh trong đời thường để mỗi ngày đời sống chúng ta trổ sinh thêm nhiều hạt khác, hạt của niềm vui, bình an, hạt của niềm hạnh phúc và hy vọng cho những người chúng ta gặp gỡ.
Maria Hương Quỳnh
Một dấu mâu thuẫn! Một nguyên cớ gây chia rẽ! Chúa Giêsu từng giới thiệu về chính Người như thế. Và điều này được thấy khá rõ trong những ngày này qua các đoạn Tin Mừng thánh Gioan. Người ta nhận diện Chúa Giêsu cách khác nhau. Kẻ thì nói Người là một ngôn sứ, kẻ khác thì bảo là Đấng Ki tô, những kẻ khác nói rằng không phải thế… Một số muốn bắt Người nhưng không dám ra tay. Những kẻ được thượng tế và giới biệt phái sai đi bắt Chúa Giêsu thì đến rồi về không, vì họ nghe Chúa giảng hay quá, nên quyết định bất tuân thượng lệnh… Ông Nicodemo đưa ý kiến rằng cần phải thận trọng, bình tĩnh, chứ đừng nóng vội. Thế là lại xảy ra cãi vã. Cuối cùng, thánh Gioan viết: “Ai về nhà nấy”!
Ai về nhà nấy. Điều này còn có nghĩa là ‘ai về với quan điểm nấy’, mỗi người có cách nhìn nhận của mình, và vẫn giữ cách nhìn nhận ấy. Thật là một không khí ngột ngạt, căng thẳng! Sự phân hoá đang tràn lan nơi người Do thái xung quanh việc nhận diện nguồn gốc và căn tính của Chúa Giêsu…
Cách nào đó, có thể nói rằng sứ mạng của Giêsu đang ‘chạy’ hay ‘vận hành’ tốt. Đúng, chỉ một đường; sai, cả vạn nẻo – vì thế, Chúa Giêsu là dấu mâu thuẫn. Sứ mạng của Người là nói sự thật, biểu hiện sự thật, làm chứng cho sự thật, thì việc Người bị tẩy chay hay việc Người gây chia rẽ chỉ là hệ quả bình thường giữa một đám đông chìm đắm trong vô minh và sai lầm mà thôi. Người ta chỉ vượt qua tình trạng phân hoá và đạt được sự hiệp thông/hiệp nhất chân thực khi ở trong Sự Thật là Chúa Giêsu. “Ai thuộc về sự thật thì nghe tiếng tôi!” (Ga 18,37).
Vậy thì… nếu bạn thuộc về Chúa Giêsu Ki tô, nếu bạn nói sự thật, nếu bạn làm chứng cho sự thật… thì bạn hãy sẵn sàng đón nhận những chống đối và thậm chí những sự thoá mạ, sỉ nhục, ngay cả loại trừ! Nhưng như vậy là sứ mạng của bạn đang vận hành đúng hướng, và sẽ đi đến kết quả cuối cùng.
Nếu thế gian này ‘đồng thuận cao’ với bạn, ưu ái bạn, và bạn không gặp bất cứ phiền phức nào… thì điều đó mới bất thường, và bạn cần xem lại mình có còn thuộc về Chúa Giêsu Ki tô hay không.
Lm. Lê Công Đức
Trên nền bản văn sách Khôn ngoan nói về sự điên cuồng của những kẻ gian ác muốn ‘ăn tươi nuốt sống’ người công chính, chúng ta nghe thánh Gioan mô tả khá rõ nét bầu khí căng thẳng ngột ngạt vây quanh Chúa Giêsu vào khoảng thời gian gần cuối sứ vụ của Người.
Biết người Do thái đang tìm giết mình, Chúa Giêsu tránh đi lại công khai ở miền Giuđêa. Dịp gần Lễ Lều, Người đang có mặt ở Galile, mặc dù các anh em khác đã đi lên Giêrusalem mừng lễ. Nhưng rồi cuối cùng, Người cũng đi, và chọn đi cách kín đáo. Và khi đã có mặt ở khu vực Giêrusalem, Người lại quyết định xuất hiện công khai tại Đền thờ để giảng dạy, chứ không kín đáo nữa…
Ta có thể hình dung tâm trạng và cảm xúc của Chúa Giêsu trong bầu khí ấy và qua những động thái ấy của Người. Có thể thấy Người ý thức rõ tình hình nguy hiểm… suy nghĩ rất lung trước những chọn lựa đi hay không đi, kín đáo hay công khai… Nhưng không phải vì nhút nhát sợ hãi, mà đúng hơn vì đó là sự dè dặt tự nhiên của một người lâm nguy… Ta thấy cuối cùng Chúa Giêsu đứng đĩnh đạc giữa sân Đền thờ mà giảng dạy! Đó là kết quả của sự phân định và CHỌN LỰA. Bởi Người từng tuyên bố “Người đến cốt để làm việc đó”! Một Giêsu ung dung, an nhiên tự tại, với sự tự do nội tâm sâu thẳm! Một Giêsu với cảm thức sứ mạng rất rõ ràng và mạnh mẽ!
Và đó là lý do tại sao nói rằng biến cố Thập giá xảy ra bởi vì Chúa Giêsu trung thành với sứ vụ của Người. Ta cũng hiểu tại sao mọi sự phân định và chọn lựa theo thánh ý Chúa Cha đều có thấp thoáng bóng Thập giá trong đó. Việc phân định “liên quan đến nhiều hơn là thiện ích đời này của tôi” – nó “bao gồm lý trí và sự khôn ngoan”, nhưng nó “vẫn vượt quá những điều ấy”. Phân định “không phải là để khám phá xem ta có thể thu nhận gì thêm từ đời sống này, nhưng là để nhận ra bằng cách nào chúng ta có thể hoàn thành tốt hơn sứ mạng được uỷ thác cho mình qua Phép Rửa” (x. ĐGH Phan xi cô, Gaudete et exsultate, số 170 và 174).
Ta vẫn đang nói nhiều về ‘hiệp hành’, về ‘lắng nghe và phân định’, nhất là trong bối cảnh Thượng hội đồng Giám mục lần thứ 16 còn chưa kết thúc… Xin Chúa Giêsu cận kề cuộc Khổ Nạn mà ta chiêm ngắm trong những ngày này giúp chúng ta, cá nhân và cộng đoàn, biết kết hợp với Người để có thể phân định và chọn lựa đúng.
Nếu không, có thể ta phân định và chọn lựa thường xuyên, mà phân định và chọn lựa không đúng!
Lm. lê Công Đức
Chúa Giêsu gặp sự chống đối liên tục, ngay cả sự ủ mưu thanh toán Người… Trong tình trạng bị ‘lên thớt’ như vậy, Người không tìm cách thoát hiểm cho mình, mà mối quan tâm chính vẫn là cố gắng khai thông tâm trí cho những kẻ đang mù quáng chống lại Người. Đây là cảm thức sứ mạng (sense of mission)!
Ở đây ta thấy Chúa Giêsu kiên nhẫn và ôn tồn phân giải sự thật để làm công việc khai thông đó. Người nêu một loạt các lời chứng về Người: chứng của Gioan Tẩy giả, vị ngôn sứ có uy tín trên họ; chứng của Sách Thánh, mà đối với họ là thánh thiêng; chứng của Mô sê, khuôn mặt là tượng đài trong lịch sử tôn giáo và dân tộc của họ; cả chứng của Chúa Cha nữa! Nhưng tất cả các lời chứng ấy đều cách này cách khác không đi vào và phát huy kiến hiệu được nơi họ.
Chúa Giêsu dẫn một CHỨNG đặc biệt, chứng cuối cùng, là chính các việc làm của Người – như ngày nay ta thường gọi là “chứng tá đời sống” (witness of life): “Ta có một bằng chứng hơn chứng của Gioan: vì công việc Chúa Cha đã giao cho Ta hoàn thành, là chính công việc Ta đang làm. Các việc đó làm chứng về Ta rằng Chúa Cha đã sai Ta”.
Nhưng rất tiếc là cả ‘bằng chứng sống’ này cũng… vô hiệu đối với họ!
Tại sao vậy? Tại sao những lời chứng mạnh nhất được huy động mà vẫn không xuyên thấu được tâm trí của giới lãnh đạo Do thái đương thời, và cả đám đông dân chúng nữa? Tại sao họ có tất cả những phương tiện cần thiết – như lịch sử, các tổ phụ, lề luật, lời hứa, các ngôn sứ, Thánh Kinh, truyền thống, và chính Chúa Giêsu – mà họ vẫn bắt hụt, để vuột mất Đấng Cứu Độ mà họ vẫn mơ hồ ngóng trông?
Câu trả lời được chính Chúa Giêsu nêu rõ: Họ bắt hụt quà tặng cứu độ dành cho họ, chỉ vì họ tìm “tôn vinh lẫn nhau mà không tìm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất!” Chúng ta, nhất là những người ‘làm việc’ bên trong đời sống Giáo hội, cần phải ghi tâm khắc cốt và hết sức cảnh giác cái lý do này. Bởi vì THẬT NGUY HIỂM việc “tôn vinh lẫn nhau mà không tìm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất!”. Khi ta tôn vinh lẫn nhau mà không tìm vinh quang Thiên Chúa, thì đó là ta qui chiếu về chính mình (self-reference), ta dính bẫy của tính ‘thế tục thiêng liêng’ (spiritual worldliness), Thiên Chúa trở thành dụng cụ chứ không phải là cứu cánh, và Chúa Giêsu sẽ trở thành sự quấy rầy không chịu nổi – đến mức ta lại sẽ đóng đinh Người lên thập giá!…
Thật là nguy hiểm chết người! Vì thế, ta cần thành thực nghiêm xét xem mình có đang DÙNG Thiên Chúa để tôn vinh chính mình và tôn vinh lẫn nhau không? Trong những việc nào, những lãnh vực nào? Xin Chúa giúp chúng ta nhận ra và hoán cải – để chỉ tìm vinh quang Thiên Chúa mà thôi. Ad majorem Dei gloriam!
Lm. Lê Công Đức
Sơ Aurélie Allouchéry là một nữ tu thuộc Dòng Đức Mẹ Đấng Trợ Giúp Tốt Lành ở Troyes, Pháp. Trong gần 20 năm dấn thân trong cộng đoàn, sơ cống hiến hết mình cho những bệnh nhân mà sơ làm việc với tư cách là trợ lý chăm sóc sức khỏe.
Jean-Charles Putzolu
Sơ Aurélie dẫn chúng ta khám phá ơn gọi của sơ. Sơ đã nghĩ mình đã được định sẵn cho một cuộc sống hôn nhân, có con cái và sự nghiệp giảng dạy chuyên nghiệp. Sơ giải thích con đường đầu tiên dẫn sơ đến với đời sống tu trì, sau đó đến việc đồng hành với người bệnh.
** Sơ Aurélie Allouchéry, sơ là nữ tu dòng Đức Mẹ Đấng Trợ Giúp Tốt Lành, một dòng mô tả sứ mạng của mình bằng ba từ: từ bi, chữa lành và giải phóng. Sơ đã dấn thân vào việc này cách đây 20 năm, sơ đã đến với đời sống thánh hiến như thế nào?
– Thực tế là tôi đã đến nhà thờ từ khi còn nhỏ. Cha mẹ tôi luôn khuyến khích tôi đi lễ vào ngày Chúa Nhật, mẹ tôi dạy giáo lý và tôi tham gia một tổ chức từ thiện. Ở tuổi 25, sau một tuổi trẻ tốt đẹp, một câu hỏi nảy sinh. Ơn gọi là gì? Điều gì sẽ làm tôi hạnh phúc? Vì vậy tôi đã tham gia một năm phân định do giáo phận Reims tổ chức. Nó kết thúc bằng một cuộc tĩnh tâm phân định, cuối cùng câu trả lời trở nên rõ ràng với tôi: Tôi thực sự cảm thấy ước muốn hiến dâng cuộc đời mình cho Chúa Kitô, toàn bộ cuộc đời tôi, mọi sự của tôi, toàn bộ con người tôi.
** Đức Thánh Cha Phanxicô thường nói rằng Giáo hội phải hoạt động bằng sự thu hút. Sơ có cảm thấy được Thiên Chúa thu hút không?
– Vâng, tôi cảm thấy được Thiên Chúa thu hút, tuy nhiên, tôi có nhiều thành kiến về đời sống tu trì, về các nữ tu mà tôi gặp và những người mà tôi thấy khá cổ hủ, không thời trang lắm, tóm lại là không hấp dẫn lắm. Cũng đúng là khi tham gia khóa tĩnh tâm đó, tôi hoàn toàn không biết gì về lựa chọn cuộc sống mà mình sẽ thực hiện. Tôi khá thiên về hôn nhân, với cuộc sống hôn nhân và con cái, có nhiều con. Nhưng cuối cùng thì không. Tôi đã chọn đời sống tu trì. Chính lời mời gọi này của Thiên Chúa, tình yêu rất mãnh liệt mà tôi đã cảm nghiệm trong cuộc tĩnh tâm đó, đã thu hút tôi đến với Người và khiến tôi từ bỏ cuộc sống mà tôi từng tưởng tượng là của mình.
** Sơ nói rằng sơ đã “từ bỏ” cuộc sống mà sơ đã tưởng tượng. Có phải sự trung thành với Chúa Kitô đòi phải hy sinh?
– Tôi không thể nói rằng nó đòi hỏi sự hy sinh bởi vì tôi cảm thấy hài lòng với cuộc sống được trao tặng, được cống hiến này và với những ân sủng mà tôi nhận được. Hiển nhiên là tôi không muốn tô vẽ mọi chuyện, nhưng trên thực tế, một cuộc sống trung thành với Thiên Chúa, với Chúa Kitô mới thực sự là một cuộc sống trọn vẹn. Tôi không thể nói khác được. Tôi không cảm thấy như mình đang hy sinh. Phải nói rằng, cuộc đời nào cũng có những hy sinh. Bạn không thể trải nghiệm mọi thứ, bạn không thể làm mọi thứ và bạn không thể chọn mọi thứ. Đưa ra lựa chọn có nghĩa là cần phải từ bỏ.
** Đời sống tu trì tươi đẹp bởi vì nó đa dạng. Có nhiều cộng đoàn với những đặc sủng khác nhau. Tại sao sơ lại chọn dòng Đức Mẹ Đấng Trợ Giúp Tốt Lành?
– Đó thực sự là một cuộc gặp gỡ bất ngờ. Tôi vốn là một giảng viên và hội dòng này hướng đến việc chữa lành, là điều không thực sự phù hợp với tôi. Và trên thực tế, khi gặp gỡ các nữ tu, lắng nghe họ nói về sứ mạng của họ, điều thu hút tôi là sự gần gũi của họ khi sống với những người bệnh ở nhà, trong gia đình họ, sự xoa dịu chi thể đau khổ của Chúa Kitô.
** Hôm nay sơ sẽ nói gì với các bạn trẻ đang băn khoăn về sự lựa chọn trong cuộc sống và có lẽ đang tìm kiếm linh đạo, một cuộc sống cụ thể. Sơ có thể hướng dẫn gì cho họ?
– Rất khó để đưa ra lời khuyên, chỉ dẫn vì mỗi người đều đi theo con đường riêng của mình. Tôi thích câu trong Tin Mừng nói rằng: “Hãy đến mà xem”. Bạn gặp mọi người, bạn lắng nghe, bạn quan sát, bạn nhận thức mọi thứ. Tôi nghĩ đó thực sự là một cuộc sống bắt nguồn từ Chúa Kitô, một ước muốn sâu sắc bước theo Người và một cuộc sống dấn thân.
** Hôm nay, trong sự lựa chọn cuộc sống của sơ, trong đời sống thiêng liêng và tu trì, sơ có cảm thấy trọn vẹn không?
– Có và tôi thực sự nghĩ như vậy. Chúng tôi luôn cố gắng thông qua những nền tảng của đời sống tu trì là đời sống cộng đoàn, đời sống cầu nguyện và đời sống tông đồ, ba trụ cột nền tảng, để thống nhất con người chúng tôi, nhân cách của chúng tôi và cũng để có thể nhận ra chính mình, nhưng vẫn cởi mở với người khác. Đó là một cuộc sống cho đi và kể từ thời điểm bạn cho đi chính mình, tôi nghĩ bạn đã hoàn thành chính mình.
** Sơ Aurélie Allouchéry, ơn gọi của sơ ngay từ đầu có phải là ở bên giường bệnh không?
– Không, nó không hấp dẫn tôi chút nào. Tôi vốn dạy học và tôi nghĩ mình nên ở lại thế giới giáo dục chuyên đồng hành cùng trẻ em. Nhưng việc gặp gỡ các Nữ tu dòng Đức Mẹ Trợ giúp Thành Troyes thực sự đã thay đổi quan điểm của tôi. Tôi chắc chắn rằng đây chính là cách tôi trao tặng điều tốt nhất của tôi.
** Ý cầu nguyện của Đức Thánh Cha trong tháng này là dành cho những người bệnh nan y. Việc đồng hành cùng những người này đòi hỏi điều gì? Sơ trao tặng điều gì? Và sơ nhận được gì?
– Cá nhân tôi tin rằng hình ảnh Chúa Kitô đầy lòng thương xót thực sự sống trong tôi. Mỗi lần tôi đến bên giường bệnh nhân, điều tôi làm thực sự là một lời cầu xin Chúa Thánh Thần thông qua tôi, trở thành sự Hiện Diện đó. Vì vậy, với tư cách là một trợ lý chăm sóc sức khỏe, sự hiện diện được hiện thực hóa bằng những cử chỉ chăm sóc đơn giản. Sự kiện được ngự vào, cầu khẩn Chúa Thánh Thần cho phép tôi hiện diện hoàn toàn và để Chúa đi qua các cử chỉ của tôi. Về việc đồng hành vào lúc cuối đời, tôi có thể nói rằng nó giống hệt như việc đồng hành với một bệnh nhân vừa biết được một chẩn đoán nghiêm trọng. Việc đồng hành thực sự đòi hỏi sự hiện diện hoàn toàn và sự lắng nghe tuyệt vời.
** Các nữ tu dòng Đức Mẹ Đấng Trợ Giúp Tốt Lành một cách nào đó là sự biểu lộ lòng dịu dàng của Đức Maria đối với Con của Mẹ, sự dịu dàng của một người mẹ. Sự dịu dàng này được thể hiện thế nào trong sứ mạng của sơ?
– Nếu tôi đến với công việc tông đồ của một trợ lý y tế thì chính là để nói qua cử chỉ của tôi và trở thành sự dịu dàng an ủi, mang lại sự khuây khỏa và đôi khi chữa lành. Không nhất thiết phải theo nghĩa như người ta nghĩ, nhưng là làm điều tốt. Sứ mạng của các Nữ tu dòng Đức Mẹ Đấng Trợ giúp Tốt lành thực sự là đón nhận thân xác vào vòng tay của họ và dành cho nó mọi sự chăm sóc cần thiết để tìm lại phẩm giá và tôn vinh ngôi đền là thân xác của chúng ta.
Đức Thánh Cha đã giải thích cho phóng viên của đài truyền hình Thuỵ Sĩ, trong cuộc phỏng vấn được công bố ngày 09/3 về màu áo của Giáo hoàng và những biểu tượng màu trắng khác trong đời sống Giáo hội và cuộc sống thường ngày.
Phóng viên hỏi: “Màu trắng là biểu tượng của sự tinh khiết, đơn sơ. Áo của Đức Thánh Cha có màu trắng. Truyền thống này đến từ đâu? Tại sao Giáo hoàng lại mặc áo màu trắng?”. Đức Thánh Cha trả lời rằng, trong lịch sử Giáo hội, từng có một Giáo hoàng là tu sĩ Dòng Đa Minh. Ngài mặc tu phục trắng của Dòng Đa Minh. Từ đó tất cả Giáo hoàng đều sử dụng màu trắng. Và nếu ngài không nhầm thì đó là Đức Giáo Hoàng Pio V, hiện được chôn cất ở Đền thờ Đức Bà Cả ở Roma. Từ đó truyền thống các Giáo hoàng đều mặc áo màu trắng.
Từ màu áo Giáo hoàng, Đức Thánh Cha giải thích về giá trị chính của màu trắng trong Giáo hội. Đó là màu của niềm vui, bình an, điều đẹp đẽ, vì thế trong Mùa Phục Sinh và Giáng Sinh phẩm phục luôn là màu trắng.
Đi vào đời sống đạo đức, màu trắng là màu của sự tinh khiết. Về điều này, Đức Thánh Cha so sánh một bộ trang phục màu trắng nếu bị bẩn người ta dễ nhận ra, cũng vậy một linh mục, Giám mục hay Giáo hoàng nếu có một vết nhơ thì cũng sẽ dễ bị nhận ra, bởi vì các vị là chứng tá của điều tốt đẹp, tuyệt vời. Đây là một thách đố.
Đức Thánh Cha còn nói đến vết bẩn tập thể, đó là chiến tranh. Chiến tranh thật khủng khiếp với khoản lợi nhuận cao trong việc sản xuất vũ khí. Không có chiến tranh màu trắng, chiến tranh luôn có màu đỏ hoặc màu đen, và đó là tội tập thể.
Ngài mạnh mẽ nói: “Chiến tranh là bóng tối, luôn luôn tối tăm. Sức mạnh của bóng tối. Khi nói đến màu trắng là chúng ta nói đến sự ngây thơ, tốt lành và nhiều điều đẹp đẽ. Nhưng khi nói về tối tăm, chúng ta nói về sức mạnh của bóng tối, về những điều chúng ta không hiểu, về những điều bất công. Kinh Thánh nói về điều này. Bóng tối có sức mạnh hủy diệt mạnh mẽ. Đó là một cách nói mang tính văn học, nhưng khi một người giết người – như Cain – là một người ở trong bóng tối. Khi một người chỉ quan tâm đến lợi ích của riêng mình, như với người lao động, thì người này sẽ giết người khác về mặt luân lý”.
Mặc dù màu trắng là biểu hiện của sự tốt đẹp, nhưng đôi khi có nguy cơ chỉ là màu trắng ở bề mặt, Đức Thánh Cha giải thích có những người che giấu điểm yếu của mình và thể hiện bản thân cách giả tạo, đó là những người đạo đức giả. Cả xã hội đôi khi cũng có thể đạo đức giả, như trường hợp tiến hành chiến tranh sau đó gửi viện trợ nhân đạo.
Câu hỏi cuối cùng liên quan đến tính trung tính của màu trắng, và giá trị trung lập trong cuộc sống, Đức Thánh Cha nói trong cuộc sống khi cần viết một điều gì đó người ta hay sử dụng một tờ giấy trắng. Cuộc sống là một trang giấy trắng, mà mỗi người phải tự mình đưa ra quyết định trên đó. Cuộc sống là một tờ giấy trắng và sẽ đẹp nếu chúng ta có thể viết trên đó những điều tốt đẹp, nhưng nếu chúng ta viết những điều xấu thì trang đó sẽ không đẹp.
Nếu bình chọn những câu đẹp nhất Thánh Kinh, có lẽ đừng bỏ qua câu này: “Nào người mẹ có thể quên con mình mà không thương xót chính đứa con mình đã cưu mang ư? Cho dù người mẹ đó có quên, nhưng Ta sẽ không quên ngươi đâu”. Chúa thương chúng ta như kinh nghiệm của ta về tình thương của người mẹ. Và còn chắc chắn hơn kinh nghiệm đó nữa: Bởi đôi khi vẫn có những bà mẹ đành đoạn bỏ rơi con, nhưng Thiên Chúa thì không bao giờ!
Đó là sách Isaia. Chủ đề về lòng Chúa thương xót cũng tràn ngập các Thánh vịnh, như Đáp ca hôm nay (Tv 144): “Chúa nhân ái và từ bi, chậm bất bình và giầu ân sủng. Chúa hảo tâm với hết mọi loài, và từ bi với mọi công cuộc của Chúa.” Như vậy, ta có thể ghi nhận rằng lòng Chúa thương xót đã kịp được dân Chúa cảm nghiệm và tuyên xưng cách đặc biệt ngay trong thời Cựu Ước – như Thánh vịnh 135, lặp đi lặp lại trùng trùng câu “Muôn ngàn đời Chúa vẫn rộng tình thương”!… Chỉ ngạc nhiên là người ta tuyên xưng rầm rộ như vậy, mà vì lý do nào đó, lòng thương xót ấy dường như không thấm nhuần nơi chính họ bao nhiêu!
Bằng chứng của điều vừa nói trên, đó là khi ‘khuôn mặt của lòng thương xót ấy’ (misericordiae vultus) – là chính Chúa Giêsu – đến với họ bằng xương bằng thịt, thì họ phản đối, tỏ ra rất dị ứng, cuối cùng thậm chí đóng đinh và treo “khuôn mặt của lòng Chúa thương xót” ấy lên thập giá!
Khi người Do thái kịch liệt lên án việc Giêsu gọi Thiên Chúa là Cha, thì Chúa Giêsu xác nhận rằng vâng, Thiên Chúa là Cha của Người – và Người còn giải thích cho họ về sự kết hợp mật thiết giữa Người với Chúa Cha.
Khi người Do thái lên án Chúa Giêsu và tìm cách giết Người, tức họ tự cho mình quyền xét xử, thì Chúa Giêsu đặc biệt lưu ý họ: chính Người mới là Đấng xét xử, do quyền xét xử được Cha trao cho Người, và Người xét xử hoàn toàn theo ý của Chúa Cha.
Mâu thuẫn sừng sững như thế giữa Chúa Giêsu và người Do thái đã đẩy Người đến cái chết thập giá. Lời Người cầu nguyện ‘lạy Cha xin tha cho họ’, cùng với Trái tim của Người bị đâm toang hoác trên thập giá, đó là cách cuối cùng và tột đỉnh để cho họ biết lòng thương xót của Thiên Chúa thì như thế nào…
Từ một góc nhìn, đó là bi kịch – và bi kịch này do bởi sự mù quáng và cứng cỏi của con người, những con người không biết mà nghĩ rằng mình biết.
Nhưng từ góc nhìn của Thiên Chúa, thì đó là mầu nhiệm của Lòng Thương Xót có sức đem ơn cứu độ cho tất cả chúng ta.
Lm. Lê Công Đức
“Anh hãy đứng dậy vác chõng mà về”… Không cần chờ nước động, cũng không cần lết tấm thân tội nghiệp ấy xuống tới nước – như anh ta đã đợi chờ và đã loay hoay vô vọng trong 38 năm qua!
Cũng giống như chuyện hôm qua, Chúa Giêsu nói: “Ông hãy về đi, con ông đã mạnh” – mà không cần Người phải đến tận nhà viên quan ấy.
Trong cả hai câu chuyện, những người nhận được ơn lành đều chưa tin nhiều. Điều Chúa Giêsu thấy nơi họ là nỗi khốn khổ, là tình trạng tội nghiệp, đáng thương. Và chỉ chừng đó thôi, Chúa đã thương và trao ban ơn chữa lành.
Đặc biệt trong câu chuyện về người bại liệt hôm nay, ta thấy anh ta không chỉ là chưa tin nhiều, không biết Giêsu là ai, mà còn thụ động, bạc nhược, đổ trách nhiệm vấn đề của mình cho người khác, và tội lỗi nữa (như Chúa Giêsu xác nhận). Thế nhưng Chúa Giêsu bất chấp tất cả những điều đó, Người chủ động đề nghị chữa lành bệnh tật cho anh: “Này, anh có muốn được lành bệnh không?”…
Bởi vì chính Chúa Giêsu là ‘dòng nước sự sống’, ‘dòng nước chữa lành’ như Êdekiel đã thấy trước trong thị kiến. Giêsu là … “dòng nước chảy đến những ai thì tất cả đều được cứu”.
Điều mỉa mai là sự chữa lành này của Chúa Giêsu lại vấp phải phản kháng, chứ không êm xuôi, vì sự việc diễn ra trong ngày Sa-bát! Người đàn ông ấy vác chõng đi về trong ngày Sa-bát. Người Do thái không chấp nhận, họ đã hoạnh hoẹ anh này, muốn moi cho ra ai là tội đồ đã chữa anh và đã truyền cho anh làm thế. Bởi luật về ngày Sa-bát, theo cách họ hiểu và giữ, đã trở thành cố định và bất khả xâm phạm!
Ở đây ta lại thấy tính cơ chế muốn bóp nghẹt tính đặc sủng, thay vì làm đúng vai trò của nó là phục vụ cho đặc sủng. Sự việc “người Do thái gây sự với Chúa Giêsu” dường như cũng đang âm vọng lại nơi những ồn ào đây đó xung quanh Tuyên ngôn Fiducia Supplicans…
Ở đây ta cũng thấy rõ rằng Chúa Giêsu chữa lành người ấy mà không hề ‘chuẩn nhận’ tình trạng tội lỗi của người ấy. Sự chữa lành đến từ lòng Chúa thương xót, chứ không phải do sự xứng đáng của người ta, và với định hướng thật rõ rệt: “Này, anh đã được lành bệnh, đừng phạm tội nữa, kẻo phải khốn khổ hơn trước”!
Bạn có thể nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Giải Phóng rất mạnh mẽ, và cũng khá cô đơn, vì bị chống đối nhiều. Nên chăng ta đứng về phía Chúa Giêsu, ủng hộ Người, đồng thời trao hết cho Người mọi ‘bệnh hoạn tật nguyền’ hồn xác của chúng ta: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa”!
Lm. Lê Công Đức
Hôm qua là Chúa Nhật hồng giữa mùa tím. Hôm nay vẫn rất hồng!
Lời Chúa nói về buồn và vui, nước mắt và nụ cười, và đó là sự tương phản giữa thế giới cũ và trời mới đất mới… Như ta nghe trong sách Isaia:
“Này Ta tác tạo trời mới, đất mới; người ta sẽ không còn nhớ lại dĩ vãng… Ta tác tạo một Giêrusalem hân hoan và một dân tộc vui mừng… sẽ không còn nghe tiếng khóc lóc và than van nữa.”
Và Thánh vịnh 29 phụ hoạ: “Cơn giận của Chúa chỉ trong giây lát, nhưng lòng nhân hậu của Ngài vẫn có suốt đời. Chiều hôm gặp cảnh lệ rơi, nhưng sáng mai lại được mừng vui hoan hỉ.”
Cùng mô típ ‘buồn biến thành vui’ ấy là câu chuyện trong Tin Mừng Gioan. Vị quan chức nhà vua buồn và lo lắng vì có đứa con trai đau liệt, có vẻ là chết chắc… Nhưng rồi niềm vui đến với ông, vì Chúa Giêsu đã đáp ứng cho lời cầu xin của ông bằng một dấu lạ đặc biệt kịch tính và ấn tượng, vượt quá sự hình dung của chính ông. “Thưa Ngài, xin Ngài xuống trước khi con tôi chết”, ông nói. Nhưng Chúa Giêsu bảo ông: “Ông hãy về đi, con ông mạnh rồi”. Ông tin lời Chúa Giêsu nói và trở về. Và con trai ông đã khoẻ lại đúng vào khoảnh khắc đó!
Ta nhận ra chính Chúa Giêsu là nguồn năng lực, năng lượng của ‘trời mới đất mới’. Chính Người là tác nhân hiện thực hoá viễn ảnh “không còn khóc lóc than van”. Nhưng câu chuyện hôm nay chỉ là hé mở, rồi biến cố Thập giá và Phục sinh của Chúa sẽ đưa tất cả đến hoàn thành!…
Phần chúng ta, một lần nữa, chỉ cần tin – như ông quan chức hôm nay đã tin vào Chúa Giêsu, dù đó là một lòng tin khởi đi ở mức còn rất nhiều hạn chế. Hành động chữa lành cách quảng đại và ngay lập tức của Chúa Giêsu đã nâng đỡ và kiện toàn lòng tin của người đàn ông này trong câu chuyện. Chúng ta, dù lòng tin còn yếu ớt đến mấy, cũng sẽ được nâng đỡ và kiện toàn khi nhìn lại và nhận ra biết bao dấu chứng quyền năng và tình thương của Chúa trên cuộc đời mình cũng như trên những người thân yêu của mình.
Lòng tin vào Chúa Giêsu không bao giờ nhầm, không bao giờ đủ, và không bao giờ phải thất vọng.
Lm. Lê Công Đức