Chúa Nhật Lòng Chúa Xót Thương (07.04.2024 )

Câu chuyện về Tông đồ Tôma là một trong các câu chuyện về Chúa Phục sinh hiện ra. Riêng ở đây có đặc nét là việc Tôma đòi trực tiếp kiểm tra các dấu vết thương tích của Chúa, và được Chúa đáp ứng. Những dấu thương tích ấy, nhất là dấu đâm thủng ở cạnh sườn, thấu tim, có lẽ là hình ảnh gợi cảm hứng cho việc chọn Chúa Nhật 2 Phục sinh hôm nay làm ngày Chúa Nhật của Lòng Chúa Thương Xót! Ngoài ra, Đức thánh cha Phan xi cô còn tập chú vào thái độ của Chúa Phục sinh: Tôma cứng cỏi, cự tuyệt, đề kháng trước lời chứng của các anh em môn đệ; nhưng Chúa Giêsu không chấp, Người không một lời trách cứ Tôma, thay vào đó chỉ có nhân hậu, khoan dung và trìu mến: “Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin” (x. Ga 20,19-31).

Dấu vết thương tích của Chúa, nhất là ở cạnh sườn, là ‘hình ảnh’ của lòng thương xót, được nói đến trong Thư 1Ga qua ‘nước’ và ‘máu’. Chúa Phục sinh đã chiến thắng, những kẻ thuộc về Người cũng tham dự vào chiến thắng này – và đoạn Thư của thánh Gioan nêu rõ đó là chiến thắng bằng nước và máu, tức là chiến thắng bằng lòng thương xót! (x. 1Ga 5,1-6). Quả thật, Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi trao ban Con Một (Ga 3,16), trao ban dứt khoát qua cái chết và những giọt máu giọt nước cuối cùng của Người Con đổ xuống.

Đứng trước tình yêu thương xót lớn lao lạ lùng ấy của Thiên Chúa, mà nếu ta muốn ‘cảm giác’, thì có thể nhập vai Tôma để khe khẽ đặt bàn tay của mình vào chỗ vết thương nơi cạnh sườn Chúa. Và ta thốt lên: “Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì lòng thương xót của Người muôn thuở”! (x. Đáp ca, Tv 117).

Cảm nghiệm lòng Chúa thương xót, như Tôma, như các Tông Đồ, và như cộng đoàn tín hữu thuở ban đầu, thì chúng ta không thể không sống và thi thố lòng thương xót cho anh chị em, và cho mọi người. Đây chính là ý nghĩa của bức tranh cộng đoàn tuyệt đẹp được sách Công vụ mô tả:

“Lúc bấy giờ tất cả đoàn tín hữu đông đảo đều đồng tâm nhất trí. Chẳng ai kể của gì mình có là của riêng, song để mọi sự làm của chung… Hết thảy đều được mến chuộng. Vì thế, trong các tín hữu, không có ai phải túng thiếu. Vì những người có ruộng nương nhà cửa đều bán đi và bán được bao nhiêu tiền thì đem đặt dưới chân các tông đồ. Và người ta phân phát cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu của họ.” (x. Cv 4,32-35).

Đó là bức tranh của sự QUAN TÂM, tên gọi khác của ‘lòng thương xót’. Khi giảng Các Mối Phúc trong Bài giảng Trên Núi, Chúa Giêsu nói: “Phúc cho ai thương xót người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương”. Chúng ta vẫn có thể nói: Phúc cho ai thực sự cảm nghiệm mình được Thiên Chúa xót thương, vì họ sẽ biết thương xót người! Ước được như vậy!

Lm. Lê Công Đức


Một Tin Mừng Khó Tin, Vì Gây Xáo Trộn(06.04.2024 Thứ Bảy Tuần Bát Nhật Phục Sinh)

Trình thuật Phục sinh của Mác cô rất gọn, chỉ tóm tắt cực ngắn những lần hiện ra của Chúa Giêsu. Nhưng dù ngắn gọn, Mác cô vẫn lặp đi lặp lại nhiều lần hai tiếng “không tin”. Cứ hễ người này kể cho người kia, thì phản ứng của người kia luôn là “không tin”. Qua đó ta thấy Mác cô muốn lưu ý rằng việc tin vào sự kiện Phục sinh không hề dễ dàng. Do đó, sứ mạng loan báo Tin Mừng Phục sinh cũng không dễ dàng.

Dù không dễ dàng, nhưng ta không thể tránh né, vì chính Chúa Phục sinh truyền phải rao giảng cho mọi người mọi nơi: “Anh em hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng cho muôn loài”.

Câu chuyện trong sách Công vụ càng xác nhận rằng người ta khó tin sứ điệp được các Tông đồ rao giảng, ngay cả khi họ gần như đã tâm phục khẩu phục và không thể bác bỏ điều gì. Như ở đây các thủ lãnh Do thái bộc lộ sự cứng cỏi cố chấp và cường quyền của mình: “Chúng ta phải làm gì đối với những người này? Vì toàn dân cư ngụ ở Giêrusalem đều hay biết, phép lạ hai ông đã làm rõ ràng quá chúng ta không thể chối được. Nhưng để sự việc không còn loan truyền trong dân nữa, chúng ta hãy đe doạ, cấm hai ông không được lấy danh ấy mà giảng cho ai nữa”.

Có thể ghi nhận, trong Tin Mừng Mác cô, những người, những nhóm khác nhau không tin có lẽ vì mới chỉ nghe nói… Trong sách Công vụ, những thủ lãnh Do thái dù đã thấy phép lạ cũng không tin, họ không tin vì sự việc Giêsu sống lại QUÁ BẤT LỢI cho họ. Nó ĐE DOẠ SỰ ỔN ĐỊNH của họ!

Nhưng,

còn chúng ta,

chúng ta có tin Chúa đã sống lại không?

Chính chúng ta có thể cũng không tin, nếu như chúng ta chỉ gật đầu mà không động tay động chân. Chúng ta vẫn chưa tin mấy, nếu mọi sự nơi con người và cuộc sống mình vẫn ‘ổn định’ mà không có một sự xáo trộn nào!

Lm. Lê Công Đức


Chính Chúa Đó, Dù Ta Không Biết!(05.04.2024 Thứ Sáu Tuần Bát Nhật Phục Sinh)

Từ mầu nhiệm Phục sinh bật ra thông điệp này:

Đức Giêsu Ki tô là Đấng Cứu Độ duy nhất, ơn cứu độ không gặp được nơi một ai khác, hay nhờ một Danh nào khác dưới gầm trời này.

Nhưng khẳng định ấy cần được giải thích và được hiểu đúng. Vì nếu hiểu một cách quá đơn giản hoá, sẽ gây ra những rắc rối phức tạp không cần thiết. Ki tô học và Sứ mạng học lãnh trách nhiệm trước hết về việc giải thích này. Một gợi ý suy tư: Phê rô kiên quyết khẳng định rằng anh què ấy được chữa khỏi chính nhờ Danh Chúa Giêsu Ki tô. Nhưng lúc ấy anh ta đâu có biết Chúa Giêsu là ai, dù cho có thể sau đó anh biết và đón nhận Người!

Cũng vậy, Chúa Phục sinh hiện ra trên Biển Hồ khi bảy môn đệ đang đánh cá. Họ loay hoay vô vọng, và Người giúp họ trúng một mẻ lưới lớn. Lúc này, họ mới nhận ra đó là Chúa. Hồi nãy, họ không biết. Ta thấy họ không biết mà vẫn nhận được ân ban đó của Chúa. Rồi khi kinh nghiệm điều tuyệt vời, họ mới nhận ra “chính Chúa đó!”

Chúa không đòi ta biết mới cứu. Chúa cứu, để giúp ta biết Người! Câu chuyện ông già làng nọ: Học giáo lý dự tòng xong xuôi, nhưng nghĩ lại, không chịu lãnh Phép Rửa, vì nghe giảng viên giáo lý nói rằng ai không được rửa tội (như tất cả tổ tiên ông bà cha mẹ của ông) thì không được ‘lên thiên đàng’! Ông nói tôi muốn theo đạo lắm, nhưng tôi muốn đoàn tụ với ông bà tổ tiên mình sau khi chết hơn!

Chúng ta phải khẳng định Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ duy nhất, nhưng phải hiểu và giải thích sao cho đừng để mất những ‘ông già làng’ ấy!

Lm. Lê Công Đức


Chúa Đã Sống Lại Nghĩa Là Chúa Đang Sống! (04.04.2024 Thứ Năm Tuần Bát Nhật Phục Sinh)

Chúa Giêsu đã sống lại, điều đó có nghĩa là gì? Có nghĩa là Người ĐANG SỐNG! Chiều kích lịch sử của biến cố Phục sinh không chỉ có nghĩa là một điều-có-thực-đã-xảy-ra trong quá khứ, kiểu như để ta ôn lại và tưởng niệm mà thôi. Nó còn có nghĩa là một-điều-có-thực-ĐANG-hiệu-lực trong hiện tại của chính chúng ta! Mừng Chúa sống lại cách đây hai ngàn năm, mà không có cảm thức rõ về Người đang sống, và nếu không đang sống với Người, thì việc mừng ấy sẽ là vô nghĩa.

Những tình tiết tiếp theo câu chuyện Emmau minh hoạ rất hay cho điều nói trên. Ta xem nào: Hai môn đệ sau khi nhận ra Chúa Phục sinh đã gấp rút trở lại Giêrusalem, gặp nhóm mười một. Gặp nhau, chưa kịp nói gì thì đã nghe các ông ấy rối rít kể chuyện Chúa hiện ra với họ. Rồi tới lượt hai anh từ Emmau về kể chuyện của mình… Nhưng đang cao hứng kể, thì Chúa hiện ra!

Bạn biết rồi đó, kể chuyện – dù là chuyện mới xảy ra, còn nóng hổi – thì vẫn là kể về một cái gì thuộc quá khứ. Kể chuyện gặp Chúa, đó là nhằm nói rằng “tôi đã gặp”, rằng Chúa đã sống lại. Nhưng ngay lập tức, vào chính lúc đang kể, thì Chúa hiện ra! Chúa không chỉ hiện ra đứng đó mà thôi, Người còn bảo hãy xem, hãy sờ, và hỏi có gì ăn không… Nghĩa là, Chúa ĐANG sống đó, ĐANG ở đây, rất cụ thể!

Thế thì, câu chuyện tự nhiên ngưng lại thôi. Đâu cần kể tiếp nữa, vì điều muốn truyền đạt ĐANG hiển hiện rõ rệt đây, và ĐANG được mọi người kinh nghiệm trực tiếp! Lời kể chuyện, hay lời chứng, sẽ vẫn còn cần thiết, cho bao người khác ngoài kia, khi Chúa Phục sinh không còn hiện ra như thế nữa. Và đó là điều Phê rô và các anh em Tông đồ sẽ làm, và các thế hệ tông đồ cho đến tận thế sẽ làm trong sứ mạng Ki tô giáo…

Như trong câu chuyện trong sách Công vụ hôm nay, Phê rô xác nhận rõ ơn chữa lành của anh chàng trước đây bị què không do quyền năng hay đạo đức gì của Phê rô, mà do chính Chúa Giêsu Phục sinh hành động. Bởi vì Người ĐANG sống!

Người đã sống lại và ĐANG sống. Vì thế, mọi người đừng quá ray rứt về những sai lầm cũ của mình, Chúa không chấp đâu, vì Chúa quá rõ rằng đó là do ta không biết. Điều quan trọng là tin và đón nhận Đấng Phục sinh và đang sống ấy, bằng thái độ ăn năn hối cải chân thành, và ta sẽ cảm nhận mình được tha thứ, và được TỰ DO!

Lm. Lê Công Đức


Ý Cầu Nguyện Của ĐTC Trong Tháng 4: Cầu Nguyện Cho Vai Trò Của Phụ Nữ

Trong video ý cầu nguyện trong tháng 4, được Mạng lưới Cầu nguyện toàn cầu của Đức Giáo hoàng công bố ngày 2/4/2024, Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu cầu nguyện để phẩm giá và giá trị của phụ nữ được nhìn nhận trong mọi nền văn hóa, và chấm dứt sự phân biệt đối xử mà họ phải gánh chịu ở nhiều nơi trên thế giới.

Mở đầu video, Đức Thánh Cha tố cáo rằng “Ở nhiều nơi trên thế giới, phụ nữ bị đối xử như đối tượng đầu tiên cần loại bỏ”. Ngài đưa ra các ví dụ cụ thể về những luật đối xử phân biệt: “Có những quốc gia phụ nữ bị cấm tiếp cận hỗ trợ, khởi nghiệp hoặc đến trường. Tại những nơi đó, họ phải tuân theo luật lệ buộc họ phải ăn mặc theo một cách nhất định. Và ở nhiều nước, việc cắt bộ phận sinh dục vẫn còn hiện hành”.

Ngài mạnh mẽ lên tiếng kêu gọi: “Chúng ta đừng tước bỏ tiếng nói của phụ nữ. Đừng cướp đi tiếng nói của tất cả những người phụ nữ bị lạm dụng. Họ bị bóc lột, bị gạt ra ngoài lề xã hội”.

Đức Thánh Cha cũng lưu ý về tình trạng bất bình đẳng giữa người nam và người nữ. “Về lý thuyết, tất cả chúng ta đều đồng ý rằng đàn ông và phụ nữ đều có phẩm giá như nhau. Nhưng trên thực tế điều này lại không diễn ra”.

Thực tế là trong khi ở một số nước, phụ nữ được tiếp cận với giáo dục và việc làm, đồng thời nắm giữ vai trò lãnh đạo trong các doanh nghiệp và tổ chức, nhiều người vẫn không được hưởng những cơ hội như nam giới. Trong thị trường lao động: chưa đến một phần hai phụ nữ trên thế giới có việc làm và phụ nữ thu nhập ít hơn nam giới 23%. Điều tương tự cũng xảy ra với giáo dục, khi ở một số quốc gia phụ nữ biết chữ chỉ là thiểu số. Ví dụ, tỷ lệ này ở Niger là 27%. Ít cơ hội hơn đồng nghĩa với những khó khăn kinh tế to lớn. Theo UN Women, ước tính đến năm 2030, 8% phụ nữ và trẻ nữ sẽ sống trong tình trạng cực kỳ nghèo khổ và 25% phụ nữ sẽ không đủ ăn.

Đức Thánh Cha kêu gọi “Các chính phủ cần dấn thân xóa bỏ luật phân biệt đối xử ở mọi nơi và nỗ lực đảm bảo nhân quyền của phụ nữ. Hãy tôn trọng phụ nữ. Hãy tôn trọng phẩm giá và những quyền cơ bản của họ. Và nếu không, xã hội của chúng ta sẽ không tiến bộ”. 

Cha Frédéric Fornos nhận định rằng việc tôn trọng phụ nữ đã là vấn đề trọng tâm của Kitô giáo bởi vì sự sống của mỗi người đều thánh thiêng, mỗi người đều được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Ngay từ khởi đầu của Giáo hội, Chúa Giêsu đã đón nhận các môn đệ làm môn đệ của Người. Đây là một điều mới lạ trong xã hội thời đó. Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu, đã giữ một vị trí nổi bật trong số các Tông Đồ và trong cộng đoàn tiên khởi. Chúa Giêsu đã giao phó cho một người phụ nữ, bà Maria Magdalena, sứ mạng loan báo sự phục sinh cho các môn đệ của Người. Trong suốt lịch sử, phụ nữ đã đóng góp vào sự năng động thiêng liêng trong Giáo hội: các Thánh Têrêsa Avila, Catariana Siena, và Têrêsa Hài đồng, những Tiến sĩ của Giáo hội, và vô số các vị thánh khác. 

Giáo hội tiếp tục kêu gọi nhìn nhận vai trò của phụ nữ trong Giáo hội. “Nếu cộng đồng Kitô giáo là một doanh nghiệp mà không có sự tham gia tích cực của phụ nữ thì cộng đồng này sẽ phá sản”. 

Nguồn: Vatican News


Chiều Kích Lịch Sử Và Giải Phóng Của Biến Cố Phục Sinh( 03.04.2024 Thứ Ba Tuần Bát Nhật Phục Sinh)

Người khách lạ trên đường Emmau đi với hai môn đệ buồn phiền nọ, và đã “bắt đầu từ Môsê đến tất cả các tiên tri, giải thích cho hai ông tất cả các lời Kinh Thánh chỉ về Người”. ‘Người’ là Chúa Giêsu Phục sinh, như lát nữa chính hai môn đệ ấy sẽ nhận ra. Bạn hãy lưu ý tính LỊCH SỬ luôn được nhấn mạnh trong câu chuyện Chúa Giêsu. Biết bao nhân vật và sự kiện từ nhiều thế kỷ trước đã báo trước về Người. Ngay ở đây, nỗi buồn và những bước chân nặng nề có vẻ vô định của hai môn đệ cũng là một xúc tác, được dùng để Chúa Phục sinh dẫn nhập (intro) vào những nhân vật và những sự kiện lịch sử có tính báo trước ấy.

Thế đấy. Câu chuyện Chúa Giêsu là câu chuyện có tuồng có tích, có manh có mối từ quá khứ cho đến hiện tại, rất mạch lạc. Ngay cả chỉ dấu cuối cùng có tính quyết định để hai môn đệ NHẬN RA, đó là hành động “cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao…”, cũng liên quan đến một yếu tố lịch sử (dù rất mới chứ chưa xa) thuộc về KINH NGHIỆM của hai môn đệ. Tất cả đều đổ dồn về soi sáng cho rõ một sự thật này mà thôi: Chúa Giêsu Phục sinh là Đấng Ki tô, mọi người được kêu gọi tin và đón nhận Người, để được ơn cứu độ!

Anh què ở Cửa Đẹp Đền thờ và câu chuyện của anh rõ ràng đóng một dấu ấn trên những trang này của sách Công vụ Tông đồ. Phê rô và Gioan, và các anh em khác nữa, sẽ nếm trải đủ cung bậc cảm xúc trong bước đầu sứ vụ làm chứng, bắt đầu từ cái lần gặp anh què này. Như thể có thể nói Chúa dùng cái ‘què bẩm sinh’ của anh cho kế hoạch cụ thể này của Chúa vậy!

Này nhé. Anh bị què từ lúc mới sinh, nghĩa là lâu rồi, mọi sự an bài rồi… Anh được khiêng đến chỗ đó là để xin bố thí, cái này cũng lâu rồi, thành nề nếp rồi… Vậy mà Phê rô tuyên bố xanh dờn: “ “Vàng bạc thì tôi không có, nhưng có cái này tôi cho anh, là: nhân danh Ðức Giêsu Kitô Nadarét, anh hãy đứng dậy mà đi !”… Phê rô đang lật đổ một sự ổn định bi thảm, một sự cam chịu nhục nhằn, một bất lực được thấy như là định mệnh, và vị Tông đồ làm thế NHÂN DANH ĐỨC GIÊSU KI TÔ!

Bạn thấy đó, tại vì tật nguyền mới phải ăn xin… Và nay Phê rô không đáp ứng việc ăn xin, mà giải quyết chính cái tật nguyền, tức nguồn cơn khốn khổ, của người ấy! Chúng ta nói về năng lực GIẢI PHÓNG của Chúa Phục sinh, thì đây là một hành động đầy tính biểu tượng của sự giải phóng ấy. Bạn cũng thấy đó, có điều gì đó thật lạ, thật đáng ngạc nhiên nơi hành động của Phê rô. Ông đã từng thấy Chúa Giêsu làm phép lạ bao lần rồi, nhưng chính ông thì đâu đã quen làm phép lạ! Thế mà ở đây, Phê rô đầy quyết đoán và đầy xác tín để làm phép lạ hết sức ngoạn mục. Ta nhận ra, đức tin nơi Phê rô thật lớn – hay có thể nói, chính Chúa Giêsu Phục sinh ở với và hành động qua Phê rô.

Trở lại với anh què được chữa lành. Hẳn là anh rất vui, niềm vui mà anh đang kinh nghiệm hẳn cao như nỗi khốn khổ mà chính anh đã từng kinh nghiệm suốt quãng đời trước đây của mình. Hẳn là cách nào đó anh nhận ra Chúa thương anh nhiều và Chúa rút ra điều tốt lành từ nỗi bất hạnh từng dày vò anh.

Nhưng giới lãnh đạo Đền thờ thì không nghĩ thế. Họ sẽ làm khó Phê rô và các Tông đồ. Họ nghĩ chuyện GIẢI PHÓNG vừa xảy ra ấy thật là phiền phức. Họ muốn rằng mọi sự cứ yên như cũ, anh què ấy cứ què như cũ, và cứ ăn xin vạ vật chỗ đó… thì tốt hơn!

Còn chúng ta, nên yên phận với cái hiện trạng (status quo) của mình, của Giáo hội và thế giới này, hay là nên để cho Chúa Phục sinh can thiệp vào và làm xáo trộn tất cả, theo hướng giải phóng và đem lại TỰ DO hơn?

Lm. Lê Công Đức


Can-vê Chiều Ấy

Đường Can-vê chiều ấy!

Chúa lê bước ngã xiêu

Con ngẫm suy bao điều

Lòng Ngài thương nhân thế

Qua ngàn muôn thế hệ

Vẫn nhớ chiều Can-vê

Chúa đau đớn tư bề

Vai mang cây Thập Tự

Lòng Ngài luôn tha thứ

Thương xót dân tội tình

Hy sinh chính thân mình

Dâng Cha làm của lễ

Đồi cao Ngài hiến tế

Đinh nhọn thấu chân tay

Giang rộng giữa trời mây

Ôm trọn toàn thế giới

Ôi Giê-su Chúa hỡi

Con ngước mắt lên Ngài

Lạy Thiên Chúa Ngôi Hai

Con thành tâm hối cải

Hồn con luôn nhớ mãi

Thân xác Thánh nát tan

Máu hồng chảy tuôn tràn

Trên đồi cao hoang vắng

Cho hồn ai chết lặng

Bên Thập Tự trầm tư

Trọn hy lễ Giê-su

Thành toàn dâng Thánh phụ.

Anna Nguyễn Thị Đào


Chúng Tôi Phải Làm Gì? (02.04.2024 Thứ Ba Tuần Bát Nhật Phục Sinh)

Hung hăng lên án và đóng đinh người ta, đầy phấn khích… Rồi bây giờ biết mình nhầm, vì ‘người ta’ ấy là Đấng Ki tô của Thiên Chúa! Đúng là cái nhầm lẫn chết người. Không chỉ ‘chết người’, mà cả ‘chết mình’ nữa! Vì thế, những người Do thái thính giả của Phê rô đã đau đớn trong lòng và hỏi: “Chúng tôi phải làm gì?”

Những người Do thái ở đây thật tuyệt vời. Vì khi nhận ra mình sai, họ đã đau đớn trong lòng! Và vì họ muốn hành động cụ thể để sửa cái sai ấy: “Chúng tôi phải làm gì?” Cái sai của họ to như núi, nhưng không sao… vì lòng sám hối của họ thật chân thành. Lòng sám hối ấy rất thực tế nữa, qua câu hỏi “Chúng tôi phải làm gì?”

Sai lầm trong quá khứ, và nếu chỉ là của quá khứ thôi, thì không sao, dù nó to đến mấy. Điều quyết định là hiện tại. Và câu hỏi “chúng tôi phải làm gì?” là việc phân định để hành động trong hiện tại. Câu trả lời là “hãy tin vào Đức Giêsu Ki tô, chịu Phép Rửa nhân danh Người để được tha tội và được trao ban Thánh Thần”… Không thấy phải đền bù cho sự sai trái của mình gì hết – vì đền sao nổi! Chỉ thấy là cần tin vào Chúa Phục sinh để được tha bổng mà thôi!

Maria Madalena cũng rất kinh nghiệm về sự thật rằng quá khứ là chuyện đã qua và không còn vướng vất vào hiện tại nữa. Chị có một thành tích tội lỗi, nhưng điều đó không quan trọng. Điều duy nhất quan trọng là nối kết/gắn bó với Chúa Giêsu trong hiện tại. Chúa còn sống, chị theo Chúa. Chúa chết, chị vẫn không muốn rời chút dấu vết còn lại của Chúa. Lòng khao khát của chị được đáp đền: Chị gặp được Chúa Phục sinh, và được chính Chúa Phục sinh đích thân cho chị biết chị phải làm gì trong hiện tại: Đi báo tin cho các anh em của Chúa!

Còn chúng ta, liệu Chúa Phục sinh muốn chúng ta phải làm gì trong hiện tại của mình?

Lm. Lê Công Đức


Suy Niệm Chúa Nhật I Phục Sinh

Bài Tin Mừng hôm nay ghi lại kinh nghiệm của ba nhân vật trước ngôi mộ trống. Bà Maria Madalena là người được Chúa yêu thương cách đặc biệt. Bà đến mộ từ sáng sớm chứng kiến cửa mộ mở tung, phiến đá được lăn qua một bên. Bà tưởng là có ai đã lấy xác Chúa đi mất và chạy về báo tin cho các môn đệ. Phêrô và Gioan nghe xong liền vội vã chạy ra mộ. Hai ông vào trong mộ và không thấy Chúa đâu, chỉ thấy khăn liệm và khăn che mặt được xếp gọn gàng. Trong khi Phêrô còn ngỡ ngàng với bao suy tư thì Gioan với niềm tin và tình yêu dành cho Thầy, ông “đã thấy và đã tin”.

Chiêm ngắm hình ảnh các nhân vật trong bài Tin Mừng, đâu là thái độ của tôi trước ngôi mộ trống? Liệu rằng tôi có hoang mang, đau khổ khi để mất Chúa như Maria, tôi ngỡ ngàng nhưng còn hoài nghi như Phêrô hay như Gioan đã thấy và đã tin. Cả ba người đều chẳng thấy gì ngoài ngôi mộ trống với những khăn liệm và khăn che mặt Người, nhưng cả ba đều có những suy nghĩ riêng.

Còn với chúng ta thì sao? Trước ngôi mộ trống ấy, chúng ta có suy nghĩ và cảm nhận gì? Ngôi mộ trống không làm ta sợ hãi và thất vọng nhưng đem đến cho chúng ta niềm vui và hy vọng. Ngôi mộ trống nhưng không câm lặng, nó vang vọng tin vui Phục sinh khắp đất trời. Ngôi mộ tối tăm, lạnh lẽo trở nên ấm áp và tràn ngập Ánh Sáng Phục Sinh.

Ngày hôm nay chúng ta cũng không thấy Chúa Phục Sinh, nhưng xung quanh chúng ta cũng có rất nhiều những dấu chỉ của sự Phục Sinh. Đó là những tâm hồn khiêm nhường và bao dung, những tấm lòng chân thành và yêu thương. Chúng ta cũng có thể cảm nhận được bình an và niềm vui của Chúa Phục Sinh trong cõi lòng mình. 

Đức Kitô đã sống lại thật. Ngài là Thiên Chúa nên tử thần không thể giam cầm Ngài, Ngài là Đấng hằng hữu nên không bị lệ thuộc vào không gian và thời gian, Ngài là ánh sáng nên bóng tối không vây hãm nổi Ngài. Ngài đã chiến thắng sự chết và Phục Sinh trong vinh quang của Thiên Chúa. Sự sống lại của Ngài là hy vọng cho nhân loại đang nộ lệ cho bóng tối của tội lỗi và sự chết, là niềm vui và bình an cho những ai sống trong sợ hãi và ưu phiền. Ánh sáng của Chúa là hy vọng cho những ai đang lầm bước trong đêm tối cuộc đời.

Hình ảnh ngôi mộ trống là bằng chứng cho sự Phục Sinh của Chúa Giêsu. Ngôi mộ ấy có ý nghĩa gì đối với cuộc đời chúng ta? Tâm hồn mỗi người cũng là một ngôi mộ. Ngôi mộ đó là nơi ta chôn cất con người cũ của mình. Nơi đó ta chôn cất những thói hư tật xấu, những đam mê tội lỗi, nhưng ghanh ghét oán hờn, những kiêu căng tự mãn. Nhưng cũng khởi đi từ ngôi mộ ấy phát sinh sự sống mới trong ta. Nhờ ánh sáng của Chúa Kitô Phục Sinh đời sống chúng ta sẽ mọc lên những chồi lộc của ân sủng, những bông hoa của yêu thương và tha thứ. Ánh Sáng Phục Sinh sẽ biển đối tâm hồn chúng ta trở nên những ánh sáng mới làm lan tỏa sức sống của Đấng Phục Sinh tới mọi người.

Anna Trần Hằng


Cái Trống Rỗng Đầy Chất Chứa (30.03.2024 Thứ Bảy Tuần Thánh)

Có người nhận xét rằng Thứ Bảy Tuần Thánh là cái ngày khó chịu, vì khó tả, như thể một cái gì đó vật vờ, không rõ nét, không định hình… Hôm kia là Phòng Tiệc Ly và sau đó là Vườn Cây Dầu, đầy sự kiện. Hôm qua là Đường Thập giá và Golgotha, Chúa chết và mai táng trong mồ, thật sự là cao trào. Ừ thì Chúa sẽ sống lại, nhưng phải chờ đến tối thứ Bảy mới cử hành Canh thức Vượt qua, và mới đi vào những âm sắc và cảm xúc thuộc ‘khí quyển’ của Phục sinh.

Còn thứ Bảy thánh, khoảng thời gian ở giữa chiều thứ Sáu và tối thứ Bảy, giữa Thập giá và Mồ trống, thì sao? Dường như không có gì cả. Dường như tất cả chỉ là một sự ngưng đọng. Một thinh lặng vừa có vang âm tiếng thở dài, vừa chất chứa cái gì đó căng thẳng… Ngày ăn chay hôm qua đã xong, nhưng việc ăn mừng thì chưa tới. Không có Thánh lễ, cũng không có cử hành gì long trọng chính thức trong ngày này.

Thế nhưng, lặng lẽ đến đứng trước ngôi mộ Chúa, và ôn lại tất cả những gì đã và đang xảy ra, người tín hữu có thể cảm nghiệm được nhiều điều lắng đọng trong cái bầu khí có vẻ như trống rỗng của ngày thứ Bảy thánh này.

-Trước hết, Chúa Giêsu đã chết thật. Thi hài vùi trong ngôi mộ ấy là thông điệp rằng Chúa đã chết thật. Người phải chết thật, thì cái chết của chúng ta mới được cứu độ.

-Thứ hai, việc Chúa Giêsu chết thật cho thấy Người đã làm người trọn vẹn. Làm người, đó không chỉ là triển nở, lớn lên, phong độ mạnh mẽ… mà làm người còn bao gồm kinh nghiệm về sự suy kiệt, tàn hao bên kia triền núi, và nhất là cái chết!

-Nhưng, thứ ba, cái chết trong nhãn giới Vượt qua của Chúa Giêsu được thấy không phải là tiếng nói cuối cùng, không phải là chấm dứt sự sống, mà đúng hơn đó là một phần của sự sống! Lôgic của hạt lúa gieo xuống đất sẽ mục nát và nẩy mầm!

-Và như vậy, cuối cùng, cái chết của Chúa Giêsu xác nhận rằng Tử thần khi chích nọc độc của nó vào Giêsu, đó là nó tự sát! Tử thần tự sát! Vâng, có một năng lực khủng khiếp nơi cái chết này, cái chết bất khuất, cái chết chiến thắng!

Thứ Bảy Thánh là thời gian của hạt giống mục nát nẩy mầm. Cái tiến trình giấu ẩn ở dưới mặt đất, và không ai thấy, song đó là tiến trình quyết định!

Không phải thập giá, mà Phục Sinh mới là mầu nhiệm trung tâm của đức tin Ki tô giáo chúng ta, mầu nhiệm của niềm hy vọng bất tuyệt!

Lm. Lê Công Đức