– Trong sứ vụ của Chúa Giêsu, trước các biến cố Vượt Qua cuối cùng, có ít nhất hai lần Người sai các môn đệ đi làm sứ mạng một cách tương đối có tổ chức. Các ông được gọi là ‘tông đồ’ hay ‘thừa sai’ đúng nghĩa, với sự việc được Thầy sai đi này. Trong lịch sử Giáo hội, suốt nhiều thế kỷ cho tới gần đây, có xu hướng chỉ dành chữ ‘thừa sai’ cho các thừa sai nước ngoài, điều này không hẳn đúng và nay đang dần thay đổi: thực ra, ‘thừa sai’ là bất cứ ai được sai vào sứ mạng, thế thôi – nhất là ngày nay Đức thánh cha Phanxicô đang nhấn mạnh việc ra đi đến ‘các vùng ngoại biên hiện sinh’.
– Khi sai các môn đệ đi, cả nhóm 12 và nhóm 72, Chúa Giêsu kiên định lập trường rằng các nhà thừa sai của Người mang hành trang tối thiểu, hầu như không mang gì. Cả hai lần Người đều căn dặn điều này một cách rất chi tiết, cho thấy Người thực sự nhấn mạnh. Người ta có thể chú giải nhiều cách về lý do của ‘hành trang tối thiểu’ này, nhưng không thể nghi ngờ rằng đây chỉ là chủ trương có tính tình thế, nhất thời, để có thể biện minh cho những ‘hành trang cồng kềnh’ về sau!
– Hành trang nhẹ tênh, các thừa sai của Chúa không đặt sự an toàn của mình nơi các phương tiện trần thế, thế nhưng vẫn có đầy sự bình an! Chắc chắn đây là ‘sự bình an của Chúa’, được chuyển thông cho bất cứ ai có khả năng đón nhận, mà Chúa Giêsu gọi là “con cái sự bình an”. Như vậy, sự bình an của Chúa được trao không giới hạn, nhưng nhận thì có điều kiện ở nơi chính người nhận. Khá dễ hiểu, Chúa muốn mọi người được bình an, nhưng không phải ai sống kiểu gì cũng bình an được!
– Các môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu ngày ấy ra đi mang theo thông điệp rất rõ ràng: “Nước Thiên Chúa đã đến gần!” Sau này, khi đón nhận Thánh Thần của Chúa Phục sinh, các Tông Đồ sẽ ra đi rao giảng một thông điệp chuyên biệt hơn, xoay quanh sự kiện Chúa Giêsu chết và sống lại, và được đặt làm Đấng Cứu Độ cho ai tin vào Người (x. kerygma). Nhưng tựu trung, đó vẫn là thông điệp về “Nước Thiên Chúa đã đến gần”, bởi Nước Thiên Chúa chung cục vẫn còn ở phía trước, trong Chúa Giêsu Kitô, Đấng sẽ đến lại. Cần luôn ý thức: tất cả mục tiêu sứ mạng Kitô giáo là Nước Thiên Chúa, hay Triều đại Thiên Chúa, chứ không là gì khác. Chính bản thân Giáo hội cũng là phương tiện để phục vụ cho mục tiêu này.
– Nhìn toàn cục, sứ mạng Kitô giáo trước hết là sứ mạng của Thiên Chúa (missio Dei). Chúa Giêsu là nhà thừa sai của Chúa Cha. Rồi Giáo hội cùng với Chúa Thánh Thần được sai để thi hành sứ mạng cho đến tận cùng thời gian. Vì thế, thật ý nghĩa khi Chúa Giêsu dùng hình ảnh đồng lúa chín để nói về công cuộc sứ mạng. Đồng lúa, vụ mùa là của Chúa Cha. Bao nhiêu công đoạn đã được làm rồi, chúng ta chỉ góp phần gặt lúa thôi, và gặt cho “chủ vụ mùa”, không phải cho chúng ta!
Nên nói thêm, ngày mùa tuy vất vả nhưng rộn rã niềm vui, chứ không rầu rĩ…
Lm. Lê Công Đức
Lễ Các Thiên Thần Hộ Thủ nhắc ta rằng CÓ các thiên thần – vô hình mà có thật – được Thiên Chúa dựng nên và sắp đặt để bảo vệ mỗi người chúng ta. Nói cách khác, sự quan tâm săn sóc của Chúa đối với chúng ta được thực hiện cách thường xuyên bởi các thiên thần. Lễ này, vì thế, trước hết là lễ mừng và tri ân tình thương của Cha trên trời, Đấng sáng tạo và quan phòng đời sống chúng ta.
“Này Ta sẽ sai thiên thần Ta đi trước mặt ngươi, gìn giữ ngươi khi đi đàng, và dẫn đưa ngươi đến nơi Ta đã dọn sẵn cho ngươi… Nếu ngươi nghe lời người, và tuân giữ tất cả những gì Ta truyền dạy, thì Ta sẽ là địch thù của những kẻ thù nghịch ngươi, và Ta sẽ trừng phạt những kẻ uy hiếp ngươi. Thiên thần Ta sẽ đi trước mặt ngươi”. Sở dĩ ta cần sự trợ giúp và bảo vệ của Chúa qua các thiên thần, đó bởi vì cuộc đời chúng ta là một chuyến đi có những thử thách phải vượt qua, có những kẻ thù phải chiến đấu. Chúa sắp đặt các thiên thần là bạn đường và đồng minh, giúp ta đi đến nơi, về đến chốn…
Bài Tin Mừng hôm nay chỉ khác hôm qua (lễ thánh Têrêsa Chúa Giêsu Hài đồng) ở một câu được trích thêm vào: “Anh em hãy coi chừng, đừng khinh rẻ một ai trong những kẻ bé mọn này, vì Thầy bảo anh em, thiên thần của chúng trên trời hằng chiêm ngưỡng thánh nhan Cha Thầy, Ðấng ngự trên trời”. Chúa Giêsu tiếp tục lưu ý đừng coi thường những kẻ bé mọn, vì Cha trên trời rất quí trọng chứ không coi thường những con cái bé mọn của Ngài. Bằng chứng của sự quí trọng này là thiên thần của những kẻ bé mọn ấy trên trời hằng chiêm ngưỡng thánh nhan của Chúa Cha! Lễ Các Thiên Thần Hộ Thủ, vì thế, cũng là lễ mừng PHẨM GIÁ CON NGƯỜI, phẩm giá của mọi con người, dù là người có vẻ bé nhỏ thấp hèn đến mấy…
Vấn đề của thế giới và của Giáo hội ngày nay, có thể nói, là vấn đề PHẨM GIÁ CON NGƯỜI. Chỉ vì phẩm giá con người không được tôn trọng như nó đáng được tôn trọng, mà bao nhiêu xung đột, lộn xộn, sự dữ các loại… đang tung hoành như ta thấy khắp nơi!
Các thiên thần hộ thủ nhắc ta tôn trọng phẩm giá của chính mình và của mọi người, đặc biệt những người yếu thế và dễ tổn thương nhất. Một khi nhân phẩm được tôn trọng, thế giới sẽ có hoà bình, và Giáo hội sẽ có chứng tá thuyết phục hơn cho sứ mạng loan báo Tin Mừng cứu độ.
Lm. Lê Công Đức
Trên chuyến bay từ Brussels về Roma vào ngày 29/9/2024, Đức Thánh Cha đã đáp lại các chủ trích về những nhận định của ngài về phụ nữ trong cuộc gặp gỡ với các sinh viên đại học tại Đại học Công giáo Louvain. Đức Thánh Cha nói rằng những phê bình này đến từ một “trí óc chậm hiểu”, cố tình hiểu sai lập trường của ngài.
Trong bài phát biểu trong cuộc gặp gỡ các sinh viên đại học tại Đại học Công giáo Louvain, Đức Thánh Cha đã suy tư về vai trò của phụ nữ trong Giáo hội, ngài nói rằng: “Những gì đặc trưng cho phụ nữ, những gì thực sự nữ tính, không được quy định bởi sự đồng thuận hay hệ tư tưởng, cũng giống như bản thân phẩm giá được đảm bảo không phải bởi luật lệ viết trên giấy, mà bởi luật lệ nguyên bản được viết trên trái tim chúng ta”.
Ngài nhấn mạnh: “Phụ nữ nói với chúng ta về sự chào đón hiệu quả, nuôi dưỡng và cống hiến cho sự sống. Vì lý do này, phụ nữ quan trọng hơn nam giới, nhưng thật tệ khi phụ nữ muốn trở thành nam giới: Không, họ là phụ nữ, và điều này ‘nặng ký’ và quan trọng”.
Ngài nói thêm: “Chúng ta hãy chú ý hơn đến nhiều biểu hiện hàng ngày của tình yêu này, từ tình bạn đến nơi làm việc, từ việc nghiên cứu đến việc thực hiện trách nhiệm trong Giáo hội và xã hội, từ hôn nhân đến thiên chức làm mẹ, từ việc sống trinh khiết đến việc phục vụ tha nhân và xây dựng vương quốc của Thiên Chúa”.
Thông cáo phản đối của Đại học Công giáo Louvain
Trong thông cáo báo chí được đưa ra chỉ vài phút sau bài phát biểu của Đức Thánh Cha, Đại học Công giáo Louvain đã chỉ trích những phát biểu của Đức Thánh Cha về phụ nữ là “bảo thủ” và “tiền định và giản lược”. Họ “bày tỏ sự không hiểu và không chấp thuận quan điểm của Đức Thánh Cha Phanxicô liên quan đến vai trò của phụ nữ trong Giáo hội và trong xã hội”. Đại học đặc biệt phản đối bình luận của Đức Thánh Cha rằng “phụ nữ là sự chào đón nồng nhiệt, chăm sóc, cống hiến cho sự sống”.
Những người không muốn hiểu
Trả lời câu hỏi của nhà báo người Ý Annachiara Valle của tạp chí Famiglia Cristiana về những lời chỉ trích của Đại học Louvain, Đức Thánh Cha nói rằng thông cáo báo chí này là “được soạn sẵn” và “không có đạo đức” vì được viết “vào thời điểm tôi phát biểu”.
Đức Thánh Cha khẳng định: “Tôi luôn nói về phẩm giá của phụ nữ. Tôi đã nói một điều mà tôi không thể nói về đàn ông: Giáo hội là phụ nữ, là hiền thê của Chúa Giêsu. Việc nam tính hóa phụ nữ là không phải là nhân bản. Tôi luôn nói rằng phụ nữ quan trọng hơn nam giới, vì Giáo hội là hiền thê của Chúa Giêsu”.
Ngài nói rằng nếu điều này có vẻ “bảo thủ” đối với một số người, thì đó là vì họ không hiểu, hoặc “có một tâm trí chậm hiểu không muốn nghe về điều này”.
Điều thực sự tốt đó là Giáo hội nữ tính cao trọng hơn thừa tác vụ chức thánh
Nói về thừa tác vụ, Đức Thánh Cha nói rằng “đặc tính huyền nhiệm của phụ nữ [là] cao trọng hơn thừa tác vụ”. Thừa tác vụ của Đức Maria cao trọng hơn thưa tác vụ của Phêrô bởi vì nó là thừa tác vụ của hiệp nhất, trong khi thừa tác vụ của Phêrô là thừa tác vụ điều hành.
Đức Thánh Cha khẳng định: “Bản chất làm mẹ của Giáo hội là bản chất làm mẹ của một người phụ nữ. Quản trị là một thừa tác vụ thấp hơn nhiều, có nghĩa là đồng hành với các tín hữu, luôn luôn trong bản chất làm mẹ”.
Ngài nói rằng chủ nghĩa nam quyền không ổn nhưng chủ nghĩa nữ quyền cũng không ổn. Điều thực sự tốt đó là Giáo hội nữ tính cao trọng hơn thừa tác vụ chức thánh. Và điều này không thường được xem xét.
Nguồn. Vatican News
1. Lời Chúa về ‘đứa trẻ’
Lễ thánh Têrêsa Chúa Giêsu Hài đồng, đằng sau các Bài đọc và Thánh vịnh Đáp ca đều có hình ảnh một đứa trẻ.
Đứa trẻ được mẹ bồng ẵm nâng niu, được cho bú mớm… trong Isaia: “Các ngươi sẽ được bú sữa, được ẵm vào lòng và được nâng niu trên đầu gối. Ta sẽ vỗ về các ngươi như người mẹ nâng niu con, và tại Giêrusalem, các ngươi sẽ được an ủi. Các ngươi sẽ xem thấy, lòng các ngươi sẽ hân hoan, các ngươi sẽ nảy nở như hoa cỏ, và tôi tớ Chúa sẽ nhìn biết bàn tay của Chúa”…
Đứa trẻ khiêm nhường bình an với niềm vui đơn sơ nép trong lòng người mẹ, như được Thánh vịnh 130 diễn tả: “Lòng con chẳng dám tự cao, mắt con chẳng dám tự hào Chúa ơi… Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ, trong con hồn lặng lẽ an vui…”
Và đứa trẻ thực, bằng xương bằng thịt, được Chúa Giêsu đưa ra giữa các môn đệ với lời thuyết minh: “Nếu anh em không trở nên như đứa trẻ này, anh em sẽ không được vào Nước Trời. Ai hạ mình xuống như trẻ này, người ấy là kẻ lớn nhất trong Nước Trời”.
Cần nói ngay, có ít nhất hai ‘đứa trẻ’: đứa trẻ phản diện và đứa trẻ chính diện. Ở đây không nói đến những đứa trẻ ngoài chợ độc tài độc đoán đòi kẻ khác phải theo ý mình, cũng không phải đứa trẻ con non nớt, ngớ ngẩn trong nói năng, trong hiểu biết và trong suy nghĩ mà thánh Phao lô cho rằng cần phải bỏ hết để trở thành người lớn (x. 1Cr 13,11). Ở đây, trái lại, là đứa trẻ của ‘con đường nhỏ’, của ‘hồn nhỏ’… đặc trưng linh đạo Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô được thánh Têrêsa Lisieux tổng hợp, sống và trình bày cách xuất sắc.
2. Trở nên như đứa trẻ
Nên như đứa trẻ, đó trước hết là hoàn toàn tín thác vào Tình yêu Thương xót của Thiên Chúa là Cha và Mẹ của mình. Tâm điểm của Tin Mừng Kitô giáo là lòng Chúa thương xót, thì thái độ căn bản của Kitô hữu là tín thác vào lòng thương xót ấy. Đây là đức cậy, là niềm hy vọng Kitô giáo, rút ra từ đức tin và đức ái, nhưng làm nên một nội lực lôi kéo chính đức tin và đức ái lao về phía trước.
Nên như đứa trẻ là đi vào kết hợp và đồng hoá với Chúa Giêsu trong mầu nhiệm hạ giáng, trút sạch (kenosis) của Người, như được thấy từ Nhập thể tới Thập giá, qua đó Người hoàn thành con đường ‘thương xót như Chúa Cha’, cũng chính là con đường cứu độ con người. Bởi Chúa Giêsu là ‘khuôn mặt của Lòng Thương Xót’!
Nên như đứa trẻ, vì thế, là thực thi sứ mạng thương xót, ‘yêu người như Chúa Giêsu yêu’ (bằng cách để cho Chúa Giêsu hoàn toàn chiếm lấy mình). Đó là qui chiếu tất cả vào tiêu chuẩn tối hậu: Những gì ta làm hay không làm cho người anh em bé nhỏ của Chúa là ta làm hay không làm cho chính Chúa!
Có thể thấy, trở nên như đứa trẻ theo ý nghĩa trên là ‘con đường tổng hợp’ của thánh Têrêsa Chúa Giêsu Hài đồng. Hình ảnh ‘đứa trẻ’ ở đây là kết tinh của Tin Mừng, của sự khôn ngoan Kitô giáo. Tất cả các thánh đều đi con đường này, hiểu sự khôn ngoan này. Thánh Tê rê sa ví như một hành giả tiêu biểu, một ‘chưởng môn nhơn’, chứ không phải một người sáng chế và giữ bản quyền linh đạo con đường nhỏ.
3. Tiếp đón những ‘đứa trẻ’
Con đường nhỏ không chỉ là ‘trở nên như đứa trẻ’ mà còn là ‘tiếp đón những đứa trẻ’. Chúa Giêsu nói: “Ai tiếp đón một đứa trẻ như thế này nhân danh Thầy là tiếp đón chính Thầy”.
Đứng trước mối ám ảnh ‘làm lớn’ của các môn đệ, Chúa Giêsu dội nước lạnh vào mặt các ông để làm cho các ông tỉnh ngộ. Một đàng, không trở nên nhỏ thì không được vào Nước Trời; bởi Nước Trời chỉ gồm toàn những ‘hồn nhỏ’ – hãy lưu ý điều này chứ đừng tưởng bở. Đàng khác, mối ám ảnh ‘làm lớn’ cũng gắn với thái độ khinh mạn, xem thường những người bé nhỏ, vì thế Chúa Giêsu sửa sai thái độ này nơi các môn đệ bằng một cách thức không thể thuyết phục hơn: Người tự đồng hoá chính Người với những anh chị em bé mọn nhất của Người!
4. Con đường nhỏ ấy và cuộc canh tân Giáo hội hiện nay
Đức thánh cha Phanxicô muốn trình bày thánh Têrêsa Chúa Giêsu Hài đồng như nguồn cảm hứng cho con đường đổi mới của toàn thể Giáo hội thời chúng ta. Con đường đổi mới này khởi đi từ tâm điểm của Tin Mừng là lòng thương xót, mà lòng tín thác của tâm hồn nhỏ là thái độ đáp trả căn bản. Đây chính là ‘con đường tổng hợp’ của vị thánh nữ Cát minh ở Lisieux.
Năm ngoái, Đức giáo hoàng công bố Tông huấn C’est la confiance về lòng tín thác vào tình yêu thương xót của Thiên Chúa, với sự chọn lựa thời điểm đầy hàm ý: ngày 15/10/2023, ngay giữa khoá Hội nghị đợt I của Thượng Hội đồng Giám mục về ‘Hiệp hành’. Thánh Têrêsa rõ ràng được coi như một phần kho tàng thiêng liêng của Giáo hội!
Mọi người hẳn chưa quên những nhấn mạnh về phong cách ‘hiệp hành’ (đồng hành đồng nghị) trong thực tiễn, đó là cùng lắng nghe và cùng phân định. Lắng nghe hết mọi người, nhất là những người bé nhỏ nhất, những người có thể chưa bao giờ được có tiếng nói! Không ai bị lãng quên, không một ai bị bỏ lại đằng sau! Ồ, đó không phải là tâm thế khiêm tốn của những người trở nên như đứa trẻ đó sao? Và đặc biệt, đó không phải là thái độ tiếp đón những kẻ bé mọn nhất nhân danh Chúa Giêsu đó sao?
Thượng Hội đồng về ‘hiệp hành’ được nối tiếp bằng Năm Thánh 2025, với chủ đề “Những người hành hương của Hy vọng”. Một lần nữa, hy vọng không phải là chính lòng tín thác (c’est la confiance) đó sao?
Xin thánh Têrêsa Chúa Giêsu Hài đồng khơi động nơi chúng ta niềm cảm hứng ‘trở nên bé nhỏ’ và trân trọng ‘tiếp đón những người bé nhỏ’. Toàn thể Giáo hội chắc chắn sẽ được canh tân đúng hướng và vững vàng bằng con đường nhỏ (mà có võ, sic) này!
Lm. Lê Công Đức
Chiều ngày 27/9/2024, tại Đại học Công giáo Leuven, Đức Thánh Cha đã có cuộc gặp gỡ với các giáo sư đại học. Trong bài diễn văn, Đức Thánh Cha mời gọi họ mở rộng các biên giới kiến thức và biến đại học trở thành không gian rộng mở cho con người và xã hội, biến nền giáo dục hàn lâm và văn hóa thành một không gian sống động, nơi hiểu và nói về sự sống, mang lại những đóng góp quyết định như men, muối của Phúc Âm.
Đại học Công giáo Leuven
Đại học Công giáo Leuven là Đại học Công giáo lâu đời nhất thế giới, được thành lập vào năm 1425 với sắc chỉ của Đức Giáo hoàng Martino V. Ban đầu đại học bao gồm 4 phân khoa: Khoa học nhân văn, Giáo luật, Dân luật và Y khoa. Vào năm 1432, Đức Giáo hoàng cho phép mở thêm khoa Thần học.
Vào năm 1797, Đại học Công giáo Leuven bị lực lượng Cách mạng Pháp đóng cửa nhưng đến năm 1834 được Giáo hội Bỉ tái lập.
Vào năm 1968, Đại học được chia thành hai đại học riêng biêt: Đại học Công giáo Leuven thuộc khối nói tiếng Flamand, có trụ sở ở Leuven, và Đại học Công giáo Louvain của khối tiếng Pháp, tại thành phố mới được thành lập, Louvain-la-Neuve, cách đó khoảng 24 km về phía nam-tây nam của Leuven.
Hiện nay Đại học Công giáo Leuven có hơn 60 ngàn sinh viên. Là một trong những tổ chức nghiên cứu hàng đầu của châu Âu, chắc chắn Đại học có thể được coi là có vai trò toàn cầu trong nhiều lĩnh vực. Sứ mạng của Đại học, dựa trên quan điểm Kitô giáo về nhân loại và thế giới, là nơi thảo luận cởi mở về các vấn đề xã hội, triết học và đạo đức, đồng thời là trung tâm tư duy phản biện trong cộng đồng.
Trong năm học 2024-2025, hai Đại học Công giáo Leuven và Louvain sẽ tổ chức kỷ niệm 600 năm thành lập.
Đón tiếp Đức Thánh Cha tại Đại học có ông Viện trưởng của Đại học Leuven và bà Viện trưởng của Đại học Louvain, Tổng Giám mục của Malines-Bruxelles trong vai trò là Đại Chưởng ấn của Đại học, và một số chức sắc chính quyền dân sự.
Ngỏ lời với các giáo sư đại học, Đức Thánh Cha mời gọi họ mở rộng các biên giới kiến thức và biến đại học trở thành không gian rộng mở cho con người và xã hội, biến nền giáo dục hàn lâm và văn hóa thành một không gian sống động, nơi hiểu và nói về sự sống, mang lại những đóng góp quyết định như men, muối của Phúc Âm.
Các đại học là những không gian sáng tạo
Mở đầu bài diễn văn, Đức Thánh Cha nói: “Nhiệm vụ đầu tiên của Trường: cung cấp chương trình đào tạo toàn diện để mọi người nhận được những công cụ cần thiết để giải thích hiện tại và lập kế hoạch cho tương lai”, và nhắn nhủ: ” mục đích của giáo dục văn hóa không bao giờ là chính nó và các trường đại học đừng bao giờ có nguy cơ trở thành ‘các thánh đường trong sa mạc'”. Nhưng “Do bản chất, đó là những nơi thúc đẩy những ý tưởng và nguồn cảm hứng mới cho cuộc sống và suy nghĩ của con người cũng như để đối mặt với những thách thức của xã hội. Nói cách khác, đó là những không gian sáng tạo“.
Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng các đại học “tạo ra văn hóa, tạo ra các ý tưởng, nhưng trên hết nó thúc đẩy niềm đam mê tìm kiếm sự thật, phục vụ cho sự tiến bộ của con người. Đặc biệt, các trường đại học Công giáo, như trường của anh chị em, được kêu gọi “mang lại sự đóng góp mang tính quyết định của men, muối và ánh sáng của Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô và Truyền thống sống động của Giáo hội, những điều luôn mở ra những hoàn cảnh mới và những đề xuất mới” (Hiến chế Veritatis gaudium, 3).
Hãy mở rộng các biên giới kiến thức
Do đó, Đức Thánh Cha mời gọi các giáo sư: hãy mở rộng các biên giới kiến thức! Ngài giải thích rằng đây không phải là việc “nhân rộng các quan niệm và lý thuyết, nhưng là biến nền giáo dục hàn lâm và văn hóa thành một không gian sống động, nơi hiểu và nói về sự sống”. “Mở rộng biên giới và trở thành không gian rộng mở cho con người và xã hội là sứ mạng cao cả của một đại học”.
Nguy cơ mất đi niềm vui học hỏi và rơi vào thái độ duy lý
Đức Thánh Cha nhận định: “Trên thực tế, trong thời đại của chúng ta, chúng ta thấy mình phải đối mặt với một tình huống mâu thuẫn, trong đó các ranh giới bị hạn chế. Một mặt, chúng ta đang đắm chìm trong một nền văn hóa được đánh dấu bằng việc từ bỏ việc tìm kiếm chân lý. Chúng ta đã mất đi niềm đam mê không ngừng tìm kiếm. Thay vào đó chúng ta tìm an ủi và trú ẩn trong một ý nghĩ yếu đuối, trong niềm tin rằng mọi thứ đều bằng nhau, mọi thứ đều giống nhau, mọi thứ chỉ là tương đối. Mặt khác, khi nói về sự thật trong bối cảnh đại học cũng như trong các lĩnh vực khác, chúng ta thường rơi vào thái độ duy lý, theo đó chỉ những gì chúng ta có thể đo lường và trải nghiệm mới có thể được coi là đúng, như thể cuộc sống chỉ đơn giản là vật chất và những gì có thể nhìn thấy được. Trong cả hai trường hợp, các ranh giới đều bị giới hạn”.
Sự mệt mỏi về tinh thần
Nói về giới hạn thứ nhất, Đức Thánh Cha nhận định rằng chúng ta có sự mệt mỏi về tinh thần, “khiến chúng ta thường xuyên bất ổn và thiếu vắng niềm đam mê, như thể việc tìm kiếm ý nghĩa trong một thực tế vẫn không thể thể hiểu được thì vô ích”. Ngài nói thêm: “Việc tìm kiếm sự thật thật sự mệt mỏi, bởi vì nó buộc chúng ta phải bước ra khỏi chính mình, chấp nhận rủi ro, đặt ra những câu hỏi cho chính mình. Và do đó, do sự mệt mỏi trí tuệ, chúng ta càng bị cuốn hút hơn bởi một cuộc sống hời hợt không đặt ra quá nhiều thách đố mới. Cũng giống như vậy, chúng ta bị thu hút nhiều hơn bởi một ‘đức tin’ dễ dàng, nhẹ nhàng, thoải mái, không bao giờ đặt câu hỏi về bất cứ điều gì.”
Chủ nghĩa duy lý vô hồn
Nói về loại giới hạn thứ hai, Đức Thánh Cha lưu ý: “ngày nay chúng ta một lần nữa có nguy cơ rơi vào chủ nghĩa duy lý vô hồn chịu sự chi phối của nền văn hóa kỹ trị. Khi con người chỉ được coi là vật chất, khi thực tại bị giới hạn trong giới hạn của những gì hữu hình, khi lý trí bị thu hẹp lại thành toán học và thực nghiệm, thì nhiều thứ đã mất đi. Theo cách này, chúng ta mất đi cảm giác ngạc nhiên, khả năng kinh ngạc, thúc đẩy chúng ta nhìn xa hơn, hướng mắt lên trời, khám phá ra chân lý ẩn giấu, trả lời cho những câu hỏi cơ bản như: Tại sao tôi sống? Ý nghĩa cuộc sống của tôi là gì? Mục đích cuối cùng và cùng đích của cuộc hành trình này là gì?
Con người chỉ nhận ra chính mình nếu họ bắt đầu từ Thiên Chúa
Ngài lặp lại câu hỏi của Romano Guardini: “Tại sao con người, bất chấp mọi tiến bộ, lại không biết chính mình và ngày càng trở nên không biết như thế? Bởi vì họ đã đánh mất chìa khóa để hiểu được bản chất của con người. Quy luật về sự thật của chúng ta nói rằng con người chỉ nhận ra chính mình nếu họ bắt đầu từ trên cao, từ bên trên họ, từ Thiên Chúa, bởi vì sự sống của họ đến từ Người” (Cầu nguyện và sự thật, Brescia 1973, 56).
Hãy cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin hãy mở rộng các ranh giới của chúng con!”
Và Đức Thánh Cha đưa ra cách thế để chống lại sự mệt mỏi của tinh thần và chủ nghĩa duy lý vô hồn, hãy học cách cầu nguyện như Jabez: “Lạy Chúa, xin hãy mở rộng các ranh giới của chúng con!”. Ngài nói: “Chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa chúc lành cho công việc của chúng ta, phục vụ một nền văn hóa có khả năng đối mặt với những thách thức ngày nay. Chúa Thánh Thần, Đấng chúng ta đã nhận được như một hồng ân, thúc đẩy chúng ta tìm kiếm, mở ra những không gian suy nghĩ và hành động của chúng ta, cho đến khi dẫn chúng ta đến sự thật toàn vẹn (xem Ga 16,13). Ngài nói rằng những giới hạn phải luôn thúc đẩy chúng ta tiến về phía trước, giúp chúng ta giữ được ngọn lửa nghiên cứu cháy sáng và vẫn là một cánh cửa mở để nhìn vào thế giới ngày nay.
Chào đón người tị nạn
Đức Thánh Cha cảm ơn các giáo sư bởi vì bằng cách mở rộng biên giới, họ đã tạo ra một không gian chào đón cho nhiều người tị nạn bị buộc phải chạy trốn khỏi vùng đất của họ, giữa hàng ngàn nỗi bất an, những khó khăn to lớn và đôi khi là những đau khổ khủng khiếp.
Một nền văn hóa mở rộng các biên giới, không mang tính ‘bè phái
Ngài nói rằng chúng ta cần “một nền văn hóa mở rộng các biên giới, không mang tính ‘bè phái’ hay đặt mình lên trên những nền văn hóa khác. Một nền văn hóa như men tốt ở trong thế giới, góp phần vào thiện ích của nhân loại. Nhiệm vụ này, ‘niềm hy vọng lớn nhất’ này, được giao phó cho anh chị em!”
Tạo ra một nền văn hóa hòa nhập, có lòng trắc ẩn
Cuối cùng, ngài mời gọi các giáo sư, như là những bụi gai bốc cháy để mặc khải Thiên Chúa, “Hãy giữ ngọn lửa này cháy mãi; hãy mở rộng các ranh giới! Hãy là những người không ngừng tìm kiếm sự thật và đừng bao giờ dập tắt niềm đam mê của mình, để không nhượng bộ trước sự lười biếng suy nghĩ. Hãy là những nhân vật chính trong việc tạo ra một nền văn hóa hòa nhập, lòng trắc ẩn, quan tâm đến những người yếu thế nhất khi anh chị em tìm cách vượt qua những thách thức lớn lao của thế giới chúng ta đang sống”.
Sau khi ban phép lành cho những người tham dự cuộc gặp gỡ, Đức Thánh Cha đi xe mui trần đến Grote Markt, quảng trường chính của thành phố Leuven để chào khoảng 20 ngàn tín hữu chờ đợi được gặp ngài, trước khi trở về Tòa Sứ thần cách đó 27 km để dùng bữa và nghỉ đêm.
Nguồn. Vatican News
Những đoạn sách Giảng viên về ‘phù vân’ của tuần trước như thể chuẩn bị dẫn ta vào sách Gióp hôm nay. Chuyện ông Gióp như chuyện làng Nủ ở Lào Cai cách đây hai mươi ngày, với trận mưa lũ và lở núi kinh hoàng sau cơn bão số 3. Chỉ trong khoảng mười lăm phút buổi sáng sớm hôm đó, cả ngôi làng yên bình xinh đẹp bị chôn vùi hoàn toàn. Nhà cửa, tài sản, và bao con người bỗng chốc biến mất vĩnh viễn. Không còn gì cả. Chỉ còn một bãi bùn trộn với đất đá trải rộng thênh thang và lạnh tanh… Sự việc xảy ra cho ông Gióp ở ngay đầu câu chuyện cũng vậy. Dường như ông có tất cả, nhưng rồi các tai ương bỗng dồn dập xảy đến, để rồi ông không còn gì cả!… Thật khó đón nhận biết bao!
Điều tuyệt vời của câu chuyện là thái độ đón nhận nghịch cảnh của ông Gióp. Ông vui lòng đón nhận tất cả trong lòng tin tưởng đặt nơi Thiên Chúa: “Từ lòng mẹ, tôi sinh ra trần truồng, thì tôi cũng sẽ trở về đó trần truồng. Chúa ban cho, rồi Chúa lấy lại: như đẹp lòng Chúa thế nào, thì xin xảy đến như vậy: nguyện danh Chúa được chúc tụng!”… Câu chuyện ông Gióp không đơn giản chỉ có vậy, vì còn những diễn biến phức tạp hơn – nhưng thái độ đón nhận sơ khởi nói trên của ông là mẫu mực cho mọi người trong những hoàn cảnh tương tự…
Thái độ đón nhận ấy đầy tinh thần vô tư, siêu thoát, không bám / chấp vào cái phù vân. Nếu có một cái gì tương tự trong câu chuyện làng Nủ, thì đó là thái độ đón nhận của cậu bé Gia Bảo, 6 tuổi, sống sót qua tai ương nhưng thân thể giập nát thê thảm và phải được chuyển viện mấy lần để cấp cứu. Bố mẹ em chết trong thảm hoạ ấy; người ta chỉ mới tìm được xác của bố, còn mẹ thì chưa… Mỗi khi được hỏi bố mẹ em đâu, đứa trẻ tội nghiệp này – đang quấn băng và nằm trên giường cấp cứu – vẫn khúc khích cười vô tư và nói “Bố mẹ con đang ở trên trời!”… Câu trả lời thật siêu thoát, vì đứa trẻ này là một… đứa trẻ!
Tinh thần vô tư, siêu thoát của ông Gióp và của cậu bé Gia Bảo nói trên không được gặp thấy nơi các môn đệ Chúa Giêsu trong câu chuyện Phúc Âm. Các ông bám/chấp vào tham vọng ‘mình là người lớn nhất’. Các ông không chấp nhận mình bé nhỏ, cũng không trân trọng người bé nhỏ. Các ông không chấp nhận người khác chỉ vì họ khác mình và không thuộc nhóm mình, cho dù họ tốt đến đâu đi nữa… Thế đấy, vấn đề nằm ở chỗ bám và chấp một cách nông cạn và mù quáng!
Chúa Giêsu không muốn chúng ta, các môn đệ của Người, bị giam hãm trong cái vòng bám/chấp hẹp hòi và nhỏ nhen ấy!
Lm. Lê Công Đức
Đức Thánh Cha đến thăm Đại học Catholique de Louvain và gặp gỡ các sinh viên trẻ, những người trong một lá thư trình bày những yêu cầu và phê bình của họ về sự sáng tạo, sự bất bình đẳng và vai trò của phụ nữ. Ngài nhắc lại tầm quan trọng của phụ nữ, yêu cầu đừng rơi vào những “tuyên bố” khiến đàn ông và phụ nữ chống lại nhau, tố cáo sự tàn bạo của chiến tranh cũng như tội ác tham nhũng và bóc lột và kêu gọi nghiên cứu vì lợi ích chung, tìm kiếm “sự thật giải phóng chúng ta”.
Chiều ngày 28/9/2024, Đức Thánh Cha đã có cuộc gặp gỡ với các sinh viên đại học tại Đại học Công giáo Louvain, một Đại học Công giáo thuộc khối nói tiếng Pháp của Bỉ, có 19 phân khoa với khoảng 30 ngàn sinh viên.
Đến phòng hội lớn của Đại học, Đức Thánh Cha được đón tiếp bởi bà Viện trưởng của Đại học Louvain, ông Viện trưởng của Đại học Leuven, Tổng Giám mục của Malines-Bruxelles trong vai trò là Đại Chưởng ấn của Đại học, và một số chức sắc chính quyền dân sự.
Bài diễn văn của Đức Thánh Cha dựa trên lá thư được các giáo sư, nhà nghiên cứu trẻ và sinh viên gửi cho ngài, suy tư về năm chủ đề sâu sắc: nguồn gốc triết học và thần học của cuộc khủng hoảng khí hậu, vị trí của cảm xúc và sự dấn thân, câu hỏi về sự bất bình đẳng, vị trí của phụ nữ và thái độ tỉnh táo và liên đới khi đối mặt với tình trạng khẩn cấp về khí hậu. Đức Thánh Cha nói:
Tương lai và nỗi băn khoăn khắc khoải.
Trong số các vấn đề các con nêu ra, cha rất ấn tượng với vấn đề về tương lai và nỗi băn khoăn khắc khoải. Thật dễ dàng nhìn thấy một sự tà ác tàn bạo và kiêu ngạo tàn phá môi trường và con người như thế nào. Nó dường như không biết giới hạn. Chiến tranh là biểu hiện tàn bạo nhất của nó; cũng như tham nhũng và các hình thức nô lệ hiện đại. Đôi khi những tệ nạn này làm hư hoại chính tôn giáo, biến nó trở thành một công cụ thống trị. Nhưng đây là sự báng bổ xúc phạm. Từ đó, sự kết hợp của con người với Thiên Chúa, Đấng là tình yêu cứu độ, bị biến thành sự nô lệ. Ngay cả tên gọi Cha, điều là mặc khải về sự quan tâm, cũng trở thành biểu hiện của sự kiêu ngạo. Thiên Chúa là Cha chứ không phải là chủ; là Con và Anh, không phải là nhà độc tài; là Thần Khí của tình yêu, không phải của sự thống trị.
Các Kitô hữu chúng ta biết rằng sự ác không có tiếng nói cuối cùng. Thậm chí chúng ta có thể nói ngày đời của nó đã được đếm sẵn. Sự ác không làm giảm đi sự dấn thân của chúng ta, trái lại còn củng cố nó, bởi vì trách nhiệm của chúng ta là hy vọng.
Kitô giáo và sinh thái
Về vấn đề này, các con hỏi cha về tương quan giữa Kitô giáo và sinh thái, nghĩa là đức tin của chúng ta có kế hoạch gì đối với ngôi nhà chung của toàn thể nhân loại. Cha sẽ nói điều đó bằng ba điều: lòng biết ơn, sứ vụ, lòng trung thành.
Lòng biết ơn
Thái độ đầu tiên là lòng biết ơn, vì ngôi nhà này được ban cho chúng ta: chúng ta không phải là những ông chủ, chúng ta là những người khách và những người hành hương trên trái đất. Thiên Chúa là Đấng đầu tiên chăm sóc nó, như Người cũng chăm sóc chúng ta. Ngôn sứ Isaia nói: Thiên Chúa “dựng nên quả đất mà không để hoang vu, nặn ra nó cho muôn loài cư ngụ” (xem Is 45,18). Và Thánh vịnh 8 đầy lòng biết ơn kinh ngạc: “Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài, thì con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm?” (Tv 8,4-5). Cảm ơn Chúa Cha của chúng ta vì bầu trời đầy sao và sự sống trong vũ trụ này!
Sứ vụ
Thái độ thứ hai là sứ vụ: chúng ta ở trong thế giới để bảo vệ vẻ đẹp của nó và vun trồng nó vì lợi ích của mọi người, đặc biệt là những thế hệ sẽ kế tiếp ngay sau chúng ta. Đây là “chương trình sinh thái” của Giáo hội. Nhưng không có kế hoạch phát triển nào có thể thành công nếu tính kiêu ngạo, bạo lực và ganh đua vẫn còn trong lương tâm chúng ta. Chúng ta cần đi đến cội nguồn của vấn đề, đó là lòng người. Tính cấp bách bi thảm của vấn đề sinh thái cũng xuất phát từ đó: từ sự thờ ơ ngạo mạn của kẻ có quyền lực, luôn đặt lợi ích kinh tế lên hàng đầu. Bao lâu các thị trường còn được ưu ái, thì ngôi nhà chung của chúng ta sẽ tiếp tục chịu bất công. Tuy nhiên, vẻ đẹp của món quà sáng tạo đòi chúng ta có trách nhiệm, bởi vì chúng ta là khách, không phải là kẻ chuyên quyền. Về vấn đề này, các sinh viên thân mến, cha mời các con hãy coi văn hóa là sự vun trồng của thế giới chứ không chỉ là sự trau dồi tư tưởng.
Trung thành
Ở đây có thách thức của sự phát triển toàn diện và điều này đòi hỏi thái độ thứ ba: sự trung thành. Trung thành với Thiên Chúa và con người. Sự phát triển này liên quan đến mọi người trong mọi khía cạnh của cuộc sống: thể chất, đạo đức, văn hóa, chính trị xã hội. Hơn nữa, hình thức phát triển này đối lập với mọi hình thức áp bức và loại trừ người khác. Giáo hội tố cáo những hành vi lạm dụng này, dấn thân trên hết cho việc hoán cải mỗi thành viên của mình, mỗi người chúng ta, cho công lý và sự thật. Theo nghĩa này, sự phát triển toàn diện kêu gọi chúng ta hướng đến sự thánh thiện, đến ơn gọi hướng tới một cuộc sống công bằng và hạnh phúc cho mọi người.
Do đó, cần thực hiện lựa chọn giữa việc thao túng thiên nhiên và vun đắp thiên nhiên. Và chúng ta phải bắt đầu từ bản chất của chính con người chúng ta – hãy nghĩ đến thuyết ưu sinh, người máy, trí tuệ nhân tạo. Lựa chọn giữa thao túng hay trau dồi cũng liên quan đến thế giới nội tâm của chúng ta.
Ai là phụ nữ và ai là Giáo hội
Việc suy nghĩ về hệ sinh thái nhân bản đưa chúng ta đến một chủ đề các con rất quan tâm, và cả cha và những người tiền nhiệm của cha cũng quan tâm: vai trò của phụ nữ trong Giáo hội. Có rất nhiều vấn đề ở đây, bao gồm bạo lực và bất công, cùng với những thành kiến về ý thức hệ. Vì vậy, chúng ta cần quay trở lại điều cốt yếu: ai là phụ nữ và ai là Giáo hội. Giáo hội là dân Chúa chứ không phải là một công ty đa quốc gia. Người nữ, giữa dân Thiên Chúa, là con gái, là chị, là mẹ. Như cha là người con, là anh, là cha. Tất cả những điều này là những mối quan hệ, diễn tả sự thật rằng chúng ta là hình ảnh Thiên Chúa, như là những người nam và người nữ, cùng nhau chứ không tách biệt! Trong Giáo hội, ngay từ khởi đầu, phụ nữ và đàn ông đều được mời gọi yêu và được yêu. Đây là một ơn gọi và cũng là một sứ mạng. Và từ đây nảy sinh vai trò của họ trong xã hội và trong Giáo hội (xem Thánh Gioan Phaolô II, Tông thư Mulieris dignitatem, 1).
Phụ nữ và nam giới không được nhắm để trở thành đối thủ, nhưng thực sự là vì nhau
Những đặc tính của phụ nữ, những điều thực sự là nữ tính, không được quy định bởi sự đồng thuận hoặc ý thức hệ, cũng như phẩm giá không được đảm bảo bởi luật được viết trên giấy nhưng bởi luật nguyên thủy được viết trên trái tim của chúng ta. Phẩm giá là gia tài vô giá, một phẩm chất nguyên thủy mà không luật lệ nào của con người có thể ban tặng hay lấy đi. Dựa trên phẩm giá chung và chia sẻ này, văn hóa Kitô giáo, trong những bối cảnh khác nhau, tìm cách phát triển những hiểu biết mới mẻ hơn về ơn gọi và sứ mạng của người nam và người nữ và sự hỗ tương của họ cho nhau trong sự hiệp thông. Họ không được nhắm để trở thành đối thủ, nhưng thực sự là vì nhau.
Chúng ta hãy nhớ rằng người phụ nữ là trung tâm của biến cố cứu độ. Chính từ tiếng “xin vâng” của Đức Maria mà Thiên Chúa đã đến thế gian. Phụ nữ nói với chúng ta về sự chào đón, nuôi dưỡng và cống hiến mang lại sự sống. Chúng ta hãy chú ý hơn đến nhiều cách diễn tả hàng ngày của tình yêu này, từ tình bạn đến nơi làm việc, từ học tập đến việc thực hiện trách nhiệm trong Giáo hội và xã hội, từ hôn nhân đến thiên chức làm mẹ, đến sự trinh khiết vì vương quốc của Thiên Chúa và để phục vụ.
Chính các con ở đây để trưởng thành như là những người nữ và người nam. Các con đang trên một cuộc hành trình, một tiến trình đào tạo nhân bản. Do đó, con đường học tập của các con bao gồm các lĩnh vực khác nhau: nghiên cứu, tình bạn, sự phục vụ xã hội, trách nhiệm dân sự và chính trị, diễn tả nghệ thuật…
Cha nghĩ đến trải nghiệm các con sống hàng ngày tại Đại học Công giáo Louvain này, và cha chia sẻ ba khía cạnh đơn giản và mang tính quyết định của giáo dục: học tập như thế nào? tại sao lại học? học cho ai?
Học thế nào
Học thế nào: không chỉ có một phương pháp, như trong mọi ngành khoa học, mà còn có một phong cách. Mỗi người có thể tự mình trau dồi. Thực ra, học tập luôn là con đường đi đến sự hiểu biết của bản thân. Nhưng cũng có một phong cách chung có thể được chia sẻ trong cộng đồng đại học. Chúng ta học cùng nhau: cảm ơn những người đã học trước tôi – những giáo viên, những người bạn học trước đây – và những người học cùng tôi, trong lớp học. Văn hóa, được hiểu như sự tự chăm sóc, do đó, bao gồm sự quan tâm lẫn nhau.
Tại sao phải học
Thứ hai: tại sao phải học. Có một động lực thúc đẩy chúng ta và có một mục tiêu thu hút chúng ta. Tuy nhiên các yếu tố này phải tốt đẹp, bởi vì ý nghĩa của việc học, hướng đi của cuộc đời chúng ta đều phụ thuộc vào chúng. Đôi khi chúng ta học để khám phá một loại công việc mới, nhưng cuối cùng lại sống vì công việc của mình, do đó trở thành “sản phẩm” thực sự. Chúng ta không nên sống để làm việc; thay vào đó, chúng ta nên làm việc để sống. Điều này dễ nói, nhưng cần phải nỗ lực liên tục để thực hiện nó.
Học cho ai
Thứ ba: học cho ai. Cho chính họ? Để chịu trách nhiệm trước người khác? Chúng ta học tập để có thể giáo dục và phục vụ người khác cách có năng lực và tự tin. Trước khi tự hỏi liệu việc học có ích lợi gì không, chúng ta hãy chắc chắn rằng nó hữu ích cho ai đó. Bằng đại học sau đó sẽ chỉ ra khả năng phục vụ lợi ích chung.
Sự thật giải thoát chúng ta
Các sinh viên thân mến, cha rất vui được chia sẻ những suy tư này với các con. Và khi suy tư, chúng ta nhận ra rằng có một thực tại vĩ đại hơn soi sáng chúng ta và vượt trên chúng ta: sự thật. Không có sự thật, cuộc sống của chúng ta mất đi ý nghĩa. Nghiên cứu có ý nghĩa khi nó tìm kiếm sự thật và khi tìm kiếm nó chúng ta hiểu rằng chúng ta được tạo ra để tìm ra sự thật. Sự thật có nghĩa là phải được tìm thấy, vì nó hấp dẫn, dễ tiếp cận và quảng đại. Nhưng nếu chúng ta từ bỏ việc tìm kiếm sự thật, thì việc học sẽ trở thành một công cụ của quyền lực, một cách để kiểm soát người khác; nó không còn phục vụ mà thống trị. Ngược lại, sự thật giải thoát chúng ta (x. Ga 8,32). Các con có muốn tự do không? Vậy hãy tìm kiếm và làm chứng cho sự thật! Và cố gắng trở nên đáng tin cậy và chân thực trong những lựa chọn đơn giản và hàng ngày của các con. Theo cách này, trường đại học của các con sẽ trở thành, mỗi ngày, đúng như mục đích ban đầu của nó: một trường đại học Công giáo!
Cảm ơn vì cuộc gặp gỡ này. Cha chân thành chúc lành cho các con và hành trình đào tạo của các con. Và cha xin các con: đừng quên cầu nguyện cho cha. Cảm ơn các con!
Sau khi chúc lành cho các tham dự viên cuộc gặp gỡ, Đức Thánh Cha đi xe mui trần vòng quanh chào các sinh viên và sau đó trở về Học viện Thánh Micae cách đó 27 km.
Học viện Thánh Micae là một cơ sở học thuật do Dòng Tên điều hành, nằm ở khu Etterbeek của Bruxells. Tại đây Đức Thánh Cha có cuộc gặp gỡ riêng với các tu sĩ dòng Tên.
Sau cuộc gặp gỡ, Đức Thánh Cha trở về Tòa Sứ thần cách đó hơn 2 km để dùng bữa và nghỉ đêm.
Chúa Nhật ngày 29/9 hôm nay, ngày cuối cùng của chuyến viếng thăm, vào lúc 10 giờ sáng, Đức Thánh Cha sẽ dâng Thánh lễ tại Sân vận động Vua Baudouin và sau đó ngài từ biệt Bỉ để trở về Roma.
Chuyện ở Bài Đọc trích sách Dân số: Thần Trí được ban cho bảy mươi bô lão, trong đó có cả hai ông không có mặt trong nhà xếp, vì vẫn còn trong lều trại. Hai ông lên tiếng nói tiên tri. Giô suê không hài lòng về điều này và đã yêu cầu Mô sê cấm hai ông không được nói tiên tri. Mô sê không đáp ứng yêu cầu ấy, ngược lại, đã trả lời rằng “ước gì toàn dân được nói tiên tri”! (x. Ds 11,25-29).
Ta thấy nơi Giô suê thái độ ganh tị, phân bì, và loại trừ người ta vì điều tốt lành nơi họ! Trường hợp tương tự cũng được thấy trong bài Tin Mừng (x. Mc 9,37-42.44.46-47): Môn đệ Gioan thấy một người không thuộc nhóm mình nhưng đã nhân danh Thầy Giêsu mà trừ quỉ, Gioan và anh em đã ngăn cấm người ấy. Các ông đơn sơ nghĩ như vậy là đúng đắn, nhưng Chúa Giêsu bảo: “Ðừng ngăn cấm y, vì chẳng ai có thể nhân danh Thầy mà làm phép lạ, rồi liền đó lại nói xấu Thầy. Ai chẳng chống đối anh em, là ủng hộ anh em. Ai nhân danh Thầy mà cho anh em một ly nước vì lẽ anh em thuộc về Ðấng Kitô, Thầy bảo thật anh em: kẻ đó sẽ không mất phần thưởng đâu”.
Rõ ràng, Chúa Giêsu chủ trương cởi mở và bao gồm, chứ không đóng kín và loại trừ. Những năng lực Chúa ban, như trừ quỉ ở đây hay nói tiên tri trong câu chuyện sách Dân số, là ân sủng đặc biệt. Còn nhóm này hội nọ, xét như tổ chức hữu hình, là những cơ chế. Chiều kích cơ chế là để phục vụ cho chiều kích đặc sủng, nó không kiểm soát đặc sủng như một chủ nhân có toàn quyền. Chỉ Thiên Chúa mới là chủ nhân có toàn quyền trên các ân sủng của Ngài.
Cơ chế phục vụ cho đặc sủng; vậy đặc sủng phục vụ cho cái gì? Phục vụ con người, trước hết là người nghèo khổ, người yếu thế, người bé mọn. Đoạn Thư Gia cô bê hôm nay (Gc 5,1-6) là một bản cáo trạng vạch trần sự lãnh đạm, độc ác và phi nhân của những người giàu bóc lột người nghèo: “Các ngươi đã ăn uống say sưa ở đời này, lòng các ngươi đã tận hưởng khoái lạc trong ngày sát hại. Các ngươi đã lên án và giết chết người công chính, vì họ đã không kháng cự lại các ngươi”… Bản cáo trạng này bảo vệ người nghèo khổ, bé mọn – và xác nhận rằng họ phải được quan tâm phục vụ chứ không thể bị khai thác bóc lột bởi kẻ giàu… Bởi nếu con người bị bỏ quên, bị loại trừ, thì chiều kích đặc sủng và – do đó – cả chiều kích cơ chế (chẳng hạn, của Giáo hội) cũng chẳng để làm gì!
Chính trong nhãn giới trân trọng con người này mà ta hiểu sự nhấn mạnh của Chúa Giêsu về giá trị của một ly nước lã được chia sẻ nhân danh Người, cũng như về sự tồi tệ của những gương xấu làm hư hỏng những anh em bé mọn của Người! Ly nước lã là một việc tốt có vẻ nhỏ nhưng không nhỏ. Gây gương xấu cho một người bé mọn, cũng có vẻ chuyện nhỏ nhưng không hề nhỏ. Cả hai điều đó, tốt và xấu, đều là chuyện lớn trước mặt Chúa!
Xin Chúa giúp ta vượt qua thói kiêu căng ganh tị, để tôn trọng hoạt động của ân sủng Chúa. Xin cho ta biết cởi mở và bao gồm, chứ không đóng kín và loại trừ. Bởi con người là con đường của Thiên Chúa, nên con người cũng phải là con đường của chúng ta…
Lm. Lê Công Đức
Đức Thánh Cha nhắc rằng thế giới kinh tế cần một sự thay đổi. Những người trẻ của “Nền kinh tế Phanxicô” sẽ không thay đổi thế giới kinh tế chỉ bằng cách trở thành bộ trưởng, người nhận giải Nobel hay những nhà kinh tế vĩ đại – tất nhiên tất cả những điều này là tốt đẹp-, nhưng trước hết, những người làm kinh tế theo tinh thần của Thánh Phanxicô sẽ thay đổi kinh tế bằng cách yêu mến, đưa những giá trị và sức mạnh của sự tốt lành, với tinh thần Tin Mừng của Phanxicô Assisi vào nền kinh tế.
Theo Đức Thánh Cha, không phải người vĩ đại và quyền thế thay đổi thế giới làm cho nó tốt đẹp hơn, nhưng chính tình yêu là yếu tố đầu tiên và vĩ đại nhất của sự thay đổi. Trích lời Chân phước Giuseppe Toniolo, một nhà kinh tế học, về đời sống thánh thiện, ngài nói rằng người thực sự cứu xã hội “sẽ không phải là một nhà ngoại giao, một học giả, một anh hùng, nhưng là một vị thánh, một xã hội của các thánh”. Đây là lý do tại sao Đức Thánh Cha muốn tập trung tất cảphong trào Kinh tế Phanxicô vào Thánh Phanxicô Assisi. Chỉ bằng cách từ bỏ tất cả vì tình yêu Chúa Giêsu và người nghèo, thánh nhân đã tạo ra một động lực mới cho sự phát triển của nền kinh tế.
Đức Thánh Cha tiếp tục bài nói chuyện, tập trung vào ba cụm từ: làm chứng, không lo sợ, hy vọng mà không mệt mỏi.
Trước hết: làm chứng. Ngài giải thích nếu các thành viên của Nền kinh tế Phanxicô muốn những người trẻ khác tiếp cận nền kinh tế với lý tưởng của họ, thì họ phải làm chứng. Chứng tá sẽ thu hút người trẻ, nhưng việc thu hút không phải là để cho phong trào ngày càng có nhiều thành viên và mạnh mẽ, nhưng để truyền đạt cho nhiều người những gì họ đã nhận được, đó là “tin vui” được linh hứng bởi Tin Mừng, ngay cả nền kinh tế cũng có thể thay đổi tốt hơn.
Đối với điểm thứ hai không lo sợ, Đức Thánh Cha lặp lại những gì ngài đã nói tại Ngày Giới trẻ Thế giới ở Lisbon: “Các con đừng là những người quản lý sự lo sợ, nhưng là những doanh nhân của những giấc mơ. Có nhiều điều mới phải làm, Kitô hữu không bao giờ sợ cái mới. Kitô hữu biết Thiên Chúa là Chúa của lịch sử và mặc dù có những thăng trầm, lịch sử luôn có Chúa Giêsu là mục tiêu”.
Cuối cùng, hy vọng không mệt mỏi. Đức Thánh Cha nói ngài biết không dễ đề xuất một nền kinh tế mới trong khi các cuộc chiến tiếp tục, ngành công nghiệp vũ khí phát triển mạnh lấy đi các nguồn lực từ người nghèo, nền dân chủ bị đe dọa, bất bình đẳng đang gia tăng, và hành tinh ngày càng bị tổn thương. Nhưng cần nhớ những gì Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Đừng sợ”. Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Chúa sẽ giúp đỡ các con, và Giáo Hội sẽ không để các con một mình”.
Nguồn. Vatican News
Đoạn sách Giảng viên hôm nay nói cách riêng với người trẻ (thanh thiếu niên), nhưng lại nói về buổi hoàng hôn của cuộc đời, của lịch sử, khi tất cả cái hữu hình xung quanh dần lặng tắt, vỡ tan, không còn… Rõ ràng đó là một lời cảnh báo cần thiết cho người trẻ vốn giàu xung năng mà ít kinh nghiệm, để giúp họ tỉnh táo. Lời được nhắc lại: “Mọi sự đều phù vân”!…
Cùng một âm hưởng, cách nào đó, với đoạn sách Giảng viên trên kia, bài Tin Mừng cực ngắn trích từ Luca đặt ta trong bối cảnh “mọi người đang thán phục Chúa Giêsu về những gì Người làm”, tức là xem ra ‘huy hoàng’, ‘thăng hoa’ lắm lắm… Nhưng Chúa Giêsu rất tỉnh táo, không bị cuốn bởi thứ cảm giác và tâm trạng ấy, ngược lại, Người nhắc các môn đệ rằng “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời”!
Các môn đệ, dù không còn quá trẻ, nhưng vẫn không hiểu. Không hiểu vì tự nhiên không thích. Không hiểu vì không sẵn sàng để đón nhận… Cho tới khi Thầy bị nộp thật, và bị chết trên Thập giá, các ông vẫn không hiểu chi. Không hiểu, mà cũng không dám hỏi, vì các ông không chỉ sợ đối diện với những điều u ám ấy, mà sợ cả việc nghe nói về nó nữa. Một dạng tâm lý né tránh vấn đề, né tránh thực tế, và nói chung là né tránh sự thật!
Xin Chúa cho chúng ta, dù trẻ hay già, cũng biết tỉnh táo, để không bị ‘mất hút’ trong những điều vô thường, chóng qua nhưng lại dễ đánh lừa và ru mình, không cho phép mình nhìn đủ xa và trông đủ rộng… hầu chúng ta có thể hiểu và đảm nhận được sự khôn ngoan của thập giá trong đời sống mình…
Lm. Lê Công Đức