Xuyên suốt Năm Phụng vụ, chúng ta cử hành mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô. Mầu nhiệm ấy được chuẩn bị bằng lời hứa, sự chờ đợi… rồi chính thức bắt đầu với Lời nhập thể, Giáng sinh, làm người qua các giai đoạn, dẫn tới sứ vụ của Chúa Giêsu, và đạt cao trào trong Mầu nhiệm Vượt qua: cái chết Thập giá và sự sống lại của Người… để cuối cùng, điểm tới là cuộc vinh thăng và làm Vua, theo nghĩa được Chúa Cha trao ban vinh quang, sức mạnh và vương quyền trên tất cả.
Vương quyền ấy đã được báo trước nơi Con Người (viết hoa) trong thị kiến của Đanien (Đn 7,13-14): “Con Người đến trong đám mây trên trời… Vị Bô Lão ban cho Ngài quyền năng, vinh dự và vương quốc: tất cả các dân tộc, chi họ, và tiếng nói đều phụng sự Ngài; quyền năng của Ngài là quyền năng vĩnh cửu, không khi nào bị cất mất; vương quốc của Ngài không khi nào bị phá huỷ”.
Lời Thánh vịnh 92 (Đáp ca) xác nhận tư cách “Vua” nói trên: “Chúa làm Vua, Ngài đã mặc thiên oai” – và còn nêu rõ đây là vị Vua ‘từ muôn thuở và cho đến mãi muôn đời’. Như vậy, trong tương quan với con người chúng ta, và với toàn thể vũ trụ thụ tạo, trước sau Chúa vẫn là Vua, không có lúc nào mà Chúa không là Vua. Vấn đề là vị Vua này không luôn luôn được thần phục. Hay nói rõ hơn, Ngài bị làm phản, bị thách thức bởi tội lỗi của con người, và Ngài phải đi qua một lộ trình chinh phục để có được sự thần phục cuối cùng, phổ quát và dứt khoát. Đó là lịch sử cứu độ.
Con đường mà Đức Vua chinh phục sự thần phục không phải là dùng sức mạnh của vũ lực để trấn áp, mà ngược lại, Ngài để cho bạo lực của sự dữ nghiền nát mình. Bài đọc sách Khải huyền cũng nói đến vinh quang và quyền lực của Vua Kitô, nhưng không quên nhắc mối nối kết giữa vinh quang ấy với cái chết, vết đâm, và đổ máu (x. Kh 1,5-8).
Tất cả điều này hiện lên rõ ràng trong cuộc đối mặt giữa Chúa Giêsu và tổng trấn Philatô (x. Ga 18,33-37). Đừng quên, đây là cuộc Khổ nạn đang diễn ra, và vị Vua ‘từ muôn thuở cho đến muôn đời’ ấy sắp… chịu chết! Người tự giới thiệu: “Tôi là Vua… Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thì những người của tôi đã chiến đấu để tôi không bị nộp cho người Do-thái, nhưng mà nước tôi không thuộc chốn này… Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về Sự Thật. Ai thuộc về Sự Thật thì nghe tiếng Tôi”…
Tới đây thì Philatô lắc đầu, thực sự không hiểu nổi. Ông nhún vai: “Sự thật là cái gì?”… Vậy chúng ta nghĩ xem, hai tiếng ‘Sự Thật’ ở đây là gì và có trọng lượng như thế nào?
Sự Thật đó chính là tất cả Mầu nhiệm mà chúng ta cử hành từ Chúa nhật I Mùa Vọng năm ngoái cho đến hôm nay. Sự Thật đó là Thiên Chúa Cha đã yêu thế gian đến nỗi trao ban Con Một, để những ai tin vào Người Con ấy thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời. Sự Thật đó là chính Chúa Giêsu, khuôn mặt của lòng thương xót của Chúa Cha. Sự Thật đó là đã đến lúc người ta không còn tôn thờ Thiên Chúa trên núi này hay núi kia, mà tôn thờ Ngài trong tinh thần và chân lý. Và Sự Thật đó là Chúa Giêsu là Vua, nhưng khi đám đông tôn Người làm một ông vua vinh quang kiểu thế gian thì Người bỏ trốn; chỉ khi Người chịu treo lên Thập giá, thì Người mới mang tấm bảng phía trên đầu giới thiệu mình là Vua. Một vị Vua thay vì mặc hoàng bào thì bị lột trần trụi, một vị Vua với vương miện là vòng gai, và thay vì cầm phủ việt và ngự ngai vàng thì tay chân bị đóng đinh ghim chặt vào cây gỗ!
Bất ngờ quá, và lạc tần số quá, nên Philatô không hiểu, và chúng ta nhiều khi cũng không hiểu hơn ông bao nhiêu! Mừng Chúa Giêsu Kitô Vua vũ trụ, đó trước hết là hiểu con đường của Người và bước đi trên con đường đó. Quả thật, trong Phép Rửa, mỗi chúng ta cũng là vương đế, là vua, tham dự vào vương quyền của Chúa Giêsu. Và vương quyền này chỉ nhằm để phục vụ như một tôi tớ cho anh chị em mình, chứ không nhằm gì khác.
Mừng Chúa Giêsu Kitô Vua, nhưng mỗi người cũng nên tự hỏi, cuộc sống và những giá trị, những chọn lựa của tôi cho thấy Chúa đã thực sự chinh phục được sự thần phục của tôi chưa?
Lm. Lê Công Đức
Dưới con mắt của thế gian, Vua là người có quyền và có địa vị, uy phong và lẫm liệt. Vua sẽ dùng quyền lực để cai trị dân. Thế nhưng, vị Vua mang tên Giêsu, Ngài dùng tình yêu để hướng dẫn, Ngài dùng sự khiêm tốn để làm mẫu gương cho con người. Vương Quốc của Ngài là ở trên Thiên Đàng như lời Ngài đã nói với Philatô: Nước Tôi không thuộc về thế gian này, nếu nước Tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của Tôi đã chiến đấu không để Tôi bị nộp cho người Do Thái.” (Ga 18,36).
Thật thế vương quốc của Vua Giêsu không thuộc về thế gian này. Vương quốc của Ngài cũng không có lãnh thổ hay tài nguyên, không giới hạn bởi thời gian và không gian. Vương Quốc của Ngài được xây dựng trên sự thật và tình yêu.
Quả thật, Ngài là vị Vua đã đến và làm chứng cho sự thật như lời Ngài đã nói “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian chính là để làm chứng cho sự thật”. Chính vì sống cho sự thật và công lý, Ngài đã trở thành một tử tội trước mặt quan toà Philatô, và Ngài đã chấp nhận cái chết trên thập giá. Mỗi người Kitô hữu là môn đệ của Vua Kitô, muốn bước theo Ngài chúng ta cần sống và làm chứng cho chân lý, vì “Ai thuộc về chân lý thì nghe tiếng Tôi” (X. Ga 18,37). Sống và làm chứng cho chân lý nghĩa là sống ngay thẳng, không giả dối và can đảm tuyên xưng Đức tin dẫu có phải chấp nhận muôn vàn khó khăn, thử thách và có khi dám chết vì đạo. Lời Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II vẫn còn vang vọng: “Hãy đi đến các ngả đường, sống đức tin của chúng con với niềm vui vẻ, hãy mang đến cho mọi người Ơn cứu độ của Đức Kitô, ơn ấy phải thâm nhập vào trong gia đình, trường học, trong các nền văn hóa và đời sống chính trị!” Đừng sợ phải đi ngược dòng! Làm cho Đức Kitô hiển trị, là trở nên tông đồ lôi kéo nhiều linh hồn về với Chúa là Vua Vương Quốc Yêu Thương và An Bình.
Hơn nữa, Vua Kitô là vị Vua đầy tình yêu thương. Cái chết của Ngài làm chứng cho tình yêu, vì “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15, 13). Như thế, vương quốc của Vua Kitô còn là vương quốc của Tình yêu, nên chỉ những ai sống yêu thương mới đích thực là thần dân của Người như lời Chúa dạy và như mẫu gương Chúa yêu thương ta để được hưởng hạnh phúc trong vương quốc của Người. Như thế, chúng ta đang ở trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian. Chúng ta có bổn phận làm cho tình yêu, sự dịu dàng, hiền lành, vẻ đẹp trở lại vương quốc của Chúa.
Đức Giêsu đã chỉ cho chúng ta thấy vị Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô bờ bến và muốn đón nhận chúng ta vào trong sự hiệp thông. Đức Giêsu muốn đưa chúng ta đến sống với Chúa Cha bằng sự sống mà chính Người đang sống, để chúng ta có được sự an toàn, niềm vui thâm sâu. Vì thế, bổn phận của mỗi người Kitô hữu là hãy mang chân lý và tình yêu đến với những ai mà chúng ta gặp gỡ.
Mary Kim Mỹ
Tác giả sách Khải huyền nghe lời sấm trong thị kiến về hai chứng tá của Chúa bị con mãnh thú giết chết. Nhưng “sinh khí từ Thiên Chúa nhập vào các ngài. Và các ngài đứng dậy, khiến cho những người trông thấy phải khiếp sợ. Rồi các ngài nghe có tiếng vang lớn từ trời phán cùng các ngài rằng: ‘Hãy lên đây’. Các ngài liền lên trời, trong đám mây trước mắt các địch thù của các ngài”… Đây là chuyện chết đi, sống lại, và hiển thắng!
Câu chuyện những người Sa-đốc chất vấn, và câu trả lời của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng cũng trao thông điệp về kẻ chết sống lại. Sự sống lại ở chung cục lịch sử và sự sống đời sau là điều rất cốt yếu thuộc đức tin của chúng ta. Thánh Phaolô tuyên bố: “Nếu kẻ chết không sống lại, thì Đức Kitô đã không sống lại; mà nếu Đức Kitô đã không sống lại, thì lời rao giảng của chúng tôi trở nên trống rỗng, và đức tin của anh em cũng ra trống rỗng”.
Chúng ta tạ ơn Chúa vì đức tin này của mình. Ta không chứng minh được cho những ai không tin hay phi bác. Nhưng với ơn đức tin, chúng ta thấy sự thật về sự sống lại và sự sống đời sau thật là quá tốt, quá đẹp, quá đúng! Nếu không có sự sống đời sau, thì còn đâu ý nghĩa cho sự sống đời này, nhất là các ‘bi kịch’ của nó!
Tuy nhiên, trong thực tế đôi khi chính đức tin này của chúng ta bị rúng chuyển vì không đủ mạnh. Sự sống đời sau nằm ở tương lai, nên đức tin này được thể hiện trong đức cậy, trong niềm hy vọng. Theo nghĩa này, Năm Thánh 2025 sắp tới, với chủ đề “Những người hành hương của hy vọng”, muốn giúp mỗi người chúng ta củng cố đức cậy Kitô giáo của mình. Khi thánh Phaolô nói về “Hy vọng không làm thất vọng”, đó là ngài nói về niềm hy vọng là chính Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chết và sống lại để đem ơn cứu độ là sự sống đời đời cho chúng ta.
Đức thánh cha Phanxicô, trong Sắc chỉ Spes non confundit công bố Năm Thánh, đã suy tư sâu sắc về ‘chân trời’ của đức cậy là những thực tại cuối cùng: chết, sống lại, phán xét, sự sống hạnh phúc đời đời (x. số 18-25). Ta hãy cầu xin ơn trông cậy (hy vọng) và hãy thường xuyên diễn tả niềm trông cậy:
Lạy Chúa, con trông cậy vững vàng, vì công nghiệp Chúa Giêsu Kitô, thì Chúa sẽ ban cho con giữ đạo nên ở đời này, cho ngày sau được lên thiên đàng, xem thấy mặt Đức Chúa Trời, hưởng phước đời đời. Vì Chúa là Đấng phép tắc và lòng lành vô cùng đã phán hứa sự ấy chẳng có lẽ nào sai được. Amen.
Lm. Lê Công Đức
Thị kiến của Gioan về ‘nuốt quyển sách’ rõ ràng gợi ý rằng Lời của Chúa cũng là lương thực, để nuốt, để tiêu hoá. Đặc tính của Lời là cay đắng nhưng ngọt ngào. Cay đắng, vì ‘thuốc đắng đã tật’. Ngọt ngào, vì ‘đã tật’ tức được chữa lành rồi, thì còn gì dễ chịu và khoẻ khoắn hơn!
Khi Chúa Giêsu xua đuổi những người buôn bán trong Đền thờ, Người đã nhắc lại một lời Sách Thánh đầy cay đắng: “Nhà Ta là nhà cầu nguyện, các ngươi đã biến thành sào huyệt trộm cướp”! Đền thờ rất nguy nga, là biểu tượng đệ nhất của tôn giáo và là niềm tự hào của dân tộc… Đền thờ được coi là nơi thánh thiêng, nơi Thiên Chúa ngự… Nhưng Chúa Giêsu nhận định: người ta đã biến Đền thờ thành sào huyệt trộm cướp! Nghe một lời như vậy mà không cay và không đắng sao được!
Cay và đắng nhất, đó là giới chức sắc hữu trách tôn giáo, vốn có liên hệ mật thiết với Đền thờ hơn đám dân đen. Vì thế, họ – tức “các thượng tế, kinh sư và kỳ lão trong dân – tìm cách hại Người”. Nhưng căng cho họ, muốn vậy mà chưa dễ làm gì được đâu, vì “dân chúng hết thảy đều chăm chú nghe Người”!
Dân chúng hết thảy đều chăm chú nghe Chúa Giêsu – yếu tố này có thể ví với thực tại ‘sensus fidei’, tức cảm thức đức tin, trong Dân Thiên Chúa. ‘Cảm thức đức tin’ này là một điểm tựa căn bản cho nỗ lực làm sống hoạt tính ‘đồng hành đồng nghị’ (hiệp hành) để canh tân đời sống và sứ mạng của Giáo hội ngày nay.
Thật vậy, Thượng Hội đồng Giám mục vừa qua, sau ba năm làm việc từ cấp địa phương cho đến Rôma, đã xác định rõ ràng nhu cầu về một cuộc canh tân Giáo hội một cách sâu rộng. Giấy trắng mực đen rồi, chứ không còn mơ hồ nữa, bằng chứng là Tài liệu Chung kết đã được chính Đức giáo hoàng Phanxicô ký. Tại sao Giáo hội cần canh tân kịp thời và đúng mức? Tại vì, có thể nói, cần dọn dẹp bất cứ dấu hiệu nào về ‘những người buôn bán’ trong Đền thờ là Giáo hội. Tại vì không ai muốn nghe lời gây cay đắng về Giáo hội như ngày xưa Chúa nói về Đền thờ Giêrusalem!
Nhưng ngay cả dù nghe thấy lời na ná như thế qua phân định, thì chúng ta cũng phải khiêm tốn và chân thành cảm ơn Chúa – để vào cuộc hoán cải cần thiết, tin rằng ‘thuốc đắng đã tật’, và cay đắng sẽ trở nên ngọt ngào…
Lm. Lê Công Đức
Sự kiện Đức Maria dâng mình trong Đền thánh từ tuổi rất sớm được đề cập trong một truyền thống bên ngoài Thánh Kinh qui điển, nhưng dựa trên sự thật nền tảng là Mẹ hoàn toàn THUỘC VỀ Thiên Chúa và thuộc về công cuộc của Thiên Chúa. Ngày nay, từ ngữ thường dùng để chỉ sự ‘dâng mình’ này là ‘được thánh hiến’.
Sau này, Mẹ sẽ sinh hạ Chúa Giêsu; và cùng với thánh Giuse, Mẹ dâng Giêsu vào Đền thánh (lễ ngày 2 tháng 2, được chọn làm Ngày của Đời sống Thánh hiến). Việc dâng Chúa Giêsu vào Đền thánh ấy không chỉ là việc làm theo nghi thức luật định, mà đó là mẫu thức, là nền tảng của mọi sự thánh hiến trong toàn thể dòng lịch sử, trước cũng như sau đó. Không có sự thánh hiến đúng nghĩa nào mà ở ngoài và không đặt nền trên sự thánh hiến của Chúa Con đối với Chúa Cha.
Nhưng thánh hiến, hay ‘thuộc về Thiên Chúa’, nghĩa là gì? Nghĩa là không còn thuộc về ai hay cái gì khác nữa, kể cả cha mẹ và gia đình ruột thịt của mình. Mọi tương quan tự nhiên của con người vẫn còn đó, nhưng không có ý nghĩa tự nơi chính nó, mà chỉ nhận được ý nghĩa trong bản chất ‘thuộc về Thiên Chúa’ do sự thánh hiến này mà thôi.
Maria không ở luôn trong Đền thánh, nhưng trở về với đời thường, có điều về với đời thường mà đã thánh hiến rồi! Ta hiểu tại sao Maria thành hôn với Giuse mà nói “tôi không biết đến người nam”, và rồi sinh con mà vẫn đồng trinh trọn đời!
Ta hiểu tại sao Chúa Giêsu nói “Cha mẹ không biết là con phải có bổn phận trong nhà của CHA con sao?”… Rồi trong sứ vụ, Người nói với các môn đệ và đám đông nghe Người giảng (khi có người nhắc đến mẹ và anh em Người): “Ai là mẹ tôi ? Ai là anh em tôi ?… Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi”. Không còn đóng lại trong gia đình huyết thống bé nhỏ nữa, mà đã mở ra gia đình thiêng liêng rộng lớn vô hạn rồi!
Ta cũng hiểu tại sao Chúa Giêsu tuyên bố “Ai theo Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em, và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Ta”… Chúa cũng nói “Ai yêu cha mẹ hơn Ta… ai yêu con trai con gái hơn Ta, thì không xứng đáng với Ta”…
Và ta hiểu tại sao thánh Phaolô nói về hôn nhân của các tín hữu là để ‘diễn tả tình yêu giữa Đức Kitô và Hội Thánh’. Nghĩa là: người tín hữu cưới vợ cưới chồng, sinh con đẻ cái… là sống ơn gọi và thực thi sứ mạng của mình để phục vụ cho công cuộc của Thiên Chúa. Điều này đặt nền trên sự THÁNH HIẾN do Phép Rửa của họ.
Những sự thánh hiến do Bí tích Truyền chức hay do lời khấn tu trì diễn tả tình trạng thuộc về Thiên Chúa cách triệt để ngay trong lối sống/bậc sống của người ta. Nhưng cả những sự thánh hiến này cũng không đặt nền ở đâu khác ngoài Phép Rửa. Nói tóm, là Kitô hữu tức là đã được thánh hiến – sự thánh hiến căn bản này in dấu của nó trên toàn thể con người và đời sống của chúng ta, dù đi tu hay kết hôn hay sống độc thân giữa đời, dù ở đâu và làm nghề gì, dù sống hay chết!
Xin ‘Mẹ Dâng Mình’ truyền cảm hứng và niềm khao khát ‘hoàn toàn thuộc về Chúa’ cho chúng ta.
Lm. Lê Công Đức
Trong sứ điệp gửi đến tổng thống của Brazil, nước chủ nhà Hội nghị thượng đỉnh G20 về hợp tác kinh tế quốc tế, Đức Thánh Cha kêu gọi những nỗ lực ngay lập tức và thống nhất để xóa bỏ nạn đói nghèo trên thế giới.
Sứ điệp của Đức Thánh Cha được Đức Hồng y Quốc vụ khanh Tòa Thánh Pietro Parolin đọc tại Hội nghị khai mạc vào ngày 18/11/2024 tại Rio de Janeiro với sự hiện diện của các nhà lãnh đạo của 19 quốc gia thành viên, cùng với Liên minh châu Phi và Liên minh châu Âu.
Đức Thánh Cha nhấn mạnh sự cần thiết cấp bách và hàng đầu là xóa bỏ nghèo đói trên thế giới khi hàng triệu người vẫn đang phải đau khổ và chết vì đói, trong khi hàng tấn thực phẩm bị vứt bỏ. Ngài nói rằng “điều này thực sự là một tai tiếng” và nhấn mạnh rằng “nạn đói là tội ác; thực phẩm là quyền bất khả xâm phạm”.
Chiến tranh xung đột làm trầm trọng thêm nạn đói nghèo
Thừa nhận những vấn đề do chiến tranh, xung đột và bất công dai dẳng gây ra, Đức Thánh Cha nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tìm ra những cách thức mới để đạt được “một nền hòa bình ổn định và lâu dài trong mọi lĩnh vực liên quan đến xung đột, với mục tiêu khôi phục phẩm giá cho những người bị ảnh hưởng”. Ngài chỉ ra rằng cái chết và sự tàn phá do những cuộc chiến này gây ra cũng góp phần làm trầm trọng thêm nạn đói nghèo ảnh hưởng đến những nơi thậm chí còn xa nơi xảy ra xung đột do sự gián đoạn chuỗi cung ứng và số tiền khổng lồ được chi cho vũ khí.
Hành động chung của cộng đồng quốc tế
Đức Thánh Cha bày tỏ lo ngại rằng hiện nay thế giới vẫn chưa tìm ra cách giải quyết thảm kịch đói nghèo, và “sự chấp nhận im lặng” này của xã hội là “một sự bất công đáng xấu hổ và là một tội nghiêm trọng”. Điều này đặc biệt đúng khi những kẻ cho vay nặng lãi hoặc tham lam gây ra nạn đói cho anh chị em mình, tức là “giết người”. Ngài kêu gọi phải hành động ngay lập tức và quyết liệt để xóa bỏ nạn đói nghèo. Hành động như vậy phải được thực hiện theo cách chung tay và hợp tác, với sự tham gia của toàn thể cộng đồng quốc tế.
Chống lại lãng phí thực phẩm
Đức Thánh Cha cũng chỉ ra rằng cần có hành động tập thể để giải quyết tình trạng lãng phí thực phẩm, vì ngay cả ngày nay vẫn có đủ thực phẩm để nuôi sống mọi người, nhưng lại phân phối không đồng đều vì nhiều lý do. Cần thực hiện đề xuất lâu dài của Tòa Thánh “chuyển hướng các khoản tiền hiện đang được phân bổ cho vũ khí và các khoản chi tiêu quân sự khác sang một quỹ toàn cầu được thiết kế để giải quyết tình trạng đói nghèo và thúc đẩy phát triển ở các quốc gia nghèo nhất”.
Cam kết của Tòa Thánh
Cuối sứ điệp, Đức Thánh Cha đảm bảo rằng Tòa Thánh sẽ tiếp tục nỗ lực thúc đẩy phẩm giá con người và đóng góp của chính mình thông qua việc chia sẻ kinh nghiệm và sự tham gia của các tổ chức Công giáo trên toàn thế giới, “để không một con người nào trên thế giới này, như là một người được Thiên Chúa yêu thương, lại bị tước mất cơm bánh hằng ngày”.
Nguồn. Vatican News
Người chủ giao vốn cho gia nhân làm lợi, rồi đi vắng. Một thời gian sau, ông trở về, gọi các gia nhân và yêu cầu quyết toán. Có người sinh lợi nhiều hơn, có người ít hơn. Nhưng vấn đề thực sự là ở chỗ có người không sinh lợi, do suy nghĩ tiêu cực về chủ của mình. Như câu chuyện cho thấy, anh ta phải trả lẽ.
Ý niệm về sinh lợi rất quen thuộc với con người, nhất là ngày nay, khi khả năng kiếm tiền được nhiều người đặt lên làm giá trị thứ nhất. Chính Thiên Chúa của chúng ta cũng là một Thiên Chúa muốn hiệu năng/hiệu quả, chỉ khác là Ngài không đặt hiệu quả kinh tế, vật chất lên hàng đầu. Ngay từ buổi ban đầu, Ngài dựng nên con người để sinh sôi nảy nở – và Ngài giao cho con người quản trị công trình tạo dựng để canh tác và phát triển, chứ không chỉ để tồn tại trong hiện trạng của nó.
Anh đầy tớ giữ nguyên một nén bạc của chủ và trả lại cho chủ ấy là một đầy tớ bất hợp tác, lười biếng, và thậm chí nuôi mầm phản loạn. Vấn đề lớn nhất của anh, đó là anh cưỡng lại ý của chủ. Ông chủ đặt anh làm người quản lý để sinh lợi từ vốn được giao, thì anh lại miễn cưỡng đặt mình làm thủ kho/thủ quĩ theo nghĩa là giữ nguyên cái mình nhận từ chủ. Khi chủ nói “sao không gửi bạc của ta vào ngân hàng?”, thì anh ta cứng họng, không thể biện bạch gì được!
Câu chuyện này, vì thế, có thể có một loạt hàm ý:
-Thiên Chúa là chủ tối thượng và duy nhất; mỗi chúng ta là một người quản lý tài sản Chúa giao, để sinh lợi.
-Tất cả những gì ta có, từ vật chất tới tinh thần, cả tri thức, các khả năng, sức khoẻ, thời giờ, và chính sự sống của ta… đều thuộc về Chúa và đều để sinh lợi cho công cuộc của Chúa.
-Tiêu pha tài sản Chúa giao theo cách tội lỗi, đó hiển nhiên là điên rồ chống lại Thiên Chúa rồi.
-Nhưng lười biếng không cố gắng sinh lợi từ vốn liếng được giao, đó cũng là chống lại ý muốn của Chúa, và chắc chắn phải chịu trách nhiệm về điều này.
-Trong thực tế đời sống luôn vận động, ta không thể thực sự ‘giữ nguyên’ một món vốn nào. Nó sẽ hao mòn, hay sẽ mất giá vì ‘lạm phát’. Cũng như con thuyền đi ngược dòng, không tiến ắt sẽ lùi, không đứng yên được.
Điều cuối cùng nói trên, tức ảo tưởng ‘giữ nguyên’, có thể mang hình thức ‘tư duy nhiệm kỳ’ khi ứng vào những người ở vị trí hữu trách cộng đoàn. Tôi chỉ ở chức vụ này chừng ấy năm nữa thôi, hay tôi còn có vài năm là sẽ nghỉ hưu rồi, nên tôi chỉ cần ‘giữ nguyên’ mọi sự, chẳng cần làm gì có tính ‘xông pha trận mạc’… Như vậy là chỉ cai trị chứ không phải là lãnh đạo! Như vậy là hài lòng với hiện trạng (status quo), tức vô tình chống lại chính Thánh Thần, Đấng không ngừng đổi mới mặt địa cầu.
Đức thánh cha Phanxicô có thể là một tấm gương rất tốt cho thái độ không giữ nguyên nén bạc chờ bàn giao cho người kế tiếp. Ngài làm Giáo hoàng ở tuổi 76, một năm sau khi nộp đơn xin nghỉ hưu. Nhưng ‘ông già’ ấy làm việc hết sức cần mẫn và nhiệt tình cho tới nay đã 87 tuổi, luôn thao thức đưa Giáo hội vào một cuộc canh tân cần thiết như lòng Chúa mong muốn, và vì thế cũng đầy thách đố. Sức mạnh ở đâu, cảm hứng ở đâu mà ngài có thể cho thấy ‘phong độ’ như thế ở độ tuổi cao như thế? Chúng ta có thể tự trả lời được.
Điều quan trọng cho mỗi chúng ta, dù ở vị trí nào trong Giáo hội, đó là chúng ta có muốn và mau mắn hưởng ứng cuộc canh tân Giáo hội mà Thượng Hội đồng Giám mục vừa qua đã phác hoạ trong Tài liệu Chung kết hay không?
Lm. Lê Công Đức
Đức Thánh Cha gửi thư cho các giáo xứ, tổ chức Công giáo và các dòng tu đang phục vụ tại Giáo phận Roma, mời họ mở các cơ sở hoặc căn hộ trống cho người vô gia cư như một “dấu hiệu hữu hình” của hy vọng cho người nghèo trong Năm Thánh 2025.
Trong một thư viết ngày 8/11 và được Phòng báo chí Toà Thánh công bố một tuần sau đó, Đức Thánh Cha viết: “Nhân dịp Năm Thánh, tôi yêu cầu giáo phận của tôi thể hiện dấu hiệu cụ thể về sự quan tâm đến vấn đề nhà ở, để bên cạnh việc chào đón những người hành hương sẽ đến, các hình thức bảo vệ cũng được thực hiện cho những người không có nhà hoặc có nguy cơ mất nhà”.
Thư của Đức Thánh Cha được gửi cụ thể tới “các bề trên dòng tu, đại diện hợp pháp của các tổ chức Giáo hội, các mục tử và giáo sĩ”, yêu cầu các tổ chức Giáo hội ở Roma sở hữu bất động sản phải đóng góp vào việc giảm bớt cuộc khủng hoảng nhà ở của thành phố.
Ngài viết tiếp: “Những dấu hiệu của lòng bác ái và tình liên đới là cần thiết để tạo ra niềm hy vọng cho hàng ngàn người dân ở thành phố Roma đang sống trong điều kiện nhà ở bấp bênh”.
Trong phúc trình công bố vào tháng 7, Caritas Roma cho biết trong khi có “khoảng từ 120.000 đến 150.000 căn hộ trống ở Roma”, thì có ít nhất 22.000 người đang sống trên đường phố và hàng ngàn người khác chỉ cần chậm thanh toán một vài khoản là có thể bị đuổi khỏi nhà. Và vấn đề trở nên xấu hơn khi Năm Thánh đang đến gần vì nhiều chủ sở hữu căn hộ trống có kế hoạch cho thuê ngắn hạn cho những người hành hương trong Năm Thánh.
Đức Thánh Cha nói chính quyền quốc gia và thành phố cùng các tổ chức khác nhau đang cố gắng giúp đỡ những người vô gia cư và Giáo hội phải đóng góp. Vì thế ngài yêu cầu tất cả các tổ chức Giáo hội, đặc biệt là những tổ chức có căn hộ trống hoặc điều hành nhà khách, “hãy thể hiện lòng yêu thương dũng cảm đối với những người thân cận bằng cách cung cấp những không gian mà mình có”.
Ngài cho biết các dịch vụ xã hội và các cơ quan chuyên môn sẽ chăm sóc những người được cung cấp nơi trú ẩn, trong khi các hiệp hội tình nguyện sẽ giúp đảm bảo họ có được sự đồng hành và chăm sóc cần thiết.
Đức Thánh Cha kết thúc bức thư bằng cách bày tỏ lòng biết ơn “vì sự quảng đại của anh chị em và tất cả những gì anh chị em đã làm để truyền tải tình yêu Thiên Chúa và tạo ra hy vọng trong cuộc sống của mọi người, đặc biệt là những người đang cần được giúp đỡ nhất”.
Cũng ở Giêrico, hôm qua là chuyện anh mù, một người nghèo, nghèo tận cùng, được gặp Chúa Giêsu và được đón nhận vào ‘đoàn hành hương’ của Chúa. Hôm nay, một người giàu – là ông Dakêu – được Chúa ghé ở lại nhà! Nghèo giàu khác nhau, nhưng cả hai cùng khốn khổ vì bị loại trừ. Và Chúa Giêsu đã đem lại sự chữa lành, sự biến đổi, và đón nhận những người bị loại trừ như vậy.
Ông Dakêu tuyên bố rằng ông bố thí một nửa gia tài cho kẻ khó, và đền gấp bốn cho những ai ông đã gây thiệt hại. Chúng ta có thể tự hỏi tại sao ông có thể quyết định chuyện lớn như vậy một cách nhanh chóng như thế. Hẳn là thực tế, quyết định ấy đã nằm sẵn trong ông, ở dạng tiềm năng, và chờ khi có đủ yếu tố thì nó ‘hiển thị’ thành hiện thực. Yếu tố ấy là ông được Chúa Giêsu đón nhận vô điều kiện. Người không kỳ thị ông, không xa lánh ông dù ông đầy tội lỗi. Người ‘về phe’ ông!
Biết bao anh chị em xung quanh chúng ta khốn khổ vì sa lầy, bế tắc trong tình trạng sống có ‘vấn đề’ của họ, nhưng họ vẫn có thực tiềm năng thay đổi… và nếu họ được đón nhận, sự thay đổi hoàn toàn có thể xảy ra. Chính chúng ta cũng vậy, và bất cứ vị thánh nào cũng vậy. Vị thánh nào cũng là một hối nhân, được Chúa đón nhận trước – như thánh Phaolô nói rõ: Chúa đã chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi!… Vì thế, đến lượt mình, chúng ta được mời gọi đón nhận anh chị em mình, bất kể họ ở trong tình trạng nào. Biết đâu chỉ cần ta dừng lại, lắng nghe và nối kết với ai đó… như cách Chúa Giêsu cư xử với anh mù hôm qua và ông Dakêu hôm nay… thì ta đã giúp đem lại sự thay đổi có tầm sống chết cho một con người!
Nhưng để có được động lực ấy, tinh thần ấy, ta phải nối kết với Chúa Giêsu và rút năng lực ấy ra từ Người. “Hôm nay nhà này được ơn cứu độ… vì Con Người đến tìm và cứu những gì hư mất!” Ai gặp và đón nhận Chúa Giêsu, thì lập tức được giải thoát – đây là ý nghĩa của chữ “hôm nay” trong lời đoan chắc trên của Chúa. Vậy mà tại sao chúng ta không gọi ‘thánh Dakeu’, ‘thánh Bartime’ nhỉ?
Dù sao, phải cảm ơn Bartime và Dakeu, vì đã xác nhận mạnh mẽ cho chúng ta rằng kỳ thị và loại trừ người thì chẳng khác gì giết người, và ngược lại, nếu sẵn sàng đón nhận người – dù chỉ bằng một cử chỉ đơn sơ – có thể ta đang mở cho người con đường sống! Với mọi con người, Chúa Giêsu là chuyên gia ‘tìm và cứu’ (search and rescue)… vậy thì chúng ta đừng bao giờ ‘tìm và diệt’ (search and destroy)!
Lm. Lê Công Đức
Thứ Bảy, ngày 16/11, Đức Thánh Cha tiếp kiến các thành viên Hội đồng Thanh niên Quốc gia Ý, nhân kỷ niệm 20 năm thành lập. Ngài mời gọi họ loan báo niềm hy vọng Kitô giáo cho mọi người, đặc biệt giới trẻ, chỉ ra khuôn mặt và tên của niềm hy vọng này là “Chúa Giêsu”.
Đức Thánh Cha khen ngợi Hội đồng Thanh niên vì đã thực hiện cuộc “Khảo sát lần thứ tư về Chỉ số Niềm tin”. Nhờ đó, có thể biết được niềm hy vọng nghĩa là thái độ nội tâm của giới trẻ Ý. Ngày nay, người ta thường gặp những người chán nản nhìn về tương lai với thái độ hoài nghi và bi quan. Do đó, điều quan trọng là giới trẻ Ý cần biết cách trở thành những nghệ nhân của niềm hy vọng, có khả năng mơ ước. Không để hy vọng của người trẻ bị đánh cắp.
Với vai trò là cơ quan tư vấn cho các tổ chức, Đức Thánh Cha mời gọi Hội đồng Thanh niên thúc đẩy sự tham gia tích cực của giới trẻ, tạo ra một “mạng lưới” giữa các hiệp hội lấy cảm hứng từ các giá trị như tình liên đới và hoà nhập, trở thành tiếng nói của mọi người, đặc biệt những người không có tiếng nói.
Đức Thánh Cha nhận xét, trước thực tế bạo lực gia tăng, tự làm hại bản thân hoặc tự kết liễu đời mình, một dấu hiệu đáng lo ngại, một sự thay đổi không chỉ về văn hoá mà còn về nhân học, thì cần phải có một con đường giáo dục với sự tham gia của tất cả. Cần một “làng giáo dục”, nơi mà trong sự đa dạng, mọi người chia sẻ sự dấn thân tạo ra một mạng lưới các mối quan hệ nhân văn và cởi mở. Cần một hiệp ước, một liên minh giữa những người mong muốn đặt con người vào trung tâm, đồng thời sẵn sàng đầu tư năng lượng mới vào việc đào tạo những người sẽ phục vụ cộng đồng.
Cuối cùng, Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến một điều mà ngài cho là rất quan trọng đối với một Kitô hữu: Một lời loan báo liên quan đến tất cả mọi người, ai cũng cần được nghe lại “Chúa yêu thương bạn”, “Chúa Kitô cứu độ bạn”, “Người hằng sống”. Ngài nói: “Nếu Chúa Kitô hằng sống thì niềm hy vọng không vô ích. Sự dữ, bi quan, hoài nghi sẽ không có tiếng nói cuối cùng. Khi bắt đầu trở thành Kitô hữu, không có một quyết định đạo đức hay một ý tưởng lớn lao nào, nhưng là cuộc gặp gỡ với một Ngôi vị, Đấng mang lại cho cuộc sống một chân trời mới. Niềm hy vọng, tâm trạng mà giới trẻ Ý ngày nay nhận ra nhiều nhất, đối với các Kitô hữu chúng ta, có một tên và một khuôn mặt: Chúa Giêsu”.
Nguồn. Vatican News