Giêremia từng kinh nghiệm tình trạng khủng hoảng cực độ, trong đó không chỉ đối phương chống lại mình, mà ngay cả các bạn hữu cũng bộc lộ ác tâm khi mong muốn mình lâm nạn. Nhưng vị ngôn sứ vẫn kiên trung đặt niềm tin cậy nơi Chúa…
Kinh nghiệm ấy của Giêremia là bối cảnh giúp đưa chúng ta vào chính kinh nghiệm của Chúa Giêsu trong những ngày này. Bầu khí khủng bố xung quanh Người càng leo thang, đến mức người ta đã lượm đá để sẵn sàng xử dứt điểm luôn cái gai mang tên ‘Giêsu’ trước mắt họ. Chúa Giêsu điềm tĩnh cố gắng phân giải. Người hỏi họ Người đã làm gì nên tội; họ bảo vấn đề chẳng phải ở việc gì Người đã làm, mà ở một lời Người đã nói. Chuyện là, họ kết án Chúa Giêsu đã lộng ngôn, tự cho mình là (Con) Thiên Chúa!
Vẫn điềm nhiên, Chúa Giêsu dẫn lời Thánh vịnh nhắc họ rằng Thiên Chúa gọi những kẻ nghe lời Chúa là “thần”: “Ta đã bảo, các ngươi là thần” (x. Tv 82). Con người còn được gọi là ‘thần’, huống chi là Đấng được Chúa Cha sai đến! Tôi không lộng ngôn đâu, các anh ngẫm nghĩ lại đi, nhất là, nếu không hiểu lời tôi nói thì ít ra cũng hãy nghĩ về những việc tốt lành tôi đã làm!…
Cố gắng của Chúa Giêsu không hiệu quả. Họ vẫn tìm cách bắt Người. Song Người tránh đi khỏi họ.
Câu chuyện trên, cách riêng câu tuyên bố “Các ngươi là thần”, nhắc rằng con người chúng ta, trong phẩm giá của mình, được dự phóng xứng đáng cho ‘đỉnh cao’ sáng láng, nhưng có thể ta chê ‘đỉnh cao’ và chọn ‘vực sâu’ tối tăm! Đó là bi kịch. Bộ phim Des hommes et des dieux / Những con người và những thần linh” (2010) / kể chuyện các đan sĩ Trappist ở Đan viện Tibhirine, Algerie, cho thấy bi kịch này trong thời hiện đại. Các đan sĩ ấy là những con người, nhưng cũng là những ‘thần linh’ ở chỗ lắng nghe tiếng Chúa, chọn lựa theo ý Chúa, ở lại sống với đám dân nghèo và phục vụ họ, dù phải bị hành quyết cách tức tưởi dưới tay những phiến quân khủng bố… Chết như Chúa Giêsu đã chết!
Con người chúng ta có thể rất tốt, rất cao trọng. Hoặc ta cũng có thể rất ngu muội xấu xa, huỷ hoại chính phẩm giá của mình. Chúa Giêsu là thuốc thử ở đây. Bởi vì cách ta nhìn nhận Người hay loại trừ Người sẽ cho biết chúng ta chọn lựa phía nào giữa hai đối cực ấy.
Lm. Lê Công Đức
Nếu được hỏi rằng “Yêu là gì?” thì chắc hẳn mỗi người sẽ có những câu trả lời khác nhau bởi tình yêu thì thiêng liêng và không có giới hạn, tuỳ thuộc vào tình cảm, cảm nhận của mỗi người. Vì thế, tình yêu không có một định nghĩa cố định nào. Nó chỉ có thể hiểu khi chúng ta dùng trái tim để cảm nhận. Thật may mắn khi chúng ta vẫn còn có thêm một ngày sống mới để đi tìm và khám phá ra thứ tình cảm thiêng liêng cao quý ấy. Đặc biệt là trong Mùa Chay Thánh chúng ta được mời gọi “yêu cho đến cùng”, sống tinh thần từ bỏ như chính Chúa Giê-su đã mời gọi mỗi người chúng ta “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24).
Chiêm ngắm về cuộc đời Chúa Giê-su, ta có thể thấy những hành trình mà Ngài đã trải qua đều gắn liền với hai chữ “từ bỏ”. Từ khi còn trong cung lòng Đức Mẹ, Ngài đã từ bỏ vinh quang Ngôi Hai để mang lấy thân phận con người thấp hèn. Ngài từ bỏ vì tình yêu dành cho nhân loại “Họ như bầy chiên không người chăn dắt” (Mc 6,34). Sự từ bỏ đã gắn liền với Người từ hang lừa Bê-lem cho đến dòng sông Gio-đan, nơi Ngài đã dìm mình xuống để lãnh nhận Phép Rửa như một tội nhân, để thấu cảm và sẻ chia những đau khổ mà tội lỗi gây ra.
Và hơn hết, chặng đàng Thánh Giá đã khắc họa rõ nét hơn sự từ bỏ của Con Một Thiên Chúa. Vương miện đã thay bằng mạo gai, hào quang được đánh đổi bằng những lời miệt thị chế giễu, ngai vàng giờ đây cũng chẳng còn, chỉ còn lại thập giá nặng trĩu trên vai. Lời kết án được đưa ra trước sự hò reo của dân chúng, một nút thắt như nghẹn lại trong tim. Thật trớ trêu khi vài ngày trước, chính họ là người đã tung hô Ngài, mà giờ đây lại đồng thanh “Đóng đinh, đóng đinh nó vào thập giá” (Ga 19,6). Còn nỗi đau nào hơn khi bị chính những người mình yêu thương quay lưng phản bội. Nhưng Ngài vẫn đón nhận cây thập giá vì tình yêu dành cho nhân loại. Mặc cho những lằn roi đau đớn, những vết thương rướm máu qua những lần Ngài ngã xuống nhưng Ngài vẫn tiếp tục cuộc hành trình lên đỉnh đồi Canvê vì lòng thương dân Ngài. Chặng đường phía trước vẫn cứ tiếp tục, những gì được tiên báo cũng đã xảy ra. “Khi đến nơi gọi là Đồi Sọ, họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái. Bấy giờ Đức Giê-su cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Lc 23,33-34). Sự từ bỏ đã chạm đến tận cùng của tình yêu, Máu từ tim đã chảy ra, tội lỗi nhân loại đã được xóa bỏ bằng chính cái chết của Người trên cây thập giá. Giờ đây, tình yêu đã chiến thắng sự chết, thập giá đã trở thành Thánh Giá đem lại nguồn sống mới cho nhân loại.
Lạy Chúa, Mùa Chay này là cơ hội cho chúng con nhìn lại tâm hồn mình. “Căn nhà” nội tâm của chúng con còn quá nhiều bộn bề của cuộc sống, của cái tôi ích kỷ chúng con cần phải làm mới lại. Xin Chúa là niềm hy vọng, là ánh sáng, giúp chúng con biết mở cánh cửa tâm hồn mình ra để đón nhận Lời Chúa bằng cách từ bỏ những tính mê nết xấu, tập các nhân đức mỗi ngày để chúng con biết bỏ mình, biết tha thứ và hy sinh như lời Chúa dạy “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6,36)
Anna Thúy Hằng
Thứ Tư ngày 20/3, Đức Thánh Cha gửi sứ điệp đến cuộc gặp gỡ “Phục sinh với các anh chị em di dân của chúng ta. Cuộc gặp gỡ của các Giám mục phục vụ ở biên giới Colombia và Costa Rica và các Giám mục Panama”. Ngài khích lệ mọi người tiếp tục phục vụ người di cư và mời gọi Giáo hội Mỹ Latinh trở thành một người Mẹ không biên giới, Mẹ của tất cả mọi người.
Đức Thánh Cha viết: “Thánh sử Mátthêu thuật lại cho chúng ta rằng ‘ngày thứ nhất trong tuần bánh không Men, các môn đệ đến thưa với Chúa Giêsu: Thầy muốn chúng con dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?’ (26, 17). Ngày nay, Giáo hội đang hành hương ở Colombia, Costa Rica và Panama, cùng với Chúa, muốn thưa: ‘Ở Darién, với anh chị em di cư’. Chính ở đó họ đang chờ đợi chúng ta, trên bờ đất liền của biển nước mắt và cái chết, nơi quy tụ người lớn và trẻ em từ những khu vực khác nhau”.
Đức Thánh Cha nhận định rằng trong khu vực mà Giáo hội đang phục vụ người di cư, có nhiều nguy hiểm do quá cảnh bất hợp pháp và bị tống tiền cũng như tình trạng hồi hương không được đón tiếp. Trước thực tế này, Giáo hội tại châu Mỹ Latinh và vùng Caribê, luôn quan tâm đến vấn đề di cư, tìm cách trở thành một Giáo hội không biên giới, Mẹ của tất cả mọi người. Đó là lý do tại sao, với tư cách là Kitô hữu, mọi người tị nạn và di cư rời bỏ quê hương đều chất vấn chúng ta.
Ngài khuyến khích mọi người làm việc không mệt mỏi để có thể loại bỏ sự thờ ơ đối với người di cư, để khi anh chị em di cư đến, họ tìm thấy trong Giáo hội một nơi không cảm thấy bị phán xét nhưng được chào đón; nơi tôi có thể làm dịu cơn đói khát và làm sống lại niềm hy vọng.
Về điểm này Đức Thánh Cha bày tỏ lòng biết ơn và khen ngợi Giáo hội tại châu Mỹ, từ nam đến bắc, kể cả vùng Caribê, có một hệ thống mục vụ, bác ái rộng lớn và đa dạng đối với sự di chuyển của con người ở cấp quốc gia và địa phương, được thể hiện qua một đáp ứng rộng rãi và vững chắc trong việc hỗ trợ trực tiếp người di cư.
Theo Đức Thánh Cha, cách tiếp cận mang tính khu vực đối với vấn đề di cư cũng là một cơ hội mục vụ. Ngài viết: “Trong sứ điệp Ngày Thế giới Di cư và Tị nạn năm 2023, tôi nhắc lại rằng quyền không di cư được đưa ra cho chúng ta như một giải pháp, mặc dù trong dài hạn, đối với tình trạng di cư bắt buộc, cần có sự hội nhập khu vực của các quốc gia xuất phát và quá cảnh, quốc gia đến và sự trở lại của người di cư. Do đó, tôi kêu gọi anh chị em hãy hợp lực với mọi cấp độ của cộng đồng quốc tế, để mọi người đều có quyền ở lại mảnh đất của mình với một cuộc sống bình yên và xứng nhân phẩm”.
Trong sứ điệp, Đức Thánh Cha còn nhấn mạnh rằng con đường di cư cần các mục tử và các nhân viên mục vụ dám vượt qua những giới hạn của những gì đã được thiết lập, có khả năng quay trở lại với những gì thiết yếu, thoát khỏi sự thờ ơ, bởi ý thức rằng, chỉ khi bước đi theo nhịp điệu của Thiên Chúa với dân thánh Người, chúng ta mới có thể vượt qua những rào cản của quy ước, dẫn dắt Giáo hội, cùng với các anh chị em di dân, trên những con đường hy vọng.
Kết thúc sứ điệp, Đức Thánh Cha khích lệ các tham dự viên sống những ngày này với niềm vui và hy vọng, và tin tưởng rằng lễ Phục sinh đang đến gần giúp mọi người thấy nỗ lực của họ đều xứng đáng hưởng niềm vui Phục sinh.
Lại tiếp tục ‘ông nói gà bà nói vịt’! Có vẻ như Chúa Giêsu hé môi nói gì cũng bị thính giả Do thái của Người bắt bẻ. Lần này, Người tuyên bố ai giữ lời Người thì muôn đời sẽ không phải chết. Họ cãi. Và họ còn ‘nâng quan điểm’ lên để ghép tội báng bổ cho Chúa Giêsu, vì Người ‘xúc phạm’ Abraham khi gián tiếp khẳng định rằng Người cao trọng hơn vị tổ phụ đã khuất của họ.
“Abraham” là từ khoá của các Bài đọc Lời Chúa hôm nay, và chính hình ảnh/con người Abraham là chìa khoá giúp giải bài toán ‘ông nói gà bà nói vịt’ dường như bế tắc ở đây. Vâng, nếu người Do thái đương thời Chúa Giêsu có được lòng tin đơn sơ mà thâm sâu như cụ tổ Abraham của họ, nghĩa là nếu họ cũng ‘công chính’ như Abraham, thì hẳn họ sẽ không gặp khó khăn để hiểu và đón nhận Chúa Giêsu và lời của Người. “Cha các ngươi là Abraham đã hân hoan, vì nghĩ sẽ được thấy ngày của Ta. Ông đã thấy và đã vui mừng”!
Đối với Thiên Chúa, Abraham không có cơ chế đề kháng hay phòng vệ (defense mechanism). Chúa gọi, ông nghe. Chúa bảo đi, ông ra đi. Chúa hứa, ông tin. Chúa thử đòi ông sát tế con trai, Abraham cũng sẵn sàng làm thế! Và đó là TIN. Đó là CÔNG CHÍNH!
Người Do thái xem tổ phụ Abraham là tượng đài. Họ tự hào về ông và thường xuyên nhân danh ông. Nhưng rất tiếc là họ không kế thừa được thái độ ‘phi đề kháng’ trước tiếng nói của Thiên Chúa như tổ phụ của họ. Trong khi đó, Chúa Giêsu thì nói thẳng tuột cái sự thật mà họ hoàn toàn không hiểu: “Ta bảo thật, trước khi có Abraham, đã có Ta rồi!” Làm sao tránh khỏi bị ném đá chứ?
Chúng ta tiến gần đến việc tưởng niệm cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu. Một phần của việc chiêm ngắm cuộc Khổ Nạn ấy là học bài học đắt giá từ những người ném đá Chúa hôm nay và ít lâu nữa sẽ gào lên rằng “Hãy đóng đinh nó vào thập giá!” Chỉ vì họ nhất định không hiểu một điều khó hiểu! Và nhất định không tin một điều khó tin!
Vâng, hiểu và tin điều dễ hiểu dễ tin thì đâu có gì đáng kể. Tin điều khó hiểu, nhất là khi điều ấy được nói bởi Thiên Chúa hay bởi phát ngôn viên của Thiên Chúa, thì mới cho thấy là đã tiêu hoá được bài học đắt giá trên kia.
Nói cách khác, ta không chống lại kinh nghiệm và sự hiểu biết của mình, nhưng cũng phải vượt quá nó, để có thể đi vào cảnh giới của thái độ TIN như Abraham.
Lm. Lê Công Đức
Quyền lực của vua Nabucôđônôsor thật ghê gớm. Ông muốn là phải được, kể cả muốn người ta bỏ niềm tin tôn giáo và việc thờ phượng thần linh của họ để thờ thần linh của ông. Nếu chống cưỡng lệnh ông, thì chết, vậy thôi! Quyền lực này được chứng tỏ bằng việc ông hạ lệnh đốt lò nóng gấp bảy lần thường lệ để thiêu sống ba chàng trai…
Nhưng quyền lực ấy bị trêu ngươi, hoá thành như trò trẻ con, vì ba chàng trai vẫn vô sự. Nabucôđônôsor run rẩy nhận ra Thiên Chúa của các chàng trai và nhận ra quyền lực khủng khiếp của Ngài. Ông tâm phục khẩu phục lên lời chúc tụng: “Chúc tụng Chúa của Sidrach, Misach và Abđênagô, Ðấng đã sai thiên thần của Người đến giải thoát các tôi tớ tin cậy Người, không chịu vâng phục mệnh lệnh của nhà vua và thà hy sinh thân xác, chớ không phục luỵ thờ lạy Chúa nào khác ngoài Thiên Chúa của họ”.
Xem thế, ông vua ngoại giáo Nabucôđônôsor khá ngoan ngoãn, mềm mỏng để nhận ra sự thật, dù sự thật ấy vốn nằm ngoài mọi hình dung của ông. Nhất là, ông đón nhận sự thật về Thiên Chúa dù sự thật này buộc ông phải vứt bỏ sự tự đại tự tôn mà mặc lấy thái độ đúng mực hơn.
Chúa Giêsu không gặp được sự mềm mỏng, ngoan ngoãn ấy nơi người Do thái đương thời. Họ tự hào là con cháu tổ phụ Abraham. Vì thế họ tin rằng mình thuộc về Thiên Chúa và mình nắm giữ sự thật. Họ nghĩ mình đang tự do… Chúa Giêsu cho họ thấy sự thật không phải như vậy. Người nói thẳng thắn rằng họ đang là con của Satan, đang ở trong sai lầm và không thuộc về Thiên Chúa, rằng họ đang nô lệ.
Quả thật, khi mà kẻ nô lệ nghĩ rằng mình đang tự do, và ‘xù lông nhím’ lên với bất cứ ai vạch rõ tình trạng nô lệ của mình, thì tiếng nói ngôn sứ sẽ bị họ dập tắt thôi. Cái chết Thập giá của Chúa Giêsu đánh dấu sự dữ leo thang đến cực điểm.
Vì thế, mỗi lần nhìn lên Thập giá với Chúa chịu đóng đinh treo trên đó, chúng ta hãy nhìn thấy thói tự hào, hãnh thắng, tình trạng nô lệ và sự cứng cỏi cố chấp của mình. Xin Chúa Khổ nạn và Phục sinh cứu chúng ta!
Lm. Lê Công Đức
Nay mừng lễ Thánh Giu-se
Chị em Dòng Mến quỳ kề bên Cha
Gẫm suy tình Chúa hải hà
Ban Gương nhân đức thật là đẹp thay.
Soi vào Gương ấy mỗi ngày
Chị em thêm đẹp trước Thầy Giêsu!
Giuse mẫu mực khiêm nhu
“Xin vâng” dòng suối chảy từ tim yêu
Ngày nào Thiên ý huyền siêu
Ngài vui thực hiện, không điều nghi nan.
Giuse chẳng thích giàu sang
Yêu nghề thợ mộc hòa chan tình người.
Giuse luôn sống vui tươi
Dù cho lắm ngả đường đời éo le.
Ngài là gương mẫu lắng nghe
Đây Lời của Chúa trọn bề gẫm suy.
Đường theo Chúa lắm gian nguy
Ngài luôn can đảm– sống vì Chúa thôi.
Lời hay ý đẹp trên môi
Thánh nhân không nói một lời điêu ngoa.
Luôn luôn thân thiện, hiền hòa
Giuse đẹp tựa đóa hoa Nước Trời!
Vị tha, quảng đại, yêu người
Trung thành trọn hảo, một đời tôi trung.
Tình yêu vẹn sạch, thủy chung
Hương huệ tỏa ngát khắp vùng trời xanh.
Noi gương Cha Thánh nhân lành
Nữ tu Dòng Mến thực hành sống “YÊU”.
Maria Nguyễn Thương
Trong Tin Mừng Mát-thêu có kể về một vị Thánh thật âm thầm lặng lẽ. Thánh Giuse không nói một lời nào dù vai trò của ngài thật quan trọng. Qua đời sống của Ngài, chúng ta càng nhận diện rõ ràng và sâu sắc về tình yêu sâu thẳm của Thiên Chúa dành cho Ngài và qua Ngài đến với toàn thể nhân loại.
Thánh Giuse đã nên thánh bằng chính hành động vâng phục Thiên Chúa. Một khi Ngài chấp nhận kế hoạch của Thiên Chúa thì không còn chỗ cho cuộc đời của riêng mình. Thế giới ngày nay rất cần những người công chính. Họ không chấp nhận những bạo chúa, những kẻ hà hiếp người khác, dùng người khác như phương tiện đáp ứng cho nhu cầu cá nhân. Họ từ chối những người nhầm lẫn quyền hành với độc đoán, phục vụ với tùng phục, thảo luận với áp đặt, sức mạnh với hủy diệt. Mọi ơn gọi đích thực đều được sinh ra từ việc tự hiến, là hoa trái của sự hy sinh.
Thánh Giuse đã học cách im lặng trong cảm xúc, lời nói và hành động. Đáng ra rất nhiều lần trong cuộc đời, Ngài được quyền nói nhưng Ngài đã không làm thế, để bảo vệ danh dự cho Mẹ Maria. Trong cuộc sống không ít lần chúng ta dùng miệng lưỡi để lên án, phán xét nhiều hơn là yêu thương, trách móc nhiều hơn là xây dựng. Ngài đã chứng minh cho chúng ta thấy những nhận định chủ quan về một sự việc nào đó hay người khác chưa hẳn lúc nào cũng đúng sự thật.
Thêm nữa, Ngài dạy chúng ta hiểu rằng: sự vâng phục làm nên điều kỳ diệu trong cuộc sống. Trong đêm đen, Ngài đã bật dậy, vội vã đem Hài Nhi và Mẹ Người trốn đi trong lúc vạn vật còn đang say ngủ. Ngài bước đi mà không một lời than thở, thắc mắc nhưng mau mắn đáp lời. Ngài đã góp phần bảo vệ, nuôi dưỡng và chăm sóc Chúa Giêsu trong giai đoạn đầu nhưng lại xóa mình như không, để tặng cho đời một Giêsu thật quý giá.
Chính Thánh Giuse đã dạy chúng ta thêm xác tín rằng: Tin vào Thiên Chúa, tin rằng Thiên Chúa có thể hành động cả khi chúng ta sợ hãi, mỏng manh và yếu đuối, ngay cả khi chúng ta phải đối diện với những khó khăn, thử thách của cuộc đời. Tin vào Thiên Chúa, Ngài sẽ cho ta thấy bức tranh toàn cảnh, Ngài sẽ làm điều tốt nhất cho con cái của Ngài mà chính Ngài đã đổ máu cứu chuộc. Vì thế, chúng ta hãy phó thác mọi sự trong bàn tay yêu thương quan phòng của Thiên Chúa. Hãy cầu nguyện nhiều hơn, để có những phân định và chọn lựa đúng thánh ý Chúa. Nhờ lời chuyển cầu của Thánh Giuse, xin Chúa cho mỗi người chúng ta cũng biết theo gương Ngài, sống vâng phục trong mọi hoàn cảnh với niềm tin tưởng phó thác cho kế hoạch yêu thương của Chúa.
Maria Thân Phúc
[trích Tông thư Trái tim Người Cha, của ĐGH. Phanxicô]
Nhà văn Ba Lan Jan Dobraczyński, trong quyển The Shadow of the Father (Bóng của người Cha), kể câu chuyện về cuộc đời Thánh Giuse qua hình thức tiểu thuyết. Tác giả khéo léo dùng hình ảnh một chiếc bóng để nói về Giuse. Trong mối tương quan với Giêsu, Giuse là chiếc bóng trên mặt đất này của Cha trên trời: Giuse coi sóc và bảo vệ Giêsu, không bao giờ bỏ mặc Giêsu. Chúng ta có thể liên tưởng đến những lời của Môsê nói với dân Israel: “Trong sa mạc… các ngươi đã thấy Chúa là Thiên Chúa các ngươi đã mang các ngươi đi, như người ta bồng bế một đứa trẻ, trên suốt con đường các ngươi đã đi qua” (Đnl 1,31). Một cách tương tự, Giuse đã hành động như một người cha trong cả đời ngài.
Không ai bẩm sinh là cha, mà phải làm cha. Một người không trở thành cha duy chỉ bởi việc sinh một đứa con cho đời, mà bằng việc đảm nhận trách nhiệm chăm sóc đứa con ấy. Bất cứ khi nào một người nhận trách nhiệm trên đời sống của một người khác, thì có thể nói đã trở thành cha của người ấy.
Ngày nay xem chừng con cái thường mồ côi, thiếu vắng những người cha. Giáo hội cũng cần những người cha. Điều Thánh Phaolô nói với các tín hữu ở Côrinthô vẫn còn đầy tính thời sự: “Dù anh em có vô số người hướng dẫn trong Đức Kitô, anh em cũng không có nhiều cha đâu” (1Cr 4,15). Mọi linh mục hay giám mục phải có thể nói thêm, cùng với vị Thánh Tông đồ, rằng: “Tôi đã trở thành cha của anh em trong Đức Giêsu Kitô và nhờ Tin Mừng” (ibid.). Phaolô cũng nói với các tín hữu Galát: “Hỡi những người con bé nhỏ của tôi, mà tôi phải quặn đau sinh ra một lần nữa cho đến khi Đức Kitô được thành hình nơi anh em” (4,19).
Việc làm cha bao hàm việc đưa con cái vào đời và vào thực tế. Không phải níu giữ chúng lại, che chắn chúng kín mít hay chiếm hữu chúng, mà đúng hơn giúp chúng có khả năng tự quyết định, hành động cách tự do và khám phá những khả năng mới. Có lẽ vì lý do này mà xưa nay Thánh Giuse được gọi là một người cha “cực thanh cực tịnh”. Tước hiệu ấy không đơn thuần là một diễn tả về tình cảm, nhưng là sự đúc kết một thái độ đối lập với xu hướng chiếm hữu. Khiết tịnh là tự do khỏi xu hướng chiếm hữu trong mọi phương diện của đời sống mình. Tình yêu chỉ chân thực khi nó khiết tịnh. Một tình yêu chiếm hữu rốt cục sẽ trở thành nguy hiểm: nó giam hãm, kiểm soát và dẫn tới thảm cảnh khốn nạn. Thiên Chúa yêu thương con người với một tình yêu khiết tịnh; Ngài để cho chúng ta tự do ngay cả dù đi lạc và quay lại chống Ngài. Luận lý của tình yêu luôn luôn là luận lý của tự do, và Giuse biết cách yêu thương với sự tự do phi thường. Ngài không bao giờ đặt mình làm trung tâm. Ngài không nghĩ về bản thân mình, nhưng tập trung quan tâm đến đời sống của Maria và Giêsu.
Giuse tìm thấy hạnh phúc không duy chỉ trong sự quên mình mà còn trong sự trao hiến chính mình. Nơi ngài, chúng ta không bao giờ nhìn thấy sự chán nản mà chỉ thấy thái độ tín thác. Tính cách trầm lặng của ngài là dấu chỉ cho thấy những biểu hiện cụ thể của lòng tín thác. Thế giới của chúng ta ngày nay cần những người cha. Thế giới không cần những nhà độc tài thống trị người khác nhằm thỏa mãn các nhu cầu của mình. Thế giới chúng ta không cần những kẻ nhập nhằng lẫn lộn giữa quyền bính và cường quyền, giữa phục vụ và nô dịch, giữa thảo luận và áp chế, giữa từ thiện và não trạng ỷ lại, giữa sức mạnh và sức hủy diệt. Mọi ơn gọi đích thực đều phát xuất từ việc trao hiến chính mình, đó là hoa trái của sự hy sinh chín chắn. Chức linh mục và đời sống thánh hiến đòi phải có sự chín chắn này. Dù ơn gọi của chúng ta là gì đi nữa, dù ta kết hôn, độc thân hay trinh khiết, việc ta trao hiến chính mình sẽ không đạt mức trọn vẹn nếu chỉ dừng lại ở việc hy sinh; vì nếu vậy, thay vì trở thành một dấu hiệu của vẻ đẹp và của niềm vui yêu thương, sự hiến mình của ta sẽ có nguy cơ thể hiện sự bất hạnh, buồn phiền và chán nản.
Khi những người cha từ chối sống cuộc đời của con cái mình thay cho chúng, thì những viễn ảnh mới mẻ và bất ngờ sẽ mở ra. Mọi đứa trẻ đều là người mang trong mình một mầu nhiệm độc đáo, có thể được đưa ra ánh sáng nhờ sự giúp đỡ của một người cha biết tôn trọng sự tự do của đứa con. Đó là một người cha nhận hiểu rằng mình là một người cha và nhà giáo dục đúng nghĩa nhất khi mình trở thành “vô dụng”, khi mình nhìn thấy đứa con của mình trở nên độc lập và có thể bước đi trên những nẻo đường đời mà không cần ai đi kèm bên. Đó là khi người cha ấy trở nên giống như Thánh Giuse, đấng luôn hiểu rằng đứa con của mình không thuộc về riêng mình, mà chỉ là được ủy thác cho sự săn sóc của mình. Rốt cục, đó chính là điều Chúa Giêsu muốn ta hiểu khi Người nói: “Đừng gọi ai dưới đất này là cha, vì anh em chỉ có một Cha, Đấng ngự trên trời” (Mt 23,9).
Khi thi hành chức phận làm cha, chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ rằng chức phận ấy không liên quan gì với sự chiếm hữu, nhưng đúng hơn đó là một “dấu” hướng chỉ đến một người Cha lớn hơn. Cách nào đó, tất cả chúng ta đều giống như Giuse: là một chiếc bóng của Cha trên trời, Đấng “cho mặt trời của Ngài mọc lên trên người lành lẫn kẻ dữ, và cho mưa xuống trên người công chính lẫn kẻ bất chính” (Mt 5,45). Và đó là một chiếc bóng đi theo người Con của Chúa Cha.
Lm. Lê Công Đức dịch
Đây lòng quảng đại thứ tha
Cho tôi sẽ thấy Chúa là tình yêu
Giê-su cúi xuống đăm chiêu
Viết gì trên đất? viết điều thứ tha
Ngẩng lên nhìn thẳng chị ta
Họ đâu? đi hết…chẳng là…còn ai?
Đời tôi làm lắm điều sai
Thế nên tôi phải mãi hoài cảm thương
Đời tôi có Chúa là đường
Đường ơn tha thứ khôn lường bao dung
Mong tôi luôn sống Tin Mừng
Không nên xét đoán, không ngừng thứ tha
Để cho chị đứng giữa nha
Chị thì đầu cúi vì là tội nhân
Thế nên chị đứng tần ngần
Áo quần nhăn nhúm thêm phần lôi thôi
Chị luôn cảm thấy bồi hồi
Lắng lo không biết cuộc đời hôm mai
Chung quang bô lão chẳng ai
Có lòng giúp chị xin nài đôi câu
Tâm tư khổ não âu sầu
Xong rồi là chết đá đâu tránh đường
Giê-su chợt ngẩng cảm thông
Ánh nhìn hiểu thấu mắt trông nhân lành
Tội kia tôi chẳng kết thành
Cũng không lên án tội danh ngoại tình
Chị về sám hối tội mình
Cũng đừng phạm nữa, trọn tình chừa luôn
Giê-su Thầy chính là nguồn
Nguồn ơn cứu rỗi con đường yêu thương
Thế là trắng án sạch trong
Chúa không luận tội Chúa không phê bình
Cần ta sám hối tội mình
Muốn ta đừng phạm chân tình ăn năn.
Anna Nguyễn Thị Đào
Bà Susanna bị vu khống, bị tố cáo oan bởi hai kỳ lão. Bà suýt mất mạng cách oan uổng. May nhờ có Đaniel can thiệp và phơi trần tội ác của hai ông già mất nết, bà Susanna đã được cứu sống. Câu chuyện kết luận rằng hôm ấy người vô tội khỏi bị đổ máu oan…
Người phụ nữ ngoại tình ở chương 8 Tin Mừng Gioan cũng bị tố cáo dữ dội bởi các kỳ lão và đám đông dân chúng. Họ tố cáo đúng chứ không hề vu khống, không oan. Người phụ nữ suýt bị ném đá cho tới chết. Thật may là có Chúa Giêsu ở đó, và một cách ngoạn mục Người đã cứu chị khỏi bị ném đá. Câu chuyện này kết thúc và ta ghi nhận rằng người có tội đã không phải đổ máu ra để đền tội của mình. Thật là may mắn quá chừng!
Câu chuyện thứ ba: một người vô tội, bị tố cáo về những lời nói và việc làm rất đúng rất tốt của mình (nhưng người ta không hiểu và không đón nhận), người ấy đã bị xử tử, đã chết thật chứ không được giải cứu vào giờ phút chót…! Máu của con người vô tội nhất, tốt lành nhất đã đổ ra. Không có nỗi oan khiên nào bằng! Con người đó là Giêsu Nadaret, người đã cứu chị phụ nữ ngoại tình trong câu chuyện trên kia.
Nhưng chuyện không chấm hết ở đó. Giêsu đã chết thật và đã sống lại thật. Và với cái chết của mình, Người đem lại sự giải cứu ngoạn mục không chỉ cho một vài người, mà cho hết mọi người tội lỗi từ tạo thiên lập địa cho đến tận thế. Chúa Giêsu đã chết trên Thập giá vì chúng ta. Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi thí bỏ chính Con Một. Thật là may mắn cho chúng ta quá chừng!
Tấm chi phiếu (check) đã được ký khống bởi Chủ tài khoản, ta hãy nhận tấm chi phiếu ấy, ghi ‘số tiền’ mình cần, không giới hạn bao nhiêu, rồi mang đến ‘ngân hàng’ mà lãnh!…
Nói cách khác, ta chỉ cần TIN và đón nhận ƠN CỨU ĐỘ của Chúa Giêsu Ki tô.
Lm. Lê Công Đức