“Chúa là Thiên Chúa phán như vậy. Hoặc chúng nghe, hoặc chúng không nghe, vì đây là bọn phản loạn, và chúng sẽ biết rằng giữa chúng có một tiên tri”. (x. Ed 2,2-5).
Giữa chúng có một tiên tri! Đây có thể là nói về Êdekiel, vị ngôn sứ đang thi hành sứ vụ của mình lúc này, vào thời lưu đày. Nhưng trong bối cảnh rộng hơn của lịch sử cứu độ, lời này hàm ý về Đấng Thiên Sai là Chúa Giêsu!
Vị Tiên Tri thiên sai ấy được báo trước nhiều lần nhiều cách, được hướng vọng như điểm đến của lịch sử, nhưng việc nhận diện Người không đơn giản và dễ dàng đối với những ai không có một tâm cảnh hay kinh nghiệm tâm linh phù hợp. Các sách Tin Mừng cho thấy, nhiều người Do thái nghĩ vị ấy là Gioan (Tẩy giả), nhiều người khác bác bỏ cả hai. Chính Gioan cũng không luôn luôn rõ ràng Giêsu có phải là Đấng ấy. Bảy thế kỷ sau biến cố Chúa Giêsu, ở bán đảo Ả rập người ta nhận diện Mahomet mới đích thực là vị Tiên Tri của Thượng đế (Allah). Còn chính dân Do thái thì cho đến ngày nay chỉ có chưa tới 2% dân số đón nhận và tin vào Chúa Giêsu. Chính Chúa Giêsu đang khi thi hành sứ vụ của Người vẫn không giấu nỗi băn khoăn: “Người ta bảo Thầy là ai? Anh em bảo Thầy là ai?”
Câu chuyện Chúa Giêsu về quê Nadaret, ban đầu gây ngạc nhiên thán phục cho các đồng hương, nhưng rồi bị xem thường và tẩy chay… là một minh hoạ cho mô-típ của dòng lịch sử nói trên. “Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương, gia đình họ hàng mình”… Người ngạc nhiên vì họ cứng lòng tin! (x. Mc 6,1-6). Ta để ý, không ai giàu thông tin về nhân thân của Giêsu cho bằng những người đồng hương – thế nhưng có thông tin mà không xử lý được thông tin thì người ta vẫn sai lạc chứ không tiếp cận được sự thật. Một tâm cảnh phù hợp thì quan trọng hơn cả những kiến thức có tính thông tin thuần tuý. Chưa nói là những hiểu biết ấy có thể là một cái bẫy đánh lừa!
Vậy, tâm cảnh hay kinh nghiệm thiêng liêng nào có thể giúp người ta nhận diện và đón nhận Chúa Giêsu đúng như sự thật của Người? Kinh nghiệm của Phao lô, như thấy trong Bài đọc 2 (x. 2Cr 12,7-10), là một hình mẫu. Đó là kinh nghiệm về sự chênh vênh, yếu đuối của mình, được bù đắp bởi ân sủng Thiên Chúa là chính sức mạnh của Đức Ki tô ở trong mình… để cuối cùng, Phao lô đi đến một tổng hợp rất ‘mầu nhiệm’: Khi tôi yếu đuối, chính là lúc tôi mạnh mẽ!
Nên trích lại nguyên văn lời của Phao lô:
“Để những mạc khải cao siêu không làm cho tôi tự cao tự đại, thì một cái dằm đâm vào thịt tôi, một thần sứ của Satan vả mặt tôi. Vì thế đã ba lần tôi van nài Chúa, để nó rời khỏi tôi. Nhưng Người phán với tôi rằng: ‘Ơn Ta đủ cho ngươi, vì sức mạnh của Ta được tỏ bày trong sự yếu đuối’. Vậy tôi rất vui sướng khoe mình về những sự yếu hèn của tôi, để sức mạnh của Ðức Kitô ngự trong tôi. Vì thế, tôi vui thoả trong sự yếu hèn của tôi, trong sự lăng nhục, quẫn bách, bắt bớ và khốn khó vì Ðức Kitô: vì khi tôi yếu đuối, chính là lúc tôi mạnh mẽ”.
Chúng ta cần đào sâu loại tâm cảnh và kinh nghiệm thiêng liêng ấy của Phao lô, để có thể đón nhận vị Tiên Tri đích thực của lịch sử cứu độ, của lời hứa đã được hiện thực nơi Chúa Giêsu Kitô, sức mạnh duy nhất của chúng ta!
Lm. Lê Công Đức
Đoạn sách Amos hôm nay đầy an ủi. Giữa hoàn cảnh thử thách của dân Chúa, lời hứa về một thời cứu độ với hình tượng về sự phồn vinh và an bình được Chúa nói lên qua miệng vị ngôn sứ: “Trong ngày ấy, Ta sẽ dựng lại nhà xếp của Ðavít đã xiêu đổ, Ta sẽ lấp những lỗ hổng nơi tường, trùng tu lại những gì đổ nát… Ðây đã đến những ngày mà người cày ruộng tiếp nối người thợ gặt, kẻ ép nho tiếp nối người gieo giống. Từ các núi non, rượu nho mới sẽ chảy tuôn tràn, và từ các đồi, rượu sẽ vọt ra lai láng. Ta sẽ đem Israel dân Ta bị lưu đày trở về. Họ sẽ xây lại các thành phố bị bỏ hoang và cư ngụ tại đó. Họ sẽ trồng nho và sẽ uống rượu nho…”
Rốt cuộc, Thiên Chúa chỉ muốn điều tốt lành cho dân Ngài. Ngài không chịu thua trước những sự tồi tệ mà họ gây ra. Ngài dẫn dắt lịch sử của họ, và nhất định đưa lịch sử ấy đến chỗ hoàn thành viên mãn…
Đó chính là lời hứa về thời của Đấng Thiên Sai là Chúa Giêsu. Biến cố Chúa Giêsu, sự có mặt của Người, đánh dấu bước quặt quyết định trong lịch sử. Câu chuyện sang trang, bước qua chương mới, không còn ở ‘chế độ cũ’ nữa!
Và trang sử mới ấy, đánh dấu bởi sự có mặt của Chúa Giêsu, dĩ nhiên đòi người ta phải có sự thích nghi. Như vải mới cần áo mới, như rượu mới cần bầu da mới! Mọi sự vá víu tạm bợ, không phù hợp, sẽ không chỉ không làm cho tình hình tốt hơn, mà còn làm cho tệ hơn.
Chúa Giêsu dùng hình ảnh vải, áo, rượu, bầu da để trả lời cách riêng cho thắc mắc về vấn đề ăn chay. Nhưng lôgic về sự cần thiết phải thích nghi với yếu tố mới, bối cảnh mới… thì có hiệu lực phổ quát, cho mọi trường hợp, mọi vấn đề.
Đó là lý do Giáo hội của Chúa luôn cần canh tân, nhất là vào những giai đoạn mà sự hoán cải mục vụ và sự đổi mới phong cách sứ mạng được thấy là rất cấp bách như thời của chúng ta đây. Cuộc canh tân đời sống và sứ mạng của Giáo hội, đến lượt nó, lại giả thiết cuộc canh tân phong cách sống Tin Mừng của mỗi thành viên trong Giáo hội, là mỗi người chúng ta.
Trong mọi trường hợp, mấu chốt của vấn đề là: Chúa Giêsu Phục sinh, cùng với Thánh Thần của Người, là RƯỢU LUÔN MỚI MẺ đó, còn BẦU DA MỚI đang ở đâu?
Lm. Lê Công Đức
“Bao giờ qua tuần trăng mới để chúng tôi bán hàng! Khi nào hết ngày Sabat để chúng tôi bán lúa mạch. Chúng tôi sẽ giảm lường đong, tăng giá và làm cân giả. Chúng tôi sẽ lấy tiền mua người nghèo, lấy đôi dép đổi lấy người túng thiếu. Chúng tôi sẽ bán lúa mục nát”…
Cách đây 28 thế kỷ, thời ngôn sứ Amos, mà những lời này nghe như đang còn âm vang trong chính xã hội và thương trường nhiều lọc lừa hôm nay. Thì ra thời nào cũng vậy, hễ người ta chạy theo và tôn thờ tiền tài thì họ sẵn sàng dùng đủ trò gian dối, miễn là kiếm lợi, ngay cả bóc lột người nghèo cách tàn nhẫn nhất…
Càng mỉa mai khi đó không phải là những kẻ vô thần duy vật, mà là người ‘có đạo’, có giữ ngày Sa-bát, có thực hành phụng tự các dịp đại lễ! Hãy tưởng tượng, Thiên Chúa đau lòng biết bao. Ngài dùng ngôn sứ Amos để mạnh mẽ tố cáo tình trạng băng hoại không thể chấp nhận được ấy. “Hãy nghe đây, hỡi những ai đàn áp kẻ nghèo khó và muốn tiêu diệt hết những kẻ bần cùng trong cả nước… Ngày ấy Ta sẽ khiến mặt trời lặn ngay giữa chính ngọ, và sẽ khiến mặt đất ra tối tăm giữa ban ngày. Ta sẽ làm cho các ngày đại lễ của các ngươi trở nên ngày tang tóc, cho các bài ca trở thành lời khóc than. Ta sẽ lấy bao bố đặt trên lưng các ngươi và khiến mọi người trọc đầu. Ta sẽ làm cho ngày ấy trở thành như ngày tang mất con một, và sau cùng nó trở nên ngày cay đắng”…
Thiên Chúa của Thánh Kinh, của đức tin chúng ta, thì như thế đó. Ngài luôn bênh vực những người cùng khổ, những người bị áp bức bởi những kẻ quyền lực, giàu có mà bất nhân. Thiên Chúa không bao giờ bất lực hay vô tâm. Ngài luôn hành động theo đường lối của Ngài.
Nhưng chúng ta sẽ lầm nếu nghĩ rằng hành động của Thiên Chúa chỉ bao gồm cảnh cáo và trừng phạt là … hết bài. Không, câu chuyện tiếng gọi dành cho Máttheu cho thấy hành động của Thiên Chúa còn bất ngờ thú vị hơn nhiều. Xem nào, Máttheu người thu thuế là nhân vật đại diện cho thói vụ lợi, áp bức, bất công như nói trên. Một thành phần được coi là tội lỗi công khai! Thế nhưng, tận thâm tâm con người này vẫn còn le lói khát vọng thay đổi, dù yếu ớt. Chúa Giêsu đã bước tới và lên tiếng gọi Máttheu. Người dùng bữa tại nhà Máttheu, cùng với các đồng nghiệp thu thuế của ông, với các môn đệ của Người, và những người khác nữa… Đây là hành động đón nhận, được chính Chúa Giêsu giải thích rằng “Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng kêu gọi người tội lỗi”!
Tấm lòng của Thiên Chúa, nơi Chúa Giêsu, đã được đền đáp. Máttheu đứng dậy, đi theo… Máttheu bắt đầu một cuộc thay đổi ngoạn mục trong tâm hồn và trong lối sống của mình. Cuộc đời của Máttheu được định hướng lại, được gắn với mục tiêu mới, được trao ý nghĩa mới…
Đức thánh cha Phan xi cô cảm nghiệm sâu xa loại kinh nghiệm này của Máttheu, như gói ghém trong khẩu hiệu giám mục của ngài: Miserando atque eligendo – “Tôi là một người tội lỗi ĐƯỢC CHÚA ĐOÁI THƯƠNG NHÌN ĐẾN VÀ TUYỂN CHỌN”!
Xin cho mỗi chúng ta cũng cảm nghiệm sâu xa như vậy!
Lm. Lê Công Đức
Đoạn sách Amos hôm nay, ở chương 7, nói về ơn gọi và sứ mạng của vị ngôn sứ. Trước hết và một cách căn bản, ơn gọi này do Thiên Chúa, đến từ Thiên Chúa, chứ không do Amos, không phải là một sáng kiến hay kế hoạch cá nhân của Amos. Hãy nghe Amos trần tình: “Tôi không phải là tiên tri, cũng không phải con của tiên tri: nhưng tôi là một người chăn súc vật, và chuyên trồng cây sung. Chúa đã bắt tôi khi tôi đi theo đoàn vật, và Chúa bảo tôi: ‘Ngươi hãy đi nói tiên tri cho dân Israel của Ta’”.
Thứ hai, ơn gọi và sứ mạng ấy bị bài bác, chế giễu, nghĩa là không gặp thuận lợi từ phía những người xung quanh. Như lời Amasia nói với Amos: “Hỡi nhà tiên tri, hãy trốn sang đất Giuđa mà kiếm ăn và nói tiên tri. Ðừng ở Bêthel mà tiếp tục nói tiên tri nữa. Vì đây là nơi thánh của vua, là đền thờ của vương quốc”… Điều vốn không do mình nghĩ ra và chọn lựa, chỉ nghe và làm theo vì vâng phục thiên ý, lại dẫn đến tình trạng mình bị chống đối và tẩy chay, với bao nhiêu phiền phức! Đó là kinh nghiệm của Amos.
Kinh nghiệm ấy của Amos có ý nghĩa ‘tiên báo’ về kinh nghiệm của chính Chúa Giêsu. Quả thật, câu chuyện Chúa chữa người bại liệt hôm nay cho thấy rằng giới lãnh đạo Do thái không hiểu và không chấp nhận căn tính và sứ mạng của Chúa Giêsu. Họ không tin Giêsu có quyền tha tội. Họ cho rằng Giêsu phạm thượng. Và họ thách đố Người làm phép lạ chữa lành bệnh cho anh bại liệt. Chúa Giêsu nhẫn nại đáp ứng điều họ thách đố. Người không nản lòng trước sự cứng cỏi cố chấp của họ. Vả chăng, thi ân giáng phúc cho các ‘con bệnh’ thể lý và tâm linh là ‘nghề’ của Người mà!
Dù sao, kết quả cũng không tệ. Trong khi giới lãnh đạo và nhóm biệt phái, kinh sư coi thường Chúa Giêsu và tìm cách loại trừ Người, thì đám đông dân chúng đơn sơ hơn nên cũng mềm mỏng và cởi mở hơn trong việc tiếp cận sự thật về Chúa Giêsu. Sau phép lạ chữa lành ở đây, thánh Máttheu viết: “Thấy vậy dân chúng sợ hãi và tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người quyền năng như thế.”
Lời Chúa hôm nay đầy những hàm ý rất quan trọng liên quan đến ơn gọi của mỗi người chúng ta, đặc biệt là những ơn gọi tận hiến. Chính Chúa sáng kiến và chủ động gọi. Chúa gọi để trao sứ mạng trong công cuộc của Chúa. Đáp lại tiếng gọi và thi hành sứ mạng ấy, chúng ta có thể gặp những khó khăn, thử thách trên đường. Nhưng với xác tín, nhẫn nại và trung thành trong ơn gọi và sứ mạng của mình, chúng ta sẽ sinh hoa quả …
Lm. Lê Công Đức
Bối cảnh ngay sau Phục sinh, Tôma ở giữa các anh em môn đệ khác như một thành viên dở hơi, đầy cá tính. Không biết vì lý do gì mà Tôma đã vắng mặt khi Chúa Phục sinh hiện ra với cả nhóm lần đầu. Ông trở về, được họ kể lại rằng “chúng tôi đã thấy Chúa”, nhưng ông chống chế, không chịu tin. Có thể một phần vì cơ chế đề kháng của người mang mặc cảm bị phân biệt, bị ra rìa. Cũng có thể do hờn dỗi Chúa Phục sinh đã ‘lựa’ lúc mình vắng mặt mà hiện ra. Và cũng có thể do ông cứng cỏi, đa nghi…
Dù lý do nào đi nữa, thì thực tế là Chúa đã Phục sinh nhưng niềm vui của cộng đoàn không trọn vẹn. Đang có xung khắc, rạn nứt từ bên trong. Mỗi môn đệ trong nhóm mười một này chắc hẳn kinh nghiệm một tình trạng bị đè nặng bởi căng thẳng, ngột ngạt… Chúa Phục sinh đã hiện ra lần thứ hai cho cả nhóm, có mặt Tôma. Chúa không phiền trách gì, mà chỉ kiên nhẫn và bao dung đáp ứng những gì Tôma đòi hỏi. “Hãy xỏ ngón tay vào đây và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy”.
Lời ấy không chỉ là lời mời anh môn đệ cứng cỏi này thực nghiệm, kiểm chứng. Lời ấy còn là lời nhắc nhớ biến cố Khổ nạn và cái chết Thập giá của Thầy. Những vết đóng đinh trên tay chân và vết đâm ở cạnh sườn Thầy vẫn còn đây. Hãy sờ chạm vào, kiểm tra các vết thương ấy, không chỉ để trả lời cho câu hỏi ‘thế nào’ mà nhất là trả lời cho câu hỏi ‘tại sao’ nữa! Tại sao xảy ra những thương tích ấy? Tại vì Tình Yêu Thương Xót của Thầy, cho Tôma, cho mỗi anh em môn đệ, cho mọi người! Ta nhớ, Chúa Nhật “Tôma”, tức Chúa Nhật 2 Phục sinh, được chọn làm Chúa Nhật Lòng Chúa Thương Xót… “Hãy xỏ ngón tay vào đây và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy”. Lời này không còn dành riêng cho Tôma, tại nơi đó và vào lúc đó, mà trở thành lời mời gọi mọi người, mời gọi chúng ta, ở khắp nơi và xuyên qua các thế hệ.
Tôma ‘bị’ chinh phục hoàn toàn bởi Tình Yêu Thương Xót của Thầy. Ông kêu lên: “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con”. Chúa Phục sinh xác nhận: Tôma vừa bỏ hụt cơ hội, nhưng nhiều người khác sẽ có thể đến với chính niềm tin ấy ngay cả dù không thấy Chúa Phục sinh cách hữu hình! Cộng đoàn các môn đệ không còn rạn nứt và căng thẳng nữa, vì giờ đây tất cả các ông chia sẻ cùng một kinh nghiệm, cùng một niềm tin, với trung tâm là GIÊSU, là Thầy và Chúa Phục sinh của mình.
Cả chúng ta nữa, được đưa vào Cộng Đoàn hiệp nhất ấy, là Hội Thánh, được Thư Êpheso hình dung như một toà nhà, có Tôma và các Tông Đồ là nền móng, với Chúa Giêsu Phục sinh là Đá Góc. Toà nhà này được xây dựng cao lên thành Đền Thánh, nơi Thiên Chúa ngự trong Thánh Thần.
Bất cứ khi nào mối hiệp thông, hiệp nhất của Hội Thánh hay của các cộng đoàn trong Hội Thánh bị đe dọa, việc chúng ta cần làm là: Xỏ ngón tay vào các vết đinh trên tay chân Chúa, và xỏ bàn tay vào vết đâm nơi cạnh sườn Chúa! Đó là nguồn mạch và là năng động của hiệp thông, hiệp nhất giữa chúng ta…
Lm. Lê Công Đức
“Các ngươi đã trở thành như thanh củi cháy dở rút khỏi đống lửa, thế mà các ngươi không trở lại với Ta!”… ‘Thanh củi cháy dở được rút khỏi đống lửa’ là hình ảnh (trong sách Amos) cho biết tình trạng được cứu vào khoảnh khắc cuối cùng, dù sao cũng kịp thời, trước khi bị cháy rụi. Như ta có kiểu nói “có còn hơn không” hay “còn nước còn tát”! Hình ảnh trên cũng nói về Thiên Chúa, Đấng rút thanh củi ấy, là Đấng rất mực nhẫn nại, bao dung, luôn sẵn sàng đợi chờ. Quả thực, Ngài ‘không bẻ gãy cây lau bị giập, không dập tắt tim đèn còn khói’!…
Chúa nhẫn nại, bao dung, luôn sẵn sàng đợi chờ… Nhưng thật buồn, vì sự nhẫn nại đợi chờ ấy không được đáp ứng! Chúa như thở dài: “Thế mà các ngươi không trở lại với Ta!” Ôi, giá chi điều Chúa tha thiết đợi chờ ấy được chúng ta hưởng ứng… thì câu chuyện sẽ ‘có hậu’ hơn biết mấy!
Câu chuyện trong Phúc Âm hôm nay cũng đặt ta đứng trước sự nhẫn nại đợi chờ của Chúa. Xem nào, thuyền giữa biển khơi, bỗng sóng to gió lớn, thế mà Thầy đang ngủ ngon! Các môn đệ hốt hoảng đánh thức Chúa Giêsu: “Thầy ơi, cứu chúng con kẻo chết mất!” Hãy để ý: Chúa Giêsu quở trách các ông ấy vì thiếu lòng tin và nhát sợ, ngay cả trước khi Người truyền cho sóng lặng gió yên.
Thật rõ, Chúa muốn ta tin vào Chúa mọi nơi mọi lúc… ngay cả khi sóng to gió lớn hầu như sắp nuốt chửng chúng ta… ngay cả khi có vẻ Chúa đang ngủ… ngay cả khi xem chừng Chúa không quan tâm!… Chúa vẫn kêu gọi ta ‘HÃY VỮNG TIN’! Chứ không phải đợi đến khi phép lạ xảy ra, đến khi Chúa dẹp yên sóng gió, thì mới tin! Bởi một lòng tin đến từ việc chứng kiến phép lạ là một lòng tin bị điều kiện và yếu ớt lắm rồi. Thực ra, đó chẳng phải là lòng tin đúng nghĩa.
Thiên Chúa không làm các phép lạ để ép chế ai phải theo ý Ngài hay phải tin vào Ngài. Phép lạ chỉ là những ‘dấu chỉ’ giúp nâng đỡ lòng tin của chúng ta. Thật dễ hiểu tại sao Chúa Giêsu không lạm dụng phép lạ – chẳng hạn điều khiển nắng mưa, sóng gió cách đều đặn hằng ngày – để sản xuất ra ‘lòng tin’!
Xin Chúa giúp mỗi chúng ta nhận ra mình là một thanh củi cháy dở được Chúa rút ra khỏi đống lửa, để biết quyết định trở lại với Chúa, như Chúa đang chờ đợi. Và xin Chúa cho ta biết vững tin vào Chúa mọi lúc mọi nơi, nhất là những khi gặp phong ba bão táp mà ta có cảm giác như vắng bóng Chúa trong cuộc đời…
Lm. Lê Công Đức
Đoạn sách Amos hôm nay (2,6-10.13-16) là lời sấm của Chúa cho thấy Chúa rất phiền lòng vì dân vô ơn, bội bạc, hư hỏng. Người ta không chỉ tệ bạc với Chúa, mà nhất là xấu xa trong cách cư xử với những người yếu thế… Chúa nói rõ:
“Ta sẽ không rút lại quyết định của Ta nữa: vì chúng sẽ bán người công chính để lấy tiền, sẽ buôn kẻ nghèo khó để kiếm một đôi giầy! Chúng đã dập đầu kẻ khốn cùng nghèo khó xuống bùn đất, chặn lối người hèn hạ. Vì cả cha con chúng cùng tìm đến một cô gái để xúc phạm thánh danh Ta. Chúng nằm lên đống y phục thế nợ gần mỗi bàn thờ, chúng uống rượu của kẻ chúng đã bắt nộp phạt ngay trong ngôi chùa vị thần chúng thờ.”
Những mô tả về một thời suy đồi, mạt pháp! Chúa bị xúc phạm, bị tổn thương, thường là qua chính tình trạng PHẨM GIÁ của những con người yếu thế bị tổn thương, bị xúc phạm… Nhưng Chúa không bỏ cuộc. Ngài lên tiếng, qua miệng ngôn sứ, là để nhắc nhở, lay động, đánh thức họ. Ta nhận ra, Thiên Chúa của Thánh Kinh luôn nhất quán đứng về phía PHẨM GIÁ con người, kiên quyết bảo vệ PHẨM GIÁ ấy – và đồng thời đó cũng là một cách Ngài bảo vệ ‘phẩm giá’ của chính Ngài.
Chúa Giêsu đến, càng cho thấy rõ ràng và dứt khoát chọn lựa bênh vực PHẨM GIÁ con người – như thể hiện nơi những hoạt động chữa trị và thi ân giáng phúc cho những người khốn khổ, dù phải gặp sự chống đối gay gắt của giới lãnh đạo Do thái… nhất là xung quanh những mâu thuẫn thường xuyên về vấn đề ‘luật ngày Sa bát’. Quả thực, con người là con đường của Thiên Chúa!
Mặt khác, ta ghi nhận rằng trong khi Thiên Chúa tận lực bảo vệ phẩm giá con người, thì Thiên Chúa cũng ‘đòi hỏi’ con người một cách không khoan nhượng. Ngài đòi con người hoàn toàn qui hướng về Ngài, thuộc về Ngài. Đây là cách để con người thể hiện phẩm giá cao nhất và hoàn thành ơn gọi sâu xa nhất của mình. Chính trong ý nghĩa này chúng ta sẽ hiểu những đòi hỏi mạnh mẽ của Chúa Giêsu đối với các ‘ứng viên’ đi theo Người: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, Con Người không có chỗ gối đầu… Anh hãy theo Tôi, và hãy để kẻ chết chôn kẻ chết”!…
Dù chúng ta tệ đến mấy, Thiên Chúa vẫn tìm cách cứu chúng ta – và Ngài vẫn kêu gọi chúng ta sống chất lượng cao nhất, chứ không ‘phá giá’ để chấp nhận một hiện hữu nhạt nhẽo và xoàng xĩnh… Dù ta thế nào, phẩm giá của ta không bao giờ mất giá. Chính Chúa Giêsu chứng thực điều này.
Lm. Lê Công Đức
Đoạn sách Khôn Ngoan hôm nay (1,13-15; 2,23-25) cần được ngẫm nghĩ kỹ, vì chứa đựng những sự thật rất sâu xa. Trích: “Thiên Chúa không tạo dựng sự chết… Người tạo dựng mọi sự trên mặt đất đều lành mạnh, chúng không có nọc độc sự chết, và không có địa ngục ở trần gian… Công chính thì vĩnh cửu và bất tử. Thiên Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Chúa, để sống vĩnh viễn. Nhưng bởi ác quỷ ghen tương, nên tử thần đột nhập vào thế gian”…
Nghĩa là, sự chết/sự dữ/tội lỗi vốn không tất yếu – chúng xảy ra bởi ‘tai nạn’ mà thôi. Thiên Chúa không muốn chúng và không tạo nên chúng. Nói chung, sự dữ là THIẾU sự thiện cần phải có! Và điều quan trọng: chính bởi ác quỉ GHEN TƯƠNG mà có sự dữ và sự chết. Ta nghĩ đến sự ghen tương của con rắn trong câu chuyện nguyên tổ… sự ghen tương của Ca-in đối với Aben… sự ghen tương của các anh đối với Giuse trong nhà tổ phụ Gia cóp… và cứ thế, càng ghen tương, người ta càng loại trừ nhau!
Ngược lại với ghen tương và loại trừ là gì? Là cảm thương và quan tâm! QUAN TÂM đến mức quên mình! Đây là thông điệp của Bài đọc II (2Cr 8,7.9.13-15): “Anh em biết lòng quảng đại của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta: mặc dù giàu sang, Người đã nên thân phận nghèo khó, để nhờ sự nghèo khó của Người, anh em nên giàu có. Nhưng không lẽ để cho kẻ khác được thư thái, mà anh em phải túng thiếu, nhưng phải làm sao cho đồng đều. Trong hoàn cảnh hiện tại, sự dư giả của anh em bù đắp lại chỗ thiếu thốn của họ, để sự dư giả của họ bù đắp lại sự thiếu thốn của anh em, hầu có sự đồng đều như lời đã chép rằng: ‘Kẻ được nhiều, thì cũng không dư; mà kẻ có ít, cũng không thiếu’”.
Bối cảnh cụ thể của những lời trên là một cuộc quyên góp để chia sẻ trong cộng đoàn. Nhưng giáo huấn về quảng đại và quan tâm thì mang tầm ứng dụng phổ quát! Tinh thần nghèo khó theo Phúc Âm tìm thấy nền tảng và định hướng ở đây. Cũng ở đây, có thể nói Kitô giáo trao chiếc chìa khoá giúp điều hợp các nền kinh tế, đặc biệt nền kinh tế thị trường tự do hiện hành của chúng ta (là nền kinh tế khoét sâu khoảng cách giàu nghèo một cách vô giới hạn!)… Chính trái tim con người – tức lòng quảng đại và quan tâm – sẽ giới hạn cái ‘vô giới hạn’ ấy.
Với Chúa Giêsu, sự quảng đại và quan tâm của Thiên Chúa trở thành hữu hình, cụ thể – như câu chuyện chữa lành người đàn bà băng huyết 12 năm và cứu sống con gái viên trưởng hội đường hôm nay… (x. Mc 5,21-43). Từ lòng thương xót và quan tâm, Giêsu đổ tràn việc thi ân giáng phúc trên khắp nẻo đường Người đi qua. Sự thiện có mặt, sự dữ và ác quỉ ghen tương bị đẩy lùi. Nhìn vào Giêsu, người ta học cách quan tâm và đón nhận nhau thay vì loại trừ nhau…
Không chỉ là ‘học cách làm’ với Giêsu, chúng ta nhận năng lực và sự sống từ chính Giêsu nữa – như điều được kinh nghiệm bởi người phụ nữ băng huyết 12 năm kia. Bà không phải kêu xin… bà chỉ đơn giản quyết định nhận… và chủ động đưa tay chạm vào vạt áo Giêsu để nhận… Và bà đã nhận được điều tốt lành mình cần!
Cuối cùng, tất cả điều chúng ta cần là lòng TIN vào CHÚA GIÊSU!
Lm. Lê Công Đức
Phê rô bị bắt bỏ tù trong cơn bách hại điên cuồng. Chính Hêrôđê vừa mới giết Giacôbê, anh của Gioan. Theo đó, số phận của Phê rô coi như xong. Chết tới nơi rồi! … Thế mà không ‘xong’! Chúa sai thiên thần đến giải thoát Phê rô cách kỳ diệu. Đọc truyện, ta thấy thiên thần điều động, dẫn dắt từng chút… còn Phê rô làm theo như người mộng du, không hề chủ động, ngay cả không có chi tiết nào cho thấy Phê rô muốn hoặc cầu xin sự giải thoát đó cả. Hội Thánh có cầu nguyện – chắc hẳn cầu nguyện xin Chúa cứu Phê rô – nhưng Phê rô thì phó thác mọi sự tuỳ ý Chúa thôi!
Tất cả điều nói trên giúp ta đọc hiểu loại chuyện giải thoát kiểu này. Không phải hễ ‘người của Chúa’ lâm nạn thì tất nhiên Chúa sẽ cứu bằng mọi giá. Bằng chứng là Giacôbê mới bị chém đó. Biết bao số phận tông đồ cũng tương tự. Còn Phê rô, ở đây được giải thoát, song cuối cùng cũng sẽ ‘xong’… khi bị treo ngược lên thập giá tại Rôma.
Như vậy, sự sống sự chết của người tông đồ tuỳ Chúa quyết định – sống hay chết, khi nào, ở đâu, cách nào… đều tuỳ Chúa. Phê rô được giải thoát lần này vì Chúa muốn thế, cho công cuộc của Chúa, chứ không phải tiên vàn cho sự sống còn của Phê rô. Người tông đồ xem cái chết ‘nhẹ tựa lông hồng’…
Kinh nghiệm của Phao lô cũng y như vậy – bộc lộ qua những dòng tâm sự vị Tông đồ này viết cho Ti mô thê: “Con thân mến, phần cha, cha đã già yếu, giờ ra đi của cha đã gần rồi. Cha đã chiến đấu trong trận chiến chính nghĩa, đã chạy đến cùng đường và đã giữ vững đức tin. Từ đây triều thiên công chính đã dành cho cha”… Phao lô đã sống hết mình, cho sứ mạng Chúa trao, giờ đây sẵn sàng ra đi nhẹ tênh… với xác tín ‘triều thiên công chính’ đang chờ đợi mình…
Cả chúng ta nữa, cũng được Phao lô mời gọi chia sẻ với ngài thái độ siêu thoát đối với đời tạm này và hướng vọng vĩnh cửu: “Trong ngày đó, Chúa là Ðấng phán xét chí công sẽ trao lại cho cha mũ triều thiên ấy, nhưng không phải cho cha mà thôi, mà còn cho những kẻ yêu mến trông đợi Người xuất hiện”.
Lùi về xa hơn trước đó… Khi tuyên xưng “Thầy là Đấng Kitô”, Phê rô cũng đang hàm ý về sự cứu thoát, bởi Đấng Kitô là Đấng cứu thoát. Và đây là sự cứu thoát đích đáng, trọn vẹn, chứ không chỉ là cứu khỏi tù khỏi chết tạm bợ một thời gian. Khi tuyên xưng Thầy là “Con Thiên Chúa Hằng Sống”, Phê rô đã phóng tầm nhìn của mình đến tận cảnh giới “hằng sống”, đó là nhìn xa nhất và trông rộng nhất rồi!
Đáp lại, Chúa Giêsu kêu gọi và trao sứ mạng cho Phê rô: “Anh là Ðá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng được!” Hình ảnh “Đá” và khẳng định “cửa địa ngục không thắng được” ở đây gợi gì cho ta, nếu không phải dẫn ta vào một thực tại vĩnh cửu, trường tồn?
Lm. Lê Công Đức
Thật là thê thảm cho hoàn cảnh của vua quan và dân chúng ở Giêrusalem. Bị bao vây lâu dài, đói và kiệt quệ, mở đường chạy thoát thì bị đuổi bắt…! Bị hành hạ và đem đi lưu đày…! Đền thờ, cung điện, và nhà cửa dân chúng bị đốt thiêu rụi…!
Thê thảm như vậy, nhưng do đâu? Sách Thánh khi thuật chuyện thường nối kết những tai ương như thế với sự phụ bạc của dân đối với Chúa. Như cái giá phải trả! Ngay cả một số văn mạch nói thẳng là ‘sự trừng phạt của Chúa’!
Vấn đề vẫn còn đó: Khi nói ‘Chúa trừng phạt’ thì phải hiểu như thế nào? Phải chăng nói ‘Chúa trừng phạt’ mà thực ra là con người tự trừng phạt mình? Chúa có thực sự muốn những tai ương hoạn nạn cho con người chỉ vì muốn đè bẹp họ?
Trong Tân Ước, rõ ràng Chúa Giêsu rất dè dặt khi phát ngôn liên quan tới ý niệm ‘trừng phạt’… Ngược lại, Người thường xuyên nêu rõ sự thật nền tảng về lòng thương xót của Chúa Cha. Thiên Chúa muốn điều tốt lành cho con cái, muốn cứu hết mọi người… Và Chúa Giêsu là hiện thân của lòng thương xót và của ý chí cứu độ ấy.
Đó là ý nghĩa chất chứa trong tuyên bố của Chúa Giêsu với anh phong cùi hôm nay: “Tôi muốn, anh hãy được sạch!”
Lập tức, anh ta được sạch. Không còn thê thảm như trước nữa!
Lm. Lê Công Đức