Vẫn là ‘NGÀY ẤY’ và ‘SẼ’, hai từ khoá mà bản văn sách Isaia dùng để nói về thời Mêsia (thời của Đấng Cứu Độ), với những hành động mang tính chất cứu độ sẽ diễn ra. “Ngày ấy, người điếc sẽ được nghe lời Sách Thánh, và từ bóng tối, mắt người mù sẽ được xem thấy. Những người hiền lành sẽ càng thêm vui mừng trong Chúa, và những kẻ nghèo khó sẽ nhảy mừng trong Ðấng Thánh của Israel”… Nói tắt, những người khốn khổ sẽ được giải phóng khỏi tình cảnh khốn cùng của mình và sẽ được mừng vui…
Ở chiều hướng ngược lại, những kẻ gian ác áp bức người yếu thế sẽ phải ê chề xấu hổ: “Vì chưng, người ỷ thế sẽ thất bại, kẻ khinh người sẽ bị hổ ngươi, người mưu toan gian ác sẽ bị tiêu diệt. Ðó là kẻ dùng lời nói để cáo gian người khác, kẻ ra cửa thành mà đánh lừa người xử kiện, kẻ lấy sự nhỏ nhen mà hiếp đáp người công chính”… Như vậy, ta thấy một cuộc lật đổ, một sự chỉnh đốn có tính đảo ngược. Kẻ bất nhân sẽ khiếp run. Người hiền đức bị ức hiếp sẽ được bênh vực và không còn sợ hãi – như lời tuyên xưng trong Thánh vịnh 26 (Đáp ca): “Chúa là sự sáng, là Ðấng cứu độ, tôi sợ chi ai? Chúa là Đấng phù trợ, tôi sợ gì ai?”…
Chúa Giêsu đến, thời Cứu độ bắt đầu hiện thực. Câu chuyện Chúa chữa cho sáng mắt hai người mù nêu bật yếu tố LÒNG TIN của cả hai. Vâng, Chúa không đến để đơn phương lạnh lùng dàn xếp mọi hành động ‘giải phóng’ những người khốn khổ, theo kiểu áp đặt ý chí của Người và bất chấp ý chí của ‘đối tác’. Chúa đem ân phúc đến, và Chúa muốn mở toang nguồn ân phúc ấy cho những ai TIN vào Người. Chúa mời tất cả và mỗi người chúng ta đi vào mối tương quan với Chúa qua cánh cửa lòng tin – và ân phúc của Chúa chảy tràn trong mối tương quan ấy.
Ta hãy xem các diễn tiến của câu chuyện:
-Gặp giữa đường, hai người mù kêu xin lòng thương xót… Chúa nghe nhưng tiếp tục đi… như thể một trắc nghiệm về sự tha thiết, chân thành, đồng thời Chúa cũng muốn sự kín đáo…
-Hai người mù bám theo Chúa, đến nhà, lại tiếp cận Chúa một lần nữa…
-Chúa hỏi có tin không, họ thưa có… Chúa chữa lành họ… và truyền giữ kín…
-Nhưng họ không giữ kín được, mà ngược lại, họ kể cho mọi người nghe câu chuyện…
Câu chuyện là một tiến trình, một lộ trình của kinh nghiệm ân sủng và của động lực sứ mạng. Gặp gỡ Chúa, tin vào Chúa, được chữa lành, dạt dào niềm vui đến mức không thể không chia sẻ cho người khác! Và tất cả bắt đầu bằng: “Hỡi Con vua Đavit, xin thương xót chúng tôi!”
Chúng ta thường không dễ kêu xin lòng thương xót của một ai đó, vì như vậy là thừa nhận mình yếu kém và bất lực. Thế nhưng với Chúa, ta đừng sĩ diện, bởi chúng ta thực sự bất lực và thực sự cần tình thương cứu độ của Chúa. Kêu xin lòng Chúa thương xót chính là bắt đầu diễn tả lòng tin, bắt đầu kinh nghiệm ân sủng và cảm nhận động lực sứ mạng!
Lm. Lê Công Đức
Sách Isaia hôm nay vẫn đặc tả ‘NGÀY ẤY’ tức ‘thời Thiên Sai’. Đó là thời của bình an, sự bình an người ta nhận được nhờ lòng trông cậy và tín thác vào Chúa. “Hãy trông cậy Chúa đến muôn đời, trông cậy Chúa, Ðấng quyền năng mãi mãi.”
Thánh vịnh 117 diễn tả niềm cậy trông tín thác ấy bằng thái độ ‘nương tựa’: “Tìm đến nương tựa Chúa thì tốt hơn nương tựa ở loài người; tìm đến nương tựa Chúa thì tốt hơn nương tựa những bậc quân vương”…
Cậy trông tín thác, được diễn dịch thành ‘nương tựa’, không thể chỉ bao gồm những lời nói suông với Chúa, kiểu ‘lạy Chúa, lạy Chúa’ làm Chúa nghe phát mệt, mà phải thực sự gắn với việc “thực hiện ý Cha trên trời”. Điều này giả thiết trước hết thái độ lắng nghe lời Chúa, rồi sự mau mắn đem ra thi hành. Chúa Giêsu tuyên bố những ai làm như thế đều là thành viên trong gia đình thiêng liêng (là mẹ và anh chị em của Người), có phúc hơn so với duy chỉ tư cách là người thân ruột thịt của Người.
Ta để ý, chỉ NÓI ‘lạy Chúa, lạy Chúa’ suông thì chẳng có ý nghĩa gì.
Chỉ NGHE lời Chúa mà thôi cũng chẳng có ý nghĩa gì.
Mà phải nghe và THỰC HÀNH lời Chúa thì mới làm nên ý nghĩa!
Rốt cuộc, điều quyết định, điều làm nên sự khác biệt, đó là thực hành hay không thực hành ý Cha trên trời. Sự khác biệt giữa ‘xây nhà trên đá’ và ‘xây nhà trên cát’! Một lần nữa, ở đây lời Chúa cũng dùng ý niệm ‘điểm tựa’ / ‘sự nương tựa’ để giúp ta hiểu vấn đề. Chúng ta muốn mình là một ngôi nhà nương tựa trên nền đá hay trên nền cát? Chúng ta muốn trông cậy vào cái gì, vào ai? Chúng ta muốn mình là ‘người khôn ngoan’ hay ‘người ngu đần’ (diễn tả bằng chính những từ ngữ của Chúa Giêsu)?
Sứ điệp về đức cậy (hy vọng, tín thác) càng thôi thúc chúng ta trong Giáo hội và thế giới hôm nay. Tháng 10 năm ngoái, 2023, Đức thánh cha Phanxicô công bố Tông huấn C’est la confiance về con đường tổng hợp của thánh nữ Têresa Chúa Giêsu Hài đồng, con đường đó là lòng TÍN THÁC vào tình yêu thương xót của Thiên Chúa. Mùa Chay năm nay, 2024, Sứ điệp của Đức thánh cha đúc kết ở ĐỨC CẬY: “Đức tin và đức ái dạy đức cậy bước đi, đồng thời chính đức cậy dẫn đức tin và đức ái tiến về phía trước”. Năm Thánh 2025 mà chúng ta sắp cử hành có chủ đề là ‘Những người hành hương (của) HY VỌNG’, vốn đã được Đức thánh cha công bố bằng Sắc chỉ ‘Spes non confundit’ (Niềm hy vọng không làm thất vọng).
Mùa VỌNG năm nay đồng thời cũng là những tuần lễ cuối cùng đưa ta vào Cánh Cửa Năm Thánh. Chúng ta hãy trông cậy tín thác vào tình yêu thương xót của Cha trên trời, bằng cách lắng nghe và thực thi lời của Con Cha là Chúa Giêsu Kitô, Đấng là niềm hy vọng không làm ta thất vọng!
Lm. Lê Công Đức
Lời Chúa của Mùa Vọng tiếp tục giải thích lý do mong chờ Đấng Thiên Sai của dân Chúa trong thời Cựu Ước và của chúng ta trong mùa Phụng Vụ này. Sách Isaia lặp đi lặp lại về ‘NGÀY ẤY’: Ngày ấy các dân sẽ được đãi tiệc trên núi, với thịt béo rượu ngon; không còn khăn tang của chết chóc, không còn nước mắt của tủi nhục ê chề… Ngày ấy Chúa sẽ cứu dân, và dân sẽ hân hoan… Thánh vịnh 24 trao cùng âm hưởng ấy: “Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi, trên đồng cỏ xanh rì, Ngài cho tôi nằm nghỉ… Chúa dọn ra cho tôi mâm cỗ… Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi hết mọi ngày trong cuộc đời…”
Câu chuyện trong Tin Mừng Mátthêu về hoạt động chữa lành và về việc Chúa Giêsu hoá bánh ra nhiều để nuôi dân như là sự ứng nghiệm lời tiên báo về thời Thiên Sai ấy. Cái ‘NGÀY ẤY’ trong Isaia đã trở thành hiện thực trong ‘ngày này’, khi Chúa Giêsu “lên ngồi trên núi; dân chúng lũ lượt đến cùng Người, đem theo kẻ câm, mù, què, liệt và nhiều người khác, và đặt họ dưới chân Người. Người đã chữa lành họ. Dân chúng kinh ngạc nhìn thấy kẻ câm nói được, người què bước đi, người đui lại thấy, và họ tôn vinh Thiên Chúa Israel”…
Hình ảnh ‘bữa tiệc trên núi’ được hiện thực với phép lạ hoá bánh nuôi dân rất ngoạn mục ở đây. Ta nhớ rằng cách đây hai mươi, ba mươi thế kỷ thì mối lo về cái ăn là một áp lực to lớn hơn rất nhiều so với thời đại văn minh của chúng ta hiện nay. Vì thế niềm vui được đãi tiệc là một niềm vui rất lớn! Đúng là Chúa nuôi tôi, tôi chẳng còn thiếu thốn chi – vì cả đám đông ăn no, mà “mảnh vụn còn lại người ta thu gom được bảy thúng đầy”!
Nhưng ta cần nhận ra, chỉ chừng ấy thì thật ra chưa ứng nghiệm những lời tiên báo về ‘NGÀY ẤY’ của thời Thiên Sai chi cả. Chữa bệnh ư? Chúa Giêsu chỉ chữa một số người ở Palestina trong thời gian sứ vụ ngắn ngủi ấy. Nuôi ăn ư? Chúa chỉ hoá bánh ra nhiều có hai lần để cho người ta ăn qua cơn đói. Ngày nay, ta hiểu rõ ràng trách nhiệm về an ninh y tế và lương thực thuộc về các chính phủ của các quốc gia – và ngay cả trong một thế giới văn minh kỹ thuật như hiện nay, vẫn còn những bản làng, những gia đình rất gần chúng ta nhưng đang tận cùng khốn khổ, thiếu ăn thiếu mặc, thiếu sự chăm sóc y tế tối thiểu… Nói chung, rất nhiều số phận tăm tối của người nghèo còn thua xa cả con chó con mèo của những người khá giả (ví dụ, xem video số 1320 của Kênh Tuấn Vỹ Nối kết Yêu thương, nhất là từ phút 18…).
Vậy thì, sự ứng nghiệm về thời Thiên Sai được tìm thấy ở đâu? Ở nơi ơn chữa lành toàn diện mà Chúa Giêsu đem lại – như Chúa nói với người bại liệt kia: “Tội anh đã được tha!”… Ở nơi lương thực sự sống đời đời là Lời Chúa và Thánh Thể… Nhưng ngay cả Lời Chúa và Thánh Thể của thời Thiên Sai (hiểu là kỷ nguyên bắt đầu với biến cố Chúa Giêsu trên mặt đất này) cũng chưa phải là sự hoàn thành dứt khoát công cuộc giải phóng và cứu độ. Tất cả vẫn chỉ mới được khai mạc thôi, để hướng đến sự hoàn thành chung cuộc trong Bữa Tiệc của Nước Trời.
Vì thế, Mùa Vọng của Phụng vụ nhắc ta ý thức toàn thể thời gian của Giáo hội – và toàn thể cuộc đời của mỗi người chúng ta trong đó – là một MÙA VỌNG! Chính chúng ta phải góp phần đưa lời hứa về thời Thiên Sai đến chỗ ứng nghiệm trọn vẹn, bằng cách liên can chính mình vào số phận của bao người khốn khổ về vật chất cũng như tinh thần. Có lẽ chúng ta không làm được những phép lạ ấn tượng như Chúa Giêsu thuở ấy… Nhưng mỗi một cử chỉ liên đới và chia sẻ cụ thể, dù nhỏ bé đến mấy, cũng là một ‘phép lạ’, theo nghĩa rằng nó là sự nối dài hành động của chính Chúa Giêsu.
Lm. Lê Công Đức
Trong Đại hội thứ 82 của Ủy ban Thư ký của Hội đồng Giám mục vùng Trung Mỹ, các Giám mục đã kêu gọi dành ngày cầu nguyện liên đới huynh đệ với Giáo hội Nicaragua trong bối cảnh cuộc bách hại tôn giáo tại nước này vẫn tiếp tục gia tăng.
Lời kêu gọi của các Giám mục Trung Mỹ
Trong tuyên bố có tựa đề “Ngày cầu nguyện của Trung Mỹ cho Giáo hội tại Nicaragua. ‘Chúng ta cùng kêu lên với Nicaragua’”, các Giám mục nói: “Chúng ta hãy bày tỏ tình liên đới và sự hiệp thông sâu sắc của chúng ta với dân Chúa tại Nicaragua, những người thường phải đối mặt với thực tế đầy thách thức”. Các ngài kêu gọi mọi giáo phận, giáo hạt, giáo xứ và cộng đồng tại Trung Mỹ tổ chức một ngày cầu nguyện cho Giáo hội tại Nicaragua, “để không ai cảm thấy đơn độc”, ngay cả trong bối cảnh bị đàn áp tôn giáo.
Truyền thống đặc biệt
Vì vậy, vào ngày 8/12, Lễ Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội, mọi người trên khắp Trung Mỹ và thế giới được mời gọi thể hiện “sự gần gũi và lòng cảm thông huynh đệ”.
Tại Nicaragua, Giáo hội cũng cử hành ngày 8/12 cách đặc biệt. Ngày này được đánh dấu bằng truyền thống “la gritería” hay lời ca khen ngưỡng mộ đối với Đức Trinh Nữ Maria. Giáo hội Công giáo Nicaragua cũng nhận Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ và là Bổn mạng.
Với suy nghĩ này, các Giám mục Trung Mỹ đã chọn ngày lễ này làm ngày cầu nguyện để “cùng chung tay” với tiếng kêu của người dân Nicaragua, “những hy vọng tìm thấy câu trả lời”.
Hơn 200 lãnh đạo tôn giáo bị Nicaragua trục xuất
Lời kêu gọi cầu nguyện của các Giám mục Trung Mỹ được đưa ra trong bối cảnh hỗn loạn đang diễn ra ở Nicaragua. Chính quyền Tổng thống Ortega đã trục xuất hơn 200 nhà lãnh đạo tôn giáo và bắt giữ các thành viên giáo sĩ, bao gồm cả Giám mục Rolando Álvarez. Mới đây nhất, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Nicaragua, Đức Cha Carlos Herrera của Jinotega, đã bị lưu đày. Ngài trở thành giám mục Nicaragua thứ ba bị trục xuất khỏi đất nước dưới thời Ortega.
Trong diễn văn trước các tham dự viên “Hội nghị Tất cả Tôn giáo”, Đức Thánh Cha nói rằng chân lý cơ bản chung giữa tất cả các tôn giáo đó là: “là con cái của một Thiên Chúa, chúng ta phải yêu thương và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng sự đa dạng và khác biệt trong tinh thần huynh đệ và hòa nhập, và chăm sóc lẫn nhau cũng như chăm sóc Trái đất, ngôi nhà chung của chúng ta”. Ngài nói rằng việc phớt lờ những giáo huấn như vậy là nguyên nhân gây ra sự bất bao dung.
Hội nghị được tổ chức bởi Tổ chức Sree Narayana Dharma Sangham, một tổ chức truyền bá khái niệm “Một đẳng cấp, một tôn giáo và một Thiên Chúa cho con người”, với sự hỗ trợ của Bộ Đối thoại Liên tôn, nhân kỷ niệm 100 năm “Hội nghị Tất cả Tôn giáo” lần đầu tiên được Sree Narayana Guru tổ chức, một sự kiện lịch sử trong cuộc đối thoại liên tôn ở Ấn Độ và Châu Á.
Hội nghị diễn ra tại Vatican trong hai ngày 29-30/11/2024, bao gồm các tham dự viên thuộc các truyền thống tôn giáo khác nhau đến từ Kerala, một bang ở miền nam Ấn Độ, và đến từ các nơi khác trên thế giới, có chủ đề: “Các tôn giáo cùng nhau vì một nhân loại tốt đẹp hơn”.
Tình trạng bất bao dung và thù hận ngày càng gia tăng
Đức Thánh Cha nhận định rằng chủ đề của Hội nghị có liên quan và quan trọng đối với thời đại của chúng ta. Ngài lưu ý rằng “thế giới ngày nay” thực sự nổi bật với “các trường hợp bất bao dung và thù hận ngày càng gia tăng giữa các dân tộc và quốc gia”. Ngài nhận xét rằng những trường hợp “phân biệt đối xử và loại trừ, căng thẳng và bạo lực” dựa trên “sự khác biệt về nguồn gốc sắc tộc hoặc xã hội, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ và tôn giáo”, đã trở thành “một trải nghiệm hàng ngày đối với nhiều cá nhân và cộng đồng”, đặc biệt là đối với người nghèo, người không có khả năng tự vệ và người không có tiếng nói.
Thông điệp của Sree Narayana Guru
Nhắc đến di sản của Sree Narayana Guru, Đức Thánh Cha nhận xét rằng “người hướng dẫn tâm linh” và “nhà cải cách xã hội” này đã dành cuộc đời để thúc đẩy sự thăng tiến xã hội và tôn giáo. Ngài nói rằng bằng cách phản đối hệ thống đẳng cấp ở Ấn Độ, Sree Narayana Guru đã truyền bá thông điệp rằng “tất cả con người, bất kể dân tộc hay truyền thống tôn giáo và văn hóa của họ, đều là thành viên của một gia đình nhân loại duy nhất”.
Tài liệu về Tình huynh đệ nhân loại
Đức Thánh Cha cũng nhắc lại Tài liệu về Tình huynh đệ nhân loại vì Hòa bình thế giới và sự Chung sống, trong đó nói rõ rằng Thiên Chúa đã “tạo dựng tất cả con người bình đẳng về quyền, nghĩa vụ và phẩm giá, và kêu gọi họ sống với nhau như anh chị em”.
Chia sẻ những đặc điểm chung trong khi tôn trọng sự khác biệt
Đức Thánh Cha hy vọng tất cả “những người thiện chí” hợp tác để thúc đẩy một nền văn hóa “tôn trọng, phẩm giá, lòng trắc ẩn, hòa giải và liên đới huynh đệ”. Bằng cách rút ra từ những đặc điểm chung của họ, những người đại diện cho các tôn giáo khác nhau có thể “cùng nhau bước đi và làm việc để xây dựng một nhân loại tốt đẹp hơn”, trong khi vẫn “bám rễ vững chắc” vào “niềm tin” và “xác tín tôn giáo” của riêng họ.
Trình thuật về bài sai sứ mạng (mandat) ở Tin Mừng Mác-cô có một sự nhấn mạnh đáng lưu ý về “những phép lạ kèm theo”. Nào là “trừ quỉ”, nào là “cầm rắn trong tay, và nếu uống phải chất độc cũng không bị hại”, nào là “đặt tay chữa lành bệnh nhân”… Đây là một trong những lý do của việc chọn bản văn này cho ngày lễ thánh Phanxicô Xavie, vị thánh mà hành trình rao giảng Tin Mừng gắn liền với nhiều phép lạ ngoạn mục được ghi lại…
Nhưng cần phải nhắc lại rằng phép lạ ở đây có thể nâng đỡ đức tin, chứ một cách căn bản nó không nhắm làm ra đức tin. Bởi vì đơn giản là nó không có khả năng làm ra đức tin! Một đức tin có được do phép lạ, thì đức tin ấy không thật sự đúng nghĩa là đức tin. Nó đã bị áp lực, nó không còn tự do. Người Do thái rất sính phép lạ; họ từng đòi Chúa Giêsu thi thố một dấu lạ hoành tráng từ trời để họ tin, nhưng Chúa đã từ chối. Vì như vậy là người ta bị áp lực, đâu còn tự do, và do đó cũng không còn là ‘tin’ đúng nghĩa! Ngược lại, đức tin chân thực và đủ mạnh thì sẽ có thể làm ra phép lạ – như Chúa Giêsu khẳng định rất nhiều lần…
Sự tự do để tin là điều thiết yếu về phía người nghe rao giảng. Sự tự do để rao giảng Tin Mừng – về phía người tông đồ / thừa sai – hẳn nhiên cũng là điều thiết yếu như thế. Thế nhưng, những lời của thánh Phaolô trong Thư 1Côrintô nghe thật lạ! Vị Tông Đồ Dân Ngoại diễn đạt rằng ngài không còn tự do (để chọn rao giảng hay không rao giảng), mà ngài bị buộc phải rao giảng, vì ngài cảm nhận đó là nhu cầu và nghĩa vụ của mình! “Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!” Và vì cảm nhận việc rao giảng là nhu cầu, là nghĩa vụ, nên Phaolô không nghĩ mình có công trạng.
Ta thấy trước sau Phaolô vẫn hoàn toàn tự do, nhưng ngài dùng sự tự do ấy để chọn trở thành nô lệ. Hãy nghe thật kỹ cảm nghiệm rất thâm sâu này của ngài: “Khi rao giảng Phúc Âm, tôi đem Phúc Âm biếu không, tôi không dùng quyền mà Phúc Âm dành cho tôi. Mặc dầu tôi được tự do đối với tất cả mọi người, tôi đã đành làm nô lệ cho mọi người, hầu thu hút được nhiều người hơn. Tôi đã ăn ở như người yếu đau đối với những kẻ yếu đau để thu hút người yếu đau. Tôi đã nên mọi sự đối với tất cả mọi người, để làm cho mọi người được cứu rỗi. Tất cả những việc đó, tôi làm vì Phúc Âm, để được thông phần vào lợi ích của Phúc Âm”.
Dùng tự do để chọn trở nên nô lệ cho Thiên Chúa, cho Đức Kitô, cho sứ mạng rao giảng Tin Mừng! Một nhiệt tâm sứ mạng như thế chỉ có thể được giải thích bởi tình yêu, một tình yêu say mê trong sâu thẳm trái tim là trung tâm của bản ngã người ta (x. Thông điệp Dilexit nos, số 23-27). Nó tương tự như chàng trai kia được hỏi tại sao anh lại yêu cô gái đó, chàng trả lời: “Tại sao không chứ? Đó là điều đương nhiên, điều bắt buộc đối với tôi; đó là niềm vui, là hạnh phúc của tôi!”
Câu chuyện cuộc đời môn đệ thừa sai của thánh Phanxicô Xavie cũng chỉ được hiểu từ kinh nghiệm và nhãn quan ấy của thánh Phaolô, vị Tông đồ Dân ngoại. Câu chuyện ấy không chỉ có những hành trình rao giảng miệt mài và những phép lạ đầy ấn tượng, mà sâu xa hơn, câu chuyện ấy còn bao hàm một tình yêu say mê đối với Chúa Giêsu Kitô đến nỗi đặt trọn con người và đời sống của mình thuộc về công cuộc của Người, và chỉ thuộc về Người mà thôi!
Xin Chúa truyền loại động lực ấy vào trái tim mỗi người chúng ta!
Lm. Lê Công Đức
Ngày 30/11, lễ thánh Anrê Tông đồ, bổn mạng Giáo hội Chính Thống Constantinople và Toà Thượng phụ, Đức Thánh Cha gửi sứ điệp chúc mừng đến Đức Thượng phụ Bartolomeo, Thượng phụ Chính Thống Constantinople, ngài nhấn mạnh, tình huynh đệ và chứng tá của các Kitô hữu là một thông điệp cho thế giới đang bị chiến tranh và bạo lực tàn phá.
Như truyền thống lâu đời, ngày 29/6, Toà Thượng phụ Constantinople thường gửi phái đoàn đến Roma để mừng lễ thánh Phêrô, bổn mạng Giáo hội Công giáo; và vào ngày 30/11, Toà Thánh cũng gửi một phái đoàn đến Thổ Nhĩ Kỳ để mừng lễ thánh Anrê, bổn mạng của Giáo hội Chính Thống Constantinople.
Đức Hồng Y Kurt Koch, Tổng trưởng Bộ Cổ võ Hiệp nhất các Kitô hữu, đã dẫn đầu phái đoàn của Toà Thánh đến Thổ Nhĩ Kỳ tham dự Thánh lễ kính thánh Anrê tại nhà thờ thánh George, và gặp gỡ Đức Thượng phụ và Uỷ ban Thánh hội đồng về quan hệ với Giáo hội Công giáo. Đức Hồng Y đã trao Sứ điệp của Đức Thánh Cha cho Đức Thượng phụ và ngài đã đọc trước khi buổi cử hành phụng vụ kết thúc.
Trong sứ điệp, Đức Thánh Cha đề cập đến Sắc lệnh Unitatis Redintegratio về Đại kết của Công đồng Vatican II, vừa kỷ niệm 60 năm ban hành vào ngày 21/11. Văn kiện đã mở đường cho đối thoại với các Giáo hội Kitô khác, và cuộc đối thoại của Giáo hội Công giáo với Chính thống đã và tiếp tục đạt được hiệu quả, với mong muốn sự hiệp thông trọn vẹn, cùng chia sẻ một chén Thánh Thể.
Mặc dù mong ước hiệp nhất trọn vẹn vẫn chưa đạt được, nhưng Đức Thánh Cha cho rằng những chia rẽ từ hơn một thiên niên kỷ trước không thể giải quyết trong vòng vài thập kỷ, và mục tiêu tái lập sự hiệp thông trọn vẹn có chiều kích cánh chung, vì con đường dẫn đến hiệp nhất trùng với con đường cứu rỗi đã được ban trong Chúa Giêsu Kitô, và Giáo hội chỉ tham gia trọn vẹn vào cuối thời gian. Điều này không có nghĩa là quên đi mục tiêu cuối cùng mà ai cũng khao khát, cũng không mất hy vọng rằng sự hiệp nhất có thể đạt được trong tiến trình lịch sử.
Đức Thánh Cha tiếp tục, nhắc đến kỷ niệm 1.700 Công đồng Nicea vào năm tới, cho rằng đây là cơ hội để làm chứng cho sự hiệp thông đang phát triển. Ngài mong muốn có thể được cử hành sự kiện trọng đại này với Đức Thượng phụ, và cám ơn tất cả những ai đang nỗ lực làm việc để biến điều này có thể. Theo ngài, cử hành sự kiện này chắc chắn sẽ củng cố môi liên kết đã có và khuyến khích tất cả các Giáo hội làm chứng trong thế giới ngày nay. Tình huynh đệ đã sống và chứng tá của các Kitô hữu cũng sẽ là một thông điệp cho thế giới đang bị chiến tranh và bạo lực tàn phá.
Kết thúc sứ điệp, Đức Thánh Cha mời gọi Giáo hội Chính thống Constantinople hiệp nhất cầu nguyện cho hoà bình ở Ucraina, Palestine, Israel, Libăng và tất cả những khu vực đang có những cuộc chiến. Ngài phó thác tất cả cho sự chuyển cầu của hai thánh Phêrô và Anrê.
Nguồn. Vatican News
Đừng quên, chúng ta đã vào Mùa Vọng. Các bài Tin Mừng giai đoạn đầu của Mùa Vọng vẫn là những trình thuật hoạt động thi ân giáng phúc của Chúa Giêsu trong sứ vụ của Người, nghe giống như Mùa Thường niên, nhưng phải được tiếp cận trong bối cảnh của Mùa Vọng. Nói cách khác, Đấng Thiên sai mà dân Chúa đợi chờ trong lịch sử Cựu Ước – và chúng ta hướng về trong những tuần lễ của mùa Phụng vụ này – là Đấng đến để làm những việc tốt lành như thế! Và đó là lý do cho niềm vui và sự mong chờ của chúng ta.
Câu chuyện Chúa chữa lành đứa trẻ người nhà ông đại đội trưởng hôm nay là một minh hoạ cho sứ vụ thi ân giáng phúc. Hành động chữa bệnh, cứu sống này xảy ra trên bình diện thể lý, nhưng có ý nghĩa biểu tượng về sự giải phóng toàn diện của thời Mêsia, thời mà thường được gọi là ‘ngày ấy’ trong sách Isaia: “Ngày ấy, dòng dõi Chúa sẽ trở nên huy hoàng vinh quang, hoa màu trên đất sẽ dồi dào, và số người trong dân Isarel được giải phóng sẽ nhảy mừng”.
Ta ghi nhận, Isaia nói về “những người trong dân Israel được giải phóng”, nhưng ngay ở đây ta thấy ông đại đội trưởng này hầu chắc là một người thuộc dân ngoại! Nghĩa là, sự giải phóng mà Chúa Giêsu đem lại không chỉ toàn diện (thể lý, tâm linh), mà còn phổ cập nữa (không giới hạn nơi dân Israel). Thậm chí Chúa còn nhấn mạnh lời cảnh báo: “Nhiều người từ phương đông và phương tây sẽ đến dự tiệc cùng Abraham, Isaac và Giacóp trong Nước Trời. Còn con cái trong nhà sẽ bị vứt vào nơi tối tăm bên ngoài, ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng”!
Yếu tố quyết định làm nên sự khác biệt là LÒNG TIN. Như Chúa nói về lòng tin của ông đại đội trưởng: “Quả thật, Ta bảo các ngươi, Ta không thấy một lòng tin mạnh mẽ như vậy trong Israel”. Ông ấy đã tin như thế nào? Ông đã thưa với Chúa Giêsu: “Lạy Thầy, tôi không đáng được Thầy vào dưới mái nhà tôi, nhưng xin Thầy chỉ phán một lời, thì thằng nhỏ của tôi sẽ lành mạnh”.
Bạn thấy kỳ lạ chưa? Chúng ta mong mỏi Chúa đến, chúng ta tha thiết kêu xin ‘ngàn mây hỡi hãy mưa Đấng Cứu Chuộc’ và ‘Maranatha’ / ‘lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến’, còn ông đại đội trưởng ở đây thì ‘can ngăn’ việc Chúa đến nhà ông… Và đó là cách ông diễn tả lòng tin của mình. Tin mạnh mẽ, nên cảm nhận sâu xa mình bất xứng! Và ai chân thành cảm nhận mình bất xứng với việc Chúa đến thăm, thì Chúa vui lòng đến thăm cách ưu tiên nhất, bởi Chúa đến là để chữa lành và giải phóng người ta khỏi mọi vấn đề vướng mắc của họ.
Phụng vụ Giáo hội thật khôn ngoan tinh tế biết bao khi vận dụng chính lời của ông đại đội trưởng ở đây cho tất cả chúng ta trong mọi Thánh lễ, vào lúc sắp hiệp thông Thánh Thể (tức rước Chúa vào lòng). “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời, thì linh hồn con sẽ được lành mạnh”.
Chúng ta tha thiết mong Chúa đến với mình. Song chúng ta nên ý thức mình bất xứng. Ngay cả đừng cảm thấy rằng mình xứng đáng hơn người này người kia, nhưng hãy tin rằng mình bất xứng nhất. Đó chính là LÒNG TIN mà Chúa muốn nhìn thấy nơi chúng ta.
Lm. Lê Công Đức
Bước vào Mùa Vọng, điều ghi nhận đầu tiên là Lời Chúa, với sứ điệp tỉnh thức, vẫn liền mạch từ cuối Năm Phụng vụ trước (2024) đến đầu Năm Phụng vụ sau (2025). Bởi vì chân trời cánh chung, với cuộc Quang lâm của Chúa, vẫn còn nguyên đó, làm thành một trong hai ý nghĩa mấu chốt mà Mùa Vọng của Giáo hội hướng tới.
Nhưng trước hết là ý nghĩa thứ nhất: Mùa Vọng là mùa sống lại tâm tình của dân Chúa khi chờ đợi Chúa đến lần thứ nhất. Đối tượng của niềm hướng vọng này là mầu nhiệm Nhập thể-Giáng sinh của Con Thiên Chúa. Thiệp Giáng sinh, cây Noel, hang đá, quà, tiệc réveillon, dòng nhạc Christmas carol, vân vân… là những thứ xoay quanh và phụ hoạ cho ý nghĩa thứ nhất này. Tất cả dựa trên một lời hứa, được lặp đi lặp lại nhiều lần nhiều cách, chẳng hạn lời hứa ta nghe trong sách Giêremia:
“Này, sẽ đến những ngày… Ta sẽ cho mọc lên một mầm non, một Đấng Công Chính để nối nghiệp Đavít; Người sẽ trị nước theo lẽ công bình chính trực”. Lời hứa còn nói rõ dân Chúa sẽ nhận được gì cùng với sự xuất hiện của ‘Đấng Công Chính’ ấy: “Trong những ngày ấy, Giuđa sẽ được cứu thoát, Giêrusalem sẽ an cư lạc nghiệp” (x. Gr 33,14-16).
Lời hứa tốt lành quá, dân đáp lại bằng tâm tình của tác giả Thánh vịnh: “Lạy Chúa, con nâng tâm hồn lên cùng Chúa” (x. Đáp ca, Tv 24). Như thế, cách xứng hợp nhất để chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh không là gì khác hơn việc “nâng tâm hồn lên cùng Chúa”! Nâng tâm hồn lên, đó chính là cầu nguyện, đặc biệt là tâm nguyện cá nhân (hay nguyện gẫm), theo thánh Gioan Đamascen và nhiều bậc thầy linh đạo trong lịch sử Giáo hội…
Ý nghĩa thứ hai của Mùa Vọng, như nói trên kia, là hướng vọng sự đến lại tức cuộc Quang lâm của Chúa Giêsu ở hồi kết cục lịch sử. “Thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc” (x. Lc 21,25-28.34-36). Ý nghĩa này nhắc chúng ta rằng trong khi ‘Mùa Vọng’ chỉ chiếm bốn tuần trong ‘Năm Giáo hội’, thì thực ra toàn bộ thời gian của Giáo hội là một Mùa Vọng! Với mỗi người tín hữu thì cả cuộc đời là một Mùa Vọng. Chúng ta là ‘những người hành hương của hy vọng’ – như chủ đề Năm Thánh 2025…
Vậy chúng ta chuẩn bị thế nào trong Mùa Vọng theo hai ý nghĩa ấy? Lời Chúa hôm nay gợi ý:
-“Anh em em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời… Hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn…” Đây là việc dàn xếp lại mối tương quan với Chúa và với chính bản thân mình!
-“Xin Chúa cho tình thương của anh em đối với nhau và đối với mọi người ngày càng thêm đậm đà thắm thiết, cũng như tình thương của chúng tôi đối với anh em vậy. Như thế, Chúa sẽ cho anh em được bền tâm vững chí, được trở nên thánh thiện, không có gì đáng chê trách, trước nhan Thiên Chúa là Cha chúng ta, trong ngày Đức Giê-su, Chúa chúng ta, quang lâm cùng với các thánh của Người” (1Tx 3,12-4,2). Đây là việc dàn xếp lại mối tương quan với mọi người khác xung quanh chúng ta, trên cơ sở ‘tình thương thêm đậm đà thắm thiết’!
Trời cao, xin đổ sương… và ngàn mây, hãy mưa Đấng Cứu Chuộc!
Lm. Lê Công Đức
Khí hanh chuyển đổi đang về
Báo mùa se lạnh đất trời giao duyên
Trầm trầm tiếng nhạc cất lên
Lòng ơi tỉnh thức, chớ quên nguyện cầu.
Bước vào Mùa Vọng không sầu
Hướng tâm lên Chúa đợi chờ ngày vui.
Thời Người sẽ đến sớm thôi
Phút giây hiện tại là quà hiến dâng
Đọc dấu chỉ hãy sẵn sàng
Chúa mà gõ cửa là mở liền tay.
Bộn bề lo lắng giờ đây
Dừng lại một chút cho lòng nghỉ ngơi.
Giáo Hội mời gọi mọi thành phần dân Chúa bước vào Mùa Vọng với một tâm thế luôn là “đứng thẳng và ngẩng đầu lên”. Dĩ nhiên, đây phải là tâm thế của một người luôn sẵn sàng và chuẩn bị kỹ càng. Vì không một phàm nhân có thể tự đứng vững trước mặt Con Người. Thật là tuyệt vời, năm nay Đức Thánh Cha Phanxicô mở Năm Thánh dành cho tất cả mọi người “những người hành hương trên đường hy vọng”. Cuộc sống trần gian này chưa phải là cuối cùng nhưng vẫn là một kiếp lữ hành và cuộc lữ hành có mục đích. Các khách hành hương không đi trong vô vọng, không đi trong vô định, mà là hành trình trong hy vọng. Giữa những thách đố của cuộc sống hôm nay, người tín hữu được mời gọi trở thành những nhân chứng của hy vọng đích thực và mang niềm hy vọng này cho tất cả mọi thành phần là những người già, người trẻ, người tàn tật, các bệnh nhân, các tù nhân, các gia đình…không loại trừ một ai vì ai cũng có quyền hy vọng.
Chúng ta chỉ thấy sự bất ngờ khi chúng ta không có sự chuẩn bị, nếu có chuẩn bị thì không bao giờ đó là bất ngờ vì mọi sự đã sẵn sàng. Sống giây phút hiện tại là phương thế giúp sống sẵn sàng, dù đêm tối hay ban ngày, dù vui sướng hay đau thương. Sống Mùa vọng là lúc ta nhận ra niềm hy vọng của chúng ta phải đặt ở Chúa, chúng ta đang cắm lều ở đây và khi cần sẽ phải nhổ lều để đi đến một vùng đất mới. Vậy chúng ta hãy sẵn sàng để bước vào một mùa hy vọng, mùa cậy trông với tư thế của một người lính gác, hay của một kẻ lữ hành tiến về miền đất của hy vọng mới.
Têrêsa Nguyễn Hảo