Lời Tạ Ơn

Tết Là Sự Hiện Diện

Vậy là những ngày đi quê đón Tết cùng gia đình đã kết thúc. Hôm nay tôi trở lại nhà Dòng, quay lại với nhịp sống đời thường nhưng quan trọng đối với tôi – một người sống đời Thánh Hiến.

Sau hai tuần sống trong niềm vui đoàn tụ cùng gia đình, để lại trong tôi tâm tình tạ ơn, niềm hạnh phúc vì những gì tôi đã nhận được và cũng đầy những băn khoăn thao thức cho những người thân yêu trong gia đình.

Tôi cảm nhận rằng, tôi không thể làm gì cho những người thân yêu của tôi ngoài sự hiện diện một cách thân tình, trân quý từng giây phút khi ở bên cạnh họ. Chính sự hiện diện ấy cho tôi biết bao cảm nghiệm riêng, là hành trang và là những nguồn lực rất lớn để giúp tôi cố gắng hơn, vững bước hơn trong đời sống ơn gọi của mình mỗi ngày.

Chính sự hiện diện cùng gia đình làm cho tôi càng thấy trân quý đời sống ơn gọi thánh hiến. Chính ơn gọi mang lại giá trị cho tôi, làm cho tôi được quý mến, được yêu thương và được trân trọng dù tôi thấy mình chẳng là gì.

Sự hiện diện cùng với gia đình cho tôi nhận ra sự hy sinh của tất cả những người thân trong gia đình tôi, đặc biệt là ba mẹ tôi. Và cách riêng cho tôi, ba mẹ phải hi sinh nhiều hơn nữa, ba mẹ phải hi sinh trong lời ăn tiếng nói, trong cách sống để giữ cho con. Mẹ phải nhường nhịn, chịu đựng những trái tính của ba để cho gia đình được ấm êm. Mẹ phải hi sinh mỗi buổi sáng sớm dù rất mệt, nhưng cố gắng thức dậy cùng với tôi để đi lễ. Mẹ phải chăm lo cho con những bữa cơm, những nhu cầu con cần, những gì mà mẹ thấy con thiếu thốn.

Sự hiện diện cùng với gia đình cho tôi hiểu được nhưng nhu cầu của từng thành viên trong gia đình và những người thân yêu quanh tôi. Tôi cảm nhận được họ coi tôi như chính là món quà mà Chúa gửi đến cho họ. Tôi cảm thấy vui, thấy hạnh phúc, vì những người thân yêu của tôi vẫn từng ngày thao thức, tìm kiếm Chúa. Nhưng đây cũng là thách đố cho tôi, bởi thái độ của họ như một lời nhắc nhở tôi nhìn lại con người mình, đời sống mình và phải sống sao cho xứng với ơn gọi đời tôi.

Sự hiện diện cùng với gia đình và những giờ tôi đi thăm những người già, người nghèo và những những bệnh nhân trong xứ, tôi bất lực trước những nỗi đau, những thử thách, những khó khăn của tha nhân, tôi như một giọt nước giữa một biển khơi bao la, nhưng tôi hiểu sự hiện diện cùng nhau lại là nguồn lực rất lớn giúp họ cảm nhận được tình yêu và sự sẻ chia vẫn luôn hiện diện trong cuộc sống này. 

Khi trở lại Hội Dòng, tôi mang theo biết bao thao thức, biết bao tâm tư của chính tôi dành cho gia đình, cho những người thân yêu của tôi, và có cả những tâm tư, tình cảm mà những người thân yêu gửi cho tôi, tin tưởng vào lời cầu nguyện của tôi dâng lên Chúa. Tôi thầm tạ ơn Chúa vì tất cả, tôi tin rằng, mọi sự đều nằm trong bàn tay quan phòng của Chúa. Và tất cả sẽ là chất liệu cho tôi trong đời sống cầu nguyện mỗi ngày, tôi xác tín rằng dù ở bất cứ đâu, sống trong bậc sống ơn gọi nào, Chúa luôn hiện diện, luôn yêu thương và nâng đỡ, và mời gọi tất cả mọi người nên thánh mỗi ngày.

Maria Nguyễn Trang


Đức Thánh Cha Cầu Nguyện Cho Các Nạn Nhân Của Trận Động Đất Ở Thổ Nhĩ Kỳ Và Syria

Đức Thánh Cha bày tỏ đau buồn trước trận động đất kinh hoàng xảy ra ở Thổ Nhĩ Kỳ và Syria. Ngài cầu nguyện cho các nạn nhân, bảo đảm sự gần gũi tinh thần với những người bị ảnh hưởng, và khích lệ các nhân viên cứu hộ.

Ngọc Yến – Vatican News

Trận động đất kinh hoàng mạnh 7,8 độ richter sáng sớm ngày 06/02/2023 ở Kahramanmaras của Thổ Nhĩ Kỳ gần biên giới với Syria đã làm cho hơn 2.300 người chết (hơn 4.300 người chết vào ngày 07/02/2023 theo Zing news) và hàng ngàn người bị thương. Nhiều toà nhà ở hàng chục thành phố ở cả hai quốc gia đã sụp đổ và con số nạn nhân vẫn chỉ là tạm thời do còn nhiều người đang còn nằm dưới đống đổ nát. Tất cả những điều này diễn ra trong một bối cảnh khó khăn, do có nhiều người tị nạn, và nhiệt độ mùa đông khắc nghiệt. Các phương tiện hàng không và đường sắt bị gián đoạn, vì thế viện trợ đến chậm.

Trong một điện thư được ký bởi Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Toà Thánh, gửi tới Đức Tổng Giám Mục Marek Solczyński, Sứ thần Toà Thánh tại Thổ Nhĩ Kỳ, Đức Thánh Cha bảy tỏ nỗi buồn sâu sắc về sự thiệt hại to lớn về nhân mạng do trận động đất ở miền đông đất nước gây ra. Ngài bảo đảm sự gần gũi tinh thần với tất cả những người bị ảnh hưởng.

Điện thư viết: “Đức Thánh Cha Phanxicô phó thác những người đã qua đời cho tình thương thương xót của Đấng Toàn Năng, gửi lời chia buồn chân thành đến những người đang thương khóc người thân”.

Trong điện thư, Đức Thánh Cha cũng cầu nguyện cho các nhân viên cứu hộ, những người đang nỗ lực tìm cách hỗ trợ và chăm sóc những người bị thương. Ngài cầu xin Chúa ban cho họ những món quà thiêng liêng là sức mạnh và sự kiên trì.

Cùng tâm tình đó, trong một điện thư khác gửi đến Đức Hồng Y Mario Zenari, Sứ thần Toà Thánh ở Syria Đức Thánh Cha nói ngài vô cùng đau buồn trước những cái chết trong trận động đất tấn công tây bắc Syria. Ngài cầu nguyện cho các linh hồn những người đã khuất và những ai đang thương khóc người thân. Đức Thánh Cha phó thác những người bị ảnh hưởng cho sự quan phòng của Đấng Toàn Năng, và lặp lại lời cầu nguyện đặc biệt cho những người đang nỗ lực cứu trợ trong những giờ nay. Và như một dấu hiệu mới về tình liên đới, ngài cầu xin Chúa chúc lành cho người dân Syria đã phải chịu đau khổ trong thời gian dài được sức mạnh và hoà bình.

Đức cha Antoine Audo, Giám mục của Aleppo của Công giáo Canđê ở Syria mô tả trận động đất là chưa từng có trước đây. Ngài nói: “Mọi người rất lo sợ, thiệt hại ở khắp mọi nơi, cả Nhà thờ Chính toà cũng bị hư hại. Các thư viện bị phá huỷ, nhà cửa bị đổ sập. Hoàn cảnh giống như tận thế”.

Đức cha Paolo Bizzeti, Đại diện Tông toà miền Anatolia bên Thổ Nhĩ Kỳ cho biết điện thoại sắp hết pin, điện không có nhưng lại cần phải liên lạc liên tục. Ở đây đã có hàng trăm ngàn người chết. Một bệnh viện đã sụp đổ, một trung tâm y tế khác không thể hoạt động, hơn hai trăm ngôi nhà thiệt hại, và rất khó tiếp cận những nơi đó.

Nguồn: Vatican news


ĐTC Trả Lời Phỏng Vấn Trên Chuyến Bay Từ Nam Sudan Về Rôma

Trên chuyến từ Nam Sudan về Rôma, Đức Thánh Cha, Đức Tổng giám mục của Canterbury và vị Điều hành Giáo hội Scotland đã gặp gỡ các nhà báo. Cả ba vị đã cùng trả lời các câu hỏi. Đức Thánh Cha đã nói về Đức Biển Đức XVI: “Cái chết của ngài bị lợi dụng bởi những người của đảng phái chứ không phải của Giáo hội; ngài không cay đắng vì những gì tôi đã làm”. Và Đức Thánh Cha cũng nói về những người đồng tính: “Kết tội họ là một sự bất công.”

Vatican News

1. Jean-Baptiste Malenge (RTCE-Radio Catolique Elikya ASBL)

Thưa Đức Thánh Cha, ngài đã rất mong mỏi được đến thăm Cộng hòa Dân chủ Congo… ngài đã nhìn thấy niềm vui… Ngài đánh giá hiệp ước được ký kết vào năm 2016 giữa Tòa Thánh và Cộng hòa Dân chủ Congo về giáo dục và y tế có tầm quan trọng nào?

– Tôi không biết hiệp ước đó; tuy nhiên, Quốc vụ khanh có thể đưa ra ý kiến. Tôi biết gần đây có một hiệp ước đang được tiến hành, nhưng tôi không thể trả lời điều đó. Tôi thậm chí không biết sự khác biệt của cái mới đang được tiến hành. Những vấn đề này được xử lý bởi Phủ Quốc vụ khanh, hay bởi [Đức Tổng Giám mục] Gallagher, và họ rất giỏi trong việc thực hiện các hiệp ước vì lợi ích của tất cả mọi người. Tôi đã thấy CHDC Congo rất khát khao tiến lên phía trước, và rất giàu văn hóa. Trước khi đến đây, vài tháng trước, tôi đã có một cuộc họp Zoom với một nhóm sinh viên đại học châu Phi rất thông minh. Các bạn có những người có trí thông minh vượt trội – đây là một trong những tài sản của các bạn: những người trẻ tuổi thông minh và chúng ta phải dành chỗ cho họ, thay vì đóng cửa. Có quá nhiều tài nguyên thiên nhiên thu hút mọi người đến và khai thác Congo – xin thứ lỗi cho tôi vì từ ngữ này. Có một ý tưởng hiện đang tồn tại: “Châu Phi phải được khai thác.” Một số người nói – tôi không biết có đúng không – rằng các nước thuộc địa cũ đã trao độc lập từ mặt đất lên, nhưng không phải ở dưới lòng đất, vì vậy họ đến để lấy khoáng sản. Nhưng chúng ta phải loại bỏ ý tưởng rằng châu Phi là để bóc lột. Và tôi đau lòng khi nói về sự bóc lột; những vấn đề ở phía đông khiến tôi đau đớn. Tôi đã có thể gặp gỡ những nạn nhân của cuộc chiến đó, bị thương, bị cụt chân tay, vô cùng đau lớn, tất cả để lấy các tài sản. Điều này là không tốt. Không tốt. Congo có rất nhiều khả năng.

2. Jean-Luc Mootosamy (CAPAV)

Chúng ta đã thấy bạo lực vẫn lan rộng ở CHDC Congo và Nam Sudan, bất chấp sự hiện diện của các phái bộ Liên Hiệp Quốc trong nhiều thập kỷ. Làm thế nào các ngài có thể, cùng với nhau, giúp cổ võ một mô hình can thiệp mới, trước cám dỗ ngày càng tăng của nhiều quốc gia châu Phi trong việc chọn các đối tác khác để bảo đảm an ninh, những đối tác có thể không tôn trọng luật pháp quốc tế như một số công ty tư nhân của Nga hay các tổ chức ở vùng Sahel chẳng hạn.

Bạo lực là một chủ đề hàng ngày. Chúng ta vừa thấy nó ở Nam Sudan. Thật đau lòng khi thấy bạo lực được kích động như thế nào. Một trong những vấn đề là việc buôn bán vũ khí. Đức Tổng Giám mục Welby cũng đã nói đôi điều về điều này. Buôn bán vũ khí: Tôi nghĩ đây là tai họa lớn nhất trên thế giới. Việc kinh doanh… buôn bán vũ khí. Một người am hiểu những vấn đề này đã nói với tôi rằng nếu không bán vũ khí trong vòng một năm thì nạn đói trên thế giới sẽ chấm dứt. Tôi không biết nếu đó là sự thật. Nhưng đứng đầu hiện nay là việc bán vũ khí. Và không chỉ giữa các cường quốc. Ngay cả giữa các nước nghèo này… họ gieo rắc chiến tranh với nhau. Thật tàn bạo. Họ bảo nhau, “Hãy ra trận!” và họ đưa cho nhau vũ khí. Vì đằng sau đó là những lợi ích kinh tế để khai thác đất đai, khoáng sản, của cải. Đúng là chủ nghĩa bộ lạc ở Châu Phi không có ích. Bây giờ tôi thực sự không biết tình hình ở Nam Sudan như thế nào. Tôi nghĩ ở đó cũng vậy. Nhưng cần phải có sự đối thoại giữa các bộ lạc khác nhau. Tôi nhớ khi tôi ở Kenya trong sân vận động đầy người. Mọi người đứng lên và nói không với chủ nghĩa bộ lạc, nói không với chủ nghĩa bộ lạc. Mọi người đều có lịch sử của riêng mình, có những kẻ thù cũ, những nền văn hóa khác nhau.

Nhưng cũng đúng khi bạn kích động cuộc chiến giữa các bộ tộc bằng cách bán vũ khí và sau đó bạn khai thác cuộc chiến của cả hai bộ tộc. Đây là việc của ma quỷ. Tôi không thể nghĩ ra một từ nào khác. Đây là hủy diệt: hủy diệt thụ tạo, hủy diệt con người, hủy diệt xã hội. Tôi không biết liệu điều đó có xảy ra ở Nam Sudan hay không nhưng nó xảy ra ở một số quốc gia: các cậu bé được tuyển dụng để trở thành một phần của lực lượng dân quân và chiến đấu với những cậu bé khác. Tóm lại, tôi nghĩ vấn đề lớn nhất là sự nôn nóng muốn lấy tài sản của đất nước đó – coltan, lithium, những thứ này – và thông qua chiến tranh, họ bán vũ khí, họ cũng bóc lột trẻ em.

3. Claudio Lavanga (NBC NEWS)

Thưa Đức Thánh Cha, con muốn hỏi ngài, vì Đức Tổng Giám mục Welby đã nhắc lại khoảnh khắc đáng kinh ngạc đó vào năm 2019 khi ngài quỳ gối trước các nhà lãnh đạo của Nam Sudan để yêu cầu hòa bình. Thật không may, trong hai tuần nữa, sẽ là ngày kỷ niệm một năm của một cuộc xung đột khủng khiếp khác, cuộc xung đột ở Ucraina, và câu hỏi của con là: Ngài có sẵn sàng thực hiện cử chỉ tương tự với ông Vladimir Putin nếu ngài có cơ hội gặp ông ấy không, vì những lời kêu gọi hòa bình của ngài cho đến nay đã bị bỏ ngoài tai? Và con muốn hỏi cả ba vị rằng liệu các ngài có muốn đưa ra lời kêu gọi chung cho hòa bình ở Ucraina hay không, vì đây là khoảnh khắc hiếm hoi khi có cả ba vị [cùng nhau]?

Tôi sẵn sàng gặp cả hai tổng thống: Tổng thống Ucraina và Tổng thống Nga – tôi sẵn sàng gặp gỡ. Nếu tôi chưa đi Kyiv là bởi vì vào lúc đó không thể đi Mátxcơva; nhưng tôi đã đối thoại. Trên thực tế, vào ngày thứ hai của cuộc chiến, tôi đã đến Đại sứ quán Nga để nói rằng tôi muốn đến Mátxcơva để nói chuyện với ông Putin, với điều kiện có một cơ hội nhỏ để đàm phán. Và Bộ trưởng Lavrov trả lời rằng ông đang cân nhắc điều này nhưng [đã nói], “Chúng ta hãy xem xét nó sau.” Cử chỉ đó là điều mà tôi đã nghĩ, tôi nghĩ rằng “Tôi đang làm điều đó vì ông ấy” [vì ông Putin]. Nhưng cử chỉ của cuộc họp năm 2019, tôi không biết nó diễn ra như thế nào; nó không được nghĩ trước, và bạn không thể lặp lại những điều không được nghĩ trước – chính Thánh Linh sẽ đưa bạn đến đó. Không thể giải thích được, hoàn toàn không. Và tôi cũng đã quên nó. Đó là một sự phục vụ, tôi là công cụ của một số thúc đẩy nội tâm, không phải là một điều đã được lên kế hoạch.

Hôm nay chúng ta đang ở thời điểm này, nhưng đó không phải là cuộc chiến duy nhất. Tôi muốn thực thi công lý: Syria đã có chiến tranh trong 12 đến 13 năm, Yemen đã có chiến tranh trong hơn 10 năm; hãy nghĩ đến Myanmar, đến những người Rohingya nghèo khổ đi khắp thế giới vì họ bị đuổi khỏi quê hương. Ở khắp mọi nơi, ở Mỹ Latinh… có biết bao nhiêu là điểm nóng của chiến tranh! Vâng, có nhiều cuộc chiến quan trọng hơn vì tiếng ồn mà chúng tạo ra, nhưng, tôi không biết, cả thế giới đang có chiến tranh và đang tự hủy diệt. Chúng ta phải suy nghĩ nghiêm túc: đó là tự hủy diệt. Chúng ta phải dừng lại đúng lúc, bởi vì một quả bom sẽ trả lại bạn một quả lớn hơn và một quả lớn hơn, và trong sự leo thang chiến tranh, bạn không biết mình sẽ kết thúc ở đâu. Chúng ta cần phải có một cái đầu lạnh.

Đức Tổng Giám mục và mục sư Greenshields đều nói về phụ nữ. Tôi đã thấy những người phụ nữ ở Nam Sudan: họ nuôi nấng con cái, đôi khi một mình, nhưng họ có sức mạnh để tạo dựng một đất nước; phụ nữ thật tuyệt vời. Những người đàn ông ra trận, đi chiến đấu, và những người phụ nữ này với hai, ba, bốn, năm đứa con tiếp tục tiến bước. Tôi đã thấy họ ở Nam Sudan. Và nói về phụ nữ, tôi muốn nói một lời về các nữ tu, những nữ tu can thiệp vào những gì đang xảy ra – Tôi đã thấy một số họ ở đây tại Nam Sudan, và rồi trong Thánh lễ hôm nay, các bạn đã nghe thấy tên của nhiều nữ tu đã bị giết… Chúng ta hãy quay trở lại với sức mạnh của “phụ nữ.” Chúng ta phải nhìn nhận chúng một cách nghiêm túc và không sử dụng chúng như một quảng cáo mỹ phẩm: xin đừng làm như thế, đây là một sự xúc phạm đến phụ nữ; phụ nữ là dành cho những điều lớn lao hơn! Về điểm khác, tôi đã nói với các bạn rồi, hãy nhìn vào các cuộc chiến tranh đang diễn ra trên thế giới.

4. Bruce De Galzain (Đài phát thanh Pháp)

Thưa Đức Thánh Cha, trước khi khởi hành bắt đầu chuyến tông du, Đức Thánh Cha đã tố cáo việc cho rằng đồng tính là một tội phạm, một điều không được các gia đình ở Nam Sudan hay Congo chấp nhận. Tuần này ở Kinshasa, con đã gặp năm người đồng tính, mỗi người họ đã bị từ chối và thậm chí bị trục xuất khỏi gia đình của họ. Họ giải thích với con rằng việc họ bị chối từ xuất phát từ sự giáo dục tôn giáo của cha mẹ họ – một số người trong số họ được đưa đến các linh mục trừ tà vì gia đình họ tin rằng họ bị ám bởi những thần ô uế. Thưa Đức Thánh Cha, câu hỏi của con là: Ngài nói gì với các gia đình ở Congo và Nam Sudan, những người vẫn từ chối con cái của họ, và nói gì với các linh mục, với các giám mục?

Tôi đã nói về vấn đề này trong hai chuyến viếng thăm; lần đầu tiên [khi tôi trở về] từ Brazil: “Nếu một người có khuynh hướng đồng tính là một tín hữu và tìm kiếm Chúa, thì tôi là ai mà phán xét anh ta?” Tôi đã nói điều này trong chuyến đi đó. Lần thứ hai, từ Ireland về, một chuyến đi hơi có vấn đề bởi vì hôm đó lá thư của chàng thanh niên đó vừa được đăng… nhưng lần đó tôi đã nói rõ ràng với các bậc cha mẹ: “Những đứa con có khuynh hướng này có quyền ở lại trong nhà; quý vị không thể đuổi họ ra khỏi nhà.” Và rồi gần đây tôi đã nói một điều, tôi không thực sự nhớ chính xác những lời của mình, trong cuộc phỏng vấn với Associated Press. Việc cho rằng đồng tính là tội phạm là một vấn đề không được phép bỏ qua. Người ta ước tính rằng, ít nhiều, năm mươi quốc gia, bằng cách này hay cách khác, thúc đẩy hình thức tội phạm hóa này – họ nói với tôi nhiều hơn, nhưng hãy nói ít nhất là năm mươi – và một số trong số này – tôi nghĩ là mười, thậm chí còn kết án tử hình [dành cho người đồng tính]. Điều này không đúng, những người có khuynh hướng đồng tính là con cái Thiên Chúa, Thiên Chúa yêu thương họ, Thiên Chúa đồng hành với họ. Đúng là một số người rơi vào tình trạng này vì nhiều tình huống không mong muốn khác nhau, nhưng kết tội những người như vậy là một tội lỗi; hình sự hóa những người có khuynh hướng tình dục đồng giới là một sự bất công. Tôi không nói về các nhóm, mà là về con người. Một số người nói: họ tham gia vào các nhóm tạo ra tiếng ồn. Tôi đang nói về con người; các nhóm là một cái gì đó khác nhau. Tôi đang nói về con người. Và tôi tin rằng Giáo lý của Giáo hội Công giáo nói rằng họ không nên bị gạt ra ngoài lề xã hội. Điểm này, tôi tin, là rõ ràng.

5. Alexander Hecht (Truyền hình ORF)

Một câu hỏi dành cho Đức Giáo Hoàng: trong những ngày gần đây đã có nhiều cuộc nói chuyện về sự hiệp nhất. Cũng đã có sự thể hiện về sự hiệp nhất Kitô giáo ở Nam Sudan, và cả sự hiệp nhất trong chính Giáo hội Công giáo. Con muốn hỏi ngài rằng ngài có cảm thấy rằng sau cái chết của Đức Biển Đức XVI, công việc và sứ vụ của ngài trở nên khó khăn hơn cho ngài không, bởi vì những căng thẳng giữa các phe cánh khác nhau của Giáo hội Công giáo đã trở nên mạnh mẽ hơn?

Về điểm này, tôi muốn nói rằng tôi đã có thể nói về mọi thứ với Đức Biển Đức. [Cũng] để thay đổi ý kiến. Ngài luôn ở bên cạnh tôi, ủng hộ tôi, và nếu ngài có vấn đề gì, ngài sẽ nói với tôi và chúng tôi sẽ nói chuyện. Không có vấn đề gì. Có lần tôi đã nói chuyện với ngài về hôn nhân của những người đồng tính, về thực tế rằng hôn nhân là một bí tích và chúng ta không thể tạo nên một bí tích, nhưng có khả năng đảm bảo tài sản thông qua luật dân sự, điều vốn đã bắt đầu ở Pháp, [nơi] bất kỳ người nào cũng có thể tạo thành một kết hợp dân sự, không nhất thiết phải là một cặp vợ chồng. Ví dụ, những cụ bà đã nghỉ hưu… bởi vì họ có thể kiếm được rất nhiều tiền.

Một người tự coi mình là một nhà thần học vĩ đại, đã đến gặp Đức Giáo hoàng Biển Đức, thông qua một người bạn của ngài, và phàn nàn về tôi. Đức Biển Đức không quan tâm. Ngài gọi bốn Hồng y, là những nhà thần học cấp cao nhất, và nói: “Hãy giải thích điều này cho tôi”, và họ đã giải thích điều đó. Và như vậy, câu chuyện đã kết thúc.

Đó là một giai thoại cho thấy cách Đức Biển Đức đã hành động khi có lời phàn nàn. Một số câu chuyện nói rằng Đức Biển Đức đã cảm thấy cay đắng trước những gì vị tân Giáo hoàng đã làm, đó là những câu chuyện từ “một trò chơi điện thoại” [nghĩa là tin tức được truyền tai nhau không đúng với tin tức ban đầu]. Trên thực tế, tôi đã tham khảo ý kiến ​​của Đức Biển Đức về một số quyết định sẽ được thực hiện. Và ngài đã đồng ý. Ngài đã đồng ý.

Tôi tin rằng cái chết của Đức Biển Đức đã bị lợi dụng bởi những người muốn thêm nước vào cối xay của họ [nghĩa là tìm lợi cho mình]. Và những người lợi dụng một người tốt như vậy, một người của Chúa như vậy, tôi xin nói là một người cha thánh thiện của Giáo hội, tôi xin nói họ là những người vô đạo đức, họ là những người thuộc đảng phái, không thuộc Giáo hội… Bạn có thể thấy ở khắp mọi nơi xu hướng biến các quan điểm thần học thành các bè phái.

Những điều này sẽ tự sụp đổ, hoặc nếu không sụp đổ, chúng sẽ tiếp tục như đã xảy ra nhiều lần trong lịch sử của Giáo hội. Tôi muốn nói rõ Đức Biển Đức là ai: ngài không cay đắng.

6. Jorge Barca Antelo (RNE)

Con chào Đức Thánh Cha. Hôm nay chúng ta trở về từ hai quốc gia là nạn nhân của điều mà ngài gọi là sự toàn cầu hóa của sự thờ ơ. Ngài đã nói về điều này từ đầu triều đại giáo hoàng của ngài và kể từ chuyến đi của ngài đến Lampedusa. Theo một cách nào đó, một vòng tròn đã được khép lại trong tuần này. Ngài có vẫn đang nghĩ đến việc mở rộng bán kính của vòng tròn này, đến việc đi nơi khác, đến thăm các quốc gia bị lãng quên khác không? Ngài đang nghĩ đến việc đi đến những nơi nào? Và sau hành trình dài và bận rộn này, ngài cảm thế nào? Ngài vẫn cảm thấy mạnh mẽ chứ? Ngài có cảm thấy sức khỏe của mình đủ tốt để đi hết những nơi này không?

Có sự toàn cầu hóa của sự thờ ơ ở khắp mọi nơi. Trong một đất nước, nhiều người đã quên nhìn vào những đồng bào, những đồng hương của họ, gạt họ sang một bên để không nghĩ đến họ. Nghĩ rằng vận may lớn nhất trên thế giới nằm trong tay của một thiểu số. Và những người này không nhìn vào những người khốn cùng, trái tim của họ không mở lòng để giúp đỡ.

Về các chuyến viếng thăm: Tôi nghĩ rằng Ấn Độ sẽ là tiếp theo, vào năm tới. Vào ngày 29 tháng 9 tôi sẽ đi Marseilles, và có khả năng từ Marseilles tôi sẽ bay đến Mông Cổ, nhưng điều đó vẫn chưa được quyết định. Nó có thể. Tôi không nhớ một chuyến khác trong năm nay. Đó là Lisbon.

Tiêu chí là: Tôi đã chọn đến thăm các quốc gia nhỏ nhất ở Châu Âu. Mọi người sẽ nói: “Nhưng ngài đã đến Pháp,” không, tôi đã đến Strasbourg; tôi sẽ đến Marseilles, không phải đến Pháp. Những phần nhỏ, những nơi nhỏ bé. [Tiêu chí là] để biết một chút về Châu Âu còn ẩn giấu, Châu Âu giàu văn hóa nhưng không được biết đến. Để đồng hành với các nước, ví dụ như Albania, nước đầu tiên và là nước chịu ách độc tài tàn ác nhất, dã man nhất trong lịch sử. Và sự lựa chọn của tôi là thế này: cố gắng không rơi vào sự toàn cầu hóa của sự thờ ơ.

[Về sức khỏe:] Bạn biết rằng cỏ dại xấu không bao giờ chết. Không như khi bắt đầu triều đại Giáo hoàng, cái đầu gối này gây khó chịu, nhưng nó tiến triển từ từ, vì vậy hãy chờ xem. Xin cảm ơn.

Nguồn: Vatican news


Ca Đoàn Têrêsa Giáo Xứ Thiên Thần – Ngọn Lửa Phục Vụ Bền Bỉ

Sau một năm cùng được chia sẻ sứ vụ tông đồ với các ca viên Ca đoàn Têrêsa Giáo xứ Thiên Thần thuộc Giáo phận Sài Gòn, tôi nhận thấy nơi Giáo xứ này có một ngọn lửa phục vụ luôn luôn được thắp sáng, dẫu có lúc chỉ là đốm nhỏ đơn sơ nhưng vẫn cháy bền bỉ và trung kiên. Một tập thể rất đặc biệt, với những con người đầy dấn thân, nhiệt huyết và đam mê phục vụ cách vô vị lợi.

Nếu ai đã từng tham gia ca đoàn có nhiều ca viên ở những xứ đạo đông dân cư, thì khi đến với Ca đoàn Têrêsa Giáo xứ Thiên Thần chắc hẳn sẽ bỡ ngỡ. Ca đoàn không ổn định về con số; ngày đại lễ thì trên 20 người, ngày thường trên dưới 10 ca viên. Nhưng khi cùng đồng hành, chia sẻ với nhau một thời gian, tôi mới hiểu được đây là một tập thể đáng được trân quý và cảm mến, bởi nơi đây là một xứ đạo Sài Thành nhỏ bé có số lượng giáo dân khiêm tốn.

Một Ca Đoàn rất đặc biệt

Ca đoàn thường chỉ có năm đến sáu ca viên trụ cột là người bản xứ, còn lại ở khắp các tỉnh thành đến Sài Gòn làm việc, vì đam mê ca hát và hăng say phục vụ mà tình cờ “đưa đẩy” họ vào ca đoàn này. Khi được hỏi tham gia ca đoàn được lâu chưa và sao biết để tham gia ca đoàn tại Giáo xứ này, một cô giáo ở Nghệ An dạy ngoại ngữ tại Hệ thống trường Tuệ Đức, Nguyễn Thị Định, Tp. Thủ Đức chia sẻ: “Em làm việc ở gần đây nên đi lễ Giáo xứ này. Vì đã tham gia ca đoàn từ bé và rất thích hát thánh ca, khi vào Sài Gòn cũng muốn tham gia một ca đoàn mà không biết nơi nào tuyển ca viên xa xứ như chúng em. Bỗng nhiên một lần sau thánh lễ Cha xứ thông báo và mời gọi vào ca đoàn, vì ca đoàn lúc đó chỉ vài người đang rất cần sự cộng tác. Nhân cơ hội đó, em vui mừng xin vào ca đoàn, đến nay đã được gần ba năm. Em rất vui khi xa gia đình, được đến nhà thờ cùng với bạn bè tham gia sinh hoạt của giáo xứ”.

Chính vì ca viên đến từ nhiều nơi nên không ổn định. Có lẽ vì thế mà Ca đoàn Têrêsa cũng như Ca đoàn Thánh Gia ở Giáo xứ Thiên Thần luôn có một thành phần rất đặc biệt là các bạn Ứng sinh Dòng Tên, đang trong giai đoạn tìm hiểu ơn gọi ở Cộng đoàn Giáo xứ này vào hát phụ. Các bạn chỉ tham gia trong một thời gian ngắn rồi chuyển lên Nhà Tập, sau đó có khoảng bốn năm bạn lớp khác thay thế. Cứ vậy ca đoàn luôn luôn có ca viên mới. Danh sách ca đoàn luôn thay đổi, phải cập nhật hằng năm vì thay đổi công việc, chỗ trọ hoặc lý do khác. Những lúc đó, ca đoàn lại thao thức có các ca viên mới. Và đúng là việc Chúa làm, đến nay lại có thêm một số bạn trẻ rất hăng hái nhiệt thành và chuyên cần lấp đầy những chỗ trống không mong muốn trước kia.

Ca đoàn còn đặc biệt ở sự khác biệt về độ tuổi và nghề nghiệp. Ở các giáo xứ khác, có ca đoàn giới trẻ, ca đoàn hiền mẫu, gia trưởng, thiếu nhi…thì ca đoàn này tập hợp mọi lứa tuổi. Có những cô chú kì cựu tham gia ca đoàn từ lúc bé cho đến nay ngoài năm mươi, sáu mươi, một số vẫn còn đi làm tại các cơ quan, một số về hưu. Những lúc ca đoàn đông vui hay thiếu vắng, trời mưa trời gió các cô chú vẫn kiên trung là gương sáng giữ lửa cho ca đoàn. Bên cạnh đó là các anh chị em đã có gia đình nghề nghiệp ổn định. Những người đã chín chắn vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ. Ngoài thời gian dành cho gia đình, con cái, bạn bè và sự nghiệp, hàng tuần các anh chị vẫn dành những buổi tối trọn vẹn nơi giáo xứ để tập luyện và hát lễ.

Ngoài ra ca đoàn còn có các em học sinh sinh viên và những bạn trẻ đã ra trường có việc làm ở những môi trường rất tốt. Có những em sinh viên từ miền Trung, miền Bắc vì muốn có môi trường sinh hoạt lành mạnh khi xa gia đình đã tham gia ca đoàn. Các bạn chính là sức sống của ca đoàn về sự trẻ trung, năng động, đặc biệt là chất giọng khỏe mạnh và dẻo dai. Các bạn là những tiềm năng đầy triển vọng để phát triển một ca đoàn chất lượng, và là nguồn cảm hứng cho các thế hệ đi trước.

Một Ngọn lửa phục vụ bền bỉ

Sự khác biệt và chênh lệch về độ tuổi, nghề nghiệp, và từ nhiều nơi khác làm cho Ca đoàn Têrêsa rất phong phú đa dạng. Tuy nhiên đó lại là đặc điểm bất thuận lợi để duy trì phát triển tốt một ca đoàn, cả về tổ chức lẫn chất lượng ca hát. Và đó chính là khó khăn lớn mà ca đoàn, đặc biệt là các ca trưởng, luôn ghi nhận và phải đón nhận.

Điểm mạnh đáng phục của các ca viên ở đây là có sức khỏe tập luyện bền bỉ, giọng ca rất khỏe, rất tốt và dẻo dai. Ca đoàn tập hát vào hai buổi tối Thứ Bảy và Chúa Nhật hàng tuần. Có thể nói đây là hai buổi cuối tuần mà ai cũng cần dành cho gia đình, người thân và bạn bè. Nhưng các anh chị em đã không quản ngại, luôn cố gắng tích cực tham gia và chu toàn như một bổn phận. Có những ca viên kể từ ngày cùng được tham gia ca đoàn, không thấy họ vắng mặt ngày nào, hoặc một số rất hiếm khi. Trong tất cả các hoạt động, ngoài ca hát, họ đều tham gia cách đều đặn, tích cực vô vị lợi. Tuy số người này không nhiều, nhưng họ là những người kiên định giữ lửa cho ca đoàn. Vì thế, dù có những lúc leo lét tưởng chừng như sẽ tắt dần, nhưng đốm lửa nho nhỏ ấy vẫn cháy, vẫn sáng bên cạnh các ngọn lửa khác và tiếp tục được thắp theo dòng lịch sử Giáo xứ.

Vai trò ca hát và ca đoàn trong Thánh lễ

Một chút quan sát và quan tâm khi được tiếp cận với Ca đoàn Têrêsa nơi Giáo xứ Thiên Thần, tôi hiểu được tinh thần phục vụ của từng con người nơi đây. Đồng thời cho thấy một ca đoàn còn cần rất nhiều sự cộng tác, cần xây dựng về mọi mặt, cũng như lời cầu nguyện và tạ ơn. Trong cái nhìn đức tin, Chúa vẫn luôn hoạt động, điều hành, chi phối và gìn giữ tập thể quan trọng này luôn “sống” để ca tụng Ngài. Việc hát thánh ca trong Thánh lễ là hết sức quan trọng và là nhu cầu cần thiết chính đáng hơn bao giờ hết để diễn tả niềm vui, nâng cao lời cầu nguyện lên Thiên Chúa. Như Thánh Augustino đã từng thốt lên: “Đã bao lần con phải rơi lệ khi nghe các thánh thi, thánh ca của Chúa, những âm thanh dịu dàng vang lên trong thánh đường của Chúa, con đã xúc động biết bao! Các âm thanh đó rót vào tai con và chân lý được tinh luyện trong trái tim con, từ đó niềm hưng phấn đạo đức sôi sục lên và nước mắt tuôn trào, những điều đó làm con hạnh phúc” ( St. Augustino).

Tuy việc ca hát trong Thánh lễ Giáo hội khuyến khích hát cộng đồng, nhưng “Khi cử hành thánh lễ có giáo dân tham dự, nhất là những ngày Chúa nhật và ngày lễ, nên hết sức coi trọng hình thức lễ hát hơn, dù cử hành nhiều lần trong cùng một ngày”(Huấn Thị De Musica In Sacra Liturgia về Âm nhạc trong  Phụng vụ, số 1). Ca đoàn là điểm tựa nâng đỡ tiếng hát cho cộng đoàn giúp mọi người tham dự Thánh lễ cách linh động nhờ ca hát, (Qui Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma, số 63)

Như vậy, bất cứ một giáo xứ nào, lớn hay nhỏ đều phải có ca đoàn. Tạ ơn Chúa về điều đó nơi Giáo xứ Thiên Thần, với một Ca đoàn Têrêsa còn giới hạn về nhiều mặt. Nhưng tất cả những gì Ca đoàn Têrêsa gặt hái được qua tinh thần phục vụ, sự hi sinh âm thầm cách này cách khác của các ca viên, quả là sự nổ lực rất lớn đáng khâm phục, trân trọng và tri ân lẫn nhau. Ước mong những hoa trái ấy luôn được duy trì, phát huy và phát triển theo năm tháng, qua sự đóng góp và cố gắng nhiều hơn nữa của các ca viên. Đồng thời ước mong có thêm nhiều tâm hồn quảng đại, dấn thân tham gia ca đoàn nơi đây. Để ca đoàn mỗi ngày một đông hơn, thuận lợi hơn trong việc phục vụ, giúp cộng đoàn dân Chúa có những Thánh lễ thật sốt sắng và thật thánh.

                                                  M. Bình Lâm. MTG Tân Lập


Đời Sống Chứng Tá Trên Giường Bệnh Của Tôi Tớ Chúa Bertilla Antoniazzi

Tôi tớ Chúa Bertilla Antoniazzi đã can đảm chiến đấu với căn bệnh trong nhiều năm, hiểu rằng sứ vụ của mình là an ủi những người đang đau khổ, và mang các tội nhân và các linh hồn đến gần Chúa hơn qua việc dâng hiến sự sống và căn bệnh của mình.

Ngọc Yến – Vatican News

Ngày 19/01/2023, Giáo hội đã được phong phú hơn qua việc Đức Thánh Cha đã cho phép Bộ Phong thánh công bố các sắc lệnh nhìn nhận các nhân đức anh hùng của sáu vị Tôi tớ Chúa sẽ được nâng lên bậc Đấng Đáng Kính. Một trong số đó là Tôi tớ Chúa Bertilla Antoniazzi.

Bertilla Antoniazzi sinh năm 1964 tại một ngôi làng nhỏ trên những ngọn đồi Vicenza ở Ý. Antoniazzi có một tuổi thơ bình yên, vô tư trong một gia đình đông con, làm việc chăm chỉ, và được dạy dỗ theo tinh thần Kitô.

Khi lên 8 tuổi, Antoniazzi mắc bệnh cúm mùa và sau đó bị các biến chứng do bệnh gây ra dẫn đến viêm nội tâm mạc. Từ đó, cô bé bắt đầu một hành trình chiến đấu với căn bệnh, nhưng đối với Antoniazzi đó là một cuộc hành hương mà em được mời gọi thực hiện.

Nhập viện thường xuyên làm cho Antoniazzi phải xa nhà trong một thời gian dài. Thế nhưng em biết thích nghi với thực tế qua việc làm quen kết bạn với các bệnh nhân khác, và với cả các bác sĩ và y tá. Mặc dù ở bệnh viện không thể theo học như các học sinh khác, Antoniazzi không bỏ học, tự theo học một mình trong bệnh viện. Khi bệnh thuyên giảm em được phép xuất viện, nhưng cũng không thể chơi cùng các bạn những trò chơi ngoài trời mà em rất yêu thích. Ngồi ở ghế quan sát bạn bè chơi, em bày tỏ niềm vui khi nhìn các bạn chơi và tỏ ra cho các bạn biết rằng em cũng đang vui và hoà mình với trò chơi của các bạn.

Để không mất liên lạc với bạn bè, em thường xuyên viết thư cho các bạn. Dần dần em đã tạo được cho mình thói quen viết, và năm lên 12 tuổi, em bắt đầu viết những dòng suy tư, tự đặt ra cho mình một kỷ luật thiêng liêng. Có người cho rằng em đã chịu đau khổ đủ rồi sao còn tìm hy sinh, khổ chế thêm làm chi, thế nhưng Antoniazzi viết: “Khi càng quảng đại trong việc tìm dịp để hy sinh, tâm hồn con càng trở nên mạnh mẽ và con sẽ đón nhận trong niềm vui những đau đớn và nghịch cảnh xảy đến với con”.

Antoniazzi đã để lại rất nhiều suy tư và bài viết, một trong số đó là một kế hoạch sống tháng Đức Mẹ. Trong kế hoạch này, Tôi tớ Chúa viết ra những việc làm nhỏ nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng và để giúp đối diện với những đau khổ sắp đến. Như: ngày 01/5 với những lời “Trong tháng Năm, con sẽ dành riêng cho Đức Mẹ, con sẽ cố gắng sống tốt. Dưới sự che chở của Mẹ, con sẽ cố gắng vượt qua những khiếm khuyết bằng cách hãm mình trong những vui thích nhỏ. Hôm nay, con sẽ sẵn sàng làm công việc mà con cảm thấy khó chịu”. Ngày 02/5: “Con sẽ cầu nguyện buổi sáng và buổi tối sốt sắng hơn. Và những ngày khác trong tháng Đức Mẹ: Con sẽ để tiền riêng cho người nghèo; Con sẽ tìm một việc hy sinh; Con sẽ hãm mình trong khi ăn uống… và còn những quyết tâm khác cho chương trình sống tháng Năm.”

Vào năm 17 tuổi, căn bệnh trở nên trầm trọng hơn, buộc thiếu nữ phải suốt ngày nằm trên giường, không thể đi đứng được do đau đớn đến từ các khớp xương và vết lở loét. Khi những người bạn cùng trang lứa bắt đầu tận hưởng niềm vui của tuổi trẻ, thì Antoniazzi phải chấp nhận tình trạng thực tế và hiểu rằng mình sẽ không bao giờ có được niềm vui tuổi trẻ như bao người trẻ khác. Antoniazzi đã đón nhận điều này với một sự thanh thản. Đối với cô, nếu Chúa muốn cô sống với căn bệnh này, cô sẵn sàng đón nhận, ngay cả khi đôi lúc rất khó và dễ nản lòng. Trong cái nhìn Kitô của Antoniazzi, đau khổ luôn có một mục đích, ngay cả khi không phải lúc nào cũng hiểu được.

Với sức mạnh thiêng liêng, Antoniazzi hiểu rằng sứ vụ của mình là an ủi những người đang đau khổ, và mang các tội nhân và các linh hồn đến gần Chúa hơn qua việc dâng hiến sự sống và căn bệnh của mình.

Hoàn toàn tin cậy vào Chúa trong lời cầu nguyện, Tôi tớ Chúa này không bao giờ than phiền, ngay cả trong hai năm cuối của cuộc đời khi phải chiến đấu với căn bệnh. Trong một cuộc hành hương đến Lộ Đức năm 1963, Antoniazzi không xin Đức Mẹ chữa lành, nhưng xin sự thánh thiện.

Antoniazzi qua đời ngày 22/10/1964 khi chưa tròn 20 tuổi. Trước khi từ giã cõi đời này, cô bày tỏ hạnh phúc khi chuẩn bị được vào nơi nghỉ yên muôn đời, với hy vọng người mẹ thân yêu có thể tìm được một chút an ủi và lấy lại sức vì không phải thường xuyên ở bên giường bệnh của con gái.

Những người thân quen, hàng xóm của Antoniazzi, những người đã biết cô, đã ngay lập tức nhìn nhận cô là một vị thánh khi cô qua đời. Với một thiếu nữ trong ba năm cuối đời phải nằm liệt trên giường và không thể làm được gì trong cuộc đời này, không làm việc, không cống hiến gì cho xã hội, nhưng theo mọi người cô đã dâng hiến rất nhiều, cô đã xem căn bệnh của mình là một công việc cô được giao phó trong thế gian này.

Nói về Tôi tớ Chúa Antoniazzi, Đức cha Giuliano Brugnotto, Giám mục của Vicenza nhận định rằng: “Cuộc sống của Antoniazzi, với sự bình dị thanh thản, dường như muốn là câu trả lời cho những câu hỏi đầy đau khổ của một số người: Tại sao lại là tôi? Tại sao một trẻ em vô tội lại đau khổ?”

Nguồn: Vatican news


ĐTC Phanxicô Gặp Đại Diện Một Số Tổ Chức Bác Ái

Buổi gặp gỡ bắt đầu với chứng từ của 6 nhân viên bác ái, trong đó mỗi người kể về những gì họ đã chứng kiến và trải qua trong cuộc đời và công việc của họ. Sau đó, Đức Thánh Cha đã đáp lời bằng một bài diễn văn, trong đó ngài cũng trả lời và đề cập đến những chứng từ của các nhân viên bác ái vừa thuật lại.

Văn Yên, SJ – Vatican News

Sau khi gặp gỡ các nạn nhân của bạo lực, lúc 6 giờ 30 chiều, Đức Thánh Cha đã gặp gỡ các Đại diện của một số tổ chức bác ái hiện diện tại CHDC Congo.

Ghi nhận những dấn thân

Ngài khích lệ họ: “Ở đất nước này, nơi có quá nhiều bạo lực, vang dội như tiếng gầm của một cái cây bị đốn hạ, anh chị em là khu rừng lớn lên mỗi ngày trong im lặng và làm cho không khí trở nên trong lành hơn, dễ thở hơn. Chắc chắn, cây đổ gây ra nhiều tiếng ồn hơn, nhưng Thiên Chúa yêu thương và vun trồng lòng quảng đại âm thầm làm cho nó nảy mầm và đơm hoa kết trái, và vui mừng nhìn những ai phục vụ những người túng thiếu. Đây là cách điều tốt lành lớn lên, trong sự đơn sơ của đôi tay và trái tim vươn tới người khác, trong sự can đảm bước những bước nhỏ đến gần những người yếu đuối nhất nhân danh Chúa Giêsu. Đây đúng với châm ngôn được thánh Celicia trích dẫn: ‘Hành trình vạn dặm bắt đầu từ một bước chân!’”

Đức Thánh Cha cảm ơn các nhân viên bác ái, vì họ không chỉ liệt kê các vấn đề xã hội và nhiều dữ liệu về nghèo đói, nhưng trên hết họ nói chuyện với người nghèo một cách trìu mến. Ngài nói: “Trong khi nhiều người ngày nay loại bỏ họ, anh chị em ôm lấy họ; trong khi thế giới khai thác họ, anh chị em thăng tiến họ. Thăng tiến chống lại bóc lột: Cánh rừng vẫn mọc lên mặc cho nạn phá rừng và phế thải vẫn hoành hành dữ dội! Tôi muốn lên tiếng về những gì anh chị em đang làm, để thúc đẩy sự phát triển và hy vọng ở Cộng hòa Dân chủ Congo và trên lục địa này. Tôi đến đây, được thúc đẩy bởi mong muốn mang lại tiếng nói cho những người không có tiếng nói. Tôi ước gì các phương tiện truyền thông sẽ dành nhiều không gian hơn cho đất nước này và cho toàn bộ Châu Phi! Cầu mong cho các dân tộc, các nền văn hóa, những đau khổ và hy vọng của Lục địa trẻ của tương lai này được biết đến! Chúng ta sẽ khám phá ra những tài năng to lớn và những câu chuyện về sự vĩ đại của con người và Kitô giáo đích thực, những câu chuyện được sinh ra trong một bầu khí chân thực, biết tôn trọng những người nhỏ nhất, người già và thụ tạo.”

Xúc động trước những câu chuyện được kể, Đức Thánh Cha nói: “Anh chị em có thể khóc khi nghe những câu chuyện giống như những câu chuyện mà anh chị em đã kể cho tôi, về những người đau khổ bị buộc phải sống cuộc sống lang thang do sự thờ ơ nói chung, khiến họ phải sống trên đường phố, khiến họ có nguy cơ bị bạo lực thể xác và lạm dụng tình dục, và thậm chí bị tố là phù thủy, trong khi điều duy nhất họ cần là tình yêu và sự chăm sóc. Tôi bị ấn tượng bởi những gì Tekadio kể với chúng ta, rằng vì bệnh phong mà cho đến ngày nay, năm 2023, bạn vẫn cảm thấy ‘bị phân biệt đối xử, bị coi thường và sỉ nhục’, trong khi, với sự pha trộn giữa xấu hổ, hiểu lầm và sợ hãi, người ta vội vã tẩy rửa nơi thậm chí chỉ cái bóng của bạn đi qua. Nghèo đói và bị từ chối làm xúc phạm con người, làm xấu đi phẩm giá của con người: chúng giống như tro tàn dập tắt ngọn lửa mà con người có nơi mình. Đúng vậy, mỗi người, như được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, đều tỏa sáng với ngọn lửa rực rỡ, nhưng chỉ có tình yêu mới loại bỏ được lớp tro tàn bao phủ họ: chỉ bằng cách phục hồi phẩm giá, nhân loại mới có thể được phục hồi! Tôi rất buồn khi biết rằng ở đây cũng như ở nhiều nơi trên thế giới, trẻ em và người già đang bị bỏ rơi. Chúng ta hãy nhớ rằng: một sự phát triển thực sự của con người không thể thiếu ký ức và tương lai.”

Câu hỏi đầu tiên: Dấn dân có đáng không?

Đức Thánh Cha nêu ra cho các nhân viên bác ái hai câu hỏi. “Trước tiên là: có đáng không? Có đáng dấn thân khi đối diện với một đại dương nhu cầu đang gia tăng liên tục và nhanh chóng không? Đó chẳng phải là một nỗ lực vô ích, cũng như thường làm nản lòng sao? Điều sơ Maria Celeste đã nói giúp ích cho chúng ta: “Mặc dù chúng ta nhỏ bé, nhưng Chúa chịu đóng đinh muốn có chúng ta ở bên cạnh Người để nâng đỡ thảm kịch của thế giới”. Đó là sự thật, lòng bác ái đồng điệu với Chúa và Người làm chúng ta ngạc nhiên với những điều kỳ diệu bất ngờ xảy ra qua những ai được Người yêu mến. Những câu chuyện của anh chị em chứa đầy những sự kiện kỳ ​​​​diệu, được biết đến với trái tim của Chúa và không thể chỉ với sức mạnh của con người. Tôi nghĩ về những gì Pierre đã nói với chúng ta rằng trong sa mạc của sự bất lực và thờ ơ, trong biển đau đớn, cùng với những người bạn của mình, anh đã khám phá ra rằng Chúa đã không quên anh, bởi vì Người đã gửi cho anh những người không ngoảnh mặt đi khi đi ngang qua đường chỗ anh. Như vậy, nơi khuôn mặt của họ, anh đã tái khám phá ra Chúa Giêsu và bây giờ anh muốn làm điều tương tự cho những người khác. Điều tốt lành là như thế, nó lan tỏa, nó không để mình bị tê liệt bởi sự cam chịu và những con số thống kê, nhưng mời gọi chúng ta trao tặng cho người khác những gì chúng ta đã nhận được cách nhưng không. Trên hết, những người trẻ cần nhìn thấy điều này: những khuôn mặt vượt qua sự thờ ơ khi nhìn thẳng vào mắt của con người, những bàn tay không cầm vũ khí và không nắm lấy tiền, nhưng vươn tới những người đang đứng trên mặt đất và nâng đỡ họ lên xứng phẩm giá của họ, xứng phẩm giá của con cái Thiên Chúa.”

Do đó, Đức Thánh Cha kết luận: “điều này là đáng, và đó là một dấu hiệu tốt cho thấy Giới chức chính quyền, thông qua các thỏa thuận gần đây với Hội đồng Giám mục, đã công nhận và đánh giá cao công việc của những người tham gia vào các lĩnh vực xã hội và bác ái. Điều này chắc chắn không có nghĩa là việc chăm sóc những người yếu thế nhất, cũng như dấn thân về y tế và giáo dục, có thể được ủy thác một cách có hệ thống cho hoạt động tình nguyện. Đây là những nhiệm vụ ưu tiên của những nhà điều hành đất nước, với sự quan tâm đến việc đảm bảo các dịch vụ cơ bản cho cả những người dân sống xa các trung tâm đô thị lớn. Đồng thời, những người tin vào Chúa Kitô không bao giờ được làm vấy bẩn chứng từ bác ái, lời chứng về Thiên Chúa, bằng việc tìm kiếm những đặc quyền, uy tín, danh tiếng và quyền lực. Không, các phương tiện, nguồn lực và kết quả tốt là dành cho người nghèo, và bất cứ ai chăm sóc họ luôn được mời gọi để nhớ rằng quyền lực là sự phục vụ và bác ái không được đưa đến chỗ ở lại trong vinh dự, nhưng đòi hỏi sự cấp bách và cụ thể. Theo nghĩa này, trong số rất nhiều việc phải làm, tôi muốn nhấn mạnh đến một thách đố liên quan đến tất cả mọi người chứ không chỉ đất nước này. Nguyên nhân gây ra nghèo đói không phải là do thiếu của cải và cơ hội, mà là do sự phân phối không đồng đều. Những người giàu có, đặc biệt nếu họ là Kitô hữu, được yêu cầu chia sẻ những gì họ có với những người thiếu thốn những thứ cần thiết, đặc biệt khi họ thuộc cùng một dân tộc. Đó không phải là một đòi hỏi của lòng tốt, mà là của sự công bằng. Đó không phải là lòng nhân từ, mà là niềm tin; bởi vì, như Kinh thánh nói, ‘đức tin không có việc làm là đức tin chết’ (Gcb 2,26).”

Câu hỏi thứ hai: “thực hiện điều tốt như thế nào?

Kế đến, Đức Thánh Cha nêu lên câu hỏi thứ hai: “thực hiện điều tốt như thế nào? Làm bác ái như thế nào, theo tiêu chí nào?” Với câu hỏi này, Đức Thánh Cha gợi ý ba điểm: Điểm thứ nhất, “bác ái đòi hỏi sự gương mẫu: thật vậy, đó không chỉ là việc anh chị em làm, mà nó còn là biểu hiện của con người anh chị em. Đó là một lối sống, là sống Tin Mừng. Do đó, cần có sự tín nhiệm và minh bạch: Tôi đang nghĩ đến việc quản lý tài chính và hành chính của các dự án, nhưng cũng nghĩ đến sự dấn thân cung cấp các dịch vụ đầy đủ và chất lượng. Đây chính là tinh thần đặc trưng cho rất nhiều công việc của Giáo hội mà từ đó đất nước này được hưởng và đã đánh dấu lịch sử của nó. Luôn luôn phải làm gương mẫu!

Điểm thứ hai: tầm nhìn xa, tức là biết nhìn về phía trước. Điều cần thiết là các sáng kiến ​​và công việc tốt, ngoài việc đáp ứng các nhu cầu trước mắt, còn phải bền vững và lâu dài. Không chỉ đơn giản là theo kiểu trợ giúp, mà còn được xây dựng trên cơ sở những gì thực sự có thể làm được và với tầm nhìn dài hạn, để chúng tồn tại theo thời gian và không kết thúc với bất kỳ ai bắt đầu chúng. Thay vì phân phát trợ giúp vốn luôn trong tình trạng thiếu thốn, tốt hơn cần truyền tải kiến ​​thức và công cụ giúp phát triển tự chủ và bền vững. Về vấn đề này, tôi cũng nghĩ đến sự đóng góp to lớn của ngành y tế Công giáo, mà ở đất nước này, cũng như ở nhiều nơi khác trên thế giới, mang lại sự an ủi và hy vọng cho người dân, giúp đỡ những người đau khổ một cách miễn phí và nghiêm túc, bằng cách luôn, như nó phải là, trợ giúp thông qua các công cụ hiện đại và thích hợp.

Cuối cùng – yếu tố thứ ba – là kết nối: chúng ta cần tạo ra một mạng lưới, không chỉ mạng lưới ảo mà còn cụ thể, như đã xảy ra ở đất nước này trong bản giao hưởng cuộc sống của khu rừng lớn và thảm thực vật đa dạng của nó. Mạng lưới: làm việc với nhau ngày càng nhiều hơn, liên tục hiệp lực với nhau, hiệp thông với các Giáo hội địa phương và với vùng lãnh thổ. Mạng lưới: mỗi người có đặc sủng riêng nhưng được kết nối với nhau, chia sẻ những cấp bách, ưu tiên, nhu cầu, không đóng cửa và tự quy chiếu, sẵn sàng tham gia với các cộng đoàn Kitô hữu khác và các tôn giáo khác, và với nhiều tổ chức nhân đạo hiện diện. Tất cả vì lợi ích của người nghèo.

Sau bài diễn văn, Đức Thánh Cha cùng đọc Kinh Lạy Cha với những người hiện diện và ban phép lành cho họ. Kết thúc ngày thứ hai của chuyến tông du đến CHDC Congo.

Nguồn: Vatican news


Suy Niệm Chúa Nhật V Thường Niên, Năm A

MUỐI VÀ ÁNH SÁNG

Tiếp sau bài giảng về Hiến chương Nước Trời, Chúa Giêsu nêu bật vai trò của người môn đệ giữa thế gian: “Anh em là muối cho đời, là ánh sáng cho trần gian”. Nhờ sống tinh thần Bát phúc, người môn đệ Đức Kitô được thừa hưởng Nước Trời và có sứ mạng rao giảng Lời Chúa cho mọi người xung quanh.

Hai hình ảnh quen thuộc “Muối và ánh sáng” được Chúa Giêsu sử dụng trong Tin Mừng hôm nay nhấn mạnh vai trò của người môn đệ trong thế giới ngày hôm nay. Sự thường ai cũng biết muối có tác dụng ướp thức ăn, giữ cho thức ăn không bị ôi thiu. Muối là một gia vị giúp cho món ăn thêm đậm đà. Không có muối, đồ ăn thiếu hương vị và lạt lẽo. Muối có đó nhưng không ai thấy muối. Không chỉ vì muối bé nhỏ khiêm nhường mà vì muối phải tan biến đi như thế muối mới có tác dụng. Như vậy, với vai trò là muối, người môn đệ phải biết chấp nhận hòa tan, phải biết “mất đi”, “hủy mình” cho tha nhân, để hiến dâng cho đời hương vị thơm ngon, mặn nồng của quảng đại, của yêu thương và tha thứ … đồng thời giữ cho xã hội môi trường mình đang sống khỏi bị suy thoái và trở nên tốt hơn. Còn ánh sáng thì tỏa nhiệt giúp sưởi ấm, phơi khô; cung cấp năng lượng cần thiết cho cơ thể sinh vật, giúp con người có thể nhìn thấy và hoạt động. Với Israel, từ xa xưa, họ đã xưng tụng Thiên Chúa là Ánh Sáng, là Đấng cứu độ. Mỗi chúng ta có được ánh sáng, trở nên ánh sáng và tỏa lan ánh sáng là nhờ chính Chúa Giêsu, Đấng đã tuyên bố “Tôi là ánh sáng thế gian.” Ánh sáng của chúng ta phải phát xuất từ Chúa, đó là nguồn ánh sáng tình yêu, để rồi chúng ta tỏa sáng bằng việc yêu thương tha nhân, chia sẻ tình yêu và phục vụ tha nhân… Nhờ gắn bó với Thầy, môn đệ có ánh sáng và qua đời sống của họ, ánh sáng Chúa chiếu giãi trên nhân loại.

Chúa Giêsu mời gọi mỗi người môn đệ trở nên muối cho đời và ánh sáng cho thế gian. Tuy cách thức hành động khác nhau nhưng cùng chung một mục đích, đó là gây tác động tốt trong chính môi trường mình đang sống, đang hoạt động. Đó là cách hành động đúng được ngôn sứ Isaia nhắc đến trong bài đọc I: chia bánh cho kẻ đói, tiếp nhận vào nhà những kẻ bất hạnh không nhà ở; cho người trần truồng áo mặc, hi sinh cho người đói rách, làm cho người đau khổ được vui thích, loại bỏ xiềng xích, cử chỉ hăm dọa, lời nói xấu xa và đừng khinh bỉ xác thịt của mình. Có hành động như thế thì sự sáng sẽ được tỏ rạng như hừng đông, các vết thương sẽ được chữa lành nhanh chóng; công lý sẽ đi trước mặt, vinh quang của Chúa sẽ hậu thuẫn.

Trong cuộc sống, có người tác động âm thầm như muối hay có người tác động rực rỡ như ánh sáng. Dù âm thầm hay rực rỡ, chúng ta cần ý thức như điều thánh Phaolo nhắc nhở trong bài đọc hai: mỗi khi ta đến với anh chị em không phải với tài năng của mình nhưng là thần trí và quyền năng của Thiên Chúa. Khi đến với anh chị em, hòa mình với đời sống, người môn đệ có thể bị giảm độ mặn của muối, hoặc phai nhòa ánh sáng của đèn. Do đó, người môn đệ cần phải không ngừng trở về với Chúa để thêm vị mặn cho muối; trở về với Chúa – Đấng là nguồn sáng để đèn có thể giữ được ánh sáng của mình.

Lạy Chúa! Ngọn nến sáng chúng con được lãnh nhận ngày rửa tội có còn sáng nữa hay không? Chúng con cần trở phải trở lại với chính mình mỗi ngày trước mặt Chúa trong giờ hồi tâm, xét mình để biết được vị mặn của muối và độ sáng của đèn. Xin giúp chúng con biết hòa tan mình như hạt muối nhỏ trong lòng đại dương, biết chiếu tỏa tia sáng nhỏ bé của chúng con để mọi người nhận ra Chúa nơi chúng con và nhận ra mình là anh chị em của nhau.

Maria Nguyễn Hường




ĐTC Chủ Sự Thánh Lễ Cho Hơn 1 Triệu Tín Hữu Tại Sân Bay Ndolo, Kinshasa

Vào ngày thứ hai trong chuyến Tông du đến Cộng hòa Dân chủ Congo, Đức Thánh Cha Phanxicô đã cử hành Thánh lễ cho hơn một triệu người tại sân bay “Ndolo” ở Kinshasa. Trong bài giảng ngài kêu gọi họ hạ vũ khí, đón nhận lòng thương xót và trở thành những nhà truyền giáo của hòa bình.

Hồng Thủy – Vatican News

Ngày thứ hai trong chuyến viếng thăm CHDC Congo của Đức Thánh Cha bắt đầu với Thánh lễ được ngài cử hành vào lúc 9 giờ rưỡi sáng thứ Tư ngày 1/2/2023 tại sân bay N’dolo ở thủ đô Kinshsa của CHDC Congo.

Từ Toà Sứ thần Đức Thánh Cha đi xe hơi đến sân bay cách đó khoảng 8,5 km. Đến phi trường Đức Thánh Cha đi xe mui trần vòng quanh sân bay để chào các tín hữu. Đức Hồng y Fridolin Ambongo Besungu, Tổng Giám mục của Kinshasa, đã tháp tùng Đức Thánh Cha.

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

Sân bay N’dolo đã được chỉnh trang 850 ngàn mét vuông để có thể tiếp đón tới gần 2 triệu tín hữu đến tham dự Thánh lễ. Ban tổ chức chuẩn bị 34 lối vào địa điểm này, được chia thành 30 khu vực, và một lễ đài rộng 1.440 mét vuông với thang máy.

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

Thánh lễ hôm nay được cử hành theo sách lễ Rôma dành cho các giáo phận của Zaire, cầu nguyện cho hoà bình và hoà giải.

Zaire là tên cũ của Cộng hòa dân chủ Congo. Sách lễ dành cho các giáo phận của Zaire đã được Bộ Phụng tự và kỷ luật bí tích phê chuẩn ngày 30/04/1988, với những thích ứng nghi lễ Roma thông thường với một số điểm theo văn hóa Congo, theo lời thỉnh cầu của các Giám mục Zaire hồi năm 1969, kết quả một tiến trình hội nhập văn hóa lâu dài được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Gioan Phaolô II khuyến khích.

Văn bản Thánh lễ và nghi thức chú ý đặc biệt đến truyền thống truyền khẩu của Phi châu và nhấn mạnh sự tham gia tích cực của cộng đoàn, qua những cử điệu nhịp nhàng và giơ hai tay lên trời.

Kinh cầu các thánh được cử hành ngay đầu Thánh lễ, trong đó các tín hữu kêu cầu với cả các tổ tiên có tâm hồn ngay chính đang hiệp thông với Thiên Chúa. Trong khi đó nghi thức thống hối và chúc bình an được cử hành sau bài giảng, trước phần lời nguyện giáo dân và dâng lễ vật.

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

Đức Thánh Cha bắt đầu bài giảng với lời cầu chúc: “Bình an cho anh chị em!”, và các tín hữu đáp lại: “Chúng ta là anh chị em một nhà.” Đức Thánh Cha lặp lại: “Chúng ta là anh chị em một nhà,” và các tín hữu reo lên: “Thật là vui thay!”

 Và Đức Thánh Cha bắt đầu bài giảng với từ Esengo, có nghĩa là niềm vui. Ngài nói: “nhìn thấy và gặp gỡ anh chị em thật là niềm vui lớn lao: tôi đã rất trông chờ giây phút này. Cảm ơn anh chị em đã đến đây!”

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

“Bình an cho anh em!”

Nối kết niềm vui gặp gỡ này với niềm vui của các môn đệ trong bài Tin Mừng thánh Gioan vừa được công bố, họ hết sức vui mừng khi nhìn thấy Chúa, Đức Thánh Cha nhận định rằng niềm vui của các môn đệ được bảo đảm bởi lời chào, đúng hơn là món quà Chúa Phục Sinh ban cho họ: “Bình an cho anh em!” (Ga 20,19).

Và “Bình an của Chúa Giêsu, điều cũng được ban cho chúng ta trong mỗi Thánh Lễ, là bình an của lễ Phục Sinh: bình an đến từ sự phục sinh, bởi vì trước tiên Chúa phải đánh bại kẻ thù của chúng ta là tội lỗi và sự chết, và hòa giải thế giới với Chúa Cha. Người đã phải trải qua sự cô đơn và sự bỏ rơi của chúng ta, địa ngục của chúng ta, đón nhận và xoá bỏ những khoảng cách tách chúng ta ra khỏi sự sống và niềm hy vọng. Giờ đây, sau khi xóa bỏ khoảng cách giữa Trời và Đất, giữa Thiên Chúa và con người, Chúa Giêsu ban bình an cho các môn đệ của Người.”

Ngày hôm đó, các môn đệ hoàn toàn mất nhuệ khí bởi biến cố thập giá, bị tổn thương trong lòng vì đã chạy trốn và bỏ rơi Chúa Giêsu, thất vọng vì cái kết của Người, và sợ rằng cuộc sống của họ cũng sẽ kết thúc giống như Người… Tuy nhiên, Chúa Giêsu đến và loan báo bình an ngay cả khi tâm hồn họ tràn đầy thất vọng. Người loan báo sự sống ngay cả khi họ cảm nhận bị bao quanh bởi sự chết… Đây là điều Chúa làm: Người làm chúng ta kinh ngạc, Người nắm tay chúng ta khi chúng ta sắp chìm, Người nâng chúng ta lên khi chúng ta rơi xuống tận đáy.

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

Công bố thông điệp hòa bình đầy cảm hứng

Do đó, Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Với Chúa Giêsu, sự dữ không bao giờ chiến thắng, nó không bao giờ có tiếng nói quyết định. ‘Vì Người là bình an của chúng ta’ (Ep 2,14) và bình an của Người chiến thắng. Vì vậy, chúng ta, những người thuộc về Chúa Giêsu, không bao giờ được để cho nỗi buồn ngự trị trong chúng ta, chúng ta không được để cho sự cam chịu và số phận nắm giữ chúng ta… Trong một thế giới chán nản vì bạo lực và chiến tranh, các Kitô hữu phải hành động như Chúa Giêsu: Bình an cho anh em! (x. Ga 20,19. 21). Chúng ta được mời gọi để biến thông điệp hòa bình đầy cảm hứng và mang tính ngôn sứ này thành của chúng ta và công bố nó cho thế giới.”

Nhưng làm thế nào chúng ta có thể gìn giữ và vun trồng bình an của Chúa Giêsu? Đức Thánh Cha giải thích về ba suối nguồn bình an mà Chúa Giêsu đã chỉ cho chúng ta để có thể kín múc và tiếp tục nuôi dưỡng bình an

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

Tha thứ

 Nguồn mạch đầu tiên là sự tha thứ. Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Nếu các con tha tội cho ai, thì người ấy sẽ được tha” (c. 23). Đức Thánh Cha nhận xét rằng trước khi trao quyền tha tội cho các tông đồ, Chúa đã tha thứ cho họ; không phải bằng lời nói, nhưng bằng một hành động, cử chỉ đầu tiên của Đấng Phục sinh. “Người tỏ cho họ xem tay và cạnh sườn Người” (c. 20), bởi vì sự tha thứ nảy sinh từ những vết thương. “Nó nảy sinh khi những vết thương chúng ta gánh chịu không để lại vết sẹo hận thù, mà trở thành cách thế để chúng ta dành chỗ cho người khác và chấp nhận những yếu đuối của họ. Khi đó, khiếm khuyết của chúng ta trở thành cơ hội và sự tha thứ trở thành con đường dẫn đến hòa bình. Đó không phải là chúng ta bỏ mọi thứ qua một bên và hành động như thể không có chuyện gì xảy ra, nhưng là yêu thương mở lòng với người khác.”

Chúa ban cho chúng ta sức mạnh để tha thứ

Đức Thánh Cha nhắn nhủ các tín hữu rằng khi tội lỗi và nỗi buồn đè nặng chúng ta, khi mọi thứ không như ý, chúng ta hãy nhìn vào những vết thương của Chúa Giêsu, Đấng sẵn sàng tha thứ cho chúng ta bằng tình yêu thương vô biên và chịu thương tích của Người. “Chúa biết những vết thương của chúng ta, Người biết những vết thương của đất nước của anh chị em, của dân tộc anh chị em, của miền đất của anh chị em! … Chúa Giêsu đau khổ với anh chị em, Người nhìn thấy những vết thương anh chị em mang trong lòng và muốn an ủi và chữa lành cho anh chị em bằng cách trao cho anh chị em trái tim thương tích của Người. Cùng với nhau, chúng ta tin rằng Chúa Giêsu luôn ban cho chúng ta khả năng được tha thứ và bắt đầu lại, và cũng có sức mạnh để tha thứ cho chính mình, cho tha nhân và cho lịch sử!”

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

“Hãy hạ vũ khí xuống, hãy đón lấy lòng thương xót”

Đức Thánh Cha mong mỏi rằng hôm nay là giây phút ân sủng để đón nhận và cảm nghiệm sự tha thứ của Chúa Giêsu, là thời điểm thích hợp cho những người đang mang gánh nặng trong lòng và mong muốn trút bỏ chúng, là thời điểm thuận lợi cho tất cả những người tự xưng mình là Kitô hữu nhưng lại tham gia vào bạo lực. Chúa đang nói với họ: “Hãy hạ vũ khí xuống, hãy đón lấy lòng thương xót”, với tất cả những người bị thương và bị áp bức của dân tộc này: “Đừng sợ chôn cất các vết thương của anh chị em trong vết thương của Ta”.

Và ngài mời gọi các tín hữu Congo tháo Thánh giá khỏi cổ và lấy ra khỏi túi, cầm Thánh giá trên tay và đặt gần trái tim để chia sẻ những vết thương của họ với những vết thương của Chúa Giêsu. Ngài nói: “Hãy để Chúa Kitô có cơ hội chữa lành tâm hồn chúng ta, hãy trao cho Người quá khứ, mọi sợ hãi và phiền muộn của anh chị em.” Ngài mời gọi viết những lời bình an trên những bức tường trong phòng, trên quần áo, và đặt những lời này như một biển báo bên ngoài ngôi nhà: Bình an cho anh chị em! Việc làm này sẽ là lời tuyên bố mang tính ngôn sứ cho đất nước và là một phúc lành của Chúa ban cho những người mình gặp gỡ. Chúng ta hãy nhận lãnh ơn tha thứ của Chúa và đến lượt chúng ta hãy tha thứ cho nhau!

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

Cộng đoàn

 Nguồn mạch thứ hai của bình an là cộng đoàn. Đức Thánh Cha lưu ý rằng Chúa Giêsu Phục Sinh không chỉ nói với từng cá nhân các môn đệ của Người nhưng gặp gỡ cả nhóm họ và ban bình an của Người cho cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên này. Ngài nhận định rằng sẽ không có Kitô giáo nếu không có cộng đoàn, giống như không có hòa bình nếu không có tình huynh đệ.

Nhưng là một cộng đoàn, chúng ta đang hướng về đâu, chúng ta sẽ tìm thấy bình an ở đâu? Đức Thánh Cha mời gọi suy tư về các môn đệ của Chúa. “Trước lễ Phục sinh, họ đi theo Chúa Giêsu, nhưng vẫn tiếp tục suy nghĩ theo cách của con người: họ hy vọng vào một Đấng Cứu thế chiến thắng, Đấng sẽ đánh bại kẻ thù của Người, làm nên những điều kỳ diệu và phép lạ, đồng thời làm cho họ trở nên giàu có và nổi tiếng. Thế nhưng những ước muốn trần tục đó đã khiến họ trắng tay và cướp đi sự bình an của cộng đoàn, làm nảy sinh những tranh cãi và chống đối (x. Lc 9,46; 22,24).”

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

Mối nguy khi đi theo con đường của riêng mình thay vì con đường của Chúa

Và Đức Thánh Cha lưu ý: “Đây cũng là mối nguy hiểm của chúng ta khi ở bên những người khác, nhưng lại đi con đường của riêng mình; trong xã hội, và ngay cả trong Giáo hội, chúng ta tìm kiếm quyền lực, sự nghiệp, tham vọng của riêng mình… Chúng ta đi theo con đường của riêng mình thay vì con đường của Chúa, và chúng ta kết thúc giống như các môn đệ: đằng sau những cánh cửa đóng kín, không có hy vọng, và đầy sợ hãi và thất vọng.” Tuy nhiên, vào Lễ Phục Sinh, một lần nữa các môn đệ tìm thấy con đường dẫn đến hòa bình, “nhờ Chúa Giêsu, nhờ Chúa Thánh Thần, họ sẽ không còn nhìn vào những gì chia rẽ họ, nhưng nhìn vào những gì liên kết họ.”

Con đường của Chúa là chia sẻ với người nghèo

Vậy làm thế nào để chúng ta có thể cưỡng lại sự cám dỗ của quyền lực và tiền bạc và không đầu hàng trước sự chia rẽ, trước những cám dỗ của việc tìm kiếm danh vọng đang làm xói mòn cộng đồng, và trước những ảo tưởng sai lầm về lạc thú và phù thủy khiến chúng ta trở nên ích kỷ và tự cho mình là trung tâm? Đức Thánh Cha nhắc lại lời Chúa trong đoạn sách ngôn sứ Isaia nói rằng Chúa ở với tâm hồn khiêm cung tan nát (Is 57,15), và giải thích: “Con đường của Chúa là chia sẻ với người nghèo: đó là phương thuốc tốt nhất chống lại những cám dỗ của chia rẽ và thế tục.” Ngài mời gọi hãy can đảm nhìn đến người nghèo và lắng nghe họ; hãy mở lòng với người khác, thay vì khép kín trong những vấn đề của riêng mình hoặc những mối quan tâm hời hợt… Chúng ta hãy tin tưởng vào cộng đoàn và, với sự trợ giúp của Thiên Chúa, xây dựng một Giáo hội thoát khỏi tinh thần thế tục và tràn đầy Chúa Thánh Thần, không quan tâm đến việc tích trữ của cải nhưng tràn đầy tình yêu thương huynh đệ!”

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

Truyền giáo

Nguồn mạch cuối cùng của bình an là truyền giáo. Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21). Chúa Cha đã sai Chúa Giêsu đến thế gian như thế nào? Đức Thánh Cha trả lời: Chúa Cha đã sai Người đi phục vụ và hiến mạng sống vì nhân loại (x. Mc 10,45), để tỏ lòng thương xót đối với từng người (x. Lc 15) và tìm kiếm những người xa lạc (x. Mt 9,13).  Tóm lại, Chúa Cha đã sai Người đến vì mọi người: không chỉ vì người công chính, mà còn vì tất cả mọi người.

Trở thành những nhà truyền giáo của hòa bình

Do đó, chúng ta được kêu gọi trở thành những nhà truyền giáo của hòa bình, và điều này sẽ mang lại bình an cho chúng ta. Đức Thánh Cha nói: “Chúng ta cần tìm chỗ trong trái tim mình cho mọi người; tin rằng sự khác biệt về sắc tộc, khu vực, xã hội và tôn giáo chỉ là thứ yếu và không phải là trở ngại; rằng những người khác là anh chị em của chúng ta, là thành viên của cùng một cộng đồng nhân loại; và hòa bình do Chúa Giêsu mang đến cho thế giới là dành cho tất cả mọi người. Chúng ta cần tin rằng Kitô hữu chúng ta được kêu gọi hợp tác với mọi người, để phá vỡ vòng xoáy bạo lực, để phá bỏ những âm mưu thù hận. Các Kitô hữu, những người được Chúa Kitô sai đến, không chỉ đơn thuần là những lương tâm phê phán, mà trên hết là những chứng nhân của tình yêu, là những nhà truyền giáo về “tình yêu điên cuồng” của Thiên Chúa dành cho mỗi con người.

Đức Thánh Cha kết thúc bài giảng với mong ước rằng những lời “Bình an cho anh em!” vang vọng trong trái tim các tín hữu và các tín hữu hãy chọn trở thành “chứng nhân của sự tha thứ, những người xây dựng cộng đồng, những người mang sứ mạng hòa bình trong thế giới của chúng ta.”

Thánh Lễ kết thúc lúc 11 giờ 20. Sau đó, Đức Thánh Cha trở về Toà Sứ Thần để nghỉ trưa và chuẩn bị cho chương trình buổi chiều với hai cuộc gặp, với Các nạn nhân bạo lực của đông đất nước và với Đại diện của một số công việc bác ái.

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

ĐTC chủ sự Thánh Lễ tại sân bay Ndolo

Nguồn: Vatican news