“Phép Rửa của Gioan bởi đâu mà có? Bởi trời hay bởi người ta?” Câu hỏi này của Chúa Giêsu làm cho giới lãnh đạo Do thái lúng túng. Do cố chấp, họ không tin Gioan, muốn nghĩ rằng phép rửa của Gioan ‘bởi người ta’. Họ cũng không dám công khai phủ nhận thẩm quyền ‘bởi trời’ của Gioan, vì họ sợ dân chúng, biết rằng dân chúng nhìn nhận thẩm quyền này. Thật ranh ma, họ trả lời rằng chúng tôi không biết.
Nhưng ‘không biết’ ở đây thực ra là không muốn biết, không cần biết. Họ thiếu thiện chí, cứng cỏi cố chấp, và tìm cách đối phó vì sợ hãi trước sự thật. Vì thế, câu hỏi của họ đặt ra cho Chúa Giêsu trước đó – “ông lấy quyền nào mà làm những việc ấy?” – cũng không phải là một câu hỏi với thiện chí. Ta hiểu tại sao Chúa Giêsu từ chối nói cho họ biết Người lấy thẩm quyền nào.
Chúng ta nhận ra: đành rằng chỉ thiện chí thôi thì không đủ, nhưng thiện chí là điều kiện luôn cần, để ta tiếp cận sự thật. Những người lãnh đạo mà thiếu thiện chí, luôn cứng cỏi cố chấp tin rằng mình sở hữu sự thật, và gạt phăng cảm thức của dân chúng khi cảm thức ấy làm rúng chuyển lập trường quan điểm của mình, thì sự việc càng tệ hại hơn rất nhiều.
Chính vì muốn tránh sự tệ hại ấy mà Giáo hội hiện nay đang muốn lấy lại phong cách đồng hành đồng nghị (tức ‘hiệp hành’) của mình, đề cao thái độ đối thoại, cùng nhau lắng nghe, cùng nhau phân định và quyết định, trong tính minh bạch và đồng trách nhiệm… Không có thiện chí, chúng ta luôn ở chế độ tự động kích hoạt hàng loạt cơ chế phòng vệ, và do đó sẽ không bao giờ có lắng nghe, không bao giờ có đối thoại hay phân định gì cả!
Dù sao, sự việc Chúa Giêsu bị chất vấn cũng là dịp để Người làm chứng cho Gioan Tẩy giả và ‘đòi lại công bằng’ cho vị ngôn sứ tiền hô của Người. Và trong khi làm chứng cho Gioan, Chúa Giêsu đang làm chứng cho chính Người. Chúng ta lại nhận ra, ai thuộc về Chúa Giêsu và đặt câu chuyện cuộc đời mình trong câu chuyện của Chúa Giêsu, thì cuộc đời người ấy không thể nào vô ích, không thể nào vô nghĩa, không thể nào thất bại. Vâng, dù có bị bỏ tù, bị bịt miệng, ngay cả bị chặt đầu, ta cũng không thất bại!
Ta không thất bại, vì Đấng mà ta thuộc về là “ngôi sao từ Giacóp mọc lên, là phủ việt từ Israel xuất hiện”. Đấng ấy sẽ “hướng dẫn ta trong chân lý và dạy bảo ta, vì Người là Thiên Chúa cứu độ ta”!
Lm. Lê Công Đức
Đợi chờ sẽ thử thách sự kiên nhẫn. Và kiên nhẫn đến mấy mà không đến cùng thì cũng như không – và do đó lại càng đáng tiếc. Chỉ có người đợi chờ với dạt dào hy vọng thì mới kiên nhẫn đến cùng mà thôi. Chính vì thế, lời Chúa ngày Chúa nhật 3 Mùa Vọng muốn củng cố niềm hy vọng của chúng ta, và qua đó củng cố sự kiên nhẫn của chúng ta.
Ngay trong những hoàn cảnh ê chề, bi thương và bế tắc của cuộc sống, chúng ta hy vọng Chúa sẽ đến và sẽ giải phóng chúng ta. Người sẽ xoay chuyển cục diện, sẽ chuyển khổ luỵ thành niềm vui, bóng tối thành ánh sáng, yếu đuối thành sức mạnh, và tang tóc thành sự sống. Như lời trong sách Isaia: “Nơi hoang địa cằn cỗi sẽ vui mừng, cõi tịch liêu sẽ hân hoan… Hãy làm cho mạnh mẽ những bàn tay rời rã, và hãy làm cho tăng sức những đầu gối mỏi mòn… Hãy can đảm lên, đừng sợ hãi!… Bấy giờ mắt người mù sẽ nhìn thấy, và tai những người điếc sẽ được nghe… người què sẽ nhảy nhót như nai… họ sẽ không còn đau buồn; rên siết sẽ trốn xa” (x. Is 35,1-6a.10).
Chính Thiên Chúa hành động và đem lại tất cả những điều tốt lành ấy – như tác giả Thánh vịnh 145 tuyên xưng: “Thiên Chúa trả lại quyền lợi cho người bị áp bức, và ban cho những kẻ đói được cơm ăn. Thiên Chúa cứu gỡ những người tù tội…. Thiên Chúa mở mắt những kẻ đui mù; Thiên Chúa giải thoát những kẻ bị khòm lưng khuất phục”…
Và tất cả được ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu, Đấng là Con Thiên Chúa đến để lấp đầy mọi khát vọng ấy. Trình thuật Tin Mừng (Mt 11,2-11) là lời chứng về điều này. Gioan ở trong tù, rất băn khoăn, nên đã sai môn đệ đến hỏi thẳng Đức Giêsu có phải là Đấng phải đến, hay mọi người còn phải chờ một Đấng khác. Câu hỏi rất trực tiếp, nhưng câu trả lời của Chúa Giêsu thì gián tiếp:
“Hãy về thuật lại cho Gioan những gì các anh tai nghe mắt thấy: người mù được thấy, người què đi được, người phong hủi được khỏi, người điếc được nghe, người chết sống lại, và tin mừng được loan báo cho kẻ nghèo khó; và phúc cho ai không vấp ngã vì Ta”.
Câu trả lời ấy gián tiếp mà hoá ra lại vào thẳng trọng tâm – bởi Đấng Mêsia được trông đợi sẽ là Đấng Giải Phóng, với dấu chỉ là các hành động giải phóng như thế! Gioan ở trong ngục tối sẽ nhận được câu trả lời này qua các môn đệ của mình. Trong bóng tối của ngục tù, và nhất là trong bóng tối của đức tin, Gioan sẽ tựa vào tia sáng được ban cho này để củng cố niềm hy vọng. Niềm hy vọng giúp Gioan kiên nhẫn đợi chờ những gì sẽ còn xảy ra phía trước, trong câu chuyện của mình và câu chuyện của Chúa Giêsu.
Trong bối cảnh này, chúng ta càng hiểu hơn lời kêu gọi của Thư Giacôbê dành cho chúng ta: “Anh em hãy học gương kiên nhẫn và chịu đựng trong gian khổ của các ngôn sứ, là những người đã nói nhân danh Chúa” (x. Gc 5,7-10). Các ngôn sứ! Nhưng trước hết là Gioan đó!
Kiên nhẫn đến cùng có nghĩa là dù chết (như Gioan) cũng vẫn không buông hy vọng. Và hy vọng đến cùng vào Chúa Giêsu, Người sẽ không làm ta thất vọng!
Lm. Lê Công Đức
Mùa Vọng nay đã đi qua nửa chặng đường, và Giáo Hội ân cần mời gọi chúng ta dừng lại đôi chút giữa nhịp sống thường ngày, để lắng nghe và cảm nhận nhịp đập của một niềm vui đang âm thầm lớn lên trong sâu thẳm tâm hồn. Đó chưa phải là niềm vui rộn ràng của đêm Giáng Sinh rực sáng ánh sao, nhưng là niềm vui nhẹ nhàng, khiêm tốn và sâu lắng, tựa như ánh hồng của buổi bình minh vừa hé, báo hiệu mặt trời công chính sắp ngự đến và chiếu soi trần thế.
Chúa Nhật III Mùa Vọng – Chúa Nhật Gaudete, mời gọi chúng ta “hãy vui lên”. Niềm vui ấy vang vọng qua lời ngôn sứ Isaia: “Sa mạc và đất khô cằn sẽ hoan hỉ, vùng hoang địa sẽ mừng vui reo hò, như hoa nở rộ” (Is 35,1-2). Đó là lời hứa cứu độ mà Thiên Chúa dành cho dân Người, một lời hứa không mơ hồ, nhưng cụ thể và sống động: “Mắt người mù sẽ mở ra, tai người điếc sẽ vang tiếng, người què sẽ nhảy nhót như nai, lưỡi người câm sẽ reo hò” (Is 35,5-6). Niềm vui ấy không phát xuất từ hoàn cảnh thuận lợi, nhưng từ sự hiện diện của Thiên Chúa đang đến để chữa lành và đổi mới con người.
Trong bầu khí ấy, trang Tin Mừng hôm nay đưa chúng ta dõi theo Gioan Tẩy Giả, người đã từng là “tiếng hô trong hoang địa”. Giờ đây, tiếng hô ấy dường như lắng xuống giữa bóng tối của lao tù. Chính trong hoàn cảnh tưởng chừng như bấp bênh và hoang mang ấy, Gioan đã sai các môn đệ đến hỏi Đức Giêsu: “Ngài có phải là Đấng phải đến không, hay chúng tôi còn phải chờ đợi Đấng khác?” (Mt 11,3). Câu hỏi ấy không chỉ là thắc mắc của Gioan, mà còn phản ánh những băn khoăn rất nhân loại của mỗi chúng ta khi đứng trước thử thách, đau khổ và giới hạn của đời mình.
Chúa Giêsu không trả lời Gioan bằng những lập luận thần học hay lời giải thích dài dòng. Người trả lời bằng chính những việc Người đang làm: “Người mù thấy được, người què đi được, người phong hủi được sạch, người điếc nghe được, người chết sống lại, và người nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11,5). Đó chính là những dấu chỉ của thời cứu độ đã bắt đầu. Qua những hành động đầy xót thương ấy, Chúa Giêsu khẳng định: Người chính là Đấng Mêsia, Đấng mang niềm vui cứu độ đến cho toàn thể nhân loại, đặc biệt cho những ai nghèo hèn, bị bỏ quên và đau khổ.
Cảm nghiệm được niềm vui có Chúa trong cuộc đời, Gioan Tẩy Giả đã sống trọn vẹn tâm tình khiêm hạ: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Ngay cả khi bị giam cầm Gioan vẫn trung thành với sứ mạng của mình: nhường chỗ cho Chúa. Tiếng hô của Gioan không chỉ lay động đám đông năm xưa, mà vẫn đang vang vọng vào tận đáy lòng mỗi người chúng ta hôm nay. Gioan dạy chúng ta rằng niềm vui đích thực không hệ tại ở việc mình được nhìn nhận hay thành công, nhưng ở chỗ biết khiêm nhường lùi lại để Chúa được lớn lên và hành động trong đời mình.
Chúng ta cũng được mời gọi trở nên những nhịp cầu kết nối giúp người khác nhận ra sự hiện diện của Chúa giữa cuộc đời. Không phải bằng những việc làm phi thường, nhưng bằng chính đời sống thánh thiện, đơn sơ và khiêm tốn mỗi ngày. Khi chúng ta biết nhường chỗ cho Chúa trong suy nghĩ, trong lời nói và trong cách hành xử, thì chính đời sống của chúng ta sẽ trở thành lời loan báo Tin Mừng sống động nhất.
Trong đời sống cộng đoàn, niềm vui của Mùa Vọng thôi thúc chúng ta thể hiện bằng những hành động rất cụ thể và giản dị: một nụ cười ấm áp hơn dành cho chị em, một chút kiên nhẫn và cảm thông trong những lúc hiểu lầm, một cử chỉ quan tâm âm thầm dành cho người đang mệt mỏi hay yếu đuối. Những điều nhỏ bé ấy, khi được thực hiện với trọn tâm tình yêu mến, sẽ trở thành hương thơm dịu dàng dâng lên Thiên Chúa và là những bông hoa thánh thiện điểm tô cho vườn hoa Hội dòng.
Trang Tin Mừng hôm nay cũng mời gọi chúng ta can đảm nhìn sâu vào những “sa mạc nội tâm” của chính mình, không phải với ánh mắt sợ hãi hay thất vọng, nhưng với niềm hy vọng trọn vẹn. Đó có thể là những vết thương chưa lành, những nỗi buồn âm thầm chưa thể nói thành lời, hay những giới hạn và yếu đuối khiến ta chùn bước trên hành trình ơn gọi. Chính trong sa mạc nội tâm ấy, Chúa sẽ bước vào, để chữa lành và mang niềm vui, bình an đích thực cho chúng ta.
Lạy Chúa, giữa Mùa Vọng thánh này, xin cho con, một nữ tu nhỏ bé, biết nhường chỗ cho Chúa trong từng khoảnh khắc của đời sống. Con không thể làm nên những điều vĩ đại, nhưng xin cho con biết mang ánh mắt dịu dàng của Chúa để nhìn người khác, đôi tay nâng đỡ của Chúa để phục vụ, và lời nói yêu thương của Chúa để ủi an. Ước gì sự hiện diện của con có thể mang niềm vui Tin Mừng và giúp mọi người cảm nhận được rằng Chúa đang hiện diện trong cuộc đời họ.
Maranatha Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến !
Maria Đào Ngọc
“Elia như lửa hồng xuất hiện. Lời ông nóng bỏng như ngọn đuốc cháy phừng… Ba lần ông khiến lửa từ trời xuống… Ông đã được cất đi trong bầu lửa, trong xe bởi ngựa lửa kéo đi”… Trang sách Huấn ca này nói về tính cách mạnh mẽ của ngôn sứ Êlia qua biểu tượng lửa cháy phừng phừng. Và thật ý nghĩa khi chính Êlia được coi là hình tượng của cả truyền thống ngôn sứ trong lịch sử Thánh Kinh… Ngôn sứ là người có lửa cháy trong trái tim, trong lời nói và trong hành động của mình.
Gioan Tẩy giả, về phần mình, được coi là Êlia tái xuất hiện – cũng bởi vì đây là vị ngôn sứ mang trong mình sức thiêu đốt của lửa. Hãy nhớ đến những lời mạnh mẽ, đanh thép của Gioan nói với đám đông để cảnh cáo họ và thúc giục họ sám hối và hoán cải. Đặc biệt, hãy nhớ đến sự đương đầu và chất vấn của Gioan đối với vua Hêrôđê, một con người đầy quyền lực lúc đó… Gioan đích thực là vị ngôn sứ mang ngọn lửa – chính Hêrôđê đã xuống lệnh dập tắt ngọn lửa này, để rồi kinh nghiệm cách nào đó rằng ‘dập’ thì có, nhưng ‘tắt’ thì không!
Ngọn lửa không tắt. Nó bất khuất. Bởi Gioan đã bị chém đầu rồi, mà ở đâu lại trồi lên một ông Giêsu gây nhiều hoang mang bối rối cho Hêrôđê! Dư luận bảo đó chính là Gioan sống lại – nhưng đúng ra phải nói là tinh thần và ngọn lửa của Gioan, của Êlia đã không hề chết!…
Còn hơn thế nữa, Giêsu mới là Đấng mà – theo lời Gioan – “sẽ làm Phép Rửa cho anh em trong Thánh Thần và trong lửa”. Người mới đúng là ngọn lửa đích thực từ trời: “Tôi mang lửa đến mặt đất này, và khắc khoải mong lửa ấy bừng cháy lên”… Ngọn lửa Giêsu thực sự đã cháy hết mình: ngọn lửa của tình yêu thương xót, của tha thứ, của nhiệt tâm xây dựng Triều đại Thiên Chúa, của khao khát chu toàn thánh ý Cha…
“Con Người cũng sẽ đau khổ bởi họ”. Ngọn lửa Giêsu bị dập tắt bởi cường quyền mù quáng, nhưng đó là cách thức mầu nhiệm của Thiên Chúa để Chúa Giêsu cháy hết mình trên thập giá, diễn tả tình yêu đến cùng, và thực sự không tắt, nhưng thay vào đó trao ban ngọn lửa Thánh Thần: “Người gục đầu xuống và trao Thần Khí”!
Thánh Thần của Chúa Phục Sinh xuống chan hoà trên Hội Thánh dưới hình các lưỡi lửa của ngày lễ Ngũ Tuần. Đã đến lúc ước mong “ngọn lửa bùng cháy lên” của Chúa Giêsu được bắt đầu làm cho hiện thực bởi Hội Thánh trong Thánh Thần. Sau hai ngàn năm, công cuộc thắp lửa vẫn tiếp tục, với bó đuốc chuyền qua các thế kỷ và nay đặt vào tay chúng ta…
Mùa Vọng đặt chúng ta vào truyền thống đốt lửa ấy của lịch sử cứu độ. Xin Chúa ban đầy lửa Thánh Thần của Chúa Phục Sinh cho chúng ta, ngay trong thời gian chuẩn bị mừng Chúa Giáng Sinh này.
Lm. Lê Công Đức
Hãy nghe và hãy cảm nghiệm sự tuyệt vời trong lời Chúa nói với chúng ta qua ngôn sứ Isaia: “Ta là Thiên Chúa của ngươi, Ðấng phán dạy ngươi những điều hữu ích, Ðấng dẫn dắt ngươi trong con đường phải đi. Nếu ngươi lưu ý đến các giới răn của Ta, thì hạnh phúc của ngươi sẽ như dòng sông, và sự công chính của ngươi sẽ như sóng biển”…
Tuyệt vời, vì Chúa dạy toàn những điều hữu ích, vì hạnh phúc tuôn tràn như dòng sông, sự công chính mênh mông như sóng biển! Vì thế, Chúa đến, ta không phải nghi ngờ dò xét gì Chúa cả. Không có gì để phải đối phó với Chúa cả. Ngược lại, ta vững tin thưa lên rằng “Lạy Chúa, ai theo Chúa sẽ được ánh sáng ban sự sống” (Đáp ca).
Tiếc là thực tế, khi Chúa đến, thay vì theo Chúa thì đa số người đương thời đã nói ‘Không’! Họ tẩy chay cả Gioan Tẩy giả (vị ngôn sứ mở đường) lẫn Chúa Giêsu. Điều oái ăm là họ nhân danh những lý do trái ngược nhau để quyết định tẩy chay như thế. Gioan Tẩy giả bị từ chối vì ông không ăn không uống; còn Chúa Giêsu bị từ chối vì Người có ăn có uống như bất cứ ai!
Chúa Giêsu chỉ ra vấn đề của những người đương thời, đó là sự độc đoán ấu trĩ. Khoa tâm lý hiện đại nhận diện đây là mô hình ứng xử đặc trưng của lứa tuổi lên một, lên hai. Còn Chúa Giêsu thì gán lối ứng xử ấy cho đám trẻ nhếch nhác ngoài chợ, chắc vào khoảng bảy hay tám tuổi. Nói chung, đây là vấn đề của trẻ con. Chúng chỉ biết đòi hỏi thay vì biết thích nghi; chúng truyền lệnh và bắt người ta thi hành, thay vì biết cởi mở và mềm mỏng lắng nghe người khác…
Điều đáng ghi nhận từ câu chuyện này: Quả thật, phong cách của Gioan và của Chúa Giêsu khác hẳn nhau, ngay cả trái ngược nhau. Gioan sống lối sống nhiệm nhặt; còn Chúa Giêsu xem ra thoải mái hơn, Người hoà đồng với mọi người. Nhưng cả hai đều thực sự là những ‘người của Thiên Chúa’! Vì thế, sự thật, sự công chính không bị hạn định trong những thể cách bên ngoài. Chúng ta phải luôn cảnh giác với xu hướng loại trừ kẻ khác chỉ vì họ khác mình. Cũng vậy, cần cảnh giác với ảo tưởng rằng mình có thể chiếm hữu sự thật. Không, ta có thể được sự thật chiếm hữu, chứ không ngược lại.
Thái độ căn bản là khiêm tốn và chân thành cởi mở. Đó là thái độ của những ‘người nghèo của Thiên Chúa’, những người đón nhận Chúa Giêsu Kitô và được Người tuyên bố là ‘có phúc’!
Lm. Lê Công Đức
“Ta là Chúa, Thiên Chúa của ngươi… là Ðấng Thánh của Israel, Ðấng Cứu Chuộc ngươi”.
Ngôn sứ Isaia chuyển đạt lời Thiên Chúa mặc khải về chính Ngài như thế, trong tương quan với dân của Ngài. Khi Con Thiên Chúa đến trong con người Giêsu Nadaret, đó chính là điều Người vén mở để người ta hiểu và đón nhận Người. Thật vậy, tất cả lời nói và việc làm của Chúa Giêsu nhằm trao manh mối cho mọi người nhận biết Người là Con Thiên Chúa, là Đấng Thánh, Đấng Cứu Chuộc…
Manh mối hay dấu chỉ nói trên nằm ở việc Chúa Giêsu hiện thực hoá – tức làm ứng nghiệm – tất cả những lời tiên báo/ những lời hứa trong sách thánh về Người. Hãy để ý, chẳng hạn, trùng trùng điệp điệp trong sách Isaia những kiểu nói ở thì tương lai: ‘Ta sẽ…’! Chúa Giêsu biến tất cả những ‘Ta sẽ’ ấy thành hiện tại, với sự có mặt của Người.
Nhưng không dễ nhận ra sự hiện thực hoá hay sự ứng nghiệm ấy, vì mọi sự không nằm ở ý nghĩa mặt nổi, mà ở bình diện sâu xa hơn: tất cả được hiểu trong bối cảnh Nước Trời, không phải trong bối cảnh một vương quốc thế gian này. “Nước của Ta không thuộc về thế gian này!”…
Gioan Tẩy giả được sai đến trước, nhằm giúp mọi người đón nhận Đấng Mêsia và Nước Trời mà Người khai mở. Gioan thể hiện tính cách mạnh mẽ, và Chúa Giêsu giải thích đó là tính cách của các công dân Nước Trời: “Kể từ Gioan Tẩy giả, Nước Trời phải dùng sức mạnh mà chiếm lấy, và những kẻ mạnh mẽ can đảm mới chiếm được”…
Thế đó, ta bất lực, nên Chúa đến cứu ta – và Chúa cứu ta bằng cách làm cho ta mạnh mẽ. Chúng ta phải trở nên can đảm và mạnh mẽ để có thể đi vào Vương quốc của Đấng Cứu Độ.
Lm. Lê Công Đức
“Nước lũ không dập tắt nổi tình yêu, sóng cồn chẳng tài nào vùi lấp”. (Diễm Ca 8,6-8). Trong những ngày bão lũ hoành hành vừa qua, khi bóng tối đau thương và mất mát bao phủ trên con người, những mái nhà tan hoang đổ nát tại Diên Khánh – Khánh Hòa, thì tình yêu thương và ánh sáng hy vọng vẫn bừng cháy mãnh liệt từ những con tim biết đồng cảm và sẻ chia.


Lời mời gọi của Chúa luôn vang vọng: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12). Người nữ tu Dòng Mến Thánh Giá Tân Lập, cùng với các hội viên Hiệp hội Tín hữu Mến Thánh Giá và các mạnh thường quân, đã chung tay lên đường đến với bà con vùng lũ. Nhìn thấy cảnh đổ nát, lắng nghe những câu chuyện khó khăn thấm đẫm nước mắt của người dân, lòng chúng tôi trào dâng niềm thương cảm sâu sắc.




Hành trang chuyến đi không chỉ là sự hỗ trợ vật chất mà còn là biểu tượng cho tình thương Thiên Chúa đang hiện diện giữa dân Người, bất kể lương giáo, nhằm đồng hành và khích lệ mỗi người vượt qua gian khó, giữ vững niềm tin giữa hoạn nạn. Bởi “Chính khi anh em làm cho một trong những người bé nhỏ nhất này, là làm cho chính Ta” (Mt 25,40).
Hành trình này không chỉ là một chuyến đi từ tâm mà còn là lời chia sẻ Tin Mừng sống động: dù bão tố cuộc đời có thể làm gục ngã thân xác, nhưng nếu chúng ta đứng bên nhau thì không ai phải một mình giữa nước lũ. Hơn thế nữa, Chúa vẫn luôn hiện diện, an ủi, chữa lành và ban bình an cho những ai biết mở lòng – như lời tiên tri rằng “tình yêu mạnh hơn sự chết, nước lũ không thể dập tắt”.




Chúng con ghi khắc từng tấm lòng, từng hành động dù nhỏ bé khi được dệt nên bằng tình yêu và niềm tin, sẽ là sức mạnh dựng xây, khơi dậy hy vọng trong những tâm hồn đang chịu cảnh khó khăn. Mỗi người chúng ta được mời gọi sống sứ vụ loan báo Tin Mừng bằng chính sự yêu thương cụ thể, bằng hành động sẻ chia và phục vụ. Đó chính là lời mời gọi thiết tha mà Chúa và Giáo Hội trao gửi hôm nay: hãy trở thành những chứng nhân của tình yêu Thiên Chúa bất diệt, nhất là với những người đang cần nhất.



Ban Tông đồ- Bác ái xã hội
“Mệt mỏi” là hai tiếng rất chất chứa kinh nghiệm cuộc đời. Người ta mệt mỏi vì gánh nặng của các bổn phận, mệt mỏi vì những cuộc chiến đấu bên trong cũng như bên ngoài mình, mệt mỏi vì bị đè bẹp bởi những áp bức bất công… Có những mệt mỏi với dư vị ngọt ngào, và có những mệt mỏi chua chát đắng cay…
Một ‘tin vui’ của Mùa Vọng, đó là Chúa đến ban sức mạnh cho người mệt mỏi dưới gánh nặng nhọc nhằn đủ loại của đời sống. Lời ngôn sứ Isaia: “Thiên Chúa ban sức mạnh cho kẻ rã rời và thêm sức cho người mệt mỏi. Các trai trẻ cũng mòn mỏi mệt nhọc, các tráng sĩ cũng lao đao vấp ngã. Những ai trông cậy Chúa, sẽ được thêm sức mới, cất cánh bay cao như phượng hoàng, họ chạy mà không mệt, họ đi mà không mỏi”…
Còn chính Chúa và đường lối của Chúa thì rất êm ái và nhẹ nhàng! Như những lời vô cùng an ủi của Chúa Giêsu: “Hãy đến với Ta, hỡi tất cả những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi. Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an. Vì ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng”.
“Hãy đến với Ta”! Lời kêu gọi tha thiết này của Chúa Giêsu cho thấy không chỉ chúng ta mong mỏi Chúa đến với mình, mà chính Người cũng mong mỏi chúng ta đến với Người. Nói cách khác, Chúa đến với ta để kêu gọi ta đến với Chúa – và nếu trước hết Chúa không vượt qua quãng cách thăm thẳm giữa trời và đất, thì ta không có cách nào đến với Chúa được.
Vì thế, cách tốt nhất mừng đón Chúa đến, đó là chúng ta đến với Chúa, để gặp Chúa, và Người sẽ xua tan những mệt mỏi nhọc nhằn nơi chúng ta.
Lm. Lê Công Đức
Tôi đã đi qua nhiều mùa Vọng. Những tuần nến tím, những bài đọc quen thuộc, những lời mời gọi tỉnh thức và sám hối… đã trở thành một phần thân thuộc của hành trình đời tu. Thế nhưng, khi dừng lại và nhìn thật sâu vào chính mình, tôi nhận ra sự đổi thay nơi tâm hồn dường như chẳng được bao nhiêu. Có những năm tôi bước vào mùa Vọng chỉ như bước vào một chu kỳ phụng vụ khác: làm những điều phải làm, đọc những điều phải đọc, giữ những điều phải giữ… nhưng lòng thì chẳng thực sự chuyển động.
Có lẽ vì thế mà năm nay, khi Mùa Vọng lại trở về, tôi cảm thấy như Chúa đang thì thầm với chính tôi: “Con đừng để Mùa Vọng trôi qua một cách hờ hững như những lần trước.”
Mùa Vọng – không chỉ là ký ức hay nghi thức
Tôi bắt đầu hiểu rằng Mùa Vọng không chỉ là ký ức về một biến cố đã xảy ra hơn hai ngàn năm trước; không chỉ là ánh điện, hang đá, những chuẩn bị tươm tất bên ngoài. Mùa Vọng còn là thời gian để tôi thức tỉnh:
Đây là mùa Chúa mời gọi tôi để Ngài chạm vào những khoảng sâu thẳm nhất trong tâm hồn – nơi tôi vẫn dè dặt, vẫn chưa dám mở lòng để Ngài bước vào. Đó là những nỗi thất vọng còn dư âm, những giới hạn khiến tôi sợ hãi, những vết thương chưa lành, những đổ vỡ trong tương quan khiến tôi khép kín. Vì thế, bao Mùa Vọng đã đến rồi đi, còn tôi thì vẫn đứng nguyên một chỗ.
Mong sống Mùa Vọng năm nay với một tâm tình mới
Năm nay, Mùa Vọng lại đến và tôi mong mình có thể sống một tâm tình khác. Tôi mong Mùa Vọng trở thành một khoảng dừng thật sự, dù nhỏ bé nhưng có thể mở một lối mới trong tâm hồn.
Tôi muốn để Lời Chúa không chỉ được đọc lên, mà trở thành nhịp đập âm thầm bên trong tôi. Tôi muốn để lời mời gọi tỉnh thức không chỉ chạm vào tai, mà chạm vào những ước muốn đã ngủ quên từ lâu. Tôi muốn dọn lại căn phòng nội tâm bằng sự can đảm để Chúa bước vào trong con người thật của tôi.
Tập nhận ra Chúa trong đời sống hằng ngày
Tôi cũng muốn tập nhận ra Chúa trong đời sống cộng đoàn mỗi ngày:
Có lẽ “Chúa đến” không nằm ở những điều lớn lao, nhưng ở chính những tương quan và công việc thường ngày. Nếu tôi biết mở lòng và nhìn sâu hơn, có lẽ tôi sẽ thấy Ngài đang đến với tôi nhiều hơn tôi nghĩ.
Trở về với niềm hy vọng ban đầu
Vì thế, Mùa Vọng trở thành lời mời gọi tôi trở về với niềm hy vọng thuở ban đầu của ơn gọi – niềm hy vọng rằng Chúa vẫn dẫn tôi đi, rằng Ngài vẫn đang làm điều gì đó nơi tôi, và những yếu đuối của tôi chẳng bao giờ vượt quá lòng thương xót của Ngài.
Ước nguyện dám đổi thay
Tôi ước mong Mùa Vọng năm nay không chỉ là một mùa trôi qua vội vã như bao mùa trước kia. Xin Chúa đánh thức trong lòng chúng ta một điều gì đó mới mẻ; xin Người khơi dậy những thao thức đã ngủ quên từ lâu. Xin Chúa đến không chỉ trong những hang đá rực rỡ nhưng trong chính cõi lòng mỏng manh của tôi, nơi Ngài vẫn kiên nhẫn chờ đợi để được bước vào.
Và chỉ cần một đổi thay nhỏ, một lần mở lòng thật sự, một cử chỉ yêu thương, hay một phút giây thinh lặng trọn vẹn… cũng đủ làm cho Mùa Vọng này trở nên khác hẳn mọi năm.
Lạy Chúa, xin cho Mùa Vọng năm nay đánh thức con. Xin đừng để con chỉ sống lại những thói quen cũ, nhưng cho con biết mở lòng để thực sự chờ đón Chúa đến. Amen.
Maria Nguyễn Hạnh (Học Viện)