Đang kể chuyện Chúa hiện ra thì… Chúa hiện ra! Biết rằng các môn đệ còn choáng váng trước cái chết thập giá của Thầy mình, Chúa Phục sinh đã giải thích cho họ rằng “cần phải ứng nghiệm hết mọi lời đã ghi chép về Thầy trong luật Môsê, trong sách tiên tri và thánh vịnh”, nghĩa là “Ðấng Kitô sẽ phải chịu thương khó, và ngày thứ ba Người sẽ từ cõi chết sống lại” (x. Lc 24,35-48).
Không chỉ các môn đệ choáng váng về biến cố thập giá, mà cả những người Do thái (nghe lời rao giảng của các Tông đồ và tin vào Chúa Giêsu) cũng buồn phiền về cái sai lầm lịch sử trong việc đóng đinh Chúa ấy. Cả ở đây, Phê rô cũng vấn an họ, rằng vì họ không biết, và rằng “Thiên Chúa đã hoàn tất việc Người dùng miệng các tiên tri mà báo trước. Ðức Kitô của Ngài phải chịu khổ hình” (x. Cv 3, 13-15.17-19).
Như vậy, ‘ĐẤNG KI TÔ PHẢI CHỊU KHỔ HÌNH’ là một chủ đề lớn của Chúa nhật 3 Phục sinh hôm nay. Đây là mầu nhiệm, ta mãi mãi không hiểu hết được đâu. Tuy nhiên, có vài điều khá rõ:
Thứ nhất, sự việc Đấng Ki tô phải chịu khổ hình không hề biện minh cho những ai đã đày đoạ và giết chết Người trong cuộc khổ hình ấy.
Thứ hai, cuộc khổ hình và cái chết ấy đã dẫn đến Phục sinh, điều này cho thấy Thiên Chúa rút ra được điều hết sức tốt lành ngay cả từ những sự dữ của con người.
Thứ ba, từ hai ghi nhận trên, điều mà những ai trách nhiệm về ‘cái chết của Chúa’ trong biến cố ấy, cũng như tất cả những ai thấy mình tội lỗi ở mọi nơi và mọi thời, cần phải làm chính là: 1/ “anh em hãy ăn năn hối cải, ngõ hầu tội lỗi anh em được xoá bỏ”; 2/ tin tưởng vào ơn tha thứ nhờ chính cái chết đền tội của Chúa Giêsu (“nếu có ai đã phạm tội, thì chúng ta có Ðức Giêsu Kitô, Ðấng công chính, làm trạng sư nơi Ðức Chúa Cha; chính Người là của lễ đền tội chúng ta; không nguyên đền tội chúng ta mà thôi, nhưng còn đền tội cho cả thế gian”, x. 1Ga2,1-5a); và 3/ làm chứng cho Tin Mừng Phục sinh của Chúa (“Còn anh em, anh em sẽ làm chứng nhân về những điều ấy”)…
Bạn thấy đó, Tin Mừng Phục sinh mời gọi chúng ta HỐI CẢI và LÀM CHỨNG!
Và nếu muốn rút gọn hơn nữa, thì HỐI CẢI chính là LÀM CHỨNG, xét như bước thiết yếu đầu tiên của cả tiến trình!
Lm. Lê Công Đức
Mọi người còn đang bàn chuyện thì Chúa Giêsu hiện ra đứng giữa họ và bảo: “Bình an cho anh em” (Lc 24, 36).
Bầu không khí ảm đạm đang bao trùm lấy căn phòng tối tăm, đóng kín mít vì các Tông đồ sợ người Do thái. Các ông đang xôn xao bàn luận với nhau về một tin động trời: “Chúa Giêsu đã Phục Sinh?” Người được Chúa hiện ra thì quả quyết: “Chúa đã sống lại thật rồi, chính Người đã hiện ra với chúng tôi và chúng tôi nhận ra Người khi Người bẻ bánh”, còn những người chưa được diễm phúc nhìn thấy Chúa Phục Sinh thì khăng khăng: “Không thể nào có chuyện đó, chắc chắn các ông hoa mắt, chuyện này thật hoang đường”. Cuộc bàn luận đang đến lúc cao trào vì ai ai cũng khư khư giữ quan điểm của mình thì đột nhiên cả căn phòng rực sáng vì sự xuất hiện của Chúa Giêsu Phục Sinh. Người hiện ra đứng giữa các ông và bảo: “Bình an cho anh em”.
Có bao giờ khi suy niệm đoạn Tin Mừng này chúng ta tự hỏi: “Tại sao Chúa Giêsu không hiện ra ở phía trước, phía sau hay ở bên cạnh mà Người hiện ra đứng giữa các ông không?” Điều này cho thấy Chúa Giêsu là trung tâm điểm, Người không đứng ở bên ngoài hay bên cạnh mà là ở giữa các ông, nếu các ông chỉ quy về chính mình thì các ông sẽ không tìm gặp được Chúa.
Tại sao các Tông đồ không tìm được tiếng nói chung? Tại sao những người còn lại không tin lời hai môn đệ trên đường Emmau? Chúa Giêsu hiện ra đứng giữa các ông, như lời nhắc nhở các ông đã quên đặt Chúa ở trung tâm điểm. Trong các cộng đoàn, các giáo xứ, các hội đoàn hay trong các gia đình, mọi người không tìm được tiếng nói chung, luôn có những bè phái, bất đồng xảy ra, thậm chí là những cuộc hôn nhân tan vỡ, ly khai khỏi Giáo Hội, rời bỏ cộng đoàn… vì chúng ta đề cao cái tôi mà quên đặt Chúa làm trung tâm, là điểm quy chiếu trong cuộc sống của chúng ta. Như thế, điều cần thiết để chúng ta xây dựng sự bình an, hiệp nhất và tình yêu là đặt Chúa làm trung tâm điểm trong môi trường mà chúng ta đang sống và phục vụ.
Lời đầu tiên Chúa Giêsu Phục Sinh nói với các ông không phải: “Thầy chào anh em”, “Anh em có khỏe không?”, hay là “Anh em đang bàn luận với nhau chuyện gì đó?” nhưng câu đầu tiên mà Người nói là: “Bình an cho anh em”. Người biết điều gì cần nhất cho các Tông đồ lúc này, Người biết trong lòng các ông bây giờ đầy nỗi lo âu, sợ hãi, xen lẫn sự nghi ngờ. Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra và mang đến cho các ông sự bình an mà thế gian không thể ban tặng cũng như không thể lấy mất. Đồng thời Chúa cũng không quên quở trách các ông: “Sao các con bối rối và lòng các con lo nghĩ như vậy? Suốt ba năm trời các Tông đồ cùng chung chia với Thầy, cùng ăn cùng uống, được Thầy giáo huấn đêm ngày vậy mà Thầy vừa nằm xuống, mọi điều Thầy dạy năm xưa tan thành mây khói. Nỗi sợ hãi làm lu mờ tâm trí các ông khiến các ông không còn nhớ những lời mà chính Thầy đã tiên báo: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại.” (Mc 9, 31). Một lần nữa Chúa lại đi bước trước khi hỏi: “Ở đây anh em có gì ăn không?”. Chúa làm như vậy không phải vì Chúa cảm thấy đói nhưng Chúa muốn hiện diện với các ông như là một con người thật, một người Thầy thật sự chứ không phải là ma. Qua đó Người củng cố lòng tin cho họ.
Có bao giờ cuộc sống của chúng ta bị bao phủ bởi mây mù khiến chúng ta không còn tin vào sự hiện diện của Thiên Chúa, hay một một điều gì đó làm chúng ta bất an, một nỗi đau khổ làm chúng ta ray rứt, hay có bao giờ chúng ta bị kẹt vào một bế tắc không có lối thoát… Những lúc đó chúng ta đã làm gì? Chúng ta đi tìm ai? Ai sẽ là người giúp chúng ta thoát khỏi những điều đó? Thật vậy, cuộc sống của chúng ta không phải lúc nào cũng êm đềm, con đường chúng ta đi không phải lúc nào cũng trải đầy hoa hồng. Nếu như, chúng ta chỉ biết loay hoay với chính mình thì chúng ta sẽ không bao giờ thoát ra được, chúng ta cần phải mở lòng ra với Chúa để Chúa đi vào cuộc đời chúng ta, bởi vì, chỉ có Người mới có bình an đích thực và chỉ có Người mới biết rõ chúng ta đang cần gì nhất.
Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh! Chúa đã ban tặng chúng con nguồn bình an đích thực, xin cho mỗi người chúng con mỗi ngày biết chạy đến cùng Chúa, biết đặt Chúa là trung tâm điểm cuộc đời chúng con để chúng con kín múc được nguồn bình an của Chúa và lan tỏa nguồn bình an đó cho những người chúng con gặp gỡ. Amen.
Catarina Trần
Chiều. Rồi tối. Các môn đệ xuống thuyền… mà chẳng thấy Chúa Giêsu đâu… Chèo thuyền trong sóng to gió lớn, họ đang hoảng sợ, thì Thầy đến! Thầy đi trên mặt nước đến với họ, và nói: “Đừng sợ, có Thầy đây!” Thì ra, chẳng thấy Chúa Giêsu đâu, điều đó không có nghĩa là không có Chúa ở với mình. Lúc ta tuyệt vọng nhất… lúc ta thấy chỉ có một mình… lúc ta bất lực trước sóng gió dập vùi, mà không thấy Chúa đâu, thì vẫn có Chúa đó. Chúa có mặt theo cách của Chúa, cách mà ta không ngờ.
Câu chuyện Tin Mừng này là chất liệu cho buổi cầu nguyện của toàn thế giới dưới sự hướng dẫn của Đức thánh cha Phan xi cô hồi đại dịch Covid-19 đang hoành hành dữ dội. Rất nhiều người đã tìm lại được niềm hy vọng và tin tưởng từ buổi cầu nguyện và chiêm ngắm đầy cảm động đó. Hy vọng, tin tưởng, vì biết rằng Chúa vẫn có đó với mình, và vẫn lên tiếng trấn an mình: “Đừng sợ, chính Thầy đây!”
Thầy quan tâm như thế, nên học trò của Thầy cũng học để biết quan tâm đến những người yếu kém và khốn khổ. Như chuyện các phó tế đầu tiên hôm nay: Chức phó tế đã bắt đầu từ đâu, trong bối cảnh nào vậy? Trong bối cảnh cộng đoàn tăng số và các bà goá thuộc nhóm Hy lạp bị khinh miệt, bỏ bê, xung quanh việc phục vụ các bữa ăn! Các Tông đồ không chấp nhận điều đó, và thế là chúng ta có một thừa tác vụ chuyên ‘phục vụ bàn ăn’, để bảo đảm rằng các bà goá tội nghiệp kia không còn bị khinh miệt nữa.
Phục vụ bàn ăn – nhưng không phải không đòi hỏi phẩm chất đáng tin cậy! Hãy nghe các Tông đồ nói: “Vậy thưa anh em, anh em hãy chọn lấy bảy người trong anh em có tiếng tốt, đầy Thánh Thần và khôn ngoan, để chúng tôi đặt họ làm việc đó.” Và ta thấy, nhờ “có tiếng tốt, đầy Thánh Thần và khôn ngoan”, mà tác vụ của các phó tế ngay từ buổi ban đầu không chỉ giới hạn nơi việc phục vụ bàn ăn vật chất mà thôi. Các vị chăm sóc cả bàn ăn thiêng liêng, bàn ăn Lời Chúa trong sứ vụ giảng dạy cho dân chúng nữa!
Chúng ta cầu nguyện cho các thừa tác viên chức thánh của chúng ta, và cầu nguyện cho chính mình, được “có tiếng tốt, đầy Thánh Thần và khôn ngoan”, để cho phép Chúa sử dụng mà chăm sóc, nâng đỡ những anh chị em khốn khổ đáng thương của Chúa…
Lm. Lê Công Đức
Sự kiện này đánh dấu bước đầu tiên trong một quá trình lâu dài nhằm tôn vinh Ruíz-Abad trở thành một trong những vị thánh trẻ nhất trong lịch sử Giáo hội.
Đức Cha Renato Mayugba, Giám mục của Laoag City, đứng đầu tòa án để nghe các nhân chứng làm chứng về cuộc đời và sự thánh thiện của vị Tôi tớ Chúa trẻ tuổi Ruíz-Abad, người được mô tả là “nguồn cảm hứng của lòng đạo đức, lòng thương xót, việc truyền giáo và sức mạnh cho người khác”.
Một đoạn video tái hiện cuộc đời của Ruíz-Abad đã được chiếu trong buổi khai mạc án phong chân phước, mang đến cho người tham dự một cái nhìn thoáng qua về cuộc đời của thiếu nữ với lòng đạo đức sâu sắc và tình yêu dành cho Chúa ngay từ khi còn rất nhỏ. Khi còn là một trẻ em, Ruíz-Abad luôn chăm chú cầu nguyện trước Thánh Thể, với hai cánh tay dang rộng về phía Chúa và thích phân phát thẻ cầu nguyện và các hình ảnh tôn giáo, đặc biệt là về “Santo Niño” (Chúa Giêsu Hài đồng), cho các giáo viên và bạn học của em. Đoạn video cho thấy một thiếu nữ không hề bối rối khi bị chẩn đoán mắc bệnh tim nan y và đã nói với người mẹ đang đau khổ của mình: “Mẹ đừng lo lắng; không sao đâu – Chúa sẽ chữa lành cho con!”.
Cha Dennis Ruíz, thỉnh nguyện viên của án, nhấn mạnh tầm quan trọng của tấm gương của Ruíz-Abad, đặc biệt đối với giới trẻ ngày nay, giống như Chân phước Carlo Acutis. Cha nói: “Nhiều người trẻ ngày nay bận tâm đến công nghệ, thời trang, vui chơi, thú vui và ham muốn vật chất trần tục, những điều này đôi khi khiến họ không chú ý đến những mối quan hệ lành mạnh, đặc biệt là [mối quan hệ] với Thiên Chúa”. “Với những gia đình không chu toàn chức năng và sự tan rã của gia đình trong xã hội ngày nay, trẻ em thường là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, điều này khiến các em tìm đến môi trường của mình để được an ủi và xoa dịu. Nhưng nếu có một tấm gương đạo đức và nghị lực tốt cho tuổi trẻ, họ có thể được cứu khỏi sự diệt vong hoàn toàn. Việc hiểu biết về tính cách và đặc điểm của Niña cũng như đức tin mạnh mẽ của cô đối với Thiên Chúa sẽ là kim chỉ nam cho giới trẻ”.
Ngay sau phiên họp khai mạc, Tòa án Giáo phận Laoag và những người tham dự phiên họp đã đến viếng mộ Tôi Tớ Chúa Ruíz-Abad tại Nhà thờ Thánh Monica ở Sarrat, thành phố Ilocos Norte.
Đơn thỉnh cầu phong chân phước và phong thánh cho Ruíz-Abad là một phần trong nỗ lực rộng lớn hơn của Giáo hội nhằm công nhận các vị thánh thời hiện đại, những gương mẫu cho người Công giáo trong thế kỷ 21. Giáo hội Công giáo muốn công nhận các vị thánh đã thực hành đức tin trong đời sống bình thường của cuộc sống hiện đại.
Đức Cha Mayugba đã khuyến khích: “Xin cho cuộc đời của Ruíz-Abad, dù ngắn ngủi, truyền cảm hứng cho tất cả chúng ta đặt Thiên Chúa lên hàng đầu trong cuộc sống của mình”.
Sáng thứ Sáu, ngày 12/4/2024, tại sảnh Clêmentê trong nội thành Vatican, Đức Thánh Cha đã tiếp các thành viên Quỹ Giáo hoàng hành hương Roma dịp Phục sinh. Ngài cám ơn và khích lệ mọi người tiếp tục hỗ trợ những người kế vị Thánh Phêrô trong khi thi hành sứ vụ.
Được thành lập vào năm 1988, sứ vụ của Quỹ Giáo hoàng ở Hoa Kỳ là “phục vụ Đức Giáo Hoàng và Giáo hội Công giáo” trong các nhu cầu bác ái trên thế giới, bao gồm việc đào tạo các linh mục, tu sĩ và giáo dân; trợ giúp cho các nhà nội trú Công giáo và các cơ sở y tế; các chương trình ủng hộ sự sống; chăm sóc các linh mục và tu sĩ lớn tuổi; và nơi trú ẩn cho người lớn và trẻ em vô gia cư.
Trong bài nói chuyện với 140 người đến từ Hoa Kỳ, Đức Thánh Cha nhắc lại từ khi thành lập, Quỹ Giáo hoàng đã trở thành phương tiện truyền tải niềm vui Phục sinh bằng cách mang lại sự gần gũi, lòng trắc ẩn và tình yêu dịu dàng của Chúa Giêsu đến với nhiều anh chị em trên thế giới.
Ngài nói: “Qua những sáng kiến tốt đẹp này, anh chị em tiếp tục giúp đỡ những người kế vị Thánh Phêrô xây dựng nhiều nhà thờ địa phương và chăm sóc nhiều người kém may mắn, nhờ đó các vị hoàn thành sứ vụ được Chúa uỷ thác cho Thánh Tông đồ. Cám ơn lòng quảng đại của anh chị em”.
Đức Thánh Cha nhấn mạnh thêm rằng công việc của các thành viên bén rễ và tìm được cảm hứng từ đức tin Công giáo. Đức tin này cần phải được tiếp tục nuôi dưỡng bằng việc tham gia vào đời sống Giáo hội, lãnh nhận các Bí tích, và dành thời gian thinh lặng trước Chúa để cầu nguyện và tôn thờ. Nhờ cầu nguyện liên lỉ, dần dần chúng ta sẽ trở nên “một lòng một ý” (Cv 4, 32) với Chúa Giêsu và với anh chị em khác, từ đó chuyển thành tình liên đới và chia sẻ lương thực hằng ngày của chúng ta.
Trong đời sống thiêng liêng, hoa trái này rất quan trọng đối với mọi người, vì thực tế các thành viên Quỹ Giáo hoàng không trực tiếp tiếp xúc với những ai họ giúp đỡ, nhưng các chương trình của Quỹ thúc đẩy liên kết tinh thần và tình huynh đệ với những người thuộc mọi nền văn hoá, ngôn ngữ, tôn giáo và khu vực khác nhau.
Đức Thánh Cha kết luận: “Hơn bao giờ hết, sự phục vụ của anh chị em cần thiết trong thời nay, vốn bị đánh dấu bởi chủ nghĩa cá nhân và sự dửng dưng”.
Đọc câu chuyện trong sách Công vụ liên quan tới ông Gamaliel, có chi tiết đáng nêu ra đây: Ông Gamaliel tỏ ra dè dặt, khôn ngoan, khi chưa kết luận vội về việc các Tông đồ làm là do Thiên Chúa hay do con người. Những người trong công nghị đồng ý với Gamaliel, nhưng họ “cho gọi các tông đồ vào, ra lệnh đánh đòn các ngài, và cấm tuyệt đối không được nhân danh Ðức Giêsu mà giảng dạy nữa, đoạn tha các ngài về”! Đã đồng ý rằng cần phải dè dặt, thận trọng, thế mà vẫn đánh đòn người ta, và vẫn cấm người ta giảng dạy! Chi tiết này cho thấy sự bừa bãi, độc đoán, tàn nhẫn, xem người ta như rơm rác! Vậy nếu họ không dè dặt, thì sự lộng hành và độc tài toàn trị của họ còn đến mức nào nữa?
Ở một diễn biến khác, và theo chiều ngược lại: Trong bối cảnh cần nuôi đám đông đang đói mà Thầy trò nhìn quanh chẳng thấy có gì, Chúa Giêsu đã làm một dấu lạ ngoạn mục, đó là từ năm cái bánh và hai con cá, Người đã nhân lên vô số bánh và cá cho mọi người ăn no nê. Quyền năng là vậy, bánh và cá đã trở thành dư thừa là vậy… mà Chúa Giêsu đã rất tinh tế khi truyền thu gom những mẩu thức ăn thừa, kẻo uổng phí! Chúa không phung phí ngay cả những mẩu thức ăn thừa. Chúa không lạm dụng phép lạ. Chúa dạy các môn đệ của Người bài học tinh tế và trân trọng ngay cả những chi tiết nhỏ, chứ không theo ‘nền văn hoá vứt bỏ’ (throw-away culture).
Trở lại với cách hành xử tuỳ tiện, bừa bãi của những người trong công nghị Do thái trên kia. Ta thấy, thật bất ngờ, những đòn roi và những sự cấm đoán của họ đã trở thành các yếu tố làm tôn lên thái độ can đảm và kiên trung của các Tông đồ trong sứ mạng rao giảng của mình. Vừa bị đánh đòn và bị cấm đoán xong, “các ngài ra khỏi công nghị, lòng hân hoan, vì thấy mình xứng đáng chịu sỉ nhục vì Danh Ðức Giêsu. Và hằng ngày, tại đền thờ hay tại tư gia, các ngài cứ tiếp tục giảng dạy, và loan truyền Tin Mừng Ðức Giêsu Kitô.”
Ta đừng quên, các Tông đồ đã từng rất sợ hãi xung quanh cái chết của Chúa Giêsu. Nhưng chính Thánh Thần của Chúa Phục sinh đã biến những con người khiếp đảm trước kia trở thành mạnh mẽ và bất khuất như thế!
Lm. Lê Công Đức
Lời chứng của Gioan Tẩy giả về Chúa Giêsu nhằm xác nhận nguồn gốc của Người là từ Thiên Chúa, từ trên cao, do đó Người được ban cho đầy tràn Thánh Thần. Vì thế, lời chứng của Chúa Giêsu về Thiên Chúa Cha có một thế giá tuyệt đối và vô song. Chúa Giêsu nói lời của Chúa Cha. Đó là lý do tại sao ai tin vào Chúa Giêsu thì được sự sống đời đời.
Ta thấy một chuỗi lời chứng: Cội nguồn là Chúa Cha; Chúa Con làm chứng cho Chúa Cha, trong Thánh Thần; Gioan Tẩy giả, trong tư cách là ngôn sứ, làm chứng cho Chúa Giêsu bằng những xác nhận rõ ràng và chính xác mà sau này sẽ được chứng thực trong ánh sáng của mầu nhiệm Phục sinh: “Cha yêu mến Con, nên đã ban mọi sự trong tay Con. Ai tin vào Con thì có sự sống đời đời. Còn ai không tin vào Con, thì sẽ không được thấy sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên người ấy”.
Phê rô và các Tông đồ, đến lượt mình, cũng kinh nghiệm Thánh Thần được ban cho, và cũng đứng vào chuỗi nhân chứng trong công cuộc duy nhất mà bất tận ấy: “Chúng tôi là nhân chứng các lời đó cùng với Thánh Thần, Ðấng mà Thiên Chúa đã ban cho mọi kẻ vâng lời Người.”
Chúng ta lưu ý, Thánh Thần luôn có mặt và luôn được nhắc đến trong vai trò làm chứng của các ngôn sứ, của chính Chúa Giêsu, và của các Tông đồ! Phê rô còn khẳng định rõ: Ai vâng lời Thiên Chúa thì được ban cho Thánh Thần!
Thánh Thần có tầm quyết định như vậy, nhưng Thánh Thần thì vô hình… nên nhiều khi chúng ta nghĩ hay nói về Thánh Thần một cách bàng bạc, mông mênh, trơn tuột! Có thể là thiếu xác tín! Thế mà chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của Thánh Thần, hay nói chính xác hơn, kỷ nguyên của Giáo-hội-và-Thánh-Thần!
Xin Thánh Thần của Chúa Phục sinh giúp chúng ta ‘cảm giác’ về sự đồng hành và hoạt động của Ngài cách rõ rệt hơn, để đức tin của chúng ta được nâng đỡ hơn, và lời chứng của chúng ta về Tin Mừng Phục sinh có sức thuyết phục hơn!
Lm. Lê Công Đức
Giảng dạy dân chúng… bị bắt, bị tống ngục… giữa đêm thiên thần đến mở tung cửa ngục để giải thoát… được giải thoát rồi, lại vào Đền thờ để giảng dạy như trước… rồi lại bị bắt!…
Đó là điều đã xảy ra với các Tông đồ. Đọc câu chuyện này, ta thấy như thể trò đùa… như ‘bắt cóc bỏ dĩa’! Ta thấy sự bất lực nhưng cứ cố chấp của quyền lực thế gian độc đoán. Và nhất là, ta thấy bản lĩnh mạnh mẽ lạ lùng của các Tông đồ. Các ngài không sợ hãi nữa, ngược lại, các ngài rất ung dung tự tại… Chỉ có một quan tâm là rao giảng Chúa Giêsu Ki tô mà thôi! Còn sống là còn rao giảng, lúc thuận tiện và lúc khó khăn đều rao giảng!
Nhưng các Tông đồ lấy đâu ra bản lĩnh mạnh mẽ ấy? Các ngài không phải là những robot mình đồng da sắt! Các ngài cũng ‘xương da thịt mềm’, cũng biết đau trước đòn roi, cũng biết đói biết rét như bất cứ ai!… Chỉ có một sự giải thích thôi, đó là sức mạnh tinh thần, sức mạnh của những con người cảm nhận mình được Thiên Chúa yêu thương hết tình và muốn đáp trả cũng hết tình như thế. Sức mạnh của những con người được chinh phục bởi sự thật và ánh sáng, nên có sự tự do để hành động trong ánh sáng và sự thật!
Đó là những gì mà chính Chúa Giêsu đã vén mở và phân tích rõ trong cuộc chuyện với Nicodemo: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin ở Con của Người, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời… Ai hành động xấu xa thì ghét sự sáng, và không đến cùng sự sáng, sợ những việc làm của mình bị khiển trách, nhưng ai hành động trong sự thật, thì đến cùng sự sáng, để hành động của họ được sáng tỏ, là họ đã hành động trong Thiên Chúa”.
Vâng, tình yêu, sự thật, ánh sáng bị dập vùi trong câu chuyện của Chúa Giêsu, trong câu chuyện của các Tông đồ thuở ban đầu, và tiếp tục trong câu chuyện của các thế hệ tông đồ suốt dòng lịch sử, cho đến tận cùng thời gian. Nhưng dù người ta dập vùi đến mấy, cũng không tiêu diệt được! Chúa Giêsu đã chiến thắng. Tình yêu, sự thật, ánh sáng của Ngư
Lm. Lê Công Đức
Chúa Giêsu sống lại, rồi thì điều gì xảy ra tiếp theo? Như ta thấy trong những ngày qua, Chúa hiện ra lần lượt với một số người, chỉ trong một thời gian ngắn, rồi Người không hiện ra nữa. Thay vào đó, có những sự kiện mang tính dấu ấn, đó là Chúa Giêsu lên trời, và Chúa Thánh Thần hiện xuống – là hai lễ mừng quan trọng sắp tới của chúng ta.
Thật ra, Chúa Giêsu đã từng ám chỉ về ‘Lên Trời’ và ‘Hiện Xuống’ khi còn trong sứ vụ rao giảng của Người. Chẳng hạn, những lời Người nói với Nicodemo: “Không ai lên trời được, ngoài người đã từ trời xuống, tức là Con Người vốn ở trên trời”. Cùng trong ngữ cảnh này, Người nói về ‘Hiện Xuống’, tức về Chúa Thánh Thần: “Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió, nhưng chẳng biết gió từ đâu đến và đi đâu: mọi kẻ sinh bởi Thần Linh cũng vậy”.
Như vậy, ngay từ những ngày này, chúng ta đã được hé mở về những mầu nhiệm tiếp theo sau Phục sinh, trong một công cuộc duy nhất là lịch sử cứu độ. Điều này cũng có nghĩa là chúng ta được mời gọi hướng lòng về ‘những sự trên trời’, tức là quê hương chung cuộc và vĩnh cửu của chúng ta. Nhờ Thánh Thần của Chúa Phục sinh, chúng ta sẽ đi hết hành trình, cho đến đó.
Việc sống trong Thánh Thần và hướng lòng về những sự trên trời sẽ làm nên sự khác biệt giữa các tín hữu và những người không tin. Các tín hữu vẫn đi trên mặt đất, nhưng cách nghĩ cách làm thì ở ‘cõi trên’, và do đó không luôn luôn được mọi người khác hiểu mình – như điều được nhận thấy nơi cộng đoàn các Ki tô hữu sơ khai: “Bấy giờ tất cả đoàn tín hữu đông đảo đều đồng tâm nhất trí. Chẳng ai kể của gì mình có là của riêng, song để mọi sự làm của chung… Vì thế, trong các tín hữu, không có ai phải túng thiếu. Vì những người có ruộng nương nhà cửa đều bán đi và bán được bao nhiêu tiền thì đem đặt dưới chân các tông đồ. Và người ta phân phát cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu của họ. Ông Giuse, … quê ở Cyprô, có một thửa ruộng, ông bán đi và đem tiền đặt dưới chân các tông đồ.”
Đoạn sách Công vụ trên rất thú vị. Lý thuyết cộng sản ban đầu hẳn có mượn cảm hứng một phần từ nó. Nhưng thực tiễn thì chẳng thấy dấu hiệu gì, dù le lói ở chân trời, mà chỉ thấy ngược lại. Nhưng đối với Ki tô giáo, hình ảnh cộng đoàn tín hữu như mô tả trên vẫn sáng rực ở chân trời. Vì trong khi chúng ta ủng hộ quyền tư hữu, chúng ta vẫn xác tín nguyên tắc rằng mọi của cải đều nhằm để được sử dụng cho thiện ích chung – hay nói cách khác, người nghèo khổ thiếu thốn có quyền trên của cải dư thừa mà người giàu sở hữu (x. Fratelli tutti, 118-120, cách riêng khi Thông điệp này trích dẫn giáo huấn của thánh Gioan Kim khẩu và thánh Gregory Cả).
Nói chung, Chúa sống lại và lên trời, ta xin ơn “ái mộ những sự trên trời” là ta muốn có đủ lòng quảng đại để chia sẻ theo tinh thần ‘cõi trên’ một chút, dù người xung quanh mình có hiểu hay không…
Lm. Lê Công Đức
Lễ Truyền Tin trước hết là lễ về ‘ƠN GỌI’ của… Chúa Giêsu!
Biến cố Nhập Thể đánh dấu sự ‘vào cuộc’, hạ giáng của Con Thiên Chúa để đảm nhận công cuộc mà Chúa Cha trao phó. Điều này chỉ được đọc thấy giữa các dòng chữ của trình thuật Tin Mừng Truyền Tin, nhưng trong phần còn lại của Phụng vụ Lời Chúa thì rất rõ ràng, nhất là Thánh vịnh 39 (Đáp ca) và Thư gửi tín hữu Do thái: “Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Chúa!”
Nhưng để Con Thiên Chúa có thể nhập thể, làm người và thực thi ý Chúa Cha, thì cần huy động Đức Maria đứng vào và giữ vai trò nhất định trong kế hoạch này. Vì thế, trình thuật Truyền Tin cũng là trình thuật về ƠN GỌI của Đức Maria. Mẹ được Thiên Chúa kêu gọi, và Mẹ sẵn sàng mau mắn hưởng ứng: “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên thần truyền”.
Câu đáp trên đây là dịch thoát. Dịch sát hơn thì đó là: “Này tôi là tôi tớ Chúa, xin hãy làm (fiat) cho tôi như lời sứ thần nói!” Nghĩa là, công cuộc của Chúa, Chúa làm, còn Mẹ tình nguyện làm dụng cụ trong tay Chúa để Chúa sử dụng! Như vậy, một câu chuyện bao gồm hai tiếng gọi, hai lời đáp trả (của Con Thiên Chúa và của Đức Maria). Nhưng hai lời đáp trả ấy theo cùng một khuôn mẫu thôi, đó là: Dâng chính mình cho Thiên Chúa, để chương trình của Thiên Chúa được thực hiện!
Dù chúng ta là ai, mỗi người đều có ƠN GỌI, tức tiếng gọi của Thiên Chúa dành cho mình, và mọi người đều được kỳ vọng thực thi ý Chúa bằng tất cả năng lực và con người của mình – nghĩa là theo khuôn mẫu của Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Có người sẽ thắc mắc: lấy vợ, lấy chồng, bao bổn phận đối với gia đình, con cái, rồi những vướng bận trong đời sống xã hội nữa… thì làm sao dâng chính mình để Thiên Chúa sử dụng cho công cuộc của Ngài được?
Câu trả lời là VẪN ĐƯỢC, vì những bổn phận ấy là thánh ý Chúa, là chương trình của Chúa trên cuộc đời của bạn đó. Khi bạn hết lòng chu toàn các bổn phận gia đình và xã hội, trong thái độ của con cái Thiên Chúa, thì đó là bạn đang thưa FIAT như Đức Maria.
Và Triều đại Thiên Chúa sẽ được hoàn thành chính là theo cách này và trong chiều hướng này!
Lm. Lê Công Đức