Hình ảnh ‘ăn cuốn sách’ trong thị kiến của Êdekien thật kỳ lạ. Văn mạch giúp giải thích đủ rõ cho chúng ta: Ăn cuốn sách ấy là ‘ăn lời Chúa’ – tức nhai nuốt và tiêu hoá lời Chúa… như một số vùng phía bắc Việt Nam vẫn nói “ăn nhời” nghĩa là ăn lời, tức vâng lời!
Ăn một cuốn sách, điều này thoạt gợi cảm giác ghê ghê… Nhưng thị kiến này, cũng như Thánh vịnh Đáp ca (Tv 118) xác nhận rõ với ta rằng lời Chúa mà được nhai nuốt và tiêu hoá kỹ, thì sẽ đem lại dư vị “ngọt ngào trong cổ họng”!
Ta thử ngay với lời của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay, xem có ‘ngọt ngào trong cổ họng’ không nào!
-Thứ nhất: Ai hạ mình xuống như trẻ nhỏ, đó là kẻ lớn nhất trong Nước Trời! Nước Trời chỉ toàn những người khiêm nhường thật sự mà thôi. Ai nâng mình lên, tự mãn, phô trương, kiêu căng, hãnh thắng… thì đi đâu đó và ở đâu đó… chứ không có chỗ trong Nước Trời!
-Thứ hai: Một trẻ nhỏ, tức một người bé mọn, thì quí giá khôn sánh trước mặt Chúa… như con chiên lạc được người mục tử đi tìm cho ra, dù phải để 99 con chiên kia ở trong hoang địa! Chỉ một, nhưng được dành trọn quan tâm – vì suy nghĩ và hành động của người mục tử dựa trên định phẩm, chứ không theo định lượng! Phẩm giá con người vô cùng quan trọng, vì thế phẩm giá của một người, ngay cả người bé nhỏ nhất, là vô cùng quan trọng. Không thể nhân danh đa số mà loại trừ thiểu số (như cách mà một số nhà cầm quyền làm trong thời dịch Covid!)…
Lời Chúa như vậy ngọt ngào dễ nuốt, hay là xương xẩu khó nuốt và làm bạn mắc nghẹn? Lưu ý, giáo huấn Thánh Kinh về phẩm giá con người là nền tảng cho Thông điệp Fratelli tutti (2020) của Đức thánh cha Phan xi cô. Thông điệp này là cách thức mà Giáo hội đề nghị với mọi người, cách riêng với giới lãnh đạo các quốc gia, để xây dựng hoà bình thế giới. Và thực tế, nhiều chính phủ tỏ ra khó nuốt Thông điệp này. Xem thế, việc “ăn cuốn sách” lời Chúa thật thách đố biết bao!
Lm. Lê Công Đức
Đoạn sách Êdekien là một thị kiến, trong đó vị ngôn sứ trông thấy những hình ảnh kỳ lạ, biểu tượng vinh quang tột đỉnh của Thiên Chúa. Đó là đặc tính SIÊU VIỆT của Thiên Chúa, hàm nghĩa về sự uy nghi, cao cả, vĩ đại, quyền năng… của Ngài. Thánh vịnh 148 (Đáp ca) là lời ca ngợi sự siêu việt ấy: “Trời đất đầy vinh quang Thiên Chúa!”…
Nhưng Thiên Chúa không chỉ siêu việt, mà Ngài cũng rất NỘI TẠI, gần gũi, nhất là như những gì chúng ta kinh nghiệm trong cuộc Nhập thể của Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. Vốn là Thiên Chúa của trời cao, Giêsu trở thành con người nơi mặt đất này. Là Con của vị Vua tối thượng, Người đảm nhận thân phận một thường dân và phải đóng thuế Đền thờ như bất cứ ai. Vốn sốngtrong vinh quang tột đỉnh, Người chấp nhận chết cái chết ô nhục tận cùng trên thập giá. Nơi Chúa Giêsu, Thiên Chúa siêu việt trở nên gần gũi biết bao!
Có lẽ vấn đề của chúng ta là khó nhận ra sự gần gũi của Thiên Chúa. Chúng ta thích đẩy Chúa ra xa, đẩy lên trên, chọn thái độ ‘kính nhi viễn chi’, vì Chúa siêu việt mà! Đúng nhưng không đủ. Chúa cũng gần gũi chúng ta, và Ngài muốn chúng ta cảm nhận và sống sự gần gũi ấy. Đó là đường đi của mầu nhiệm Nhập thể. Sống sự gần gũi này, chúng ta mới gặp được Chúa cả trong đời thường, trong bất cứ nơi chốn nào mà mình hiện diện, chứ không chỉ gặp Chúa trong lung linh hương khói của cung thánh, bàn thờ, nhà tạm uy nghi cao cả!
Đệ tử nọ hỏi sư phụ “Sao ngày nay người ta không dễ gặp Chúa như ngày xưa?” Sư phụ trả lời: “Vì người ta không cúi xuống đủ sâu!”
Vâng, Chúa xuống thấp nhất rồi, mà ta chỉ ngước lên cao để kiếm tìm, thì khó gặp…
Lm. Lê Công Đức
Sống trường sinh bất tử là khao khát của con người trong mọi thời đại. Con người ra sức tìm kiếm những linh dược tốt nhất, nhưng chẳng có gì có thể làm cho con người sống mãi. Chỉ nơi Thiên Chúa con người mới có sự sống đời đời và Chúa Giêsu chính là tấm bánh trường sinh nuôi dưỡng con người. Còn chúng ta có muốn lãnh nhận tấm bánh này để nuôi dưỡng đời sống chúng ta hay không?
Tình yêu của Chúa luôn tuôn đổ trên cuộc đời của mỗi người. Chúa đã dùng rất nhiều cách khác nhau để đến và ở lại với con người. Hôm nay, Chúa Giêsu mặc khải “Ta là bánh hằng sống” để con người nhận lãnh sự sống trường tồn từ nơi Chúa. Nhưng điều mà Chúa nhận được lại là sự nghi ngờ, thiếu tin tưởng “Ông này chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống? (Ga 6, 42). Đây là câu hỏi mà người Do Thái trước kia đã đưa ra cho Chúa, họ nghĩ rằng Chúa Giêsu chỉ là một con người hết sức bình thường, chỉ là chàng thanh niên con của bác thợ mộc. Họ đưa ra những tiêu chuẩn về “Đấng Hằng Sống” theo như ý riêng của họ…Họ chỉ nhìn vẻ bên ngoài để đánh giá người khác nên họ thiếu chiều sâu nội tâm để nhận ra “Đấng Cứu Độ” đang ngay ở bên cạnh họ. Hậu quả là họ không đón nhận được nguồn sống mới từ nơi Chúa.
Suy nghĩ của người Do Thái hơn hai ngàn năm trước có đang chi phối suy nghĩ của con người ngày hôm nay? Chúng ta có đưa ra bất kỳ tiêu chuẩn nào để tin Chúa không? Chúng ta có dám đặt cược cuộc đời mình để cho Chúa hướng dẫn và nuôi dưỡng chúng ta hay không? Chúng ta có dễ dàng đánh giá người khác chỉ qua vẻ bên ngoài mà thiếu chiều sâu không? Chúng ta có tin tưởng “Chúa là Đấng Hằng Sống” vẫn luôn hiện diện và đồng hành với chúng ta ngay khi chúng ta gặp khó khăn, thử thách hay trong những đêm tối đức tin?
Trước thái độ dửng dưng và nghi ngờ của con người, Chúa vẫn kiên nhẫn, bao dung và chờ đợi. Ngài hướng dẫn họ với một quá trình tiệm tiến “phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với tôi”, “ai tin thì được sự sống đời đời”. (Ga 6, 45;47). Chúa giải thích để họ hiểu và đón nhận sự sống đời đời. Nếu con người thường đưa ra tiêu chuẩn này hay tiêu chuẩn khác để đón nhận Chúa thì điều kiện cần và đủ của Chúa để con người được sự sống đời đời chỉ là “nghe”, “đón nhận”và “tin” vào Chúa. Điều kiện đó nghe có vẻ dễ dàng nhưng thực hành thật là khó bởi cái tôi cồng kềnh, bởi sự hoài nghi, bởi trái tim chai đá của chúng ta quá lớn đến nỗi ta không thể nhận ra Chúa ngay trong cuộc sống đời thường của ta.
Chúa vẫn đang hiện diện rất gần gũi với chúng ta khi chúng ta được rước Chúa hằng ngày. Chúng ta dễ dàng đón rước và mời Chúa ngự vào lòng chúng ta như một vị khách xa lạ khi chúng ta chưa dọn lòng để sẵn sàng chờ đợi Chúa hay có khi lòng chúng ta còn quá nhiều nỗi bận tâm, lo lắng không còn chỗ cho Chúa ngự. Đôi khi chúng ta quên mất rằng tấm bánh mà chúng ta đang lãnh nhận là chính máu thịt Chúa, một tình yêu đến tận cùng Chúa ban tặng cho chúng ta để chúng ta được sống. Chúa Giêsu vẫn là một, hôm nay và cho đến mãi muôn đời, tình yêu của Ngài dành cho chúng ta vẫn không thay đổi. Dù chúng ta có bất tín và tội lỗi, Chúa vẫn chờ đợi chúng ta quay trở về như người Cha mong chờ đứa con yêu của mình. Ước gì mỗi người chúng ta cảm nhận được tình yêu nhưng không của Chúa để luôn giữ vững đức tin, lòng yêu mến Chúa qua việc tham dự thánh lễ, qua đời sống thánh thiện để hình ảnh Giêsu được hiện thực ngay trong cuộc sống của mỗi người.
Maria Thảo An
“Ai gieo ít thì gặt ít; ai gieo nhiều thì gặt nhiều. Mỗi người hãy cho theo như lòng đã định, không phải cách buồn rầu, hoặc vì miễn cưỡng: Thiên Chúa yêu thương kẻ cho cách vui lòng”.
Những câu này trong Thư 2Cr được chọn cho hôm nay để gợi nhớ một đặc nét trong sứ vụ ‘quản lý’/‘thủ quỹ’/‘thủ kho’ của thánh Phó tế Laurenso. Chuyện kể, ngài đã phân phát tài sản Giáo hội cho người nghèo – và khi nhà cầm quyền truy hỏi để tịch biên các tài sản ấy, Laurenso đã chỉ về phía những người mù, què, bệnh tật, khốn khổ xung quanh đó và nói: “Thưa quí ngài, đây là kho tài sản của Giáo hội chúng tôi. Quí ngài thấy đó, chúng tôi giàu có hơn cả hoàng đế của quí ngài!”…
Bài Tin Mừng về ‘hạt lúa gieo vào lòng đất’ được chọn để gợi nhớ và soi sáng ý nghĩa cái chết tuẫn đạo của thánh Laurenso. Bị đặt nằm trên chiếc giường sắt nung đỏ, ngài bị đoạt mạng sống chỉ vì trung thành với Chúa Giêsu và Tin Mừng. Nhưng ở đây, một lần nữa, hạt lúa cho thấy biện chứng ‘chết/sống’. Nó thối đi, mục nát đi, là nó đang nảy mầm để phát sinh sự sống mới cách kỳ diệu! Cũng vậy đó, cái chết của các vị tuẫn đạo, của Phó tế Laurenso, và thực sự của hết mọi người hoàn toàn tận hiến cuộc đời mình cho Chúa Giêsu và cho những anh chị em bé mọn nhất của Người!…
Thông điệp của Lời Chúa hôm nay, vì thế, là lời mời gọi có thể được tóm kết bằng câu Thánh vịnh 111 (Đáp ca): “Phúc đức cho người biết xót thương và cho vay!”
Tài sản của Giáo hội ưu tiên dành cho người nghèo.
Mặt khác, chính người nghèo là tài sản đích thực của Giáo hội.
Tất cả chúng ta cũng là tài sản của Giáo hội, được dùng cách tốt nhất và hiệu năng nhiều nhất, đó là khi chúng ta đi con đường của ‘hạt lúa gieo xuống và chết đi trong lòng đất’, để đem lại sự phong nhiêu chân thực như lòng Chúa mong ước. “Tôi mơ ước một Giáo hội nghèo… của người nghèo” (ĐTC Phan xi cô).
Đó là con đường của thánh Laurenso, của các thánh tuẫn đạo, của tất cả các thánh… Bởi vì đó là con đường của Chúa Giêsu Khổ nạn và Phục sinh!
Lm. Lê Công Đức
“Khốn cho thành khát máu, tràn đầy gian dối, hung bạo, người ta không ngừng cướp phá ngươi”. Đoạn sách ngôn sứ Nakhum này là lời cảnh báo tai ương đáng sợ. Nhưng đừng quên, đây chỉ là một khía cạnh của lời ngôn sứ! Nếu Thiên Chúa cho phép sự giết chóc, sự tàn phá xảy ra, đối với dân Ngài hay đối với dân ngoại, thì đó vẫn không phải là điều Ngài muốn, xét như mục đích cuối cùng.
Đáp ca, trích sách Đệ nhị luật, sẽ cho thấy góc nhìn đầy đủ hơn trong lời Chúa tuyên bố: “Ta sẽ giết chết và làm cho sống lại!”… Để ý, ta thấy có cái biện chứng chết/sống, tàn phá/xây dựng… ở đây! Vả chăng, vị ngôn sứ loan báo bi kịch ở trên lại có tên là ‘Nakhum’, nghĩa là ‘người an ủi’ mà!
Chính Chúa Giêsu giới thiệu con đường của Người, đồng thời cũng là ‘chất môn đệ’ nơi những kẻ đi theo Người, bằng thứ ngôn ngữ biện chứng đậm tính thần bí: “Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy. Vì chưng, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai đành mất mạng sống mình vì Ta, thì sẽ được sự sống. Nếu ai được lợi cả thế gian mà thiệt hại sự sống mình, thì được ích gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi được sự sống mình?”
Liều chết thì sống. Cố sống thì chết. Được tất cả mà hoá ra mất chính mình, thì đâu là cái lý, đâu là sự khôn ngoan ở đó?
Nhưng tất cả chúng ta sẽ không hiểu con đường thập giá mà Chúa kêu gọi đâu, bao lâu ta chưa thật sự vác thập giá mà đi theo Người!
Lm. Lê Công Đức
Lời Chúa phán qua Giêremia về giao ước thời Xuất hành bị bội phản, nên Chúa sẽ lập giao ước mới, với đặc điểm là: “Ta sẽ đặt lề luật của Ta trong đáy lòng chúng, và sẽ ghi trong tâm hồn chúng”!
Dường như chính Chúa ‘rút kinh nghiệm’ rằng việc ghi luật trên hai phiến đá để trao cho dân tỏ ra không ổn. Nó ở ngoài họ, nó không được họ nội tâm hoá, nên khi nhớ khi quên – mà quên nhiều hơn nhớ! Vì vậy, dân Chúa bỏ Chúa mà chạy theo các ‘thần’ khác một cách rất dễ dàng và thường xuyên…
Lần này Chúa quyết định ghi luật vào trái tim, vào tận đáy lòng của dân Chúa. Chúa sẽ thi thố hết mức tình thương đối với họ, để họ phải động lòng. Đó là cách ghi luật Chúa vào lòng người ta. Luật Chúa cũng được cô đọng lại ở YÊU THƯƠNG! Và tất cả sự việc này diễn ra trong mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô, với cao trào là cái chết Thập giá của Người. Lôgic là: từ trái tim đến trái tim. Vì hơn ai hết, Thiên Chúa hiểu tất cả những gì bên ngoài người ta, không có trong lòng, không được nội tâm hoá, thì chẳng đáng kể gì.
Thử dùng nhãn giới ấy để đọc câu chuyện trong Phúc Âm: Chúa Giêsu hỏi người ta bảo Thầy là ai… Nhưng đó không phải điều quan trọng thứ nhất… Câu hỏi ‘anh em bảo Thầy là ai’ mới quan trọng hơn… Phê rô trả lời Thầy là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống… Tuyệt quá! Chúa Giêsu thừa nhận Phê rô nói đúng quá… Nhưng vẫn chưa thật chắc… Đôi khi nói đúng như vẹt, mà trong tâm trí có hiểu gì đâu… Ở đây, Phêro nói Thầy là Đấng Kitô nhưng ông hình dung một Kitô không đúng… Có lẽ một kiểu Kitô không thập giá!… Và do đó Chúa cảnh cáo ông đừng để bị lừa bởi Sa-tan…
Phê rô cần thêm thời gian, kinh nghiệm, và nhất là ơn Chúa, để hiểu “Thầy là Đấng Kitô” nghĩa là gì, và để đón nhận Thầy đúng như vậy!
Chúng ta có đạo, có Chúa, có đủ thứ điều tốt đẹp… Nhưng chúng ta có nội tâm hoá không? Đây mới là điểm quyết định. Đừng quên câu chuyện về người phát minh dụng cụ làm ra lửa, trao cho dân chúng… Dân chúng đặt dụng cụ ấy lên bàn thờ để thờ, cùng với bức chân dung nhà phát minh nữa… Thờ mãi, thờ miệt mài dụng cụ làm ra lửa… mà chẳng thấy lửa đâu cả!
Lm. Lê Công Đức
Trong thế giới con người có nhiều loại ‘tình’. Ngay cả Thiên Chúa cũng rất ấn tượng với tình yêu nam nữ. Thánh Kinh đầy những ví von tình yêu của Thiên Chúa với dân Ngài như loại tình yêu đôi lứa này… Hôm nay, trong sách Giêremia, lời Chúa nói với “trinh nữ Israel” rằng “Ta yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở”! Thật kỳ diệu biết bao và hạnh phúc tuyệt vời biết bao cho dân của Chúa và cho tất cả những ai thuộc về đoàn dân này!
Chúa Giêsu là tình yêu ấy của Thiên Chúa trở thành hữu hình, cụ thể, trong mầu nhiệm nhập thể. Câu chuyện người phụ nữ Canaan đến xin Chúa cứu chữa con gái mình cho thấy rõ hai điều:
Thứ nhất, Chúa ‘làm mặt lạnh’ với bà ấy, rồi khi lên tiếng thì lại buông một câu từ chối đầy bất nhẫn… Nhưng đó không phải thái độ thật của Chúa Giêsu, mà có vẻ chỉ là một cách trắc nghiệm lòng tin của người phụ nữ. Bởi cuối cùng, Người đã thương đáp ứng điều mà bà mẹ tội nghiệp ấy kiếm tìm. Tình yêu của Thiên Chúa, nơi Chúa Giêsu, quả là … muôn thuở!
Thứ hai, ‘mối tình muôn thuở’ của Thiên Chúa không giới hạn nơi dân Israel, mà mở ra cho hết mọi người, mọi dân nước. Bằng chứng cho điều này là sự kiện rằng người phụ nữ trong câu chuyện trên là một người xứ Canaan, một người dân ngoại!
Quả thực, Hội Thánh Chúa Kitô mở ra cho hết mọi người. Không còn phân biệt chủng tộc, huyết thống nữa. Ai cũng được mời gọi TIN VÀO CHÚA GIÊSU và đi vào trong ‘mối tình muôn thuở’ của Thiên Chúa!
Còn tình yêu của chúng ta đối với Chúa Giêsu thì thế nào? Có… ‘muôn thuở’ không?
Lm. Lê Công Đức
Thị kiến của Đanien đầy những yếu tố giúp làm rõ ý nghĩa trình thuật Hiển Dung của bài Tin Mừng.
Trên hết và trước hết, biến cố Hiển Dung là LỜI CHỨNG của Chúa Cha về Chúa Giêsu. Các môn đệ thân tín nhận lời chứng này, có được kinh nghiệm hiếm hoi về vinh quang thần linh của Thầy mình. Phê rô sẽ trân trọng chuyển đạt lại biến cố này trong lời rao giảng của mình, mà trọng tâm của biến cố là lời chứng từ Thiên giới: “Ðây là con Ta yêu dấu, các ngươi HÃY NGHE LỜI NGƯỜI”.
Hiển Dung là ‘dung nhan vinh hiển’, sự vinh hiển khôn tả của Thiên Chúa được biểu tượng bởi những nét như: trên núi cao / đám mây bao phủ / áo trắng tinh và chói loà… Đặc biệt, sự kiện tiếng nói của Thiên Chúa vọng xuống giữa bối cảnh ấy, chứng thực nguồn gốc thần linh của Chúa Giêsu, Đấng là Con Yêu Dấu của Chúa Cha.
Sự xuất hiện của Mô sê và Êlia cho thấy cuộc Hiển Dung này mặc khải lịch sử tính của Chúa Giêsu, theo nghĩa Người là trung tâm thu họp toàn bộ lịch sử. Chúng ta và mọi thế hệ cũng ở trong lịch sử này và cũng qui hướng về Trung Tâm này.
Mô sê và Êlia đàm đạo với Chúa Giêsu về những gì sẽ xảy đến với Chúa ở Giêrusalem, tức về Thập giá, về cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa. Như vậy, ta thấy Chúa Giêsu đi ‘từ vinh quang đến Thập giá’, con đường kenosis, rồi mới ‘từ Thập giá đến vinh quang’ trong sự sống lại của Người. Hiển Dung, vì thế, là biến cố có tính khích lệ và nâng đỡ tinh thần các môn đệ trước những gì sẽ xảy đến. Nhưng lúc này thì các ông không hiểu!
Chúng ta cũng không dễ hiểu Thập giá Chúa Giêsu, ngay cả dù Người đã đi ‘từ Thập giá đến vinh quang’ từ lâu rồi. Những thập giá trong đời mình hay xung quanh mình, chúng ta cũng không luôn hiểu được! Nhưng ít nhất có một điều từ biến cố Hiển Dung mà ta biết rõ, đó là chính Chúa Cha kêu gọi chúng ta: Hãy vâng nghe lời Chúa Giêsu, Con Yêu Dấu của Ngài!
Nghe lời Chúa Giêsu là “vác thập giá mình hằng ngày mà đi theo Người”! Và thật thú vị, các thánh có kinh nghiệm này truyền lại cho chúng ta: Thập giá chỉ được hiểu khi ta vác nó, trong kết hợp với Chúa Giêsu khổ nạn và Phục sinh!
Và sau tất cả… cuối cùng là Thập giá nở hoa… là vinh quang, chứ không phải là khổ luỵ!
Lm. Lê Công Đức
Trang sách Giêremia này, ở chương 28, là một câu chuyện khá đặc biệt về ơn gọi ngôn sứ. Hanania nói lời ngôn sứ, như một ngôn sứ thật! Ông báo trước về việc cái ách của vua Babylon sẽ được cởi bỏ. Giêremia trong đáp từ của mình lưu ý rằng dấu hiệu cho biết một ngôn sứ chân thật, đó là tiên báo về bình an và được ứng nghiệm, chứ không chỉ là tiên báo chiến tranh và các tai ương… Các tình tiết tiếp theo cho thấy Chúa mách bảo Giêremia rằng Hanania không phải là ngôn sứ chân thật được Chúa truyền cho lên tiếng. Giêremia cho mọi người biết rõ điều này, và quả đúng như thế. Thông điệp cho chúng ta: Một ngôn sứ chỉ chân thật khi được chính Chúa sai đi để phát ngôn và hành động theo như Chúa truyền dạy. Không ai tự mình mà trở thành ngôn sứ cả!
Chính Chúa Giêsu là vị Ngôn Sứ đích thật được Chúa Cha sai đến để nói và làm hoàn toàn theo ý Cha. Người cũng nói không ít những lời cảnh cáo, báo trước tai ương – nhưng sứ điệp căn bản của Người là sứ điệp bình an, sự bình an chân thật của Người, và chỉ có từ nơi Người.
Sự bình an của Chúa Giêsu hàm chứa trong lòng thương xót đối với dân chúng bơ vơ vất vưởng, trong việc chữa các bệnh hoạn tật nguyền cho họ, trong mối quan tâm đến các nhu cầu cụ thể của họ – như việc Người bẻ bánh và phân phát cho họ ăn qua cơn đói…
Chúng ta thấy, các môn đệ ban đầu đề nghị Chúa giải tán đám đông để họ tự đi tìm bữa ăn – nhưng Chúa Giêsu quyết định: “Chính anh em hãy cho họ ăn!” Một việc khó, thậm chí là không thể, vì đang ở trong hoang địa! Ta biết điều gì đã xảy ra sau đó, khi mà các môn đệ hưởng ứng đề nghị của Thầy…
Điều đáng suy ngẫm, đó là Chúa muốn liên can các môn đệ vào hoàn cảnh và nhu cầu cụ thể này của dân chúng. Chính anh em hãy cho họ ăn! Anh em không thể thoái thác, quay lưng. Anh em phải chấp nhận một số phiền phức, chấp nhận bị xáo trộn…
Thông điệp cho chúng ta: Các mục tử và những người hữu trách trong Giáo hội nói chung cần quan tâm và liên can chính mình vào với mọi khía cạnh của đời sống dân chúng! Dù Giáo hội không có vai trò của nhà nước, không quản lý xã hội như một quyền lực chính trị, nhưng Giáo hội vẫn liên can được với hoàn cảnh của dân chúng, ít nhất bằng những tiếng nói ngôn sứ của mình để chống lại mọi hình thức bất công và bênh vực những người yếu thế…
Khi liên can và lên tiếng như vậy, Giáo hội đang thi hành chức năng ngôn sứ được trao cho mình, ngôn sứ của sự bình an chân thật đến từ Chúa!
Lm. Lê Công Đức
“Thà chúng tôi chết trong đất Ai-cập do tay Chúa, khi chúng tôi ngồi kề bên nồi thịt và ăn no nê. Tại sao các ông dẫn chúng tôi lên sa mạc này, để cả lũ phải chết đói như vầy?” (Xh 16,2-4.12-15).
Khủng hoảng lương thực! Cũng dễ hiểu thôi, vì cả một đoàn dân đông đảo đi trong hoang địa ròng rã những năm dài thì lấy đâu ra thức ăn cho đủ để cung cấp! Chúng ta cảm nhận nỗi khó của Mô sê và Aaron trong vai trò và trách nhiệm lãnh đạo đoàn dân này. Họ nói toạc ra rằng thà chết ở Ai cập khi được ăn no thì hơn. Họ muốn nêu nguyên tắc rằng ‘có thực mới vực được đạo’. Nghĩa là, vì bị bỏ đói, họ quyết định quay lưng lại với đường lối Chúa dạy, và có lý do ‘chính đáng’ để nổi loạn chống lại Mô sê…
Trong hoàn cảnh đó, Thiên Chúa đã kiên nhẫn đáp ứng điều dân mong muốn. Ngài ban cho họ manna và chim cút để ăn. “Ðây Ta sẽ cho bánh từ trời rơi xuống như mưa: dân chúng phải đi lượm bánh ăn mỗi ngày, để Ta thử coi dân có tuân giữ lề luật của Ta hay không”. Rõ ràng, Thiên Chúa muốn cho dân thấy lòng quan tâm chăm sóc của Ngài, để khích lệ họ trung thành tuân giữ lề luật của Chúa. Sự can thiệp này của Chúa sẽ đi vào ký ức tập thể của dân, có một tác dụng giáo hoá rất quan trọng, dù không phải họ luôn ghi nhớ và trung thành.
Trong ký ức tập thể về việc ăn manna và chim cút ‘từ trời sa xuống’ ấy, dân Chúa nhìn nhận rằng chính “Chúa đã ban cho họ bánh bởi trời”! (x. Đáp ca, Thánh vịnh 77). Nhưng đó chưa thực sự là ‘bánh bởi trời’ đúng nghĩa đâu, mà chỉ là một tiên báo về Bánh Bởi Trời đích thực được Chúa ban sau này.
Bánh Bởi Trời đích thực là… Chúa Giêsu! Đó là bí tích Thánh Thể, được thiết lập chính thức trong Nhà Tiệc Ly và tồn tại mãi mãi. Nhưng Thánh Thể vô cùng khó hiểu đối với trí óc chật hẹp của con người, nên chính Chúa Giêsu đã ‘dẫn nhập’ bằng những dấu lạ ‘hoá bánh ra nhiều’ và bằng những lời tuyên bố rằng ‘thịt Người là của ăn thật, và máu Người là của uống thật’.
Dấu chỉ Thánh Thể vẫn là dấu chỉ về lòng quan tâm và sự săn sóc của Chúa. Và đó là lời mời gọi chúng ta nâng cấp thái độ của mình, vượt qua nguyên tắc ‘có thực mới vực được đạo’ có tính thực dụng, để biết khao khát kiếm tìm và đón nhận lương thực cho sự sống vĩnh cửu. Trong bối cảnh này, ta nghe những lời của Chúa Giêsu hôm nay:
“Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống muôn đời, là của ăn Con Người sẽ ban cho các ngươi. Người là Ðấng mà Thiên Chúa Cha đã ghi dấu”…
“Ðây là công việc của Thiên Chúa là các ngươi hãy tin vào Ðấng Ngài sai đến”…
“Ta bảo thật các ngươi, không phải Môsê đã ban cho các ngươi bánh bởi trời, mà chính Cha Ta mới ban cho các ngươi bánh bởi trời đích thực. Vì bánh của Thiên Chúa phải là tự trời xuống, và ban sự sống cho thế gian”! (x. Ga 6,24-35).
Tiếng gọi ấy từ Đấng là Bánh Bởi Trời âm vọng lại một cách cô đọng trong những lời của thánh Phao lô (x. Ep 4,17.20-24). “Tôi nói với anh em điều này, và chứng thực trong Chúa là anh em chớ ăn ở như Dân Ngoại ăn ở, chiều theo sự giả trá của tâm tư mình”.
Người ta trở thành cái mà họ ăn! (T. Augustino). Chúng ta ăn Chúa Giêsu, là “tin vào Người, Đấng mà Thiên Chúa sai đến”, thì chúng ta sẽ sống sự sống mới của Người, ở trong tinh thần của Người – như thánh Phao lô khẳng định: “Nếu anh em đã nghe biết Đức Kitô và đã được thụ giáo trong Người, như sự chân thật Người dạy, là anh em hãy khử trừ lối sống xưa kia, hãy lột bỏ con người cũ, đã bị hư theo những đam mê lầm lạc. Anh em hãy trở nên mới trong lòng trí anh em, hãy mặc lấy con người mới đã được tác thành theo thánh ý Chúa trong sự công chính và thánh thiện xứng với sự thật.”
Nói tóm, Thánh Thể Chúa Giêsu là lương thực bởi trời, lương thực là để ta ăn, và ta ăn để ta được biến đổi thành con người mới!
Lm. Lê Công Đức