Người ta có thể khát khao sự sống đời đời, nhưng vẫn quyến luyến tiền của. Người ta có thể tuân thủ lối sống nề nếp đạo đức chuẩn mực, giữ mọi điều răn, nhưng đồng thời vẫn không siêu thoát khỏi sự ràng buộc của tiền của. Đây là câu chuyện của anh chàng thanh niên “buồn rầu bỏ đi, vì anh có nhiều của cải” (x. Mt 19).
Anh này tốt, chỉ tiếc là không trọn vẹn. Đời sống LUÂN LÝ của anh xem ra rất ổn, nhưng anh từ chối cất bước trên nẻo đường LINH ĐẠO mà Chúa Giêsu mời gọi. “Linh đạo bắt đầu ở chỗ luân lý kết thúc” (John Hardon)… Anh không đi theo Chúa Kitô (sequela Christi), nên dù giàu có mà vẫn bế tắc và khắc khoải trong cõi thâm sâu…
Không theo Chúa được vì không từ bỏ tiền của được! Mãnh lực tiền của quá lớn. Anh không thể tự do khỏi nó. Không thể bình tâm! Không dứt được quyến luyến! Và đây là vấn đề của người thanh niên tốt này.
Đó cũng là vấn đề luôn thách đố đa số (nếu không nói là tất cả) chúng ta. Bởi ai trong ta có thể phủ nhận mãnh lực của tiền bạc của cải? Đừng trách cứ chàng thanh niên buồn rầu bỏ đi ấy. Hãy nhìn Giêsu buồn rầu nhìn anh ấy quay lưng, và đồng cảm với Người…
Nhưng ít ra anh ấy cũng đáng khen vì rất minh bạch chứ không diễn, không đi ‘hai hàng’, không ‘bắt cá hai tay’, nhất là không dùng việc ‘theo Chúa Giêsu’ để kiếm chác tiền của và những lợi lộc khác…
Không ai có thể làm tôi hai chủ được!
Lm. Lê Công Đức
Thời đại này, người ta nói nhiều về sự khôn ngoan trong ăn uống. Nhiều mầm bệnh đến từ chế độ ăn uống ‘độc hại’ (dù ngon miệng và tốn kém) mà người ta chẳng hay, hoặc bất chấp. Biết chọn lựa trong ăn uống, thường ít tốn tiền hơn mà lành mạnh cho sức khoẻ hơn – và đó là khôn ngoan!
Bài đọc I (Cn 9,1-6) của Chúa Nhật hôm nay nối kết ‘khôn ngoan’ với ‘ăn uống’, để được ‘sống’ – nhưng dĩ nhiên đây là sự sống ở bình diện thâm sâu nhất, chứ không chỉ là sống ‘thọ’ thêm một ít năm trên mặt đất này. “Các ngươi hãy đến ăn bánh của ta, và uống rượu ta đã pha cho các ngươi” – lời này trong sách Châm ngôn trực tiếp gợi cho chúng ta liên tưởng đến Bí tích Thánh Thể.
Nói cho ngay, chúng ta không ngạc nhiên về sự ngạc nhiên cũng như về sự “tranh luận với nhau” giữa các thính giả của Chúa Giêsu khi Người tuyên bố rằng phải ăn thịt và uống máu Người. Bởi điều này thật sự gây sốc! Bí tích Thánh Thể không dễ hiểu và không dễ đón nhận, nên đã được chuẩn bị từ trước bằng câu chuyện manna: bánh ‘bởi trời’ nuôi sống đoàn dân lữ hành!
Thật vậy, Chúa Giêsu tuyên bố: “Thật, Ta bảo thật các ngươi: Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi”. Chúa Giêsu nói rõ đó là “sự sống đời đời”, không phải sự sống tạm bợ đời này mà thôi (x. Ga 6,51-59). Bài Tin Mừng không đề cập hai chữ “khôn ngoan”, nhưng chính “sự sống đời đời” là chọn lựa khôn ngoan nhất dưới gầm trời này. Điều này chắc chắn không ai cãi.
Bài đọc II (Ep 5,15-20) vẫn là về ‘khôn ngoan’ và vẫn nối kết với chuyện ăn uống. “Anh em hãy xét coi phải ăn ở thế nào cho thận trọng, đừng như những kẻ dại dột, song như những người khôn ngoan: biết lợi dụng thời giờ, vì thời buổi này đen tối. Vì thế anh em chớ ăn ở bất cẩn, nhưng hãy hiểu biết thế nào là thánh ý Thiên Chúa. Anh em chớ say sưa rượu chè, vì rượu sinh ra dâm dục, nhưng hãy tiếp nhận dồi dào Chúa Thánh Thần”…
Thận trọng, chớ bất cẩn, hãy khôn ngoan trong cách ăn nết ở! Đó là lời thánh Phao lô kêu gọi chúng ta, xét như tâm tình và lối sống được biến đổi bởi mầu nhiệm Thánh Thể. Đó là “hiểu biết thánh ý Thiên Chúa”, và là “tiếp nhận dồi dào Chúa Thánh Thần”. Đó là “sự sống đời đời”, và vì thế đó là sự KHÔN NGOAN của chúng ta.
“Các bạn hãy nếm thử và hãy nhìn coi, cho biết Chúa thiện hảo nhường bao” (Đáp ca, Tv 33). Biết ăn, ta sẽ sống!
Lm. Lê Công Đức
Mỗi lần cầu nguyện, ngồi trước Nhà Tạm chiêm ngắm Thánh Thể Chúa chắc hẳn trong mỗi chúng ta không khỏi ngỡ ngàng trước mầu nhiệm cao quý này. Để tin, hiểu, yêu mến và sống mầu nhiệm Mình và Máu Thánh Đức Kitô, điều đó thật không dễ chút nào. Có thể, chúng ta rước Mình và Máu Chúa Giêsu hằng ngày, nhưng để Đức Kitô sống trong ta và để Ngài chi phối cuộc đời ta, chắc hẳn nhiều lúc chúng ta không sống được. Lời Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay thật là một thách thức cho chúng ta gmở ra chúng ta con đường phải đi để vượt qua khó khăn. Đó là ơn huệ có được kinh nghiệm thiêng liêng và thiết thân: sự sống đích thực mỗi ngày của chúng ta được nuôi dưỡng bằng Bánh Hằng Sống, là Đức Kitô, được “sống nhờ” Người, như Người “sống nhờ” Chúa Cha, chứ không phải là thấy, biết, hay ăn uống Đức Kitô trên phương diện vật chất. Chúa Giêsu đã lấy Thịt Máu Mình mà nuôi dưỡng cả nhân loại. Người nuôi dưỡng ta bằng sự sống của Người, sự sống được trao ban qua cái chết tự nguyện và được lấy lại qua phục sinh vinh quang.
“Tôi là Bánh Hằng sống từ trời xuống”. Thiên Chúa Cha muốn ban cho ta tấm bánh từ trời đó chính là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. Đức Giêsu là tấm bánh Chúa Cha ban cho nhân loại, Đức Giêsu đã không hiện thân làm viên kim cương quý giá mà lại là một tấm bánh. Tấm bánh bình thường, mỏng manh và có thể bị ẩm mốc. Tuy nhiên tấm bánh bình thường ấy lại là một nhu cầu thiết yếu, là lương thược cần thiết cho con người. Việc Chúa trở nên tấm bánh để gần gũi với con người, để Ngài có thể đi vào trong những sinh hoạt rất đời thường của con người. Chính nhờ đó mà con người có thể đến với Chúa cách dễ dàng, không ngần ngại, không e sợ.
Qua bài Tin Mừng hôm nay Chúa đã nhắc nhở và hướng dẫn chúng ta trong tình yêu mến, trong cử hành và trong cách sống Bí Tích Thánh Thể. Chúng ta bày tỏ lòng yêu mến Bí Tích Thánh Thể khi chúng ta trở nên những con người sống hiền lành, khiêm nhường sống gần gũi với những người chung quanh đặc biệt những con người nhỏ bé nghèo hèn, bệnh tật, những người bị bỏ rơi trong xã hội…Chúng ta cử hành Bí Tích Thánh Thể khi chúng ta chấp nhận hao mòn quên mình thiệt thòi vì Chúa và vì anh em và cuối cùng chúng ta sống Bí Tích Thánh Thể là chúng ta biết xây dựng tình đoàn kết, tình huynh đệ với những người sống xung quanh chúng ta.
Lạy Chúa mỗi lần chúng con rước lễ xin Chúa giúp chúng con ý thức sự hiện diện của Chúa để chúng con luôn biết sống trong tâm tình cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa.
Maria Thu Thủy
Bánh Hằng Sống
Nối tiếp Chúa Nhật XIX, Chúa Giêsu một lần nữa nhấn mạnh “Ngài là Bánh Hằng Sống. Ai tin vào Chúa sẽ được sống muôn đời” nhưng người Do Thái vẫn không hiểu lời mời gọi của Chúa. Lời của Chúa vẫn còn là một mầu nhiệm khó hiểu đối với họ. Vì thế, họ chưa thể lãnh nhận sự sống đời đời mà Chúa ban tặng cho họ.
Mở đầu trang Tin Mừng, Đức Giê-su khẳng định“Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình”. Người Do Thái chỉ hiểu câu nói của Chúa với nghĩa đen: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” Sự nghi ngờ, thiếu lòng tin và thiếu chiều sâu đã làm cho đôi mắt của họ mù quáng và trái tim họ trở nên chai đá. Họ không biết rằng Chúa đã hy sinh và chịu chết trên cây thánh giá để trở nên nguồn sống mới cho họ. Thay vì đón nhận Chúa thì họ lại gạt Chúa ra bên lề cuộc đời họ. Nếu người Do Thái đủ tình yêu dành cho Chúa, có lẽ họ sẽ tin và nhận ra sự hiện diện của Chúa nhưng tư tưởng của họ chỉ muốn đón nhận một vị Vua oai phong lẫm liệt mà quên đi một vị Vua đích thật, Vị ấy mới có thể làm cho họ no thoả trường tồn, một vị Vua yêu thương họ đến cùng.
Còn chúng ta ngày hôm nay thì sao? Bao nhiêu lần chúng ta đặt câu hỏi tại sao với Chúa trong sự hoài nghi và thất vọng? Chúng ta có đủ tình yêu dành cho Chúa để chiến thắng sự ngờ vực? Tình yêu không thể định nghĩa không có điều kiện. Như thế, bao lâu chúng ta còn đặt từ “nếu” dành cho Chúa thì chúng ta chưa thật sự yêu Chúa vô điều kiện và chúng ta dễ dàng rơi vào sự ngờ vực như người Do Thái trước những mầu nhiệm mà chúng ta không thể nắm bắt và hiểu biết được.
“Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy”. Chúa Giêsu quả quyết những ai lãnh nhận “Mình và Máu Chúa” hay “rước lễ” hằng ngày thì mới có thể ở lại trong Chúa. Nếu Chúa ở lại trong chúng ta nhưng chúng ta không ở lại trong Chúa thì chuyện gì sẽ xảy ra? Đó sẽ chỉ là tình yêu đơn phương không trọn vẹn. Chúng ta hãy nhìn lại bản thân, chúng ta đã thật sự ở lại trong Chúa chưa? Sự ở lại của chúng ta thật sự có tự do hay không? Bao nhiêu lần chúng ta đón nhận và rước Chúa vào lòng với sự hời hợt hay như một thói quen? Chắc chắn để “ở lại” trong Chúa thực sự, đòi hỏi chúng ta sự từ bỏ triệt để, từ bỏ những công việc cá nhân, từ bỏ những đam mê dục vọng, từ bỏ những cuộc tán gẫu, từ bỏ những thói quên chưa tốt…để dành trọn vẹn thời gian ở lại bên Chúa, cảm nhận niềm vui và sự bình an nội tâm mà Chúa ban tặng. Nếu chúng ta cứ loay hoay tìm kiếm chính mình thì chắc chắn chúng ta sẽ không thể gặp được Chúa trong cuộc đời bởi Chúa cần một tâm hồn tĩnh lặng, một tấm lòng quảng đại và một sự khao khát “ở lại” trọn vẹn với Chúa.
“Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời”. Đây là một lời hứa trung tín mà Chúa dành cho mỗi người. Chúa vẫn ban phát và chờ đợi con người đến lãnh nhận sự sống vĩnh cửu. Chúng ta muốn đón nhận hay từ chối đó là sự chọn lựa của mỗi người. Ước gì mỗi ngày chúng ta cảm nhận được sự hiện diện rất thân tình của Chúa để trong mỗi giây phút, chúng ta biết chọn lựa Chúa giữa biết bao sự chọn lựa trong cuộc sống. Nhờ đó, Chúa sẽ là nguồn hạnh phúc, bình an và là sự sống vĩnh cửu cho mỗi người.
Maria Thảo An
“Hỡi nhà Israel, tại sao các ngươi muốn chết. Ta không thích cho ai phải chết: Chúa là Thiên Chúa phán. Hãy trở lại để được sống.”
Câu trên là một đúc kết giáo huấn luân lý của Chúa nhắn nhủ dân Ngài. Mỗi người trách nhiệm đời sống và số phận mình – chứ không phải “đời cha ăn nho chua, đời con ghê răng”. Sống công chính, tức là sống ĐẸP LÒNG THIÊN CHÚA, chủ yếu là sống tử tế nhân hậu với người khác, nhất là những người yếu thế, khốn khổ, đáng thương… Đây là tổng hợp trang sách Êdekien hôm nay.
Lời Thánh vịnh 50 (Đáp ca) là lời đáp trả tiếng mời gọi ấy. Không chỉ là tâm tình hoán cải của hối nhân, “Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch”, mà còn là thao thức tông đồ, giúp cho người xung quanh hoán cải nữa: “Con sẽ dạy kẻ bất nhân đường nẻo Chúa, và người tội lỗi sẽ trở về với Ngài”…
Nhưng các môn đệ của Chúa Giêsu hình như còn khá xa lạ với tinh thần hoán cải và thao thức tông đồ ấy! Một trắc nghiệm: Người ta đem những trẻ nhỏ đến cho Chúa Giêsu để Người đặt tay và cầu nguyện cho chúng – nhưng các môn đệ quở trách và ngăn cản. Chúa Giêsu không thích thái độ ‘quan liêu’ này. Người dạy các ông bài học khiêm nhường, tôn trọng và ân cần đối với các trẻ em. “Hãy để các trẻ nhỏ đến với Ta, và đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời là của những người giống như chúng”!
Không khiêm nhường, làm sao hoán cải? Không hoán cải nơi mình, làm sao rao giảng sự hoán cải cho người? Xin Chúa cho Giáo hội Chúa hôm nay biết rút kinh nghiệm về các môn đệ Chúa bị ‘quê’ ngày ấy, để đừng làm khó ai muốn đến với Chúa, nhưng tích cực giúp họ.
Lm. Lê Công Đức
Từ ngày 11-15.08.2024, Hội dòng Mến Thánh Giá Tân Lập tổ chức khoá tĩnh tâm và 2 ngày sinh hoạt cho các em Thanh Tuyển, cũng như một số các bạn trẻ đến tìm hiểu dưới sự dẫn dắt của Cha Đa Minh Mai Xuân Thưởng, SSS. Trước khi vào tĩnh tâm, Dì Maria Nguyễn Thị Yêu, Tổng Phụ Trách Hội dòng cũng đã gặp gỡ và chia sẻ với các em về nhân bản và tu đức căn bản. Đồng hành và hướng dẫn các em còn có Chị Giáo Têrêsa và Chị Giáo Maria, các chị hân hoan chào đón các em, lắng nghe và chia sẻ những tâm tư và nguyện vọng của các em. Từ đó, khích lệ tinh thần để các em có những lựa chọn tốt đẹp nhất trong tự do và phù hợp với Thánh Ý Chúa.




Trong những ngày tĩnh tâm, các em được đón nhận biết bao hồng ân, nhất là hồng ân được gặp gỡ và lắng nghe Chúa Giêsu Thánh Thể. Các em được cầu nguyện và cảm nghiệm sâu hơn về hồng ân sự sống, hồng ân được mời gọi theo Chúa và hồng ân tháp nhập vào cộng đoàn thánh hiến. Qua sự hướng dẫn của Cha giảng phòng, Thiên Chúa tác động nơi tâm hồn các em để các em được gặp gỡ Ngài, được cảm nếm hương vị ngọt ngào của tình Chúa yêu vì các em là những người được yêu.
Thánh Phanxicô Salêxiô đã từng nói: “Trong Thánh Thể ta nên một với Thiên Chúa, như lương thực nên một với thân xác.” Quả thực, giây phút các em có thể trải nghiệm sâu đậm nhất là khi các em ngồi lại bên Thầy Giêsu, chiêm ngắm Mình Thánh Chúa và được rước Chúa ngự trị vào lòng. Nên một với Thầy để Thầy là nguồn động lực, là nguồn tình yêu, là ánh sáng và con đường soi dẫn các em đi về phía trước.



Ước gì những giây phút các em dành riêng cho Giêsu cách đặc biệt sẽ là những giây phút đẹp nhất trong tâm hồn và đem lại nhiều ý nghĩa trong hành trình của các em sau này. Cuộc sống có nhiều con đường, có lắm lựa chọn nhưng ước mong sao các em chọn lấy con đường ngắn nhất, chọn được phần tốt nhất cho cuộc đời mình. Thiết nghĩ, đó là con đường của Đấng Trọn Lành, Đấng Tình Yêu. Mến chúc các em có nhiều niềm vui và hạnh phúc sau khi đã đến, xem và ở lại với Thầy Giêsu các em nhé. Cánh cửa của Hội Dòng luôn chào đón các em trong tương lai. Và xin Chúa chúc lành và soi chiếu nơi tâm hồn các em lòng quảng đại để các em biết đáp trả hồng ân Ngài ban tặng.
Ban Truyền Thông
Một ngày sau lễ Mẹ Hồn Xác Lên Trời, ta nghe lời Chúa tiếp tục nói về ‘thân xác’.
Đoạn sách Êdekien nghe như một đoạn văn tả thực, về hình hài tội nghiệp của một sinh linh bị bỏ rơi, máu me bê bết, thê thảm… nhưng được cứu sống, được săn sóc và lớn lên thành một cô gái mỹ miều, lại được trang điểm rạng ngời, lộng lẫy… tiến lên ngôi ‘nữ hoàng’! Nhưng sắc đẹp ấy bị chính cô gái lạm dụng. Cô dùng sắc đẹp ấy để mãi dâm, truỵ lạc, phóng đãng… Đó là tình trạng của ‘con người’ được Chúa cứu vớt, quan tâm chăm sóc, nhưng vô ơn bất nghĩa quay lưng lại với Chúa, làm Chúa rất đỗi phiền lòng… Thế mà, Chúa vẫn thương! Như ta nghe Chúa nói: “Nhưng phần Ta, Ta sẽ nhớ lại giao ước Ta đã lập với ngươi khi ngươi còn xuân xanh. Ta sẽ lập với ngươi một giao ước vĩnh cửu. Như thế, để ngươi phải nhớ lại mà xấu hổ, và vì xấu hổ, ngươi sẽ không còn mở miệng ra nữa, khi Ta tha thứ hết mọi việc ngươi đã làm.”
Đó là chuyện làm ơn mà bị bạc bẽo. Tất cả đều có liên hệ đến thân xác. Từ tình trạng thê thảm đến tình trạng lấy lại phẩm giá, nhờ ân sủng, đều được diễn tả qua những thay đổi cụ thể nơi thân xác. Rồi sự bất trung, phản bội của con người cũng liên can đến thân xác bị lạm dụng!
Trong Tin Mừng Máttheu 19, Chúa Giêsu nói về mối kết hợp hôn nhân bằng hình ảnh ‘một thân xác’: “Từ thuở ban đầu, Tạo Hoá đã dựng loài người có nam có nữ, và Người đã phán: Bởi thế nên người nam sẽ bỏ cha mẹ mà kết hợp với vợ mình, và cả hai sẽ nên một thân xác. Cho nên họ không còn là hai, nhưng là một thân xác”. Ta dễ liên tưởng đến ‘quan hệ tình dục’ của hai người phối ngẫu. Nhưng chắc hẳn Chúa không chỉ nhằm nói đến cái hành động chuyên biệt ấy nơi chính nó mà thôi. Đúng hơn, sự đề cập này nhắc cho ta về ‘thân xác’ như là ‘con người’! Hai người, mà trở nên ‘một thân xác’ thôi, đó là họ không còn là hai nữa. Họ đã kết hợp thành một, ở mức mật thiết, chặt chẽ nhất, không tách biệt được. Tuy hai mà một! Một cộng đồng định mệnh!
Những người không kết hôn, không là vợ hay là chồng do nhiều yếu tố khác nhau, cũng được trình bày trong liên hệ trực tiếp đến thân xác. “Có những hoạn nhân từ lòng mẹ sinh ra, có những hoạn nhân do người ta làm nên, và có những người vì Nước Trời, tự trở thành hoạn nhân. Ai có thể hiểu được thì hiểu”. Lời này của Chúa Giêsu dùng hình ảnh ‘hoạn nhân’, với ý chỉ về việc không quan hệ tình dục vợ chồng, để nói đến các trường hợp độc thân khác nhau. Ta có thể thấy bao hàm trong đó cả những người đồng tính, những vị ‘thái giám’, các linh mục tu sĩ Công giáo Rôma, và những người độc thân khác nữa… Tất cả những đời sống này, trong khi không được ‘định nghĩa’ duy chỉ liên hệ đến thân xác, thì cũng đều bao hàm mối liên hệ này.
Khái quát lại, thân xác quan trọng là thế, nên nó cần được tôn trọng, và chúng ta không thể ‘đùa’ với thân xác được.
Lm. Lê Công Đức
“Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi
Biết bao điều cao cả” (Lc 1, 49)
Nơi Mẹ Maria, Thiên Chúa đã làm biết bao điều cao cả, lạ lùng mà trí khôn nhân loại không thể hiểu hết. Đặc biệt với đặc ân “Hồn xác về trời”- một đặc ân cao quý mà Thiên Chúa dành riêng cho Mẹ – và cho mỗi người chúng ta.
Chắc hẳn khi xưa, với Mẹ điều “cao cả” chính là được mang trong cung lòng Ngôi Hai Thiên Chúa- Mẹ chính là Mẹ của Thiên Chúa- một sự lạ lùng khó hiểu. Mỗi chúng ta có lẽ không thể hiểu hết tâm trạng, cảm xúc của Mẹ khi thiên sứ truyền tin. Làm sao Mẹ lại có một đức tin vững vàng như thế? Một cô thiếu nữ nay sẽ thụ thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần ư? Ấy thế mà Mẹ đã tin, Mẹ đã phó trót mình trong bàn tay Thiên Chúa, tùy Ngài định liệu. Đấng Mẹ sẽ cưu mang đã được Sứ thần giới thiệu: “Ngài sẽ nên cao cả” (Lc 1, 32). Vâng, cả cuộc đời Mẹ gắn liền với sự cao cả do Thiên Chúa ban tặng.
Nhìn lại các đặc ân mà Mẹ được nhận lãnh, có lẽ chúng ta sẽ đặt câu hỏi, chúng ta sẽ noi gương bắt chước Mẹ để Thiên Chúa thực hiện những điều cao cả trong ta.
Chính trong sự âm thầm và khiêm hạ của Mẹ, Thiên Chúa đã làm cho Mẹ nên cao cả. Mẹ giúp chúng ta nhận ra: không phải những thứ hào nhoáng bên ngoài; không phải hư danh lợi lộc, hơn thua; không phải những chuyện lẫy lừng mới làm nên sự cao cả, nhưng chính trong những điều rất bình thường, nhỏ bé và âm thầm, Thiên Chúa đã thực hiện chương trình cứu độ của Ngài.
Hành trình Mẹ Maria vội vã lên đường đi thăm bà Êlizabét nói lên sự nhiệt tình, dấn thân của Mẹ trong việc chia sẻ niềm vui lạ lùng và muốn giúp đỡ người chị họ của mình trong lúc tuổi đã cao mà đang mang thai. Cả hai đều đang chung một niềm vui vì những điều lạ lùng Thiên Chúa đang thực hiện nơi Mẹ và người chị họ.
Mang thân phận yếu đuối, nhiều lúc chúng ta thường chỉ quy hướng về mình, không muốn chăm lo và quan tâm đến nhu cầu của người khác. Mẹ dạy ta phải vượt lên cả những khó khăn của chính mình, của hoàn cảnh để dấn thân.
Sự dấn thân của Mẹ làm sáng lên hình ảnh của một người nữ tỳ khiêm nhường. Mẹ không cho bản thân những quyền lợi của Mẹ Thiên Chúa. Nhưng cùng với Ngôi Hai, Mẹ hạ mình để Thiên Chúa đến và ở lại với nhân loại. Mẹ cho mình chẳng là gì và sẵn sàng đến để ở lại cùng người chị họ. Thánh sử Luca không nói những việc Mẹ làm trong suốt ba tháng ở với bà Elisabeth, nhưng có lẽ với một người mang thai trong lúc tuổi già như thế, Mẹ đã ở lại chăm sóc hết sức tận tình, chu đáo. Sống khiêm nhường như Mẹ còn đòi buộc ta phải dấn thân trong âm thầm. Chúng ta thường dấn thân, hy sinh nhưng có điều kiện, muốn được người khác biết đến, tìm kiếm sự hài lòng, lời khen từ người khác. Khiêm nhường không phải dễ bởi ta phải hạ mình xuống coi mình là không trước mặt Chúa và mọi người, ta phải chủ động nhìn thấy nhu cầu của mọi người để giúp đỡ, phục vụ chứ không phải đợi họ lên tiếng.
Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã luôn sống đẹp lòng Chúa trong mọi sự. Mẹ đã nhận ra sự cao cả của Thiên Chúa ngay chính trong những điều nhỏ bé, đơn sơ hằng ngày với một tâm hồn dấn thân và khiêm nhường. Mẹ trở thành gương mẫu cho chúng con trên con đường tiến về quê trời. Xin Mẹ luôn chuyển cầu cùng Chúa cho chúng con để chúng con là con cái Mẹ được hợp đoàn với Mẹ trên cõi thiên đường. Amen
Nguyễn Sáng
Lễ Mẹ lên trời cả hồn và xác! Điểm đặc biệt là ở chỗ ‘xác’. Vì hồn lên trời thì… đương nhiên rồi.
Mẹ là hoa quả thứ nhất của Mầu nhiệm Chúa Kitô. Mẹ lên trời hồn xác chỉ sau Chúa lên trời. Từ Mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô, ta biết: Chúa chết, rồi Chúa sống lại, vẫn là trong thân xác ấy nhưng đã được biến đổi. Chúa lên trời vẫn trong thân xác được biến đổi ấy. Những thực tại này soi sáng cho ta hiểu phần nào về mầu nhiệm ‘xác loài người ngày sau sống lại’. Dù thân xác chúng ta mục nát, tiêu tan, xem ra không còn gì… thì nó vẫn sống lại (trong tình trạng được biến đổi) và đi vào vĩnh cửu!
Câu hỏi thân xác sống lại kiểu gì, thế nào… thường gợi tò mò của chúng ta, nhưng không còn cần đặt ra nữa, vì thân xác ấy đã được biến đổi mà! Nhưng vẫn còn câu hỏi TẠI SAO. Tại sao thân xác sống lại?
Bởi ‘thân xác là con người’, không khác chi ‘linh hồn là con người’! Nói con người là ‘tâm thân’ hay là ‘thân tâm’ thì cũng như nhau. Tiếng Anh là ‘spiritual body’ hay ‘bodily spirit’! Tâm và thân không phải hai phần mà đúng hơn là hai chiều kích. Tầm quan trọng của chiều kích ‘tâm’ (hay linh hồn) thì miễn chất vấn, chỉ trừ đối với người vô thần. Tầm quan trọng của chiều kích ‘thân’ (hay thân xác) cũng rõ ràng, nhưng dường như ta không luôn nhận ra.
Có những truyền thống (chẳng hạn tư tưởng triết học Hy lạp và những nền văn hoá hay tu đức nhận ảnh hưởng của tư tưởng ấy) xem thường thân xác, đặt đối lập ‘xác’ với ‘hồn’ trong một cuộc tương tranh gay gắt… Lại có những trào lưu, nhất là thời hiện đại, tôn thờ thân xác, với tất cả những dạng quái đản của não trạng tôn thờ này! Kito giáo, đặt nền trên mặc khải Thánh Kinh, không chủ trương ‘duy’, dù duy tâm hay duy vật, theo một nghĩa loại trừ!
Lễ Mẹ Hồn Xác Lên Trời nhắc chúng ta về:
-chiến thắng dứt khoát và cuộc khải hoàn của Chúa Phục sinh và của những ai thuộc về Người;
-ân sủng diệu kỳ mà Chúa đã ban cho Mẹ, và sẽ ban cho chúng ta;
-thân xác chúng ta sẽ sống lại, dù điều này ta không dễ hiểu hay hình dung;
-phẩm giá của thân xác thuộc về phẩm giá của con người, vì thế, tôn trọng nhân phẩm thì thiết yếu phải tôn trọng thân xác – như tôn trọng sự sống, tình dục, sức khoẻ…, không lạm dụng thân xác (bạo lực, bóc lột, đổi chác, thương mại hoá…)
“Thân xác anh em là đền thờ Chúa Thánh Thần” (1Cr 6,19)!
Lm. Lê Công Đức
Sửa lỗi cho nhau là một yếu tố của đời sống cộng đoàn – vì con người thì có sai lỗi, lúc này lúc khác… Nhưng các bước cụ thể của tiến trình sửa lỗi mà Chúa Giêsu đề ra cho thấy rằng làm công việc tế nhị này phải có cách, chứ không thể làm theo bất cứ cách nào. Đồng thời, các bước từ kín đáo đến công khai ấy cũng thừa nhận rằng đôi khi, thật tiếc, có những thành viên trong cộng đoàn có thể rất cứng cỏi, cố chấp, chấp nhận tự loại trừ mình ra khỏi cộng đoàn!
Ở đây, Chúa Giêsu xác nhận thẩm quyền thuộc cơ chế Hội Thánh: “Những gì anh em cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; những gì anh em tháo gỡ dưới đất, trên trời cũng tháo gỡ!” Ta thấy đó, ‘thẩm quyền thuộc cơ chế’ là phương tiện Chúa muốn dùng để quản lý ân sủng! Vì thế, thẩm quyền ấy cần được đón nhận với một tinh thần siêu nhiên, ‘thuộc linh’, vượt qua những lý do tự nhiên có thể có để chống chế!
Thiên Chúa tạo nên con người với tính cộng đoàn – đây là ý nghĩa của kiểu nói “con người có nam có nữ”. Thiên Chúa muốn cứu con người trong cộng đoàn (dân Israel/Hội Thánh). Vì chính Thiên Chúa là cộng đoàn (Ba Ngôi, Cha-Con-Thánh Thần)!
Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ 16 đang diễn ra với chủ đề ‘hiệp hành’ (tức đồng hành đồng nghị) là một nỗ lực làm sống hoạt cảm thức cộng đoàn (Hội Thánh) nơi mọi thành phần trong Nhiệm Thể Chúa Kitô. Chúng ta muốn canh tân Hội Thánh bằng cách đào sâu việc lắng nghe và phân định cùng với nhau – qua đó diễn tả sự tham gia của mọi người, dựa trên nền tảng hiệp thông, để thi hành sứ mạng mà Chúa trao cho Hội Thánh giữa lòng thế giới trong thời đại này.
Việc lắng nghe và phân định chắc chắn có bao gồm việc sửa lỗi nơi chúng ta: cả lỗi cá nhân và lỗi cộng đoàn! Tháng 10 tới, các giám mục lại họp mặt ở Rôma, cùng với các đại biểu khác, để tiến hành khoá Hội nghị cuối cùng của Thượng Hội đồng này.
Đó chắc chắn là một hình ảnh đầy ấn tượng về “hai ba người tụ họp lại vì danh Thầy” – và vì thế chúng ta tin tưởng sẽ có “Thầy ở giữa”!
Lm. Lê Công Đức
Sài Gòn những ngày cuối tháng 3, những tia nắng ấm áp của mùa xuân đang dần trở nên gay gắt hơn- báo hiệu mùa hè sắp đến. Những tia nắng buổi sáng tinh nghịch len lỏi qua những tán lá rậm rạp ngoài sân trường, nó vượt qua cả tấm rào lưới bằng sắt và cuốn những hạt bụi lấp lánh vào dãy ghế xanh ngoài hành lang trường- nơi ấy có một người phụ nữ đang ngồi đợi chờ…
Chị chừng hơn 30 tuổi, nơi chị toát lên một vẻ đẹp dịu dàng đầy cuốn hút. Lần đầu tiên nhìn thấy chị, tôi đã lập tức bị vẻ đẹp của chị làm cho ấn tượng. Tôi nhớ lúc đó tôi đã có một suy nghĩ tinh nghịch là “chắc hẳn hồi trẻ chị đã làm cho nhiều chàng trai phải chao đảo và đau khổ lắm…”. Chị ngồi lặng lẽ trên chiếc ghế đối diện lớp học (đó là phòng học can thiệp sớm). Ánh mắt chị như mang một nỗi buồn sâu thẳm. Đôi mắt đượm buồn ấy dường như nói với tôi rằng chị đang rất mệt mỏi và đau khổ. Nhìn vào đôi mắt chị tôi có cảm tưởng như nó có thể tan biến bất cứ lúc nào. Thực ra trong suốt sáu tuần qua, hằng ngày tôi vẫn thường xuyên phải đối diện với những cặp mắt giống như vậy của biết bao phụ huynh khi họ đưa con đến học ở ngôi trường này- nơi tôi đang là một giáo sinh thực tập. Tôi thường rất sợ phải đối diện với những cặp mắt ấy vì nó khiến tôi cảm thấy bối rối, tôi không biết phải nói chuyện với những con người ấy như thế nào để tránh động đến những vết thương luôn sẵn sàng rỉ máu của họ. Thế nhưng không hiểu vì sao hôm đó khi nhìn thấy chị tôi lại rất muốn lại gần bên chị, tôi muốn hiểu và muốn là người sẻ chia với những khổ tâm của chị. Có một điều gì đó trong tâm tôi mách bảo rằng, chị đang rất cô đơn. Đang khi tôi lúng túng không biết phải làm gì thì đó chị nhìn về phía tôi, chị chào tôi bằng một nụ cười không quá tươi nhưng thật dịu dàng. Nụ cười ấy cho tôi biết chị là một người cởi mở, dễ gần.
– Em mới về dạy ở đây phải không?
Câu hỏi ấy của chị đã mở đầu cho cuộc trò chuyện của chúng tôi. Tôi khẽ cười và trả lời câu hỏi của chị:
– Em đến đây để thực tập.
– Tại sao em lại chọn nghề này? Cực lắm đấy.
Trước câu hỏi bất ngờ ấy, tôi chỉ biết im lặng. Tôi phải trả lời làm sao cho chị hiểu đây? Chẳng lẽ tôi sẽ nói đó là duyên định, liệu chị có tin không? Thấy tôi im lặng, chị lại tiếp tục nói:
– Con chị đấy. Thằng bé đẹp trai đúng không?
Nhìn theo hướng mắt của chị, tôi thấy một cậu bé đang chơi với cô Minh trong phòng can thiệp sớm. Thằng nhỏ nhìn thật khôi ngô và xinh xắn. Tôi đang định hỏi xem đứa bé có vấn đề gì mà phải học can thiệp ở đây thì chị đã cởi bỏ thắc mắc ấy trong tôi:
– Con trai chị bị tự kỷ…
Tôi nhìn vào mắt chị như muốn thể hiện sự cảm thông của mình. Mặc dù tôi không phải là một bà mẹ, tôi cũng không có một đứa em bị tự kỷ, nhưng là một giáo viên giáo dục đặc biệt, tôi biết đó là một nỗi đau quá lớn cho cuộc đời chị và cho cả gia đình chị. Dường như hiểu được những suy nghĩ trong tôi, chị đã tâm sự tất cả nỗi lòng của mình:
– Nhiều khi chị cứ ước, giá như ông trời cho con chị bị câm bị điếc thì có lẽ chị cũng đỡ đau khổ hơn. Chứ sao lại cho nó biết nói chứ. Thật là ông trời đã quá tàn nhẫn với chị.
Tôi chưa thực sự hiểu những gì chị chị nói, tôi nhìn sâu vào đôi mắt chị để tìm kiếm câu trả lời.
– Quê chị ở miền Tây, sáu năm trước, chị lấy chồng và hai vợ chồng chị quyết định chuyển lên Sài Gòn lập nghiệp. Một năm sau bé Bi (tên con trai chị) ra đời trong niềm hạnh phúc vỡ òa của cả hai vợ chồng. Từ ngày chị sinh con, anh ấy rất vui và luôn dành thời gian chăm sóc hai mẹ con. Vợ chồng chị luôn nhắc nhở nhau rằng dù thế nào cũng phải cho con có một tuổi thơ thực sự ý nghĩa. Chị bắt đầu có cảm giác bất an từ khi con trai được 3 tháng tuổi. Thằng nhỏ rất ít khi khóc, lại càng chẳng mấy khi cười dù người ta nựng nịu và cười với bé. Hơn nữa bé Bi luôn tỏ ra khó chịu mỗi khi chị ôm bé vào lòng, thậm chí bé còn khóc thét lên như thể chị đã làm điều gì khiến bé đau đớn lắm. Những lúc ấy, chị phải đặt bé xuống giường, bé hết khóc và lại nằm yên như không có chuyện gì xảy ra. Hồi ấy, chị chưa biết gì về căn bệnh của bé nên cảm thấy vô cùng bất lực, chị không biết vì sao con chị lại như vậy, chẳng lẽ mới 3 tháng tuổi mà bé đã biết ghét chị sao, mà chị là mẹ của bé cơ mà, chị vô cùng yêu bé, chị đã làm gì sai khi chăm sóc bé chứ. Nhưng rồi chị nhận ra, không phải bé ghét chị bởi vì với tất cả mọi người bé đều có phản ứng như vậy, cho dù đó là ông bà nội, ngoại hay là bố của Bi. Tất cả họ đều rất yêu Bi, nhưng Bi lại chẳng muốn bất kỳ ai tiếp xúc với mình, bé chỉ thích nằm một mình trong nôi. Nhưng lúc ấy vợ chồng chị vẫn cứ tự an ủi nhau rằng có lẽ do bé còn nhỏ nên mới thế, chỉ cần quan tâm đến bé hơn chắc ít lâu nữa khi bé lớn hơn một chút thì sẽ không còn tình trạng đó nữa.
Nói đến đây, chị dừng lại, ánh mắt chị nhìn xa xăm, tâm trí chị như đi về một thời ký ức đầy ám ảnh. Tôi nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay đang run rẩy của chị, tôi muốn nói chị dừng lại nếu như việc nhớ về quá khứ làm cho chị đau đớn đến thế.
– Bi được chẩn đoán là mắc chứng rối loạn phổ tự kỷ khi bé lên một tuổi. Bé vẫn phát triển, biết đi, biết nói như những trẻ bình thường khác. Bé biết đi nhưng mà cách đi của bé lạ lắm, Bi không đi bằng cả bàn chân mà luôn chỉ đi trên 5 đầu ngón chân. Nhìn con đi như vậy, chị sợ bé đau, chị muốn tập cho bé đi bình thường nhưng bé luôn từ chối bằng việc la hét hoặc đập đầu vào tường. Nhưng điều làm chị đau lòng nhất là mặc dù Bi biết nói nhưng chẳng bao giờ Bi nói chuyện với bố mẹ hay bất kỳ ai. Chỉ khi có một mình Bi với những món đồ chơi thì chị mới nghe thấy Bi nói chuyện, nhưng cứ hễ thấy chị lại gần là Bi lại im bặt. Bi chỉ thích ở một mình trong thế giới kỳ bí của bé, Bi không muốn để bất kỳ ai kể cả chị đi vào thế giới ấy. Khi cần chị giúp đỡ điều gì Bi không nói mà chỉ kéo áo chị và lôi về phía có thứ bé muốn lấy hoặc la hét để báo cho chị biết. Thậm chí có những khi bé cứ cố làm một việc gì đó thật đơn giản nhưng lại là điều rất khó khăn với bé. Bé không làm được, chị lại gần để làm giúp bé thì bé lại khóc thét lên giống như không muốn chị can thiệp vào. Suốt mấy năm qua, trái tim của chị chưa một phút giây nào không cảm thấy quặn đau. Chị đau khi thấy con ở ngay bên cạnh mà chị không thể chạm tới, chị đau khi thấy con tự hành hạ bản thân mình, chị đau khi thấy con không bao giờ nhìn chị và không bao giờ nói chuyện với chị, chị đau khi con gần như không nhận ra sự hiện diện và tình yêu của chị dành cho bé. Nhiều đêm thao thức trong buồn phiền chị nghĩ chị đã làm gì sai mà ông trời lại trừng phạt chị tàn nhẫn như vậy. Nếu muốn trừng phạt chị sao không để chị chết đi mà lại để chị sống không bằng chết như vậy.
Lúc này chị đã không thể ngăn được cảm xúc của mình nữa, chị đã để cho những giọt nước mắt được tự do lăn dài trên đôi gò má. Tôi lấy khăn giấy trong túi ra và đưa cho chị, tôi hỏi chị:
– Thế còn chồng chị thì sao?
Thực sự tôi không biết lúc đó tôi nghĩ gì mà lại hỏi như vậy. Khi hỏi xong tôi bỗng cảm thấy hối hận vì có thể câu hỏi của tôi sẽ khơi gợi một vết thương khác của chị. Tôi nghĩ vậy là vì tôi đã gặp không ít gia đình khi con có vấn đề thì không khí gia đình trở nên vô cùng căng thẳng. Nhưng rồi tôi thở phào nhẹ nhõm khi chị trả lời câu hỏi của tôi:
– Anh ấy chính là động lực duy nhất giúp chị can đảm sống tiếp cho đến bây giờ. Từ khi thấy Bi có tình trạng như vậy, ông bà nội và mọi người đổ dồn mọi tội lỗi cho chị, họ nghĩ rằng do chị không quan tâm đến con nên nó mới trở lên như vậy. Mặc dù chị đã cố giải thích nhưng mọi lời chị nói ra đều bị coi là những lời bào chữa cho lỗi lầm của chị. Chỉ có chồng chị là từ đầu tới cuối vẫn luôn bênh vực và an ủi chị, khích lệ chị cùng anh đối diện với những khó khăn của cuộc sống. Chị thực sự rất cảm ơn anh ấy. Bây giờ nếu như có một điều ước chị ước con chị được như những đứa trẻ bình thường, gia đình chị được hạnh phúc…
Nói xong câu ấy chị bỗng đổi hẳn thái độ của mình khiến tôi cảm thấy hơi bất ngờ. Chị hít một hơi thật sâu, cố nở một nụ cười thật tươi và nói:
– Nhưng mà điều ước sẽ mãi chỉ là điều ước thôi. Vậy thì chị sẽ không ước nữa, từ nay chị sẽ học cách để hiểu được con trai chị, chị sẽ yêu con với tất cả những gì hiện tại của bé. Dù sao thì Bi cũng chính là món quà mà ông trời đã ban tặng cho vợ chồng chị. Từ giờ chị sẽ không bắt Bi phải hòa nhập với thế giới này vì nó không thuộc về bé, nhưng chị sẽ để bé được tự do sống trong thế giới của mình, chị sẽ cùng đi với bé và chị tin một ngày nào đó bé sẽ cho chị cùng bé bước vào thế giới ấy.
Chị nhanh nhẹn lau đi những giọt nước mắt còn đọng lại trên khóe mắt khi thấy cô Minh dắt bé về phía chị. Tiết học của bé đã kết thúc. Chị đón lấy và hôn lên trán Bi nụ hôn của một thứ tình yêu vô điều kiện. Còn tôi lúc ấy lặng lẽ đứng nhìn sự thờ ơ của Bi trước tình cảm của mẹ. Cũng giống như chị, tôi thực sự mong muốn Bi có thể cảm nhận được tình yêu của chị. Chị chào cô Minh rồi quay sang chào tôi và dắt con ra về.
Từ trên lầu nhìn xuống tôi cứ mãi dõi theo bóng dáng của hai mẹ con đang tiến dần về phía cổng trường. Tôi thầm cầu chúc những gì tốt đẹp nhất sẽ đến với gia đình chị trong những đọan đường phía trước của cuộc đời. Dẫu còn nhiều khó khăn đang chờ nhưng tôi mong chị có thể vượt qua tất cả.
Sau 2 tiếng ngồi miệt mài trên máy tính để lập giáo án dạy học cho buổi học ngày mai, tôi vươn vai đầy phấn khởi, cuối cùng tôi cũng làm xong. Bây giờ tất cả những gì tôi nghĩ đến đó là một giấc ngủ thật ngon trên chiếc giường yêu quý của mình. Tôi bước lẹ chân về hướng phòng ngủ. Nhưng rồi đôi chân tôi dừng lại trước cửa “nhà nguyện”. Từ bên ngoài tôi chỉ còn thấy được ánh sáng mờ ảo quen thuộc của bóng đèn vàng nhỏ bé. Tôi nhìn vào chiếc đồng hồ đeo tay của mình, lòng thầm nghĩ “đã 10h30 rồi sao, nhanh thật đấy. Chắc bây giờ không còn chị nào ở trong đó với Cha đâu”. Rồi tôi hững hờ tính bước tiếp về phòng ngủ. Nhưng ngay lúc ấy câu chuyện của chị lúc sáng bỗng làm tôi khựng lại. “Chị đau khi thấy con ở ngay bên cạnh mà chị không thể chạm tới… chị đau khi con gần như không nhận ra sự hiện diện và tình yêu của chị dành cho bé.” Không hiểu sao câu nói ấy cứ liên tục dội vào tâm trí tôi, tôi cảm nhận như có một mũi kim đâm sâu vào trái tim của mình. Lúc này từng lời nói của chị, hình ảnh của chị làm tôi nhớ đến Cha, lòng tôi xao xuyến khi nghĩ về tình yêu mà Người dành cho tôi.
Tôi có một người Cha luôn rất yêu thương tôi. Người đã dành cho cuộc đời tôi tất cả những gì là tốt đẹp nhất. Người cho tôi sự sống, cho tôi niềm vui…Thậm chí Người còn sẵn sàng hy sinh tính mạng để cứu lấy tôi, “để cho tôi được sống và được sống dồi dào”. Người đã – đang và sẽ còn mãi yêu tôi bằng một tình yêu vô điều kiện. Còn tôi. Tôi cũng đã từng yêu Cha với trọn vẹn con tim nhỏ bé của mình. Nhớ hồi nhỏ, tôi rất thích được ở bên Cha, tôi thích được cùng nói chuyện, cùng chơi đùa và cùng học tập với Cha, tôi thấy hạnh phúc khi tôi được ở bất kỳ nơi nào có Cha, tôi thích được nhìn ngắm Cha, thích chiêm ngưỡng Tôn nhan diệu vời của Cha… Những lúc ở bên Cha tôi thường líu lo kể cho Cha nghe đủ mọi chuyện trên đời. Đáp lại tôi, Cha chỉ lặng im lắng nghe, Cha không nói nhiều nhưng Người thường nhìn tôi bằng ánh mắt dịu dàng và ấm áp. Cha cũng chưa bao giờ ôm lấy tôi như những người bố khác thường làm cho con của họ. Thế nhưng tôi biết Cha thực sự thấu hiểu và chia sẻ với tôi mọi điều tôi tâm sự bởi vì ở bên Cha tôi luôn cảm nhận một sự vui tươi và bình an nơi sâu thẳm tâm hồn, tôi nghe thấy tiếng gõ nhịp yêu thương của trái tim Cha. Vì vậy mà tôi yêu cái sự im lặng dễ thương ấy, tôi yêu ánh mắt dịu dàng Cha nhìn tôi và tôi yêu cái cách Cha hiện diện trong cuộc đời tôi- không ồn ào, không hiện hữu nhưng Người luôn ở đó – bên cạnh tôi. Ở bên Cha, tôi không phải buồn sầu, không phải sợ sệt và tôi luôn tin rằng không có hiểm nguy nào có thể đến gần tôi. Hồi ấy cứ mỗi khi gặp chuyện gì khó khăn, tôi lại thầm nói ” Lạy Cha con tín thác mọi sự trong tay Cha” và thế là tôi cứ vô tư mà sống, mà đối diện với mọi thử thách tôi gặp trên đường. Bước chân của tôi luôn thật nhẹ nhàng và vững chãi vì tôi biết có Cha đang song hành với tôi, Cha sẽ không ngần ngại bồng tôi lên những khi tôi mệt mỏi và muốn quỵ ngã. Vâng tôi đã từng yêu mọi thứ thuộc về Cha, kể cả những vết thương, những lỗ đinh rướm máu đến ghê sợ nơi bàn tay, bàn chân và cạnh sườn của Cha, tôi yêu cả chiếc vòng gai mà kẻ thù đã đội lên đầu Cha. Đối với người ngoài, những điều đó như một sỉ nhục cho Con Người, nhưng đối với tôi đó chính là dấu ấn của một tình yêu bất diệt bởi tôi biết những vết thương ấy xuất hiện trên Thân Thể Người là vì tôi. Tôi yêu Người- Cha của tôi!
Thế nhưng mọi thứ bỗng đổi thay kể từ khi tôi lớn. Giờ đây, tôi đã là một thiếu nữ, tôi đã tạm biệt cái thời thơ ấu ngây thơ trong sáng ấy để bước qua cánh cửa cuộc đời. Tôi học cao hơn, có nhiều bạn bè hơn, tôi phải bận rộn hơn với công việc học tập của mình, tôi phải đối diện nhiều hơn với những mặt khác nhau của cuộc sống và nhất là tôi có nhiều hơn những kế hoạch, dự định về một tương lai tươi đẹp (theo cái định nghĩa của riêng tôi). Chính khi tôi ý thức mình đã lớn cũng là lúc tôi có cái nhìn khác về Cha, tình cảm tôi dành cho Cha cũng không còn như xưa nữa. Thực ra, chính tôi luôn thấy một sự mơ hồ trong tâm hồn, tôi biết rằng mình đã đổi khác, nhưng tôi không biết rõ cái khác ấy đến từ đâu và nó như thế nào. Tôi vẫn đang ở trong căn nhà thân thương của hai Cha con, mỗi ngày tôi vẫn đến gặp Cha và nói với Cha rằng tôi yêu Người như thói quen tôi vẫn làm từ nhỏ. Nhìn bên ngoài thì chẳng thấy có gì khác nơi tôi cả, nhưng tận sâu trong lòng tôi biết tôi đã không còn là tôi của ngày nào nữa rồi. Tôi vẫn đến gặp Cha hàng ngày thế nhưng những lắng lo và bộn bề của cuộc sống khiến tôi nghĩ dành quá nhiều thời gian bên Cha sẽ làm uổng phí của tôi nhiều điều, mỗi ngày tôi lại rút ngắn của Cha một khoảng thời gian. Cứ như thế cho đến khi tôi không thể ngồi lâu bên Người như trước nữa, chỉ vài phút ngồi bên Cha mà tôi thấy nó dài lê thê, tôi cảm thấy mệt mỏi và tôi ngồi bên Ngài như một sự miễn cưỡng. Nếu như trước đây tôi vô tư nói với Cha về mọi chuyện thì giờ đây hầu hết những cuộc nói chuyện của tôi với Cha là những lời than phiền, trách móc về những khó khăn, đau khổ mà tôi phải hứng chịu và đôi khi là xin xỏ một thứ gì đó cho bản thân mình. Tôi vẫn tin là Cha có thể thấu suốt tâm can tôi nhưng bây giờ việc đó lại là điều khiến tôi băn khoăn và khó chịu. Tôi muốn giữ lại một điều gì đó cho riêng mình. Tôi muốn đòi cho mình một chút tự do để tôi có thể thoải mái làm theo những gì mình thích mà không sợ bị Cha nói cho biết rằng điều đó là sai trái. Tôi biết chúng sai trái nhưng tôi vẫn muốn làm và tôi sẽ không thể tự do làm chúng được nếu như có Cha bên cạnh. Tôi yêu cái thứ tự do mà tôi biết chính nó đang giết chết tôi, tôi yêu nó vì nó cho tôi được sống trong cái niềm vui của sự ích kỷ và nhỏ nhen của riêng mình… Không biết từ lúc nào tôi thích việc rút lui vào thế giới chỉ có mình tôi, ở trong ây tôi yên tâm khi nghĩ mình có thể tránh được cái nhìn của Cha. Mới ngày nào ánh mắt dịu dàng, ấm áp ấy là sự an ủi là niềm vui của tôi nhưng giờ đây vì quá yêu mình, ánh mắt ấy bỗng trở thành ánh mắt của sự dò xét, của nhắc nhở và tôi khó chịu khi phải đối diện với ánh mắt ấy, tôi sợ cái cách Người nhìn thấu suốt vào tâm hồn tôi, tôi có cảm giác mình bị bóc trần trụi trước mặt Cha của mình. Tôi đã quá yêu bản thân mình rồi, yêu hơn tất cả mọi thứ trên đời, hơn bất kỳ ai kể cả Cha. Bất chợt tôi nhận ra, tôi thật giống với Bi- con trai của người phụ nữ ấy. Cũng giống như Bi, tôi chỉ thích đơn độc một mình trong cái thế giới riêng tư tôi tự tạo ra. Tôi có đôi tai nghe được bình thường nhưng tôi lại thường làm ngơ trước những tiếng nói dịu êm nhưng đầy mãnh liệt của Cha. Tôi thường giả câm khi ngồi bên Cha nhưng lại thấy thích thú khi được nói chuyện với những thứ đồ vật mà Cha đã cho tôi. Và nhất là tôi sợ khi biết Cha đang nhìn tôi, sợ khi biết Cha muốn đụng chạm đến tôi, tôi biết khi ấy tôi sẽ bị Cha chữa lành. Tôi sợ và tôi tránh né sự yêu thương trìu mến mà Cha dành cho tôi, tôi muốn cứ mãi được sống với bệnh tật của mình- thứ bệnh hoạn khiến tôi đau đớn nhưng cũng cho tôi cảm giác đê mê khi sống trong ảo mộng về bản thân. Tôi biết, tôi biết rất rõ đó là một thứ thuốc phiện nguy hiểm có thể giết chết tôi nhưng tôi vẫn tự nguyện níu giữ nó lại bên mình vì chỉ khi sống với nó tôi mới được yêu mình theo cách tôi muốn. Nếu tôi để cho Người được tự do chạm đến tôi thì tôi sẽ không thể tự do sống cùng những thứ thụ tạo đang lôi quấn và làm cho tôi vui vẻ như bây giờ nữa. Vì vậy mà tôi vùng vẫy, tôi la hét hết sức để đuổi Cha ra khỏi cuộc đời của tôi…
Tôi rùng mình khi nghĩ đến việc tôi đã bị mắc chứng “Tự kỷ tâm linh”. Vốn dĩ chứng tự kỷ thể xác đến với những đứa trẻ từ khi chúng còn rất bé (dưới 3 tuổi). Điều đó có nghĩa là những người lớn như tôi sẽ không có nguy cơ bị mắc phải. Thế nhưng tự kỷ tâm linh thì lại không từ bất kỳ ai, nó có thể đến viếng thăm ta vào bất kỳ lúc nào mà ta mời chúng đến… Một khác biệt thật lớn nữa đó là những người bị tự kỷ thể xác thì họ thực sự không ý thức được về bệnh của mình, họ không muốn bị như vậy. Tôi đoan chắc rằng, những đứa trẻ như Bi nếu có được một chút ý thức về những gì đang diễn ra với chúng thì chúng sẽ muốn được là một người bình thường để được đáp trả lại tình yêu của ba mẹ. Còn những người bị Tự kỷ tâm linh như tôi – ý thức được những nguy hiểm đang xảy đến với mình nhưng lại thích được sống cùng nó. Tôi biết Cha yêu tôi nhiều thế nào, biết Cha đang phải đau khổ nhiều ra sao nhưng tôi vẫn nhẫn tâm đối xử với ông như vậy. Lúc này nhớ đến những giọt nước mắt lăn dài trên khuôn mặt người phụ nữ tôi gặp buổi sáng, lòng tôi bỗng dấy lên một nỗi đau khôn xiết vì tôi tin rằng Cha tôi còn đau đớn gấp ngàn lần người mẹ đáng thương ấy. Tôi biết Người đã không giây phút nào không khóc vì tôi nhưng những giọt nước mắt ấy Người đã làm chúng chảy ngược vào trong quả tim nát tan của Người, để rồi chúng được biến thành những dòng máu và nước chảy ra để gột rửa tôi, làm cho tôi được sạch và được sống.
Tôi như chết lặng trước những cảm nghiệm của mình trong giây phút ấy. Tôi nghĩ rằng tôi đã khóc rất nhiều trong vài phút ngắn ngủi vừa rồi vì tôi biết mình rất dễ xúc động và hay mít ướt. Tôi vội đưa tay lần sờ vào đôi mắt nhỏ xinh, sao lạ quá mắt tôi vẫn ráo khô, tôi nghĩ thầm không biết từ lúc nào mà mình lại cứng lòng đến thế. Thực sự lúc ấy tôi đã không khóc nhưng tôi cảm nhận một luồng gió mát thổi vào tâm hồn tôi. Nó không phải là một cơn gió đến từ thiên nhiên nhưng là sự dịu mát diệu vời của Thần Khí đến với tôi. Không hiểu sao lòng tôi rạo rực một niềm vui khôn tả. Tôi nhẹ bước vào nhà nguyện. Tôi thấy Cha vẫn đứng lặng yên trên cây Thánh Giá, đôi tay Người vẫn dang rộng và Người đang nhìn tôi, ánh mắt đợi chờ. Tôi lại gần hôn lên đôi bàn chân thơm ngát của Cha và khẽ nói “Cha ơi, nay con trở về cùng Cha. Con đã đắc tội với Cha, con không đáng là con Cha nữa nhưng xin cho con được làm một nô lệ trong trái tim xót thương vô bờ của Cha”.
Đi về phòng ngủ, tôi thấy lòng mình thật bình an. Hôm nay, bầu trời đêm mới đẹp biết bao!…
Nguyễn Thương