Trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư ngày 9/10/2024, Đức Thánh Cha nhắc rằng sự hiệp nhất của cuộc sống, của Lễ Hiện Xuống, theo Chúa Thánh Thần, đạt được khi chúng ta cố gắng đặt Thiên Chúa, chứ không phải chính mình, vào trung tâm. Sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu cũng được xây dựng theo cách này: không phải bằng cách chờ đợi người khác đến với chúng ta ở nơi chúng ta đang ở, nhưng bằng cách cùng nhau hướng tới Chúa Kitô.
Trong bài giáo lý, Đức Thánh Cha quay lại với tường thuật về Lễ Hiện Xuống trong Sách Công Vụ Tông đồ, mô tả các Tông Đồ là những người “được đầy tràn Chúa Thánh Thần” và được sai đi để công bố Tin Mừng cho thế giới. Ngài nói rằng trong mọi thời đại, Chúa Thánh Thần hướng dẫn Giáo Hội trong sứ mạng ôm trọn mọi dân tộc trong sự hiệp nhất của Thân Thể Chúa Kitô. Do đó, có hai chuyển động: phổ quát và hiệp nhất. Một mặt, Chúa Thánh Thần thúc đẩy Giáo hội cởi mở và đi ra để loan báo Tin Mừng cho mọi người, không phân biệt ai. Mặt khác, Người gắn kết cộng đồng lại với nhau một cách mật thiết xung quanh Chúa Kitô, “mối dây hiệp nhất”.
Đức Thánh Cha lưu ý rằng việc đạt được và duy trì sự hiệp nhất trong Giáo hội, cũng như trong đời sống, không phải là điều dễ dàng, bởi vì dù rất muốn hiệp nhất nhưng chúng ta chỉ muốn bám giữ quan điểm riêng của mình và khiến cho sự hiệp nhất càng xa vời hơn. Ngài nhắc rằng sự hiệp nhất của cuộc sống, của Lễ Hiện Xuống, theo Chúa Thánh Thần, đạt được khi chúng ta cố gắng đặt Thiên Chúa, chứ không phải chính mình, vào trung tâm.
Mở đầu buổi tiếp kiến, cộng đoàn cùng nghe đoạn sách Công vụ Tông đồ (11,15-17):
[Ông Phêrô nói:] “Tôi vừa mới bắt đầu nói, thì Thánh Thần đã ngự xuống trên họ, như đã ngự xuống trên chúng ta lúc ban đầu. Tôi sực nhớ lại lời Chúa nói rằng: ‘Ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì sẽ được rửa trong Thánh Thần’. Vậy, nếu Thiên Chúa đã ban cho họ cùng một ân huệ như Người đã ban cho chúng ta, vì chúng ta tin vào Chúa Giêsu Kitô, thì tôi là ai mà dám ngăn cản Thiên Chúa?”
Và Đức Thánh Cha bắt đầu bài giáo lý:
Bài giáo lý của Đức Thánh Cha
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Trong hành trình giáo lý về Chúa Thánh Thần và Giáo hội, hôm nay chúng ta đề cập đến Sách Công vụ Tông đồ.
Trình thuật Chúa Thánh Thần hiện xuống vào ngày Lễ Ngũ Tuần bắt đầu bằng việc mô tả một số dấu hiệu chuẩn bị – gió, sấm sét và các lưỡi lửa – nhưng kết thúc với một khẳng định: “Và tất cả đều được tràn đầy Chúa Thánh Thần” (Cv 2,4). Thánh Luca -người viết sách Công vụ Tông đồ – nhấn mạnh rằng Chúa Thánh Thần là Đấng bảo đảm tính phổ quát và sự hiệp nhất của Giáo hội. Hiệu quả tức thì của việc được “đầy Thánh Thần” là các Tông đồ “bắt đầu nói các thứ tiếng khác” và rời Nhà Tiệc Ly để loan báo Chúa Giêsu Kitô cho đám đông (x. Cv 2,4tt).
Sứ mạng phổ quát của Giáo hội như dấu chỉ của sự hiệp nhất mới giữa mọi dân tộc
Khi làm như vậy, Thánh Luca muốn nêu bật sứ mạng phổ quát của Giáo hội, như dấu chỉ của sự hiệp nhất mới giữa mọi dân tộc. Chúng ta thấy Chúa Thánh Thần hoạt động cho sự hiệp nhất theo hai cách. Một mặt, Người thúc đẩy Giáo hội đi ra, để có thể chào đón nhiều người và dân tộc hơn; mặt khác, Người quy tụ Giáo hội với nhau để củng cố sự hiệp nhất đã đạt được. Người dạy Giáo hội mở rộng cách phổ quát và quy tụ lại trong sự hiệp nhất. Phổ quát và duy nhất là hai mầu nhiệm của Giáo hội.
Chuyển động đầu tiên trong hai chuyển động – tính phổ quát – diễn ra ở chương 10 sách Công vụ, trong câu chuyện ông Cornelio hoán cải. Vào ngày Lễ Ngũ Tuần, các Tông đồ đã công bố Chúa Kitô cho tất cả người Do Thái và những người tuân theo luật Môsê, bất kể họ thuộc dân tộc nào. Cần phải có một “Lễ Ngũ Tuần” khác, rất giống với lễ đầu tiên, lễ tại nhà của viên đại đội trưởng Cornelio, để khuyến khích các Tông đồ mở rộng chân trời và dỡ bỏ rào cản cuối cùng, rào cản giữa người Do Thái và dân ngoại (xem Cv 10-11).
Thêm vào sự mở rộng sắc tộc này là sự mở rộng về mặt địa lý. Thánh Phaolô – cũng trong sách Công Vụ Tông đồ (xem 16,6-10) – muốn loan báo Tin Mừng tại một vùng mới ở Tiểu Á; nhưng, theo sách Công vụ, “Chúa Thánh Thần đã ngăn cản ông”; ông muốn chuyển đến Bitinia “nhưng Thánh Thần của Chúa Giêsu không cho phép ông”. Ngay lập tức chúng ta tìm ra lý do dẫn đến những lệnh cấm đáng kinh ngạc này của Thánh Thần: đêm hôm sau, Tông đồ nhận được lệnh trong giấc mơ phải đi đến Makêđônia. Vì thế Tin Mừng đã rời bỏ quê hương Châu Á và tiến vào Châu Âu.
Chúa Thánh Thần tạo là “mối dây hiệp nhất”
Chuyển động thứ hai của Chúa Thánh Thần – Đấng tạo nên sự hiệp nhất – diễn ra ở chương 15 của Công vụ, trong diễn tiến của sự việc được gọi là Công đồng Giêrusalem. Vấn đề là làm thế nào để đảm bảo rằng tính phổ quát đạt được không làm tổn hại đến sự hiệp nhất của Giáo hội. Chúa Thánh Thần không phải lúc nào cũng mang lại sự hiệp nhất một cách bất ngờ, bằng những can thiệp kỳ diệu và dứt khoát, như vào Lễ Hiện Xuống. Người cũng thực hiện điều đó – và trong phần lớn các trường hợp – bằng công việc kín đáo, tôn trọng thời đại và sự khác biệt của con người, thông qua con người và các tổ chức, cầu nguyện và thảo luận. Theo cách thức mà chúng ta nói ngày nay – hiệp hành. Trên thực tế, điều này đã xảy ra tại Công đồng Giêrusalem về vấn đề các luật buộc của Luật Môsê áp dụng đối với những người ngoại giáo cải đạo. Giải pháp của Công đồng đã được công bố cho toàn thể Giáo hội bằng những lời nổi tiếng: “Chúa Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định…” (Cv 15,28).
Thánh Augustinô giải thích sự hiệp nhất do Chúa Thánh Thần mang lại bằng một hình ảnh, đã trở thành kinh điển: “Linh hồn là gì đối với thân xác con người thì Chúa Thánh Thần là thế đối với thân thể Chúa Kitô, Giáo hội”. Hình ảnh giúp chúng ta hiểu được điều gì đó quan trọng. Chúa Thánh Thần không mang lại sự hiệp nhất của Giáo hội từ bên ngoài; Người không chỉ đơn giản ra lệnh cho chúng ta phải hiệp nhất. Chính Người là “mối dây hiệp nhất”. Chính Người tạo nên sự hiệp nhất của Giáo hội.
Hiệp nhất giữa con người không được thực hiện trên bàn ăn mà trong cuộc sống
Như thường lệ, chúng ta kết thúc bằng một suy nghĩ giúp chúng ta chuyển từ Giáo hội nói chung sang mỗi người chúng ta. Sự hiệp nhất của Giáo hội là sự hiệp nhất giữa con người và chúng ta không thực hiện trên bàn ăn mà trong cuộc sống. Tất cả chúng ta đều mong muốn sự hiệp nhất, tất cả chúng ta đều tha thiết mong muốn điều đó; tuy nhiên thật khó để đạt được điều đó, ngay cả trong hôn nhân và gia đình, sự hiệp nhất và hòa hợp là một trong những điều khó đạt được nhất và thậm chí duy trì nó còn khó hơn đạt được nó.
Đặt Thiên Chúa ở trung tâm
Lý do mà hiệp nhất là điều khó khăn với chúng ta là bởi vì ai cũng muốn tạo sự hiệp nhất nhưng xoay quanh quan điểm của riêng mình mà không nghĩ rằng người đang đối diện cũng nghĩ y như thế về quan điểm của “họ”. Bằng cách này, sự hiệp nhất chỉ đơn giản là ngày càng xa vời hơn. Sự hiệp nhất của cuộc sống, của Lễ Hiện Xuống, theo Chúa Thánh Thần, đạt được khi chúng ta cố gắng đặt Thiên Chúa, chứ không phải chính mình, vào trung tâm. Sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu cũng được xây dựng theo cách này: không phải bằng cách chờ đợi người khác đến với chúng ta ở nơi chúng ta đang ở, nhưng bằng cách cùng nhau hướng tới Chúa Kitô.
Chúng ta cầu xin Chúa Thánh Thần giúp chúng ta trở thành khí cụ của sự hiệp nhất và hòa bình.
Buổi tiếp kiến kết thúc với Kinh Lạy Cha và phép lành Đức Thánh Cha ban cho mọi người.
nguồn. Vatican News
Đoạn Thư Galat hôm nay (3,7-14) là một trong những bản văn rõ ràng dứt khoát nhất của thánh Phaolô nói về đức tin đối ứng với lề luật. “Không ai được công chính hoá trước mặt Chúa bởi lề luật… Người công chính sống bởi đức tin”.
Nhớ lại, trong lịch sử Cựu ước, Chúa ban lề luật. Con người nhận lề luật, cố gắng giữ luật, cả ‘chế biến’ luật nữa, và rất tự hào về lề luật ấy… nhưng oái ăm là họ quên Thiên Chúa, hoặc hiểu luật một cách lệch lạc dẫn đến hiểu về Thiên Chúa một cách méo mó. Chúa Giêsu đã đến trong một bối cảnh như vậy. Người đã cố gắng gạn đục khơi trong cho lề luật, và trình bày cho mọi người khuôn mặt chân thực của Thiên Chúa. Chúa Giêsu tấn công não trạng nệ luật, và nhấn mạnh điều cốt yếu là TIN vào Người, Đấng Thiên Chúa sai đến. Thánh Phaolô khẳng định sự công chính hoá, hay ơn cứu độ, là bởi lòng tin vào Chúa Giêsu Kitô chứ không bởi lề luật.
Thượng tôn lề luật là thượng tôn công trạng, như anh Phariseu lên Đền thờ cầu nguyện đã vỗ ngực kể công của mình. Còn dựa vào lòng tin đặt nơi Chúa Giêsu là dựa vào ân sủng mà Người đem lại nhờ mầu nhiệm Thập giá-Phục sinh của Người. Một lần nữa, ta lại thấy ở đây sự đối ứng giữa tính cơ chế và tính đặc sủng! Dựa vào luật thì không kinh nghiệm mối tương quan liên vị giữa mình và Thiên Chúa, điều mà người ta chỉ cảm nghiệm được trong đức tin. Sống theo luật thì chỉ cần một quyển sách (ghi các điều luật) chứ không cần yêu! Còn sống tương quan liên vị thì cần một người, một Đấng khác, để mình tin và yêu và phó thác… Cần tự hỏi ngay: Chúng ta sống đạo kiểu gì? Chúng ta nệ luật, nệ cơ chế, hay là ‘nệ’ đức tin, ‘nệ’ tương quan liên vị với Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần?
Hồi thế kỷ 16, vấn đề công chính hoá bởi công trạng hay bởi đức tin là vấn đề chủ yếu dẫn đến cuộc ly khai của anh em Tin Lành (Phong trào Cải cách) ra khỏi Giáo hội Công giáo. Đến thời chúng ta hiện nay, mâu thuẫn ấy đã bớt gay gắt hơn nhiều… nhờ hai bên đã cùng trao đổi, đối thoại và cùng hiểu rõ hơn.
Nhưng ngay cả hiện nay, trong thực tế, người Công giáo chúng ta có thoát hẳn não trạng nệ luật/ nệ công trạng, và nhấn mạnh đủ về lòng tin vào Chúa Giêsu chưa? Đừng quên, tin Chúa Giêsu không phải là điều quá dễ đâu; chính những người thuộc dân Thiên Chúa ngày xưa đã từng gọi Chúa Giêsu là ‘quỉ con’, dựa thế quỉ vương mà trừ quỉ đó!
Xin Chúa Giêsu cứu chúng ta khỏi cám dỗ muốn tự cứu mình bằng các công trạng!
Lm. Lê Công Đức
Cũng như bao lần được đi thăm viếng, tôi cùng chị em bon bon qua những chặng đường đầy ánh nắng và sự ồn ào của đoàn người đông đúc để đến thăm một mái ấm mà tôi chưa một lần đến. Quãng đường không dài nhưng cũng đủ để tôi tự đặt cho mình những câu hỏi: cuộc sống của các em ở đó như thế nào? Các linh mục và mọi người đã làm gì để giúp các em? Ở đó các em học những cái gì?…vv. Tất cả những câu hỏi đó đã được trả lời khi chúng tôi đến nơi và gặp được một linh mục đang phục vụ ở đó. Cha đã tiếp đón chúng tôi với nụ cười thân thiện và cởi mở. Qua những câu chuyện cha kể, chúng tôi cảm nhận được tình yêu thương của cha dành cho các em. Cha cũng dẫn chúng tôi đến gặp các em. Những tiếng cười nói vang lên, những khuôn mặt trẻ thơ với ánh mắt long lanh ngước nhìn chúng tôi. Trong suốt buổi thăm viếng, chúng tôi cùng chơi đùa, trò chuyện và lắng nghe những câu chuyện về cuộc đời của các em. Mỗi em là một câu chuyện riêng; có em đã mất cha mẹ, có em bị bỏ rơi khi mới sinh ra vì các em mang trên mình căn bệnh HIV…
Có một khoảnh khắc khiến tôi không thể quên; một em gái tuổi mới lớn thủ thỉ với tôi rằng:
“Mẹ em bỏ em trong sọt rác ở bệnh viện; các cha đã nhặt em lên và đưa em về đây.’’ Câu nói vô tư nhưng đầy nỗi buồn ấy khiến lòng tôi nghẹn ngào. Đó là một sự thật, một ký ức đáng thương của những phận người bị bỏ rơi bởi chính cha mẹ ruột. Giữa dòng đời nhiều chơi vơi và đầy vội vã này, có biết bao sự bỏ rơi chưa được cứu giúp? Và tôi càng trân quý biết bao tấm lòng độ lượng vẫn từng ngày nâng đỡ những người đang bị bỏ rơi!
Rời mái ấm, tôi mang theo trong lòng niềm trăn trở, lòng biết ơn và cả niềm hy vọng. Trăn trở vì vẫn còn những mảnh đời thiếu hơi ấm của gia đình. Tôi biết ơn vì chính mình được Thiên Chúa ban tặng một gia đình trọn vẹn. Chuyến thăm mái ấm đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc. Tôi hiểu rằng, bản thân là một người công giáo, dù chưa thể giúp các em về vật chất nhưng bằng lời cầu nguyện và sự tín thác, tôi tin rằng Chúa vẫn đang nâng đỡ những hoàn cảnh khó khăn qua những cánh tay hữu hình của Ngài. Tôi hy vọng rằng mỗi người đều có thể góp phần nhỏ bé của mình để xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, nơi mà tình yêu và sự quan tâm luôn được lan tỏa.
Têresa Thanh Hoa
Trong cuộc trò chuyện với các tu sĩ Dòng Tên ở thủ đô Brussels của Bỉ, trong chuyến tông du vừa qua, và được tạp chí Văn minh Công giáo (La Civiltà Cattolica) công bố ngày 08/10, Đức Thánh Cha đề cập đến vai trò của phụ nữ trong Giáo hội, và không giới hạn điều này trong lĩnh vực mục vụ, đồng thời nhấn mạnh vai trò của phụ nữ tại Vatican đang thay đổi.
Chủ đề phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong Giáo hội đã được đề cập nhiều lần trong chuyến tông du đến Luxembourg và Bỉ, từ ngày 26 đến 29/9 vừa qua, cũng là trọng tâm của cuộc trò chuyện thân mật của Đức Thánh Cha với 150 tu sĩ Dòng Tên tại Brussels.
Trả lời câu hỏi “khó khăn trong việc mang lại cho phụ nữ một vị trí công bằng và thích hợp hơn trong Giáo hội”, Đức Thánh Cha tái khẳng định “Giáo hội là nữ”, và ngài thấy phụ nữ được ban cho các đặc sủng, vì thế không muốn giới hạn cuộc thảo luận về vai trò phụ nữ trong Giáo hội về chủ đề mục vụ. Đức Thánh Cha cho biết tại thời điểm này, ngài đang cố gắng “ngày càng nhiều hơn để đưa thêm phụ nữ vào Vatican với những vai trò có trách nhiệm ngày càng cao hơn. Và mọi thứ đang thay đổi. Người ta có thể thấy và cảm nhận điều này”.
Đức Thánh Cha đưa ra một số khuôn mặt cụ thể của phụ nữ đang phục vụ ở các vị trí quan trọng: Sơ Raffaella Petrini, Tổng Thư ký Phủ Thống đốc Thành Vatican; sơ Alessandra Smerilli, Tổng Thư ký Bộ Phục vụ Phát triển Con người Toàn diện; trong Bộ Giám mục có ba thành viên là phụ nữ; sơ Simona Brambilla, Tổng Thư ký Bộ các Dòng tu; và trong Bộ Kinh tế, phó điều phối viên là bà Charlotte Kreuter-Kirchhof.
Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Tóm lại là đưa phụ nữ vào Vatican với những vai trò có trách nhiệm cao. Chúng ta sẽ tiếp tục con đường này. Mọi thứ đang hoạt động tốt hơn trước”.
Về vấn đề này, ngài cho biết chính những lời của bà Von der Leyen, Chủ tịch Uỷ ban châu Âu, đã làm ngài suy nghĩ rất nhiều về vai trò của phụ nữ trong Giáo hội. Trong một cuộc gặp gỡ, ngài đã hỏi bà làm thế nào bà có thể đảm trách công việc của một Chủ tịch Uỷ ban châu Âu và vừa đảm nhận vai trò làm vợ và làm mẹ trong gia đình, bà đã trả lời: “Như những người mẹ chúng tôi vẫn làm”.
Cuộc đối thoại giữa Đức Thánh Cha và các tu sĩ Dòng Tên còn liên quan đến giáo xứ, cộng đoàn tín hữu, khi số linh mục phục vụ giáo xứ ngày càng ít. Đức Thánh Cha trả lời: “Cộng đoàn quan trọng hơn linh mục. Linh mục phục vụ cộng đoàn”, đồng thời đưa ra các ví dụ về trường hợp các nữ tu đảm nhận vai trò dẫn dắt một số nơi trên thế giới, như trường hợp các nữ tu ở Peru. Các nữ tu có “sứ vụ đặc biệt đi đến những nơi không có linh mục. Các chị làm mọi việc: giảng dạy, rửa tội… Và khi có một linh mục được sai đến, các nữ tu lại đi đến một nơi khác để tiếp tục thi hành sứ vụ”.
Các tín hữu ở Galat được thánh Phaolô nhắc nhở coi chừng rơi vào tình trạng “bắt đầu theo tinh thần mà lại kết thúc theo xác thịt” – và như vậy tất cả sẽ trở nên luống công vô ích… Cũng trong chiều hướng này, vị Tông Đồ chất vấn: “Anh em đã nhận lãnh Thánh Thần bởi giữ luật hay bởi vâng phục đức tin?”
Một lần nữa, ở đây lời Chúa thúc bách ta phân định giữa hai chiều kích đặc sủng và cơ chế (của đời sống Giáo hội). Bắt đầu theo TINH THẦN, đó là tính đặc sủng. Kết thúc theo XÁC THỊT, đó là tính cơ chế. Lấy thái độ vâng phục trong đức tin làm nền tảng, đó là tính đặc sủng. Lấy thái độ giữ luật làm nền tảng, đó là ‘duy cơ chế’! Khỏi phải nói, Thánh Thần được ban và được nhận trong chân trời đặc sủng chứ không phải nhắm phục vụ cho cơ chế như mục đích cuối cùng.
Giáo huấn của Chúa Giêsu về cầu nguyện (xét như cầu XIN) cũng có thể được tiếp cận và nhận hiểu theo nhãn giới đặc sủng đối ứng với cơ chế.
Ai xin cũng muốn được. Người vay ba chiếc bánh lúc nửa đêm sẽ được đáp ứng, nếu không vì gia chủ sốt sắng quan tâm trên nền tảng tình bạn (tương ứng với tính đặc sủng), thì ít ra cũng vì gia chủ muốn tránh sự quấy rầy (tức đáp ứng thuần tuý bên ngoài, chứ không có tấm lòng bên trong, điều này tương ứng với bình diện cơ chế). Con người “gian ác” còn ứng xử như thế, HUỐNG CHI Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn tốt lành! Kết luận ở đây: Chúng ta có tất cả lý do để cầu xin, để kiên nhẫn cầu xin.
Ai xin sẽ được. Nhưng được GÌ? Được điều tốt lành. Được bánh thay vì hòn đá, được con cá thay vì con rắn, được quả trứng thay vì con bọ cạp! Nhưng có điều này CẦN NHỚ: Chỉ Thiên Chúa biết điều gì tốt lành / tốt lành hơn / tốt lành nhất cho tôi, đúng lúc, đúng nơi, trong hoàn cảnh cụ thể. Vì thế, tôi cứ xin điều mình nghĩ là tốt, một cách đơn sơ như đứa con nhỏ xin cha mẹ mình – nhưng hãy luôn để cho Chúa, là cha mẹ, thẩm định xem điều ấy có thực sự tốt cho tôi hay không…
Điều tốt lành chân thực, duy nhất, thường hằng là chính Thiên Chúa! Đây là ý nghĩa của khẳng định “Cha anh em trên trời sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ xin Ngài”. Thánh Thần là nguồn của đặc sủng.
Bạn hãy xin bất cứ gì bạn nghĩ là tốt lành và cần thiết cho mình, rồi để cho Chúa nghĩ, Chúa thẩm định.
Còn khi bạn xin Chúa Cha ban Thánh Thần, xin cho danh thánh Cha vinh hiển, Nước Cha trị đến, xin cho “ý Cha được thực hiện, chứ đừng theo ý con”…, thì bạn có thể chắc chắn mình đang xin đúng điều tốt lành như Chúa muốn!
Có Nước Thiên Chúa là có mọi điều tốt lành cho chúng ta, không thiếu một điều nào!
Lm. Lê Công Đức
Nhiều khi chỉ cần ôn lại những trường hợp đây đó người ta bị ‘quê’ trong các câu chuyện Thánh Kinh cũng rất hữu ích cho ta cảnh giác với cách suy nghĩ chủ quan nông cạn của mình và học biết cẩn trọng phân định ý Chúa. Hôm nay có hai câu chuyện bị quê như vậy.
Phaolô lúc ban đầu nghĩ mình đúng khi hăng hái bắt bớ và tìm cách tiêu diệt các Kitô hữu. Nhưng rồi khi ngã ngựa trên đường đi, Phaolô mới biết mình sai, và bị quê… Martha ở Bêtania phàn nàn với Chúa Giêsu: “Thầy ơi, em con để con hầu hạ một mình mà Thầy không quan tâm sao? Xin Thầy bảo em con giúp con với”. Và Chúa trả lời rằng cô em đã chọn điều tốt nhất. Martha bị quê…
Rất nhiều chuyện bị quê như thế. Như các môn đệ cấm trẻ nhỏ đến với Chúa Giêsu, được Chúa sửa rằng hãy để trẻ nhỏ đến với Thầy… Như các ông tranh làm lớn, Chúa sửa rằng phải trở nên nhỏ mới vào được Nước Trời… Như đám đông đi với Chúa đã quát tháo bảo người mù ở Giêrico im đi, thì Chúa Giêsu nghe tiếng anh, Người đứng lại và yêu cầu đưa anh tới với Người… Như người ta đánh giá ‘công phúc’ qua số lượng tiền dâng cúng, còn Chúa Giêsu thì đề cao bà goá vừa mới bỏ hai đồng kẽm vào thùng…
Đặc biệt, những người Phariseu và các kinh sư bị quê hết lần này đến lần khác, khi họ dạy cho Chúa Giêsu giữ ngày sabat hay đừng lân la với người tội lỗi, và Chúa Giêsu đã làm ngược lại quan điểm của họ… Cả Phêro cũng bị quê nhiều, khi can Thầy đừng đi con đường khổ nạn, để bị Thầy mắng là ‘Satan’… Gia cô bê và Gioan thì muốn kéo lửa từ trời xuống thiêu huỷ nguyên một làng ở Samaria, hai ông bị Thầy nghiêm khắc quở trách…
Trong các dụ ngôn của Chúa Giêsu, có đầy các tình huống bị quê. Như người con cả nghĩ sai nên đã vùng vằng với cha mình… Như ông tư tế và thầy Lêvi tưởng rằng mình có đủ lý do biện minh cho việc bỏ đi qua trong sự kiện đó… Như ông nhà giàu tích trữ đầy của cải và tự nhủ mình chỉ còn có việc hưởng thụ thôi, mà không biết rằng nội đêm ấy mình sẽ chết…
Người ta bị quê không chỉ một cách cá nhân, mà còn trên bình diện cộng đồng nữa, như người Do thái tự hào mình là dân ưu tuyển của Thiên Chúa và khinh rẻ dân ngoại – họ được Chúa Giêsu ‘sửa lưng’ khi nhắc lại chuyện tướng Naaman người Xyria và bà goá Sarepta, và khi Chúa cảnh báo: những kẻ đứng đầu sẽ xuống chót, những kẻ rốt hết sẽ lên hàng đầu, hay “những người thu thuế và các cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ngươi”…
Ngay cả Đức Maria, tuyệt vời như thế, mà vẫn không tránh bị quê một mức nào đó, và cần được soi sáng để hiểu đúng hơn và xác tín hơn, chẳng hạn khi Maria thắc mắc “việc đó xảy đến thế nào được, vì tôi đâu biết đến người nam”…
Chắc chắn mỗi chúng ta đều đang có những cách nghĩ cách làm nào đó mà khi đối chiếu với ý Thiên Chúa, ta sẽ bị quê… Chỉ có một giải pháp cho vấn đề này thôi, đó là luôn hỏi Chúa và thực sự lắng nghe tiếng Chúa.
Lm. Lê Công Đức
Chiều Chúa Nhật ngày 6/10/2024, tại Đền thờ Đức Bà Cả, Đức Thánh Cha đã chủ sự buổi đọc Kinh Mân Côi, khẩn cầu Đức Mẹ can thiệp ban ơn hòa bình cho thế giới đang gặp nguy hiểm, cầu xin cho bạo lực và thù hận được dập tắt nhờ lòng người.
Trước ảnh “Đức Maria là Phần rỗi của Dân thành Roma” Đức Thánh Cha đã dâng lời khẩn nguyện: “Xin biến đổi trái tim của những kẻ nuôi dưỡng lòng hận thù, làm im tiếng ồn ào của vũ khí gây ra cái chết, dập tắt bạo lực đang âm ỉ trong trái tim nhân loại và truyền cảm hứng cho các dự án hòa bình trong hành động của những người lãnh đạo các quốc gia”.
Tham dự giờ kinh có các tham dự viên của Thượng Hội đồng Giám mục, ngoại giao đoàn cạnh Tòa thánh, các tín hữu hành hương và tín hữu của Giáo phận Roma.
Giờ cầu nguyện diễn ra trong bối cảnh kỷ niệm một năm cuộc tấn công của Hamas vào Israel, với hậu quả là cuộc tấn công trả đũa của Israel suốt một năm qua; bên cạnh đó là cuộc chiến mới đây của Israel tấn công Hezbollah ở Libăng, cuộc tấn công bằng tên lửa của Iran vào Israel và cuộc chiến có thể của Israel để trả đũa Iran; cuộc chiến kéo dài hơn hai năm rưỡi của Nga tấn công Ucraina; và nhiều cuộc xung đột ở các nơi khác trên thế giới.
Trong lời cầu nguyện sau Kinh Mân Côi và Kinh Cầu Đức Mẹ, Đức Thánh Cha khẩn cầu: “Xin Mẹ hãy mau đến cứu giúp chúng con trong thời gian bị đè nén bởi bất công và bị tàn phá bởi chiến tranh. Xin hãy lau khô những giọt nước mắt trên khuôn mặt đau khổ của những người đang than khóc vì mất đi những người thân yêu, đánh thức chúng con khỏi sự mê muội đã làm tối tăm con đường của chúng con và giải trừ vũ khí bạo lực khỏi tâm hồn chúng con”.
Đức Thánh Cha bày tỏ lo ngại rằng thế giới của chúng ta đang gặp nguy hiểm, vì chúng ta đã mất đi “niềm vui hòa bình và ý thức về tình anh em”. Ngài xin Đức Mẹ khẩn cầu Thiên Chúa để nhân loại có thể học cách “trân trọng sự sống và từ chối chiến tranh, chăm sóc những người đau khổ, người nghèo, người không có khả năng tự vệ, người bệnh và người đau khổ, và bảo vệ Ngôi nhà chung của chúng ta”.
Cuối cùng, Đức Thánh Cha cầu xin Đức Mẹ, Nữ vương Mân Côi, “gỡ bỏ những nút thắt của lòng ích kỷ và xua tan những đám mây đen của sự dữ” và lấp đầy chúng ta bằng sự dịu dàng của Mẹ.
Là người Công giáo, chúng ta thật hạnh phúc vì có Mẹ Maria, Người Mẹ được ban nhưng không cho nhân loại qua Chúa Giê-su Ki-tô. Nhờ Anh Cả Giê-su, chúng ta minh nhiên trở thành con của Mẹ, Người Mẹ Vĩ Đại nhất trần gian.
Thiên Đàng! Ai cũng ước mơ
Đường nào dẫn lối đến bờ yêu thương?
Mân Côi – đây Mẹ chỉ đường
Theo Mẹ con hướng trọn đời an vui.
Có người ví Chuỗi Mân Côi như chiếc cầu thang dẫn lên Thiên Đàng. Hình ảnh thật đơn sơ và mộc mạc nhưng diễn tả một ý nghĩa quan trọng của Tràng Chuỗi, thứ đã gắn bó, đã trở thành một phần không thể thiếu của mỗi tín hữu ngay từ thuở còn thơ.
Qua lời kinh “Kính mừng Maria Đầy Ơn phúc…”. Chúng ta xác tín rằng Mẹ vẫn luôn ở bên và đồng hành cùng ta. Vì yêu thương và muốn cho chúng ta có những cảm nghiệm thật gần gũi với Mẹ, nên Mẹ mời gọi chúng ta hãy siêng năng lần chuỗi Mân Côi.
Chuỗi Mân Côi được cầm trên tay, đeo trên cổ, đọc lên trên môi miệng chúng ta hằng ngày là những tâm tình yêu mến của người con dành cho Mẹ Maria như dành cho chính người Mẹ huyết thống của mình. Và đó cũng là cách để Mẹ liên lạc với chúng ta, để hiểu chúng ta và qua đó Mẹ chăm sóc chúng ta. Với tâm tình yêu mến Mẹ Maria, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã thổ lộ: “Từ thuở niên thiếu, lời kinh Kinh Mân Côi đã có một chỗ đứng quan trọng trong đời sống thiêng liêng của tôi… Kinh Mân Côi đã đồng hành với tôi trong những lúc vui sướng và trong những giai đoạn khó khăn. Tôi đã giao phó cho lời kinh ấy biết bao lo âu; nơi lời kinh ấy tôi đã luôn tìm được sự nâng đỡ…. Kinh Mân Côi là lời kinh tôi ưa thích. Một lời kinh kỳ diệu! Kỳ diệu qua vẻ đơn sơ và chiều sâu của nó.”
Điều huyền diệu làm cho chuỗi Mân Côi hữu hiệu là khi đọc, chúng ta vừa cầu nguyện vừa suy niệm. Với những lời Kinh vắn tắt nhưng mang đầy ý nghĩa sâu xa: Kinh Lạy Cha dâng lên Chúa Cha, Kinh Kính Mừng dâng lên Đức Maria và Kinh Sáng Danh dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi. Những tâm tình suy niệm hướng về Chúa Giêsu Kitô. Điều này khiến chuỗi Mân Côi hiện lên sống động giống như một chiếc thang dẫn ta hướng lòng lên Thiên Đường. Chúng ta đi trên chiếc thang này và chiêm ngắm lại mọi biến cố quan trọng trong cuộc đời Chúa Cứu Thế. Chúng ta chiêm ngắm Giê-su qua chính cái nhìn của Mẹ Maria, Đấng là Thân Mẫu của Người, cưu mang Người và đã đồng hành cùng Người trên tất cả con đường Người đã đi qua trên hành trình dương thế. Nhờ vậy, Mẹ sẽ giúp chúng ta hiểu và họa lại những gì Con Mẹ đã sống, và sống những gì Người thao thức nơi chúng ta.
“Ai mến Mẹ thì yêu thích chuỗi Mân Côi. Bởi vì chỉ có người yêu mới lặp lại một chuyện, một lời mà không biết nhàm chán” (Đường Hy vọng số 947). Lạy Mẹ Maria! Nhờ kinh Mân Côi, chúng con được kết nối với Mẹ. Cũng nhờ kinh Mân Côi, chúng con được kết nối với nhau, trong cộng đoàn và toàn thế giới. Xin Mẹ dạy chúng con luôn yêu mến Mẹ ngang qua tràng chuỗi Mân Côi, được thể hiện qua việc siêng năng lần chuỗi mỗi ngày. Nhờ đó, chúng con được hiệp lòng cùng Mẹ, mỗi ngày chiêm ngắm và trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giê-su Con Mẹ. Amen.
Maria Vũ Hiên
Trưa Chúa Nhật ngày 6/10, Đức Thánh Cha đã chủ sự buổi đọc Kinh Truyền Tin với các tín hữu hiện diện tại quảng trường thánh Phêrô. Trước khi đọc kinh, ngài đã có một bài huấn dụ ngắn dựa trên đoạn Tin Mừng Chúa Nhật 27 thường niên về giáo huấn hôn nhân.
Bài huấn dụ của Đức Thánh Cha
Anh chị em thân mến, chúc Chúa Nhật tốt lành!
Trong Tin Mừng phụng vụ hôm nay (x Mc 10,2-16) Chúa Giêsu nói với chúng ta về tình yêu vợ chồng. Tương tự những lần khác, một số người Pha-ri-sêu đặt ra một câu hỏi để thử Người về một chủ đề gây tranh cãi: việc chồng rẫy vợ. Họ muốn kéo Người vào một cuộc tranh luận, nhưng Người không đồng ý, thay vào đó Người nắm lấy cơ hội để dẫn sự chú ý của họ đến một vấn đề quan trọng hơn: giá trị của tình yêu giữa người nam và người nữ.
Vào thời Chúa Giêsu, thân phận của phụ nữ trong hôn nhân có nhiều bất lợi lớn so với nam giới: người chồng có thể đuổi và bỏ vợ mình, ngay cả vì những lý do tầm thường, và điều này được biện minh bằng cách giải thích Kinh thánh theo luật lệ. Vì lý do này, Chúa đã dẫn những kẻ bắt bẻ Người quay trở lại với những đòi hỏi của tình yêu. Nhắc nhở họ rằng cả nữ và nam đều được Tạo Hóa dựng nên bình đẳng về phẩm giá và bổ túc cho nhau trong sự đa dạng, để họ có thể trợ giúp, đồng hành với nhau, nhưng đồng thời là động lực và thách thức để lớn lên (xem St 2,20- 23 ).
Và để điều này xảy ra, Người nhấn mạnh đến sự cần thiết phải có một món quà hỗ tương vừa trọn vẹn, vừa dẫn thân và không “nửa vời” – đó chính là tình yêu! – đó là sự khởi đầu của một cuộc sống mới (xem Mc 10,7; St 2,24), với mục đích không phải cho đến khi “không ổn nữa”, mà là mãi mãi, đón nhận nhau và sống hiệp nhất như “một xương một thịt” (xem Mc 10,8; St 2.24). Dĩ nhiên, điều này không hề dễ dàng; và điều này đòi hỏi sự chung thuỷ, ngay cả trong những khó khăn, nó đòi hỏi sự tôn trọng, chân thành, đơn sơ (x. Mc 10,15). Nó đòi hỏi phải sẵn sàng trao đổi, đôi khi tranh luận, khi cần thiết, nhưng luôn sẵn sàng tha thứ và hòa giải. Và xin vui lòng: vợ chồng tranh cãi, muốn thế nào cũng được, miễn là họ làm hòa trước khi kết thúc một ngày. Bạn có biết tại sao không? Vì chiến tranh lạnh đến ngày hôm sau rất nguy hiểm. Nếu có người nói: “Thưa cha, xin cho con biết, phải làm hoà thế nào?” – “Chỉ cần một cử chỉ âu yếm,” nhưng đừng bao giờ kết thúc một ngày mà không làm hòa.
Vì vậy, chúng ta đừng quên rằng điều thiết yếu là vợ chồng phải mở ra đón nhận hồng ân sự sống, hồng ân con cái, là hoa trái đẹp nhất của tình yêu, phúc lành lớn lao nhất của Thiên Chúa, nguồn vui và hy vọng cho mọi gia đình và toàn xã hội. Hãy sinh con cái!
Hôm qua tôi có một niềm an ủi lớn, trong ngày Hiến binh Vatican. Một hiến binh đã đến cùng với tám đứa con! Tôi nhìn thấy ông ấy thật tuyệt. Xin vui lòng, hãy mở ra với sự sống, mở lòng đón nhận những gì Chúa gửi đến cho bạn. Chúng ta đừng quên rằng điều thiết yếu là vợ chồng mở ra đón nhận hồng ân sự sống.
Anh chị em thân mến, tình yêu luôn đòi hỏi, vâng, nhưng nó thật đẹp, và khi càng cho phép mình dấn thân trong tình yêu, thì chúng ta càng khám phá ra hạnh phúc đích thực nơi đó. Và bây giờ mỗi người tự hỏi: tình yêu của mình thế nào? Tình yêu đó có chung thuỷ không? Có quảng đại không? Có sáng tạo không? Gia đình của chúng ta thế nào? Có mở ra với sự sống, với món quà con cái không?
Xin Đức Trinh Nữ Maria giúp đỡ các cặp vợ chồng Kitô giáo. Chúng ta hướng về Mẹ trong sự hiệp nhất thiêng liêng với các tín hữu đang tụ họp truyền thống tại Đền Thánh Đức Mẹ Pompeii để cầu nguyện với Đức Mẹ Mân Côi.
Nguồn. Vatican News
Sự kiện Truyền Tin mở màn toàn bộ biến cố Chúa Giêsu Kitô, với mầu nhiệm Nhập thể…
Căn gác thượng, nơi của biến cố Hiện Xuống, đánh dấu sự chuyển tiếp từ biến cố Chúa Giêsu Kitô sang thời đại của sứ mạng Hội Thánh.
Cả hai cảnh này đều có mặt Đức Maria và đều đầy ắp Chúa Thánh Thần.
Và cả hai đều là khung cảnh của cầu nguyện đậm đặc!
Trong cả hai cảnh ấy, ‘camera’ đều không ghi lại được hình ảnh Chúa Giêsu – nhưng chính Chúa Giêsu là trung tâm, là manh mối của tất cả. Biến cố Truyền Tin đưa Đức Maria vào trong câu chuyện Chúa Giêsu cách trực tiếp, trong tư cách là Mẹ… Các môn đệ có mặt trong Căn gác thượng xung quanh biến cố Hiện Xuống cũng vì các ông đã gặp gỡ và đã đi vào câu chuyện của Chúa Giêsu, một câu chuyện vẫn còn đang tiếp tục. Chính Chúa Giêsu chứ không ai khác là người kết nối Mẹ Maria và các môn đệ, trong khung cảnh ban sơ này của Hội Thánh, và sẽ được đóng ấn bởi ân ban Thánh Thần…
Hai cảnh ấy, cảnh Truyền Tin và cảnh chờ đợi Thánh Thần Hiện Xuống, được chọn cho Phụng vụ Lời Chúa lễ Đức Mẹ Mân côi, có thể gợi cho chúng ta những điều gì?
Đó là bầu khí cầu nguyện thâm sâu của Đức Maria trong khoảnh khắc Truyền Tin, và Mẹ cùng với các môn đệ Chúa Giêsu trong Căn gác thượng… có thể nhắc ta về đặc tính CẦU NGUYỆN của kinh Mân côi. Ta cầu nguyện, đúng hơn là ‘đọc kinh’!
Và cầu nguyện bằng kinh Mân côi, đó là ta đi vào và chìm đắm trong mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô, như kinh nghiệm của Đức Maria và của các Tông Đồ… Chúng ta cũng được phủ rợp trong Thánh Thần của Truyền Tin và cũng là Thánh Thần của lễ Hiện Xuống.
Đắm chìm trong mầu nhiệm của Chúa Giêsu Kitô như vậy, ta đang cảm nhận thế nào là sự thánh thiện – vì “mức độ thánh thiện của một người là mức độ mà mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô chiếm lấy người ấy” (x. Gaudete et exsultate).
Nói tóm, kinh Mân côi – bầu khí quyển của mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô – thực sự là một công cụ nên thánh! Chỉ cần ta thực sự cầu nguyện, chứ không chỉ ‘đọc kinh’ suông…
Lm. lê Công Đức