Vẫn tiếp tục thông điệp TỈNH THỨC, nhưng hôm nay Chúa Giêsu lưu ý cách riêng đặc tính bất ngờ, với mô tả “Con Người đến như kẻ trộm”… Phê rô hỏi ai phải tỉnh thức như vậy, mọi người hay nhóm môn đệ được Chúa đặc biệt tuyển chọn… Chẳng biết vì sao mà ông hỏi như thế, nhưng ta ghi nhận Chúa Giêsu không vặn vẹo gì ông, mà chỉ trả lời trực tiếp vào trường hợp của Phêrô và các anh em môn đệ: Chính các anh là những người quản lý gia trang của chủ, và thông điệp tỉnh thức trước hết là dành cho các anh đó!
Quản lý là thay mặt chủ mà quản trị cơ nghiệp và công cuộc của chủ. Quản lý là người có trách nhiệm săn sóc gia nhân của chủ. Chúa Giêsu diễn tả sự bất trung và bỏ bê trách nhiệm bằng hình ảnh “chè chén say sưa, đánh đập tôi trai tớ gái”… Và Chúa cũng lưu ý rằng quản lý được chủ ưu ái tin dùng, đãi ngộ đặc biệt, nên nếu quản lý bất trung thì sẽ phải chịu khiển trách hơn những người khác: Ai được giao phó nhiều, sẽ bị đòi nhiều hơn!
Như vậy, nhờ câu hỏi của Phêrô mà các nhà ‘quản lý’ của Chúa trong Giáo hội nhận được những lời nhắc nhở cách riêng của Chúa Giêsu ở đây: Phải trung tín và tỉnh thức! Đừng ‘tự diễn biến’, đừng bị lung lạc bởi ‘các thế lực thù địch’, và đừng ‘suy thoái’ trở thành “chè chén say sưa và đánh đập tôi trai tớ gái” vô tội vạ!
Nguyên tắc “được giao nhiều, bị đòi nhiều hơn” cũng vẫn giữ nguyên hiệu lực đối với các nhà ‘quản lý’ của Chúa hôm nay. Như người Việt Nam có câu “ăn cơm Chúa, múa tối ngày” thật đơn sơ mà sâu sắc! Nó có nghĩa rằng không chỉ phản loạn làm bậy mới là không tỉnh thức – mà bạc nhược, lười biếng, đam mê hưởng thụ, cầu an cầu nhàn cũng là không tỉnh thức.
Tất cả chúng ta đều ‘ăn cơm Chúa’ và đều là những nhà quản lý của Chúa theo một nghĩa nào đó – điều này càng đúng đối với các linh mục, tu sĩ theo một nghĩa đặc biệt. Chúng ta có múa điệu múa của Chúa tối ngày không, nghĩa là, chúng ta có tỉnh thức không?
Lm. Lê Công Đức
Phaolô là Tông đồ Dân ngoại, và thời ban đầu ấy của Kitô giáo có tồn tại một tâm thức phân biệt nào đó giữa người Do thái và các dân ngoại, dù cùng tin vào Chúa Giêsu Kitô. Vì thế Phaolô rất chú ý chống lại sự phân biệt ấy, và nhấn mạnh mối hiệp thông/hiệp nhất mà Chúa Kitô mang lại cho cộng đoàn môn đệ của Người. Bức tường ngăn cách đã bị phá đổ, sự thù ghét đã bị tiêu diệt. Tất cả các tín hữu cùng được xây dựng nên toà nhà là Đền thánh của Thiên Chúa, với Chúa Kitô là tảng đá góc tường. ‘Toà nhà’ xây bằng những con người sống động đây chính là Hội Thánh, ý nghĩa lúc ban đầu của chữ ‘church’/‘église’ trong tiếng Anh/Pháp – về sau những từ ấy mới được gán thêm nghĩa ‘nhà thờ’…
Cộng đoàn Hội Thánh hiệp thông, hiệp nhất buổi ban đầu ấy rất đậm nét đặc tính cánh chung. Những lời giáo huấn của Chúa Giêsu về TỈNH THỨC, như “thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn” dường như âm vang trong các tín hữu sơ khai rõ hơn đối với chúng ta ngày nay rất nhiều.
Tỉnh thức để đợi chủ về – tức đợi Chúa Giêsu đến lại vào hồi tận thời, nhưng trước hết là mỗi người đợi ‘Chúa gọi về’, như cách nói trong các cáo phó của chúng ta. Hẳn nhiên, đây là tỉnh thức thiêng liêng – dù ăn, dù uống, dù ngủ nghỉ, dù đi lại, hay làm việc, hay giải trí… thì cũng làm tất cả nhằm tôn vinh Danh Chúa…
Tỉnh thức thiêng liêng là sự sống thiêng liêng, đối ngược với tình trạng chết thiêng liêng… Cha A. de Mello ghi nhận rằng có những người chết đang đi lại, nói cười… có những người chết đang cưới vợ cưới chồng… có những người chết đang lãnh đạo hay giảng dạy người khác… có những người chết đang làm tổng thống, thủ tướng, giám đốc, chủ tịch… Nói cách khác, không tỉnh thức, thì đó là sống mà như đã chết!
Cũng Cha De Mello kể chuyện có đệ tử kia đến hỏi sư phụ của mình: Thưa Thầy, nói cho cùng, điều gì quan trọng nhất? – Thầy lấy một tấm bảng nhỏ và ghi gọn lỏn: “THỨC TỈNH”. Đệ tử nằn nì: Xin Thầy cho biết rõ hơn ạ! – Thầy xoá hai chữ ấy rồi ghi: “THỨC TỈNH, THỨC TỈNH”. Đệ tử vẫn cố nài nỉ xin Thầy nói rõ hơn. Thầy lại xoá đi, và ghi: “THỨC TỈNH, THỨC TỈNH, NGHĨA LÀ THỨC TỈNH”!
Xin Chúa giúp chúng ta tỉnh thức mọi nơi mọi lúc, và trong mọi hoàn cảnh.
Lm. Lê Công Đức
Trong sứ điệp nhân Ngày Thế giới truyền giáo lần thứ 98, được cử hành vào Chúa Nhật ngày 20/10 này với chủ đề là “Anh em hãy đi và mời tất cả mọi người vào dự tiệc” (x. Mt 22,9), sau khi quảng diễn các khía cạnh tinh thần, Đức Thánh Cha còn đặc biệt kêu gọi các tín hữu hỗ trợ các Hội Giáo Hoàng truyền giáo như một phương thức cụ thể đóng góp vào công cuộc loan báo Tin Mừng. Các Hội này là gì, sứ mạng và hoạt động thế nào?
Thực vậy, trong phần cuối của Sứ điệp Ngày thế giới truyền giáo năm nay, Đức Thánh Cha nhắc nhở các giáo phận trên thế giới về sự phục vụ của các Hội Giáo Hoàng truyền giáo, như những phương thế hàng đầu để “truyền bá nơi các tín hữu, ngay từ tuổi nhỏ, một tinh thần thực sự là hoàn vũ và truyền giáo, cũng như để giúp lạc quyên tài trợ, giúp đỡ tất cả các xứ truyền giáo và theo các nhu cầu của các xứ thuộc miền này” (Ad gentes 39). Vì thế các cuộc lạc quyên vào Ngày Thế giới truyền giáo trong tất cả các Giáo Hội địa phương hoàn toàn dành cho Quỹ liên đới chung mà Hội truyền bá Đức tin, nhân danh Đức Giáo Hoàng, phân phát theo nhu cầu của các xứ truyền giáo của Giáo Hội”.
4 Hội Giáo Hoàng Truyền giáo
Hội truyền bá đức tin
Đứng đầu trong 4 Hội Giáo Hoàng truyền giáo là Hội truyền bá đức tin do nữ chân phước Pauline Jaricot, một giáo dân người Pháp, chính thức thành lập ngày 3/5/1822, và chị đã được Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, Tổng trưởng Bộ loan báo Tin Mừng, đại diện Đức Thánh Cha tôn phong chân phước hồi tháng 5/2022 tại Lyon, bên Pháp.
Các ngân khoản quyên góp được trong tất cả các giáo phận trên thế giới được dùng để tài trợ thường lệ và ngoại thường cho 1.100 giáo phận tại các xứ truyền giáo, trong đó có Việt Nam, giúp đỡ các thừa sai, các giáo lý viên chuyên nghiệp và các giáo phận về những gì cần thiết cho việc loan báo Tin Mừng. Một phần ngân khoản cũng được dùng để hỗ trợ Bộ các Giáo Hội Công Giáo Đông phương, và cả chi phí của các Tòa Sứ thần và Khâm Sứ Tòa Thánh ở các xứ truyền giáo.
Hội thánh Phêrô Tông đồ
Là một hội có mục đích đào tạo và nâng đỡ hàng giáo sĩ bản xứ. Từ thế kỷ XVI đến XIX, Giáo Hội vẫn thường lưu ý về vấn đề hàng giáo sĩ bản xứ. Các thừa sai tại bất kỳ nước nào đều xác tín rằng hoạt động của mình sẽ thiếu sót nếu không đạt tới việc thành lập một hàng giáo sĩ địa phương. Nhưng việc thực hiện này luôn gặp phải nhiều chướng ngại và khó khăn. Nhất là thiếu phương tiện tài chánh và nhân sự để thành lập các chủng viện để huấn luyện các chủng sinh. Để tìm giải pháp, các thừa sai tha thiết kêu gọi các ân nhân ở Âu Châu. Cụ thể là trường hợp Đức Cha Jules-Alphone Cousin, thuộc Hội thừa sai Paris, Đại diện tông tòa ở miền nam Nhật Bản, với trụ sở ở Nagasaki, đã phải đau lòng trả nhiều người trẻ có ơn gọi Linh Mục rõ ràng trở về gia đình. Ngài liên lạc với ân nhân ở Pháp qua một lá thư ngày 1/6/1889 gửi bà Jeanne Bigard (1859-1934) cùng với thân mẫu của bà. Điểm khởi hành của Hội Thánh Phêrô bắt đầu từ đó. Hai bà bắt đầu quyên góp để giúp đỡ các chủng sinh. Chẳng bao lâu sau, Hội do hai bà thành lập lan rộng sang các nơi ở Pháp và các nước Âu Châu. Năm 1922, Đức Giáo Hoàng Piô XI nâng hội này lên hàng Hội Giáo Hoàng truyền giáo.
Tài trợ
Hiện nay, với các ngân khoản quyên góp được, đặc biệt vào dịp lễ Thánh Phêrô và Phaolô, Hội Giáo Hoàng Thánh Phêrô tông đồ tài trợ thường xuyên cho hơn 750 đại chủng viện và tiểu chủng viện tại các xứ truyền giáo, trong đó có cả Việt Nam. Ngoài ra, các tập viện của các dòng giáo phận cũng được trợ giúp.
Riêng tại Roma, Bộ Loan báo Tin Mừng, qua hội Thánh Phêrô Tông Đồ, cấp học bổng cho khoảng 500 Linh Mục và chủng sinh: tại Trường truyền giáo, tức là Học viện Giáo Hoàng Urbano, khoảng 160 thầy; tại trường thánh Phêrô, 180 Linh Mục; trường Thánh Phaolô tông đồ, 190 Linh Mục; và Học viện Mẹ Giáo Hội, Mater Ecclesiae, dành cho các nữ tu ở Castel Gandolfo có 120 chỗ. Đại Học Giáo Hoàng Urbaniana thuộc Bộ Loan báo Tin Mừng, cũng nhận được tài trợ của Hội Thánh Phêrô Tông Đồ.
Hội Nhi đồng truyền giáo
cũng gọi là Hội Thánh Nhi, có mục đích giúp các trẻ em nhạy cảm đối với những nhu cầu của các trẻ em nghèo tại các nước. Hội này do Đức Cha Charles de Forbin-Janson, Giám Mục giáo phận Nancy bên Pháp, thành lập năm 1843. Hồi đó ngài tìm cách giúp đỡ các thừa sai ở Trung Hoa khi họ viết thư cho ngài xin giúp đỡ vật chất và tinh thần. Theo lời khuyên của Pauline Jaricot, người sáng lập Hội truyền bá đức tin 20 năm trước đó, Đức Cha thành lập một tổ chức từ thiện gồm các trẻ em giúp đỡ các trẻ đồng lứa ở các nước thuộc các xứ truyền giáo. Đức Giáo Hoàng Piô IX đã phê chuẩn Hội này năm 1856 và Đức Giáo Hoàng Piô XI nâng hội lên hàng Hội Giáo Hoàng truyền giáo vào năm 1922. Ngày nay Hội lan rộng sang 130 nước và hằng năm vẫn tổ chức các cuộc lạc quyên vào lễ Chúa Hiển Linh, ngày 6/1.
Hội Liên hiệp truyền giáo
Được thành lập ngày 31/10/1915 do sự gợi ý của Chân phước Linh Mục Paolo Manna, thuộc Hội Giáo Hoàng truyềm giáo hải ngoại Milano, gọi tắt là PIME, với mục đích linh hoạt và huấn luyện các tín hữu về tinh thần trách nhiệm truyền giáo, qua việc mục vụ của các Giám Mục và linh mục, theo khẩu hiệu “Toàn thể Giáo Hội cho toàn thế giới”.
Hội này cũng đảm trách Trung Tâm Linh Hoạt truyền giáo, gọi tắt là Ciam, và mang tên chân phước Paolo Manna, vị sáng lập. Trung tâm được thành lập ngày 31/5/1974, theo vết Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới năm 1984 với Tông huấn “Evangelii Nuntiandi” của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI.
Trung tâm Ciam tọa lạc trên đồi Giannicolo cạnh Trường Truyền Giáo. Đức Cha Giuse Đinh Đức Đạo, Giám Mục giáo phận Xuân Lộc từng làm Phó giám đốc lâu năm, rồi làm Giám đốc trung tâm này. Trung tâm tổ chức nhiều khóa huấn luyện cho các Linh Mục, tu sĩ và giáo dân cũng như cho các thành viên ban lãnh đạo toàn quốc và giáo dân của các Hội giáo hoàng Truyền Giáo.
Khác với 3 Hội Giáo Hoàng trên đây, Liên hiệp Truyền giáo không liên hệ gì đến vấn đề lạc quyên tài chánh, nhưng qui trọng tâm vào việc huấn luyện tinh thần truyền giáo.
Vị phụ trách Hội Giáo Hoàng linh hoạt truyền giáo hiện nay là Cha Tôma Nguyễn Đình Anh Nhuệ, dòng Phanxicô Viện Tu.
4 Hội giáo hoàng truyền giáo được đặt dưới quyền chủ tịch của một vị Tổng Giám Mục đồng Tổng Thư ký Bộ loan báo Tin Mừng, hiện nay là Đức Tổng Giám Mục Emilio Nappa, và mỗi hội đều có một vị phụ trách riêng, trong tư cách là Tổng thư ký của Hội.
Phân phối các khoản tài trợ
Mỗi nước trên thế giới thường có các Hội Giáo Hoàng truyền giáo và có một vị Giám đốc toàn quốc được Bộ Loan báo Tin Mừng bổ nhiệm theo sự đề cử của Hội Đồng Giám Mục địa phương. Cha Giêrônimô Nguyễn Đình Công, giáo phận Xuân Lộc, hiện nay là Giám đốc toàn quốc các Hội Giáo Hoàng truyền giáo ở Việt Nam.
Hàng năm, các vị Giám đốc toàn quốc, đến từ 120 quốc gia, về Roma nhóm họp trong khoảng 6 ngày: những ngày đầu dành để đào sâu tinh thần và những vấn đề trong việc loan báo Tin Mừng. Những ngày còn lại là để phân phối và quyết định về các ngân khoản đã lạc quyên được ở mỗi nước. Các vị nhận được hồ sơ các đơn xin tài trợ từ các nơi gởi về Bộ Loan báo Tin Mừng, để cứu xét và cùng quyết định.
Năm nay, khóa họp này đã diễn ra từ ngày 24/5 đến 31/5 tại “Nhà Huynh Đệ”, Fraterna Domus, ở Sacrofano, cách Roma 25 cây số. Trong số các tham dự viên cũng có Cha Tôma Nguyễn Đình Anh Nhuệ, Tổng Thư ký Liên hiệp Truyền giáo, một trong 4 Hội Giáo Hoàng truyền giáo, tiếp đến là Cha Giêrônimô Nguyễn Đình Công, giáo phận Xuân Lộc, Giám đốc toàn quốc Việt Nam của các hội này.
Trong những ngày họp, các Linh Mục giám đốc trao đổi về những vấn đề quan trọng hiện tại và tương lai của các Hội Giáo Hoàng truyền giáo, tìm kiếm những phương thế mới để lạc quyên giúp các xứ truyền giáo, duyệt lại các qui chế, trao đổi khẩn trương hơn giữa các vị Giám đốc toàn quốc về những dự án cần được tài trợ ở các nơi trên thế giới, cụ thể là phân phối các ngân khoản quyên góp được trong năm qua.
Gặp Đức Thánh Cha
Sáng ngày 25/5, các tham dự viên đã được Đức Thánh Cha tiếp kiến. Trong dịp này, ngài nhắc nhở mọi người rằng “Sứ mạng truyền giáo của các tín hữu Kitô không phải là thông truyền vài chân lý trừu tượng hoặc vài xác tín tôn giáo, nhưng trước tiên là giúp những người chúng ta gặp gỡ có thể cảm nghiệm cơ bản về tình thương của Thiên Chúa và họ có thể tìm thấy điều đó trong đời sống chúng ta và đời sống của Giáo Hội, nếu chúng ta là những nhân sáng ngời về tình thương ấy, phản ánh một tia sáng về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi”.
“Vì thế”, Đức Thánh Cha nói, “tôi nhắn nhủ tất cả anh em hãy tiến triển trong linh đạo hiệp thông truyền giáo, là căn bản của hành trình đồng hành của Giáo Hội ngày nay… Thực vậy, sứ mạng của Giáo Hội nhắm mục đích loan báo và giúp mọi người sống tình “hiệp thông” mới mà nơi Con Thiên Chúa làm người đã đi vào trong lịch sử thế giới” (Praedicate Evangelium 1,4). Và chúng ta đừng quên rằng ơn gọi hiệp thông bao hàm một lối sống hiệp hành, hay đồng hành, nghĩa là: cùng đi, lắng nghe nhau và đối thoại. Điều này mở rộng con tim chúng ta và tạo nên nơi chúng ta một cái nhìn ngày càng bao quát…”.
Trong bài huấn dụ, Đức Thánh Cha cũng nhắc đến tinh thần sáng tạo cần có trong các hoạt động truyền giáo, nghĩ ra những cách thức luôn mới mẻ để loan báo Tin Mừng và phục vụ anh chị em, nhất là những người nghèo nhất. Ngài cũng kêu gọi các vị đặc trách việc loan báo Tin Mừng hãy kiên trì trong các dự tính và hành động. Ngài nói: “Anh em là những người điều hành các Hội Giáo Hoàng truyền giáo, anh em tiếp xúc với bao nhiêu thực tại khác nhau, những hoàn cảnh và biến cố thuộc làn sóng lớn của đời sống Giáo Hội tại tất cả các đại lục. Vì thế, anh em có thể gặp phải nhiều thách đố, những hoàn cảnh phức tạp, nặng nề, và mệt mỏi xảy ra trong đời sống Giáo Hội: anh em đừng để mình bị nản chí! Hãy có cái nhìn, con tim và sự nhạy cảm nhận ra hoạt động của Thiên Chúa, kể cả giữa nhiều khó khăn, những ơn an ủi và chữa lành mà nhiều khi Chúa không để bị thiếu, hạt giống nhiều khi ta không nhận thấy nhưng có thể sinh ra sự thánh thiện âm thầm. Chúng ta hãy chú ý nhiều hơn tới những khía cạnh, và biết kiên nhẫn đương đầu với những tình trạng khó khăn, không trở thành tù nhân của sự ù lỳ bất động và thái độ buông xuôi từ bỏ”.
Nguồn. Vatican News
Tiền bạc, của cải… với tất cả mãnh lực của nó như mọi người biết, thì cuối cùng nó là gì? Nó là sự an toàn của người ta! Ít tiền của thì an toàn ít, nhiều tiền của thì an toàn nhiều… Bởi tiền của là để mua, hoặc đổi chác. Không mua được mọi thứ, dĩ nhiên, nhưng có nhiều tiền thì người ta có thể mua được rất nhiều thứ…
Anh chàng kia đến xin Chúa Giêsu can thiệp vào việc chia gia tài trong nội bộ gia đình anh. Chúa ái ngại, vì xem ra đối với anh ta thì gia tài mới quan trọng và mới là sự an toàn cho mình – còn chính Chúa Giêsu và những gì Người có thể trao ban cho anh thì không quan trọng bằng. Anh muốn dùng Chúa để có gia tài, chứ không ngược lại! Chúa là phương tiện, của cải là cứu cánh! Ôi, Chúa buồn vì bị đánh giá thấp biết bao…
Chúa Giêsu kể câu chuyện về ông nhà giàu ngu ngốc để cảnh giác anh chàng ấy, và cảnh giác tất cả chúng ta. “Các ngươi hãy coi chừng, giữ mình tránh mọi thứ tham lam: vì chẳng phải sung túc mà sự sống được của cải bảo đảm cho đâu”. Của cải không phải là sự bảo đảm – tức không phải là sự an toàn cuối cùng của người ta!
Ông nhà giàu trong câu chuyện được gọi là ngu ngốc vì ông chỉ lo thu tích của cải cho mình, mà không làm giàu đích thực trước mặt Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu nhận định như vậy, và qua đó Người lưu ý chúng ta rằng cần phải nhận diện hay định nghĩa lại cho đúng đối với mọi giá trị mà ta theo đuổi:
-làm giàu, vâng, nhưng giàu gì?
-khôn ngoan, vâng, nhưng loại khôn ngoan nào?
-sự sống, vâng, nhưng sống cấp độ nào?
-hạnh phúc, vâng, nhưng hạnh phúc thật hay những hạnh phúc ảo, những hạnh phúc đánh lừa?
Xin Thánh Thần của Chúa Giêsu khai tâm khai trí chúng ta, để chúng ta biết phân định rõ những giá trị mà mình tìm kiếm – và nhất là đừng dùng Chúa cho những mục tiêu phàm trần mà mình coi là sự an toàn của mình.
Lm. Lê Công Đức
Chúa Nhật XXIX Thường Niên cầu nguyện cho công việc truyền giáo của Giáo Hội. Qua bí tích rửa tội, mỗi người Ki-tô hữu được tham dự ba chức vụ: Tư tế, Vương đế và Ngôn sứ. Như Vậy, chúng ta đều có trách nhiệm Loan báo Tin Mừng bằng lời nói và chính đời sống chứng nhân của mình như lời Chúa Giêsu đã kêu gọi các môn đệ của Ngài ngày xưa “Hãy đi khắp cả thiên hạ rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”.
Trước khi về trời, Chúa Giê-su truyền cho các môn đệ hãy đi khắp tứ phương thiện hạ để đem Tin Mừng của Chúa đến cho mọi loài thụ tạo. Nghĩa là Tin Mừng không còn giới hạn ở một dân tộc, một quốc gia hay một tôn giáo nào nữa nhưng là cho tất cả mọi người. Chúa Giêsu khi đến trần gian với thân phận con người thấp hèn, Ngài đã xóa đi ranh giới giữa giàu và nghèo, giữa người công chính và người tội lỗi để từ đó Ơn Cứu Độ của Chúa trao ban cho tất cả những ai mở lòng ra đón nhận Ngài.
“Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ” (x. Mc 16,16 a), điều kiện của người môn đệ theo Chúa trước tiên là phải có đức tin. Khi tin, chúng ta mới sống theo những lời của Chúa chỉ dạy đó là “mến Chúa, yêu người”, khi tin chúng ta mới can đảm bước ra vùng ngoại biên để đem Chúa đến cho mọi người và nhờ tin vào Chúa Giêsu, chúng ta sẽ mau mắn đáp lời Chúa mời gọi, kiên nhẫn làm việc trên cánh đồng truyền giáo, bất chấp mọi rào cản.
Mỗi người Kitô hữu chúng ta cũng được mời gọi loan báo Tin Mừng không chỉ qua lời nói mà còn bằng hành động cụ thể trong cuộc sống. Như lời thánh Giacôbê đã nói “Đức tin không có việc làm là đức tin chết”. Người tín hữu chỉ có thể trở thành người truyền giáo, khi chính bản thân mình phải trước hết được truyền giáo. Quả vậy, nếu chúng ta không thấm nhuần tinh thần thừa sai và không thực sự cảm nhận hạnh phúc và niềm vui của người tin Chúa, thì làm sao chúng ta có nhiệt thành để giới thiệu Chúa cho người khác? Để trở nên tác viên của công cuộc truyền giáo, tín hữu phải đón nhận Lời Chúa, được Lời Chúa tôi luyện để trở thành khí cụ sắc bén của việc loan báo Tin Mừng.
Nếu chúng ta chỉ nói về một Thiên Chúa đầy tình yêu thương tha thứ nhưng chúng ta lại không sống chứng tá thì làm sao chúng ta giới thiệu hình ảnh của Chúa cho mọi người? Ngày hôm nay, có biết bao người đã sống chứng nhân cho Chúa thật tuyệt vời, điển hình là hình ảnh của mẹ Têrêsa Calcutta. Mẹ đã làm chứng cho Chúa cách trọn vẹn qua cách sống của mẹ. Đối với Mẹ Têrêsa Calcutta, truyền giáo là chia sẻ tình thương. Mẹ không rao giảng Phúc Âm bằng lời nhưng bằng những tâm tình và cử chỉ yêu thương cụ thể. Mẹ cũng chẳng chủ trương yêu thương đại chúng cách chung chung, nhưng là yêu thương từng người đang hiện diện
Qua cuộc sống hằng ngày, chúng ta cũng có thể truyền giáo khi chúng ta biết sống yêu thương, tha thứ, hy sinh phục vụ, sống bình an, vui tươi ngay trong chính nơi chúng ta đang sống là gia đình, cộng đoàn, trường học, sở làm,…Chúng ta cũng không quên việc kết hợp với Chúa Giê-su trong bí tích Thánh Thể, để nhờ Ngài, mỗi công việc chúng ta làm với thái độ khiêm tốn, tin tưởng chỉ mong làm vinh danh Chúa hơn.
Truyền giáo ngày hôm nay không phải là đi một nơi nào đó thật xa mà chúng ta thường hay nói là “Ra những vùng ngoại biên”. Nhưng Chúa mời gọi chúng ta truyền giáo ngay trong chính cuộc sống của chúng ta. Chúng ta cùng cầu xin Đức Trinh Nữ Maria, người Tông đồ đầu tiên và là nhà thừa sai của Lời Chúa, giúp chúng ta mang sứ điệp Tin Mừng đến với thế giới với niềm hân hoan khiêm tốn và rạng ngời, vượt lên trên bất kỳ sự từ chối, hiểu lầm hay bách hại nào.
TêTêsa Thanh Tuyền
Trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư ngày 16/10/2024, Đức Thánh Cha nói rằng Chúa Thánh Thần là “Đấng ban sự sống”, Người ban cho chúng ta sự sống mới, sự sống trong Chúa Kitô, làm cho chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa, ban cho chúng ta sự sống đời đời. Đây chính là tin mừng mang lại ý nghĩa cho sự hiện hữu của chúng ta khi chúng ta hiểu và tin rằng những đau khổ và bất công trên thế giới này không thống trị mãi mãi, mọi sự không kết thúc sau cái chết.
Tiếp tục loạt bài giáo lý về Chúa Thánh Thần, Đức Thánh Cha đã suy tư về sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần trong đời sống Giáo Hội, đặc biệt suy tư về Chúa Thánh Thần như được tuyên xưng trong Kinh Tin Kính. Ngài nhắc rằng vào thế kỷ thứ IV, Giáo hội đã xác định thiên tính của Chúa Thánh Thần và ngày nay chúng ta cũng tái khẳng định niềm tin đó khi tuyên xưng: “Tôi tin kính Ðức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Ðấng ban sự sống, Người bởi Ðức Chúa Cha và Ðức Chúa Con mà ra. Người được phụng thờ và tôn vinh cùng với Ðức Chúa Cha và Ðức Chúa Con. Người đã dùng các tiên tri mà phán dạy”.
Chúng ta tuyên xưng Chúa Thánh Thần là “Đấng ban sự sống”, và Người ban cho chúng ta sự sống mới, sự sống trong Chúa Kitô, làm cho chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa, ban cho chúng ta sự sống đời đời. Đức Thánh Cha nói rằng đây chính là tin mừng mang lại ý nghĩa cho sự hiện hữu của chúng ta khi chúng ta hiểu và tin rằng những đau khổ và bất công trên thế giới này không thống trị mãi mãi, mọi sự không kết thúc sau cái chết.
Bắt đầu buổi tiếp kiến, cộng đoàn cùng nghe đoạn Tin Mừng Thánh Gioan (14,15-17):
“Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em”.
Và Đức Thánh Cha bắt đầu bài giáo lý:
Bài giáo lý của Đức Thánh Cha
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Với bài giáo lý hôm nay, chúng ta chuyển từ những điều đã được mặc khải cho chúng ta trong Kinh Thánh về Chúa Thánh Thần sang cách Người hiện diện và hoạt động trong đời sống của Giáo hội, trong đời sống Kitô hữu của chúng ta.
Khẳng định thiên tính của Chúa Thánh Thần
Trong ba thế kỷ đầu tiên, Giáo hội không cảm thấy cần phải đưa ra một công thức rõ ràng về đức tin vào Chúa Thánh Thần. Ví dụ, trong Kinh Tin Kính cổ xưa nhất của Giáo Hội, được gọi là Tín biểu các Tông đồ, sau khi tuyên xưng: “Tôi tin kính Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất, và Đức Giêsu Kitô, Đấng đã sinh ra, đã chết, xuống ngục tổ tông, sống lại và lên trời”, thì tuyên xưng thêm: “[Tôi tin] Chúa Thánh Thần”, và không thêm điều gì nữa, không thêm bất kỳ đặc điểm nào.
Nhưng chính lạc giáo đã thúc đẩy Giáo hội định nghĩa đức tin của mình. Khi tiến trình này bắt đầu – với Thánh Athanasio vào thế kỷ thứ tư – chính kinh nghiệm của Giáo hội về hoạt động của Chúa Thánh Thần trong việc thánh hóa và “làm cho chúng ta trở nên giống Thiên Chúa” đã dẫn Giáo hội đến xác tín về thiên tính trọn vẹn của Chúa Thánh Thần. Điều này được thực hiện trong Công đồng chung Constantinople năm 381, Công đồng đã định nghĩa thiên tính của Chúa Thánh Thần bằng những lời nổi tiếng mà ngày nay chúng ta vẫn lặp lại: “Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần, là Thiên Chúa và Đấng ban sự sống, Người bởi Đức Chúa Cha [và Đức Chúa Con] mà ra. Người được phụng thờ và tôn vinh cùng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Người đã dùng các tiên tri mà phán dạy”.
Chúa Thánh Thần chia sẻ “quyền làm chủ” của Thiên Chúa
Nói rằng Chúa Thánh Thần “là Chúa” có nghĩa là nói rằng Người chia sẻ “quyền làm chủ” của Thiên Chúa, rằng Người thuộc về thế giới của Đấng Tạo Hóa, chứ không phải thế giới của các thụ tạo. Lời tuyên bố mạnh mẽ nhất chính là Người được tôn vinh và phụng thờ như Chúa Cha và Chúa Con. Đó là lập luận về sự bình đẳng trong vinh quang, điều quan trọng đối với Thánh Basilio Cả, người là kiến trúc sư chính của công thức: Chúa Thánh Thần là Chúa, là Thiên Chúa.
Định nghĩa của Công đồng không phải là điểm đến mà là điểm khởi hành. Và trên thực tế, một khi khắc phục những lý do lịch sử ngăn cản việc khẳng định rõ ràng hơn về thiên tính của Chúa Thánh Thần, thì thiên tính của Người đã được tuyên xưng một cách tin tưởng trong phụng tự và thần học của Giáo hội. Thánh Grêgôriô Nazarênô, sau Công đồng đó, đã tuyên xưng không chút do dự: “Vậy Chúa Thánh Thần có phải là Thiên Chúa không? Chắc chắn rồi! Người có đồng bản tính không? Có, nếu Người là Thiên Chúa thật” (Oratio 31, 5.10).
“Bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con”
Tín điều mà chúng ta tuyên xưng trong Thánh lễ mỗi Chúa Nhật, “Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần”, nói gì với chúng ta, những tín hữu ngày nay? Trước đây, nó chủ yếu liên quan đến việc khẳng định rằng Chúa Thánh Thần “phát xuất từ Đức Chúa Cha”. Giáo hội Công giáo Latinh đã sớm bổ sung lời tuyên xưng này bằng cách thêm vào, trong Kinh Tin Kính của Thánh Lễ, rằng Chúa Thánh Thần cũng xuất phát từ Chúa Con. Vì trong tiếng Latinh, cụm từ “và bởi Đức Chúa Con” được gọi là “Filioque”, điều này đã làm nảy sinh cuộc tranh chấp được biết đến với cùng tên này, vốn là lý do (hoặc cái cớ) cho rất nhiều cuộc tranh chấp và chia rẽ giữa Giáo hội Đông phương và Giáo hội Tây phương. Chắc chắn đây không phải là trường hợp để được nói đến ở đây, điều mà, hơn nữa, trong bầu không khí đối thoại được thiết lập giữa hai Giáo hội, đã mất đi sự cay đắng của quá khứ và ngày nay cho phép chúng ta hy vọng vào sự chấp nhận lẫn nhau hoàn toàn, như một trong “những khác biệt chính được hòa giải”. Tôi thích nói điều này: “những khác biệt được hòa giải”. Có nhiều sự khác biệt giữa các Kitô hữu: người này theo trường phái này, trường phái kia; người này là Tin lành, người kia… Điều quan trọng là những khác biệt này được dung hòa, trong tình yêu thương bước đi cùng nhau.
Chúa Thánh Thần ban sự sống đời đời, sự sống của con cái Thiên Chúa
Sau khi vượt qua được chướng ngại này, ngày nay chúng ta có thể trân trọng đặc quyền quan trọng nhất đối với chúng ta, điều được công bố trong Kinh Tin Kính, đó là Chúa Thánh Thần là Đấng “làm sống động”, nghĩa là “Đấng ban sự sống”. Chúng ta tự hỏi: Chúa Thánh Thần ban sự sống nào? Khởi đầu, trong công cuộc sáng tạo, hơi thở của Thiên Chúa ban cho Adam sự sống tự nhiên; một pho tượng bằng bùn được biến thành “một sinh vật” (xem St 2,7). Giờ đây, trong cuộc tạo dựng mới, Chúa Thánh Thần là Đấng ban cho các tín hữu sự sống mới, sự sống của Chúa Kitô, sự sống siêu nhiên, của con cái Thiên Chúa. Thánh Phaolô có thể thốt lên: “Luật của Thần Khí, điều ban sự sống trong Chúa Giêsu Kitô, đã giải thoát anh em khỏi luật của tội lỗi và sự chết” (Rm 8,2).
Đức tin giải thoát chúng ta khỏi nỗi sợ rằng chết là hết
Trong tất cả những điều này, đâu là tin tức tuyệt vời và an ủi cho chúng ta? Đó là sự sống được Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta, là sự sống đời đời! Đức tin giải thoát chúng ta khỏi nỗi kinh hoàng của việc phải thừa nhận rằng mọi sự đều kết thúc ở đây, rằng không có sự cứu chuộc nào cho những đau khổ và bất công đang thống trị trên trái đất. Một lời khác của Thánh Tông Đồ bảo đảm với chúng ta điều này: “Nếu Thánh Thần của Thiên Chúa, Đấng đã cho Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại, ngự trong anh em, thì Đấng đã cho Đức Kitô sống lại từ cõi chết cũng sẽ ban sự sống cho thân xác phải chết của anh em nhờ Thần Khí của Người sống trong anh em”. (Rm 8,11). Chúa Thánh Thần cư ngụ trong chúng ta, ở trong chúng ta.
Vun trồng đức tin cho người thiếu đức tin
Chúng ta cũng hãy vun trồng đức tin này cho những người, thường không phải do lỗi của họ, thiếu đức tin đó và không thể mang lại ý nghĩa cho cuộc sống. Và chúng ta đừng quên tạ ơn Đấng, bằng sự chết của Người, đã mang lại cho chúng ta món quà vô giá này!
Buổi tiếp kiến chung kết thúc với Kinh Lạy Cha và phép lành Đức Thánh Cha ban cho tất cả mọi người!
Nguồn. Vatican News
Đoạn cuối Thư 2 Timôthê được chọn cho ngày lễ kính thánh Luca, tác giả sách Tin Mừng, bởi vì có đề cập đến Luca trong một câu ngắn ngủi: “Chỉ còn một mình Luca ở với tôi”. Muốn đo lường hết ‘trọng lượng’ của đề cập ngắn ngủi này, chúng ta phải đọc toàn văn mạch rất cảm động của Phaolô. Đây là những ngày cuối cùng của Phaolô trước khi bị xử trảm. Vị Tông Đồ đang thụ nạn, “sắp đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ phải ra đi”, trong tình trạng hoàn toàn cô đơn khi đứng ra tự biện hộ cho mình trước toà đời, vì bị mọi người bỏ mặc. Có người bỏ Phaolô vì không trung tín, có người vì những lý do khác: “Anh Đê-ma đã bỏ tôi, bởi yêu mến thế gian này; anh ta đã đi Thê-xa-lô-ni-ca. Anh Cơ-rét-xen đã đi sang miền Ga-lát, anh Ti-tô đi sang miền Đan-ma-ti-a”. Trong tình cảnh ấy, thì việc “chỉ còn một mình Luca ở với tôi” thật ý nghĩa biết bao đối với Phaolô!
Luca chỉ được nhắc đến thoáng qua như thế, và chỉ một vài lần trong toàn Tân Ước, trong khi chính Luca là tác giả của sách Tin Mừng thứ ba và sách Công vụ Tông đồ, và được nhìn nhận là ‘cây bút’ chuyên nghiệp và sắc sảo bậc nhất giữa các tác giả Thánh kinh Tân Ước. Một nhân cách ‘xoá mình’ cách đặc biệt đáng được chiêm ngắm biết bao! Luca không nói về mình, ngoại trừ hai lần xưng ‘tôi’ với ông Thêôphilô ở đầu hai quyển sách…
Quả thật, hoà nhịp với những bước chân tông đồ, Luca lọt thỏm trong đại công trường sứ mạng loan báo Tin Mừng – bắt đầu từ câu chuyện Chúa Giêsu, và tiếp tục với bầu khí sôi sục sứ mạng khởi đi từ biến cố đón nhận Thánh Thần của lễ Ngũ Tuần…
Hoạt động sứ mạng ấy có những đặc tính gì theo kinh nghiệm của Luca? Chính Luca cho chúng ta biết những đặc tính mà Chúa Giêsu muốn:
-không ‘bình an vô sự’, vì người tông đồ/thừa sai như chiên đi vào giữa sói rừng…
-hành trang tông đồ tối thiểu, dường như không có gì, vì sự an toàn được đặt nơi chính Chúa…
-luôn khẩn trương, không thể nhẩn nha, nhàn nhã…
-người thừa sai/tông đồ không có gì, nhưng có sự bình an của Chúa để chuyển trao cho người ta…
-và toàn thể sứ mạng là công cuộc của Chúa, như đồng lúa chín là của Chủ vụ mùa; mỗi tông đồ/thừa sai là một thợ gặt trong cánh đồng duy nhất của Chủ vụ mùa duy nhất ấy!
Mừng lễ Thánh Luca năm nay chỉ hai ngày trước ngày Chúa Nhật Thế giới Cầu nguyện cho Sứ mạng, xin Chúa hun đúc cảm thức sứ mạng nơi mỗi người và mỗi cộng đoàn chúng ta. Bởi tất cả chúng ta, trong Giáo hội, mắc nợ mọi người một lời mời gọi vào dự tiệc cưới của Nước Trời.
Lm. Lê Công Đức
Tại sao người Do thái đương thời xây mồ mả cho các tiên tri thời trước mà việc này lại bị Chúa Giêsu khiển trách? Có vẻ như sự khiển trách này phi lý, vì chẳng lẽ việc xây mồ mả cho các tiên tri là sai!… Hay đây là một ‘thủ pháp’ của Chúa Giêsu, nhằm gợi mở / kích hoạt suy tư của người đương thời để họ tiếp cận Người cách đúng đắn hơn?
Ta lần lượt xem xét một số dữ liệu:
-Cha ông họ thời trước đã giết các tiên tri. Đó là sai lầm ‘chết người’…
-Điều quan trọng với họ, vì thế, trước hết là nhận hiểu cái sai lầm của cha ông mình, để rút kinh nghiệm và tránh lặp lại…
-Nhưng rất tiếc, họ chỉ lo xây lăng mộ cho các tiên tri mà không hề làm cái công việc ‘rút kinh nghiệm’ nói trên… Để rồi chính họ, tới lượt mình, cũng sẽ ra tay giết một ‘Ngôn Sứ’ vô cùng cao cả ở giữa họ là Chúa Giêsu!
Vậy thì, vấn đề của người Do thái đương thời Chúa Giêsu là:
-không học được bài học của lịch sử,
-không phân biệt được việc chính yếu và việc thứ yếu, nên chỉ làm những việc ít quan trọng hơn, mà không làm cái việc khẩn thiết hơn…
-điều xảy ra là họ phạm sai lầm còn lớn hơn cả cha ông mình đã từng sai lầm trong lịch sử!
Còn chúng ta hôm nay:
-liệu những lễ mừng ghi nhớ các kỷ niệm / các biến cố lịch sử của cá nhân hay cộng đoàn chúng ta (như ngân khánh, kim khánh, kỷ niệm thành lập này nọ…) có ý nghĩa gì, nếu chúng ta chỉ mừng suông bên ngoài mà không học được các bài học từ lịch sử?
-liệu chúng ta có đang làm những việc thực sự khẩn thiết nhất, hay chỉ dành mọi quan tâm và mọi nguồn lực cho những chuyện thứ yếu?
Cuối cùng, cho những ai nắm giữ vai trò lãnh đạo và hữu trách, còn phải coi chừng rơi vào trường hợp hết sức hệ trọng mà Chúa Giêsu nghiêm khắc cảnh cáo: “Các ngươi cất giữ chìa khoá sự hiểu biết. Chính các ngươi đã không được vào, mà những người muốn vào, các ngươi đã ngăn cản họ lại”…
Xin Chúa giúp tất cả chúng ta biết phân định và hành động đúng như Chúa mong muốn!
Lm. Lê Công Đức
Ngày 12/10/2024, Văn phòng cử hành phụng vụ của Đức Thánh Cha đã thông báo về các cử hành phụng vụ do Đức Thánh Cha chủ sự trong hai tháng 11 và 12; đặc biệt có Công nghị vào ngày 7/12, thay vì ngày 8/12 như Đức Thánh Cha đã thông báo hôm Chúa Nhật ngày 6/10, để trao mũ và nhẫn cho 21 tân Hồng y.
Theo lịch cử hành phụng vụ này, Công nghị Hồng y sẽ diễn ra vào chiều ngày 7/12 tại Đền thờ Thánh Phêrô. Ngày hôm sau, 8/12, vào lúc 9:30, Đức Thánh Cha và toàn thể Hồng y đoàn sẽ cử hành Thánh lễ tạ ơn cũng tại Đền thờ Thánh Phêrô. Sau đó, vào lúc 4 giờ chiều cùng ngày, Đức Thánh Cha sẽ đến Quảng trường Tây Ban Nha ở Roma để kính viếng Đức Mẹ.
Cũng theo thông báo của Văn phòng cử hành phụng vụ của Đức Thánh Cha, vào ngày 4/11, Đức Thánh Cha sẽ chủ sự Thánh lễ tại Đền thờ Thánh Phêrô để cầu nguyện cho các Hồng y và Giám mục qua đời trong vòng một năm qua.
Tiếp đến, vào ngày 17/11, Ngày Thế giới Người nghèo lần thứ 8, Đức Thánh Cha sẽ chủ sự Thánh lễ vào lúc 10 giờ sáng tại Đền thờ Thánh Phêrô.
Sau đó, vào ngày 24/11, lễ trọng Chúa Kitô Vua Vũ trụ, như Đức Thánh Cha đã ấn định, ngài sẽ chủ sự Thánh lễ Ngày Giới trẻ Thế giới vào lúc 9:30 sáng tại Đền thờ Thánh Phêrô.
Cuối cùng, chiều ngày 12/12, lễ Đức Mẹ Guadalupe, vào lúc 6 giờ chiều, Đức Thánh Cha sẽ chủ sự Thánh lễ bằng tiếng Tây Ban Nha cũng tại Đền thờ Thánh Phêrô.
Nguồn. Vatican News