Đức Thánh Cha: Lịch Sử Cứu Độ Là Lịch Sử Của Những Người Di Cư

Sáng thứ Hai ngày 28/10, Đức Thánh Cha tiếp các thành viên của Tổng hội dòng Carôlô hay còn gọi là Scalabrini, do thánh Giovanni Battista Scalabrini sáng lập, dấn thân phục vụ người di cư. Ngài quảng diễn ba khía cạnh của kế hoạch mục vụ cho những năm tiếp theo của các tu sĩ: người di cư, chăm sóc mục vụ và bác ái.

Trước hết người di cư. Đức Thánh Cha nói: “Người di cư dạy chúng ta hy vọng. Họ bỏ lại đàng sau nhà cửa với hy vọng ‘tìm được lương thực hàng ngày ở những nơi khác’ như thánh Giovanni Battista Scalabrini thường nói. Ngay cả khi mọi thứ dường như chống lại, và chỉ gặp những cánh cửa đóng kín và bị từ chối, họ vẫn không mất hy vọng”.

Theo Đức Thánh Cha, những người di cư quyết tâm ra đi là vì tình thương đối với gia đình, điều này dạy chúng ta rất nhiều, đặc biệt đối với các tu sĩ dấn thân phục vụ người di cư. Ngài nhắc rằng không được quên chính lịch sử cứu độ là một lịch sử của những người di cư, của những dân tộc đang bước đi.

Điều này theo Đức Thánh Cha đưa đến điểm thứ hai: nhu cầu cung cấp chăm sóc mục vụ tập trung vào hy vọng. Theo đó, cần phải có những can thiệp mục vụ hữu hiệu, thể hiện sự gần gũi về phương diện vật chất, tôn giáo và nhân bản, để giữ cho hy vọng của những người di cư luôn sống động và giúp họ tiến bước trên hành trình cá nhân hướng về Thiên Chúa, bạn đồng hành trung thành của họ trên đường đi. Vì Chúa luôn hiện diện và gần gũi với tất cả những ai đau khổ.

Đức Thánh Cha nói tiếp đến khía cạnh thứ ba: bác ái. Ngài nhận xét, ngày nay nhiều người di cư do thảm hoạ, bất công về cơ hội, thiếu dân chủ, lo sợ về tương lai, chiến tranh. Vấn đề càng trầm trọng hơn do bởi việc đóng cửa biên giới, sự dửng dưng. Trong Kinh Thánh một trong những lề luật Năm Thánh là phục hồi đất đai cho những người đã bị mất. Ngày nay, hành động công lý đó có thể được thực hiện qua các hoạt động bác ái khẳng định phẩm giá và quyền của mỗi cá nhân. Bằng cách này, các định kiến bị loại bỏ và những người khác, bất kể họ là ai và đến từ đâu, đều được xem là món quà của Chúa, duy nhất, thánh thiêng, bất khả xâm phạm, một nguồn tài nguyên quý giá cho thiện ích của tất cả.

Sau cùng, Đức Thánh Cha khẳng định với các tham dự viên của Tổng hội rằng, đoàn sủng của các tu sĩ dòng Scalabrini vẫn sống động trong Giáo hội. Điều này được thể hiện qua số ơn gọi trẻ ở các quốc gia khác nhau trên thế giới. Ngài mời gọi tất cả đón nhận niềm vui này bằng lời tạ ơn Chúa trước Thánh Thể và và Đức Maria, Mẹ của những người di cư, như thánh Giovanni Battista Scalabrini đã dạy. Vì chỉ từ đó chúng ta mới có thể bước đi cùng nhau với niềm hy vọng, trong bác ái.

Nguồn: Vatican News


Hạt Cải, Nắm Men…(29.10.2024 Thứ Ba Tuần XXX Thường Niên)

Chúa Giêsu nói Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, Người không nói “giống như cây cải”. Cũng vậy, Người nói Nước Thiên Chúa giống như nắm men, chứ không nói giống như “khối bột đã dậy men”! Điều này có nghĩa gì? Có nghĩa rằng Nước Thiên Chúa không duy chỉ ở mức hoàn thành, ở vạch đích, mà Nước ấy có mặt ở ngay điểm bắt đầu, ở vạch xuất phát. Giữa hai đầu mút ấy là một tiến trình năng động – và Nước Thiên Chúa cũng là chính tiến trình này.

Chưa hoàn thành, chưa trọn vẹn, chưa chạm đích… thì có nghĩa là còn đang trên đường đi và còn dở dang, khiếm khuyết… Không sao, miễn là cái tiến trình từ hạt cải đến cây cải hay từ nắm men đến khối bột dậy men vẫn đang diễn ra! Nên thánh, chẳng hạn, cốt ở chỗ NÊN, chứ không ở THÁNH – bởi không ai đạt mức THÁNH được, chỉ Thiên Chúa mới là THÁNH. Vậy thì, trên nguyên tắc, ngay lúc này, cả 8 tỉ người trên mặt đất này đều có thể NÊN thánh… Không phân biệt mỗi người trong đó là ai và xuất phát ở đâu! Xuất phát ở đâu cũng được, chỉ cần có xuất phát!

Đi nhanh hay đi chậm cũng tốt, miễn là đang đi. Ngay cả có thể nói, đi tới hay ‘đi lui’ cũng tốt, nếu cái gọi là ‘đi lui’ ấy nằm trong cơ chế đi tới, là một phần của đi tới! Thiên Chúa của Chúa Giêsu, và của chúng ta, là một Thiên Chúa kiên nhẫn, cần thời gian trong ‘đào tạo’ chúng ta, và nhất là Ngài nhìn toàn cảnh, nhìn cả tiến trình, chứ không chỉ săm soi vào một chỗ, một thời điểm nào đó.

Đối với cá nhân cũng vậy, mà đối với lịch sử loài người cũng vậy. Trong lịch sử, đã từng có bao nhiêu là cái dở, theo nhãn quan chúng ta ngày nay – chẳng hạn, chế độ nô lệ, đa thê, phân biệt và kỳ thị giới tính, và nhiều thứ khác…

Ngay cả Thánh Kinh, là lời mạc khải của Thiên Chúa, cũng phải đọc trong toàn bộ, chứ không thể tách rời từng chữ từng câu ra khỏi ngữ cảnh. Lại ví dụ, ngày nay chúng ta dị ứng với tâm thức và thái độ gia trưởng, nên sẽ dị ứng với lời khuyên của thánh Phaolô: “Hỡi những người vợ, hãy phục tùng chồng”. Nhưng chỉ cần đọc hết bản văn ấy thôi, ta sẽ thấy cả những người chồng cũng nhận được lời khuyên, và thấy thánh Phaolô đặt tương quan vợ chồng trong viễn ảnh nào… Hoá ra, vợ phục tùng chồng trong viễn ảnh chồng yêu thương vợ như Đức Kitô yêu Hội Thánh thì không có gì là ghê gớm cả!

Cũng vậy, ngày mai thánh Phaolô sẽ khuyên cả những nô lệ lẫn những chủ nô lệ! Mỗi chúng ta đang trên đường đi. Nhân loại cũng đang trên đường đi. Đích điểm luôn còn ở phía trước. Nhưng ở bất cứ thời điểm, giai đoạn nào, Chúa cũng cứu được chúng ta. Chỉ cần ta để cho Chúa cứu…

Lm. Lê Công Đức


ĐTC Phanxicô Mời Gọi Tín Hữu Roma Chữa Lành Những Vết Thương Của Thành Phố

Trong đại hội giáo phận Roma tại Đền thờ Thánh Gioan Laterano vào chiều thứ Sáu ngày 25/10/204, Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu giáo phận Roma hàn vá lại những vết rách trong cấu trúc của xã hội Roma và gieo hạt giống hy vọng.

Tham dự Đại hội giáo phận có chủ đề “Vá lại các vết rách, vượt trên những bất bình đẳng” có các chính quyền dân sự và giáo xứ của giáo phận Roma, cũng như các lãnh đạo chính trị và xã hội dân sự, và các đại diện các Giáo hội Kitô và Hồi giáo.

Người nghèo là xác thịt của Chúa Kitô

Suy tư về nhiều vết thương sâu sắc vẫn đang hành hạ thành phố Roma, Đức Thánh Cha đã bày tỏ nỗi đau của ngài dưới dạng một câu hỏi nhằm thách đố mọi người:

“Biết rằng có những người đang sống trên đường phố, những người trẻ không tìm được việc làm hoặc nhà ở, những người bệnh và người già không được chăm sóc, những thanh thiếu niên đang nghiện ngập và những loại nghiện ngập ‘hiện đại’ khác, những cá nhân bị ám ảnh bởi nỗi đau tinh thần đang sống trong sự bỏ rơi hoặc tuyệt vọng – đây không chỉ đơn thuần là một số liệu thống kê. Đây là những khuôn mặt và câu chuyện của anh chị em chúng ta, và chúng phải đánh động chúng ta và thách thức chúng ta: chúng ta có thể làm gì? Chúng ta có nhìn thấy trong câu chuyện của những người bị thương này khuôn mặt của Chúa Kitô đau khổ không? Chúng ta có cảm thấy vấn đề đủ để chịu trách nhiệm về nó không? Chúng ta có thể cùng nhau làm gì?”.

Nghèo khổ: vấn đề cấp bách của Giáo hội

Đức Thánh Cha đặt vấn đề nghèo đói vào trung tâm thông điệp của ngài, nhắc nhở các tín hữu rằng “người nghèo là xác thịt của Chúa Kitô,” và Chúa Giêsu không đưa ra “một giải pháp kỳ diệu.” Ngài lưu ý, điều cần thiết chỉ đơn giản là mang thông điệp Phúc âm. Ngài nhấn mạnh, “Người nghèo không thể bị thu hẹp thành số lượng, vấn đề, hoặc tệ hơn nữa, là thứ gì đó bị loại bỏ.”

Can đảm trong bác ái

Đức Thánh Cha thúc giục các tín hữu không nên thụ động trước nhiều mâu thuẫn của Roma. Ngài kêu gọi sự tham gia chủ động, khuyến khích các tín hữu thiết lập một cuộc đối thoại liên tục với các tổ chức và hiệp hội, táo bạo trong bác ái và vượt qua “virus thờ ơ” bằng “sự kiên nhẫn của đối thoại, không định kiến”.

Ngài yêu cầu hãy coi trọng hơn các giáo huấn xã hội của Giáo hội. Điều cần thiết là phải hình thành lương tâm trong giáo huấn xã hội của Giáo hội để Phúc âm có thể được chuyển tải vào các tình huống khác nhau của ngày hôm nay và biến chúng ta thành những chứng nhân của công lý, hòa bình và tình huynh đệ.

Với Năm Thánh đang đến gần, Đức Thánh Cha kêu gọi các tín hữu không nên đầu hàng. Ngài kêu gọi tất cả hãy thực hiện những công việc cụ thể của hy vọng.

Nguồn. Vatican News


Chúa Mời Ta Kinh Nghiệm Sự Gần Gũi Với Chúa (28.10.2024 Thứ Hai Tuần XXX Thường Niên)

Thánh Simon và Giuđa không có mấy đặc nét riêng đáng kể, vì thế ngày lễ kính các ngài thì bài Tin Mừng về Chúa chọn Nhóm 12 được dùng cho Thánh lễ… Không có mấy đặc nét riêng của các ngài được ghi lại, nhưng cái ‘căn cước’ TÔNG ĐỒ là đã quá đủ để bảo đảm về thế giá của các ngài.

Nào ta hãy xem bản văn Tin Mừng hôm nay và ghi nhận:

-Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện thâu đêm, đến sáng thì Người chốt danh sách Nhóm 12. Thầy trò ở trên núi, như sư phụ và đệ tử! Hãy nghĩ đến sự gần gũi thân tình với Chúa Giêsu mà các Tông Đồ kinh nghiệm trong suốt những năm ấy… Sự gần gũi thân tình này có ý nghĩa quan trọng đến nỗi sau này, khi chọn người bổ sung chỗ khuyết do Giuđa Iscariot để lại, thì ứng viên phải thuộc số những người đã từng đi theo Chúa Giêsu từ đầu! Ngày nay video call, livestream… có thể tạo cảm giác gần gũi hơn cho những người thân, bạn hữu ở xa nhau – nhưng vẫn không bao giờ thay thế cho chính kinh nghiệm chia sẻ đời sống gần gũi bên nhau hằng ngày được! Hai vị thánh của ngày hôm nay được ban cho đúng cái kinh nghiệm gần gũi mật thiết này với Chúa…

-Thầy trò đi xuống núi, dừng chỗ đất bằng, có những môn đệ khác (vòng ngoài) và các đám đông dân chúng qui tụ ở đó để nghe Chúa Giêsu giảng và để được Người chữa lành bệnh tật… Tất cả đám đông tìm cách chạm tới Người, vì tự nơi Người phát xuất một sức mạnh chữa lành mọi người!… Đây là một bức tranh sứ mạng. Môn đệ được Thầy đào tạo để làm thừa sai/tông đồ, và chỗ đất bằng dưới núi này là đất thực tập của các ‘môn đệ thừa sai’! Vẫn có Thầy với các ông, và các ông vẫn tiếp tục kinh nghiệm sự gần gũi mật thiết với Thầy. Hãy để ý chi tiết về ‘sờ chạm’! Những ai trong đám đông chạm đến Chúa Giêsu đều nhận được năng lực phát ra từ nơi Người. Ôi, các Tông Đồ thuộc Nhóm 12 đã kinh nghiệm bao nhiêu là sờ chạm đến Chúa Giêsu trong những năm tháng ấy! Thánh Simon và Giuđa đã kinh nghiệm như thế…

Trong Thông điệp Dilexit Nos còn nóng hổi, Đức thánh cha Phanxicô đã nói về sự gần gũi mật thiết và sự sờ chạm đó là những diễn tả của tương quan cá vị, tương quan bằng trái tim, từ trái tim tới trái tim!

Chúa Giêsu cũng đang mời gọi mỗi chúng ta đi vào tương quan mật thiết gần gũi với Người, và nếm cảm năng lực tuyệt vời mình nhận được từ sự gần gũi ấy…

Lm. Lê Công Đức


Niềm Tin Và Hành Động (Suy Niệm Chúa Nhật XXX Thường Niên, Năm B)

Bên vệ đường ngoài thành Giêrikhô, có anh mù Batimê đang ngồi giơ tay xin những của bố thí của người qua kẻ lại. Có lẽ quần áo anh tả tơi, mặt mày hốc hác và nhem nhuốc, toàn thân thể gầy guộc. Anh phải ăn xin vì anh bị mù và với người Do Thái thời xưa, mọi người có thể đều cho anh là người có tội – chính vì tội mà anh mới bị mù. Bởi thế, anh bị gạt ra khỏi mọi sinh hoạt của cộng đồng, bị loại ra khỏi thế giới của những người sáng mắt và bị mọi người xa cách. Anh không có chỗ đứng trong thành. Chính vì thế, anh chỉ còn biết ngồi bên vệ đường ngoài thành.

Tuy mắt bị mù, nhưng có lẽ đôi tai và tâm hồn anh lại luôn sáng bởi anh tin tưởng sẽ đến một ngày nào đó anh được giải thoát khỏi nỗi đớn đau của bóng tối. Có lẽ vì đã ngồi bên vệ đường rất lâu rồi, nên anh đã nghe những phép lạ chữa lành và về lòng thương xót vô biên của Chúa Giêsu. Chính vì vậy, dù không nhìn thấy về thể xác nhưng đôi mắt tâm hồn của anh đã thấy được Đức Giêsu là Đấng quyền năng, là Con Vua Đavít, Đấng có thể giải thoát và chữa lành anh. Nhưng thật buồn khi những người xung quanh lại không thấy được khát vọng và niềm tin của anh. Họ đã gạt anh ra khỏi cộng đồng, nay họ còn không cho anh có quyền lên tiếng nói. Họ ức hiếp, quát nạt anh, họ không nhận ra được khát vọng thực sự của anh là được sáng mắt chứ không đơn thuần là mấy đồng xu, mấy cái bánh bố thí để sống qua ngày.

Nhìn vào cuộc sống của chúng ta, có khi nào thái độ của những người đó lại là thái độ của chính chúng ta. Chúng ta có cản trở mọi người đến với Chúa bởi những lời nói và thái độ thiếu tích cực. Chúng ta thiếu nhạy bén trước những nhu cầu của người khác như thiếu sự cảm thông, tha thứ, quan tâm, yêu thương hoặc có một thái độ trân trọng và lắng nghe họ.

Giữa đám đông ồn ào, những lời quát tháo, la lối, anh mù Batimê vẫn một lòng tin tưởng Đức Giêsu có thể giải thoát và chữa lành anh. Niềm tin của anh vượt lên trên mọi cản trở. Chính sự kiên trì, lòng tin vững mạnh và sự can đảm đã giúp anh gặp được Chúa và được Người chữa lành. Sự lắng nghe của Chúa là niềm hy vọng cho chúng ta xác tín rằng: Chúa luôn lắng nghe lời khẩn cầu của chúng và Ngài sẽ đáp lời.

Khi Đức Giêsu đã nghe thấy tiếng kêu của anh mù, Ngài đã bảo gọi anh đến. Lúc này, đám đông ấy lại tỏ thái độ nhẹ nhàng đối với anh: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Ngài gọi anh đấy” (Mc10,49). Tại sao những người ấy lại thay đổi thái độ nhanh như vậy? Có lẽ bởi lúc này, họ nghe thấy Chúa gọi anh mù, chỉ khi đặt ý bản thân vào ý Chúa, chúng ta mới có thể thay đổi cái nhìn và thái độ đối với tha nhân. Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta cũng có cái nhìn thiếu thiện cảm, những cái nhìn thiếu sự cảm thông, những cái nhìn xét đoán với người khác; Có lẽ ấy là lúc chúng ta chưa thực sự nhìn họ bằng con mắt của Chúa.

Khi anh mù nghe được những lời động viên, anh như được tiếp thêm niềm tin tưởng, hành động của anh trở nên dứt khoát, anh liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu. Có lẽ đối với anh, chiếc áo choàng là tài sản quý giá nhất mà anh có, chiếc áo che chở anh khỏi cái lạnh, bảo vệ anh khỏi những luồng gió hoặc cái nắng chói chang đòi hủy hoại thân thể của anh. Anh đã vất lại cái áo choàng đồng nghĩa với việc vất lại tất cả vì anh tin Đức Giêsu sẽ đem lại cho anh một cuộc đời mới. Người sẽ giải thoát anh khỏi bóng tối của mù lòa và đưa anh vào ánh sáng. Anh biết rất rõ khát vọng thật sự của mình là gì và xin Chúa điều cần thiết nhất, có ý nghĩa nhất đối với anh “Xin cho tôi nhìn thấy được”. Xin một người điều gì là tin tưởng người đó có để cho, và anh mù có niềm tin mạnh mẽ vào Chúa. Trong cuộc sống, mỗi chúng ta có đang cầu xin Chúa những điều cần thiết nhất, những điều có ý nghĩa nhất? Chúng ta cần gì? Phải chăng là lợi lộc, lời khen tiếng chê, danh vọng, hơn thua, hay chúng ta đang cần tình yêu Chúa để bước theo Ngài trên con đường Ngài đã chọn riêng cho mỗi chúng ta, cần sức mạnh của Chúa để vượt thắng những khó khăn?

Khi đã được Chúa đáp lời, anh mù nhìn thấy được và tức khắc anh đi theo Người. Anh đã trở thành môn đệ của Chúa vì anh cảm nếm được tình yêu và lòng thương xót vô bờ của Người dành cho anh. Tình yêu ấy thôi thúc anh can đảm bước theo Người. Mỗi chúng ta cũng được mời gọi củng cố đức tin mỗi ngày, dám can đảm vất bỏ áo choàng là con người cũ, bước ra khỏi sự an toàn tạm bợ của chiếc áo choàng để tìm được sự an toàn vĩnh cửu nơi Chúa, thoát khỏi tình trạng ù lì để theo Chúa với con người mới, với kinh nghiệm cá vị về Ngài.

Lạy Chúa, trên con đường theo Chúa, chúng con còn lắm lúc chùn chân, yếu lòng, ngại bước theo vì thấy khó khăn và đau đớn. Chúng con còn ngần ngại vứt lại chiếc áo choàng cũ kĩ vì sợ hãi, lo lắng và chưa tin tưởng hoàn toàn vào bàn tay che chở của Chúa. Nguyện xin Chúa cho chúng con dám đặt trọn con người mình trong bàn tay Chúa, trong cách nhìn của Chúa. Xin cho chúng con có một niềm tin vững mạnh để chúng con dám can đảm bước theo Chúa trên con đường Ngài đi. Amen

Mary Nguyễn


Nếu Các Ngươi Không Hoán Cải…(26.10.2024 Thứ Bảy Tuần XXIX Thường Niên)

Người làm vườn xin ông chủ cho cây vả ‘ba năm không trái’ ấy thêm một năm nữa để sinh trái. Ông chủ đồng ý đợi chờ. Câu chuyện đơn sơ này minh hoạ rất hùng hồn về sự kiên trì nhẫn nại của Thiên Chúa. Tạ ơn Chúa vì sự kiên nhẫn này… Bởi nếu Chúa mất kiên nhẫn, thì khủng khiếp cho chúng ta là những kẻ tội lỗi biết bao!

Chúa kiên nhẫn chờ tôi sinh quả sám hối và hoán cải. Câu chuyện cây vả là câu chuyện của tôi. Cũng như câu chuyện những người Galile bị giết, hay câu chuyện tháp Silôe đổ xuống đè chết 18 người, là câu chuyện của tôi. Có một thông điệp dành cho tôi trong những sự kiện thời sự ấy. Chúng không hoàn toàn ở ngoài tôi.

Đọc, nghe tin tức thời sự trên báo chí, TV, mạng internet, hay trong đời sống thực tế quanh mình, đó mới chỉ là tiếp nhận thông tin. Tôi cần xử lý thông tin nữa. Chúng nói gì với tôi – hay đúng hơn, Chúa nói gì với con người/đời sống/hiện sinh của tôi qua các biến cố, các sự kiện ấy? Thời đại tràn ngập thông tin này, tôi càng cần xử lý thông tin đúng mức và đúng cách, nếu không thì tất cả chỉ là tọng rác vào đầu óc và tâm trí mình, không hơn không kém!

Việc xử lý thông tin này thường được gọi là lắng nghe và phân định. Lắng nghe và phân định tiếng Chúa Thánh Thần nói với mình, trong thực tế của mình, qua các chuyện xảy ra xóm trên, xóm dưới, bên Mỹ, bên Phi…!

Và việc lắng nghe và phân định như thế giả thiết một bầu khí và thái độ cầu nguyện thâm sâu. Lạy Chúa, xin dạy chúng con cầu nguyện, và xin ban ơn hoán cải cho chúng con!

Lm. Lê Công Đức


Độc Hiểu Dấu Chỉ Và Hành Động Kịp Thời, Chính Xác (25.10.2024 Thứ Năm Tuần XXIX Thường Niên)

Những ngày này người ta bàn tán về dự báo đường đi kỳ quặc của cơn bão Trami đang tới gần. Nó sẽ tiến vào sát bờ biển rồi sẽ đánh lái vòng chữ U để quay ngược lại, trở ra biển Đông! Thật là tài tình về sự tính toán và dự báo của khoa khí tượng!… Nhưng thực ra, ngay từ xa xưa, con người thuộc mọi cộng đồng cũng đã có khả năng dự báo thời tiết (dù thô sơ chứ không tinh vi như thời hiện đại) cho các vùng cư trú khác nhau của mình, dựa vào những dấu hiệu quan sát được trong trời đất… Chúa Giêsu cũng rất rành việc dự báo thời tiết tại vùng Palestina, như dân chúng ven bờ đông Địa Trung Hải…

Và khả năng dự báo ấy, tức khả năng đọc những dấu hiệu của đất trời, được Chúa Giêsu vận dụng móc nối để gợi mở về một khả năng đọc và dự báo quan trọng và khẩn thiết hơn: “Các ngươi biết tìm hiểu diện mạo của trời đất, còn về thời đại này, sao các ngươi không tìm hiểu? Tại sao các ngươi không tự mình phê phán điều gì phải lẽ?” Mấy tiếng “còn về thời đại này” có nghĩa gì? Có nghĩa là thời Mêsia, thời có mặt Đấng Cứu Độ mà bao thế hệ đã ngóng trông, thời mà ‘Nước Thiên Chúa đã đến gần’, thời mà ở giữa họ có Người, là Giêsu Nadaret!

Đó là thời ‘khủng hoảng’, theo nguyên nghĩa (không tiêu cực) của từ ‘khủng hoảng’, tức là thời điểm đặc biệt, đòi hỏi phải có quyết định và hành động chính xác và kịp thời… Như Chúa Giêsu mô tả qua sự việc “đi ra toà cùng với đối phương” vậy!

Cả cánh chung lịch sử lẫn cái chết của mỗi chúng ta đều vẫn còn ở phía trước, lại còn nguyên tính bất ngờ nữa, nên chúng ta cũng đang trong ‘thời khủng hoảng’… Vì thế thông điệp về “dàn xếp ổn thoả với đối phương” vẫn giữ nguyên hiệu lực đối với chúng ta.

Dàn xếp những gì và dàn xếp thế nào? Nhiều lắm, nhưng trước hết có thể nghe lời nhắn nhủ của thánh Phaolô hôm nay cho các tín hữu Êpheso, để bắt đầu từ chính tương quan của mình với anh chị em trong cộng đoàn: “Tôi khuyên anh em hãy ăn ở xứng đáng với ơn kêu gọi anh em đã lãnh nhận. Anh em hãy hết lòng khiêm nhượng, hiền hậu, nhẫn nại, chịu đựng nhau trong đức ái: hãy lo bảo vệ sự hợp nhất tinh thần, lấy bình an hoà thuận làm dây ràng buộc: Chỉ có một thân thể và một tinh thần, cũng như anh em đã được kêu gọi đến cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa là Cha hết mọi người, Ðấng vượt trên hết mọi người, hoạt động nơi mọi người, và ở trong mọi người”…

Thật là nền tảng, bởi vì đó là lời khuyên thực thi đức ái! Như thánh Augustino dạy: Hãy yêu thương, rồi sẽ biết phải làm gì!…

Lm. lê Công Đức


Tiếp Kiến Chung 23/10: Hãy Cầu Khẩn Chúa Thánh Thần Bảo Vệ Hôn Nhân Và Con Cái Của Bạn

Tại buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư ngày 23/10/2024, Đức Thánh Cha tiếp tục loạt bài giáo lý về Chúa Thánh Thần trong đời sống của Giáo hội, cụ thể là trong bí tích hôn nhân. Ngài mời gọi các tín hữu hãy cầu xin Chúa Thánh Thần nâng đỡ các cặp vợ chồng và gia đình trong ơn gọi trở thành dấu chỉ vui tươi của tình yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa, tình yêu hy sinh của Chúa Kitô dành cho Giáo hội và lời hứa của tình yêu đó để mang lại hòa bình lâu dài cho thế giới tan vỡ của chúng ta.

Đức Thánh Cha giải thích rằng trong Chúa Ba Ngôi, Chúa Thánh Thần là mối dây liên kết tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con. Là bí tích của sự kết hợp yêu thương giữa một người nam và một người nữ, hôn nhân Kitô giáo là sự phản ánh mối quan hệ vĩnh cửu giữa Ba Ngôi Thiên Chúa, một sự tự hiến cho nhau tạo nên niềm vui sâu sắc và lâu dài.

Mở đầu buổi tiếp kiến, cộng đoàn cùng nghe đoạn thư thứ nhất của Thánh Gioan (1Ga 4,7-8):

Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, bởi vì Thiên Chúa là tình yêu.

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Lần trước chúng ta đã giải thích về điều chúng ta tuyên xưng về Chúa Thánh Thần trong kinh Tin Kính. Tuy nhiên, suy tư của Giáo hội không dừng lại ở việc tuyên xưng đức tin ngắn gọn đó. Việc tuyên xưng này vẫn được tiếp tục, cả ở phương Đông lẫn phương Tây, thông qua các tác phẩm của các vị Giáo phụ và Tiến sĩ vĩ đại. Đặc biệt, hôm nay chúng ta muốn thu thập một số giáo lý về Chúa Thánh Thần đã được phát triển theo truyền thống Công giáo Latinh, để xem giáo lý này soi sáng toàn bộ đời sống Kitô hữu và đặc biệt là bí tích hôn nhân như thế nào.

Chúa Thánh Thần là tình yêu hiệp nhất 

Người khởi xướng chính của học thuyết này là Thánh Augustinô, người đã phát triển giáo lý về Chúa Thánh Thần. Ngài bắt đầu từ mặc khải rằng “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8). Bây giờ, tình yêu giả định phải có một người yêu thương, một người được yêu thương và chính tình yêu kết nối họ lại với nhau. Trong Chúa Ba Ngôi, Chúa Cha là Đấng yêu thương, là nguồn mạch và nguyên lý của mọi sự; Chúa Con là Đấng được yêu thương và Chúa Thánh Thần là tình yêu hiệp nhất các Ngài.[1] Do đó, Thiên Chúa của các Kitô hữu là một Thiên Chúa “duy nhất”, nhưng không phải là một Thiên Chúa đơn độc; Người là sự hiệp nhất của sự hiệp thông và tình yêu. Theo ý nghĩa này, có người đã đề xuất gọi Chúa Thánh Thần, không phải là “ngôi thứ ba” số ít trong Ba Ngôi, mà đúng hơn là “ngôi thứ nhất số nhiều”. Nói cách khác, Người là Chúng Tôi, ngôi Chúng Tôi thần linh của Chúa Cha và Chúa Con, mối dây hiệp nhất giữa hai ngôi khác nhau[2], nguyên tắc của sự hiệp nhất của Giáo hội, vốn thật sự là một “thân thể duy nhất” phát sinh từ nhiều người.

Vợ chồng là sự diễn tả đầu tiên và sơ đẳng nhất của mối hiệp thông tình yêu của Ba Ngôi

Như tôi đã nói, hôm nay tôi muốn suy tư với anh chị em cách đặc biệt về những điều Chúa Thánh Thần nói về gia đình. Chúa Thánh Thần có thể liên quan gì đến hôn nhân? Rất nhiều, có lẽ là điều cốt yếu, và tôi cố gắng giải thích tại sao! Hôn nhân Kitô giáo là bí tích của sự tự trao tặng chính mình, của một người cho người khác, của người nam và người nữ. Đây là điều Đấng Tạo Hóa đã muốn khi “Người sáng tạo con người theo hình ảnh Người […]: Người sáng tạo họ có nam có nữ” (St 1,27). Vì thế, đôi vợ chồng con người là sự diễn tả đầu tiên và sơ đẳng nhất của sự hiệp thông tình yêu, là Ba Ngôi.

Vợ chồng nên tạo thành “chúng tôi”

Các đôi vợ chồng cũng nên tạo thành ngôi thứ nhất số nhiều, “chúng tôi”. Họ đối với nhau với tư cách là “tôi” và “bạn”, và đối với phần còn lại của thế giới, bao gồm cả con cái, với tư cách là “chúng tôi”. Thật tuyệt vời biết bao khi nghe một người mẹ nói với con mình: “Cha con và mẹ…”, như Đức Maria đã nói với Chúa Giêsu khi họ tìm thấy Người lúc mười hai tuổi trong đền thờ đang giảng dạy cho các kinh sư (x. Lc 2,48), và nghe người cha nói: “Mẹ con và cha”, gần như thể họ là một chủ thể duy nhất. Con cái cần biết bao sự hiệp nhất này – cha và mẹ cùng với nhau-, sự hiệp nhất của cha mẹ, và chúng đau khổ biết bao khi thiếu điều đó! Con cái đau khổ biết bao khi cha mẹ chia tay nhau.

Hôn nhân cần sự hỗ trợ của Chúa Thánh Thần 

Tuy nhiên, để đáp ứng ơn gọi này, hôn nhân cần sự hỗ trợ của Đấng là Quà Tặng, thật sự là Đấng hiến thân trọn hảo. Nơi nào Chúa Thánh Thần ngự vào, khả năng tự hiến được tái sinh. Một số Giáo Phụ của Giáo Hội Latinh đã khẳng định rằng, là quà tặng hỗ tương của Chúa Cha và Chúa Con trong Ba Ngôi, Chúa Thánh Thần cũng là lý do tạo nên niềm vui hiện hữu giữa các Ngài và khi nói về Ngài, họ không ngại sử dụng hình ảnh về những cử chỉ, những hình ảnh đặc trưng của đời sống hôn nhân, ví dụ như nụ hôn và vòng tay ôm[3]

Chúa Thánh Thần biến “nước của sự quen thuộc thành niềm vui mới được ở bên nhau”

Không ai nói rằng sự hiệp nhất như vậy là một mục tiêu dễ dàng, nhất là trong thế giới ngày nay; nhưng đây là chân lý như Đấng Tạo Hóa đã dự định cho mọi thụ tạo và do đó thuộc bản chất của chúng. Tất nhiên, việc xây dựng trên cát có vẻ dễ dàng và nhanh chóng hơn so với trên đá; nhưng Chúa Giêsu nói cho chúng ta biết kết quả là gì (xem Mt 7,24-27). Trong trường hợp này, chúng ta thậm chí không cần đến dụ ngôn, bởi vì thật không may, mọi người đều thấy hậu quả của những cuộc hôn nhân xây trên cát và những đứa con phải trả giá đắt hơn hết. Con cái đau khổ vì sự chia tay hay thiếu tình yêu giữa cha mẹ. Những gì Đức Maria nói với Chúa Giêsu tại Cana xứ Galilê phải được nhiều cặp vợ chồng lặp lại: “Họ hết rượu rồi” (Ga 2,3). Chúa Thánh Thần là Đấng tiếp tục thực hiện, trên bình diện thiêng liêng, phép lạ mà Chúa Giêsu đã thực hiện trong dịp đó, tức là biến nước của sự quen thuộc thành niềm vui mới được ở bên nhau. Đó không phải là một ảo tưởng đạo đức: đó là điều Chúa Thánh Thần đã thực hiện trong nhiều đám cưới, khi các cặp vợ chồng đã quyết định cầu khẩn Người.

Ngón tay của Thiên Chúa trong đời sống hôn nhân

Do đó, sẽ không phải là điều xấu nếu, cùng với những thông tin pháp lý, tâm lý và luân lý được đưa ra, sự chuẩn bị “thiêng liêng” này được đào sâu trong quá trình chuẩn bị cho các cặp đính hôn bước vào hôn nhân; Chúa Thánh Thần tạo nên sự hiệp nhất. Một câu tục ngữ Ý nói như sau: “Giữa vợ và chồng, đừng nhúng ngón tay vào”. Tuy nhiên, có một “ngón tay” được đặt giữa vợ và chồng, và đó chính là “ngón tay của Thiên Chúa”: Chúa Thánh Thần! Cám ơn anh chị em!

Nguồn: Vatican News 

Buổi tiếp kiến kết thúc với Kinh Lạy Cha và phép lành Đức Thánh Cha ban cho mọi người.

[1] X. Thánh Augustino, De Trinitate, VIII,10,14)

[2] X. H. Mühlen, Một ngôi vị huyền nhiệm. Giáo hội như là mầu nhiệm của Chúa Thánh Thần, Città Nuova, 1968.

[3] X. Thánh Ilario di Poitiers, De Trinitate, II,1; S. Agostino, De Trinitate, VI, 10,11.


Tôn Giáo Và Phụng Tự Đây, Còn Lửa Ở Đâu? (24.10.2024 Thứ Năm Tuần XXIX Thường Niên)

Những lời của thánh Phaolô trong đoạn Thư Êphêsô hôm nay đặc biệt sâu sắc và rất thiết thực cho cuộc canh tân/cải tổ của chúng ta trong tư cách cá nhân và Giáo hội của bối cảnh hiện tại.

“Tôi nguyện xin Chúa Cha, trong sự phong phú của Ngài là Đấng vinh hiển, ban cho anh em được củng cố mạnh mẽ nhờ Thần Khí của Ngài, để con người nội tâm nơi anh em được vững vàng”: Mấy chữ “con người nội tâm” gợi cho ta về chiều sâu tâm linh, về cái hồn cốt bên trong của chúng ta, cái nhu cầu không ngừng cập nhật ‘trái tim mới, thần khí mới’ nơi chúng ta – mà nhiều khi ta quên tiệt! Nhiều khi cái ‘con người ngoại diện’, tức tất cả những khía cạnh hữu hình bên ngoài, quá quan trọng đến nỗi hút lấy mọi năng lực và quan tâm của mình, như thể ‘con người nội tâm’ không hề tồn tại hay không cần được chăm sóc để sống và triển nở!

Con người nội tâm ấy chính là khả năng hiểu biết và yêu thương, theo nghĩa thâm sâu và chân thực nhất. Như thánh Phaolô diễn tả: “Xin cho anh em, nhờ lòng tin, được Đức Kitô ngự trong tâm hồn, … được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái, để cùng toàn thể dân thánh, anh em đủ sức thấu hiểu mọi kích thước dài rộng cao sâu, và nhận biết tình thương của Đức Kitô, là tình thương vượt quá sự hiểu biết. Như vậy, anh em sẽ được đầy tràn tất cả sự viên mãn của Thiên Chúa”…

Khả năng hiểu biết và yêu thương như vậy là khả năng sống với cái nhìn siêu nhiên. Bởi rất có thể chúng ta ‘đi đạo’, là ‘tín hữu’, mà chẳng có ‘cái nhìn siêu nhiên’ mấy! Bởi nhiều khi chúng ta suy nghĩ và hành động thiên về ‘vô thần thực tiễn’ và ‘duy vật thực tiễn’ hơn! Đó là sự biểu hiện của tính ‘thế tục thiêng liêng’ mà Đức thánh cha Phanxicô xác nhận là nguy hại cho Giáo hội hơn bất cứ sự dữ nào khác.

Chúa Giêsu nói Người đến “ném lửa vào mặt đất”, và Người “ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên”. LỬA ở đây chính là Thần Khí của sự hiểu biết và YÊU THƯƠNG chân thực nói trên. Lửa ấy bùng lên, đó là con người nội tâm bùng lên, với khả năng nhìn, hiểu biết, và yêu thương được trao ban bởi chính Thần Khí… Tưởng nên nhắc lại câu chuyện về nhà phát minh ra lửa và dụng cụ làm ra lửa được cung kính tôn thờ (trên bàn thờ) bởi dân chúng và chức sắc tôn giáo thuộc bộ lạc nọ từ thế hệ này sang thế hệ khác, mà… ở giữa họ chẳng thấy lửa đâu!

Chúng ta không thiếu tôn giáo, không thiếu phụng tự… nhưng có thực có LỬA, và LỬA có bùng lên nơi chúng ta, để thắp sáng và sưởi ấm thế giới băng giá này không?

Lm. Lê Công Đức


Lễ Phong Thánh: Các Thánh Sáng Tạo Trong Việc Làm Điều Thiện

Sáng Chúa Nhật ngày 20/10, Đức Thánh Cha đã dâng Thánh Lễ tại quảng trường thánh Phêrô với nghi thức phong thánh cho mười bốn chân phước: trong đó có 11 vị tử đạo ở Damasco: gồm có cha Manuel Ruiz López và bảy bạn tử đạo Dòng Phanxicô, ba vị tử đạo Francesco, Mooti e Raffaele Massabki; Cha Giuseppe Allamano, Đấng sáng lập các dòng Truyền giáo Consolata, Nữ tu Marie-Léonie Paradis, Đấng sáng lập dòng Tiểu Muội Thánh Gia, Mẹ Elena Guerra, Đấng sáng lập Dòng “Các nữ tu Thánh Zita”.

ức Thánh Cha cử hành Thánh Lễ Chúa Nhật thứ 29 thường niên với bài Tin Mừng về hai môn đệ Giacôbê và Gioan xin Chúa cho được ngồi bên tả và bên hữu Thầy.

Bài giảng Thánh Lễ

Chúa Giêsu hỏi Giacôbê và Gioan: “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?” (Mc 10:36). Và ngay sau đó Người hỏi họ: “Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?” (Mc 10,38). Chúa Giêsu đặt câu hỏi và, chính bằng cách này, giúp chúng ta phân định, bởi vì những câu hỏi làm cho chúng ta khám phá những gì bên trong chúng ta, chúng soi sáng những gì chúng ta mang trong lòng mà đôi khi chúng ta không biết.

Chúng ta hãy để cho Lời Chúa chất vấn mình. Chúng ta hãy tưởng tượng Chúa hỏi chúng ta, mỗi người chúng ta: “Con muốn Ta làm gì cho con?”; và câu hỏi thứ hai: “con có thể uống cùng chén với Ta không?”

Qua những câu hỏi này, Chúa Giêsu làm nổi bật mối dây liên kết và những mong đợi mà các môn đệ đặt nơi Người, với những ánh sáng và bóng tối của mọi mối quan hệ. Thực tế, Giacôbê và Gioan có liên kết với Chúa Giêsu nhưng vẫn có những tham vọng. Họ bày tỏ ước muốn được gần Người, nhưng chỉ để chiếm một chỗ danh dự, được đóng một vai trò quan trọng, “một được ngồi bên hữu, một được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang” (Mc 10:37). Rõ ràng họ nghĩ về Chúa Giê-su như một Đấng Mêsia, một Đấng Mêsia chiến thắng, vinh quang và họ mong đợi Người chia sẻ vinh quang của Người cho họ. Họ coi Chúa Giêsu là Đấng Mêsia, nhưng họ tưởng tượng Người theo cách nghĩ của quyền lực.

Chúa Giêsu không dừng lại ở lời nói của các môn đệ, nhưng đi sâu, lắng nghe và đọc được tâm hồn của mỗi người họ, cũng như của mỗi người chúng ta. Và, trong cuộc đối thoại, ngang qua hai câu hỏi, Người tìm cách khơi nên ước muốn bên trong những yêu cầu đó.

Đầu tiên Người hỏi: “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?”; và câu hỏi này làm lộ ra những suy nghĩ trong lòng họ, nêu bật những mong đợi và ước mơ ẩn giấu về vinh quang mà các môn đệ đã thầm nuôi dưỡng. Như thể Chúa Giêsu đã hỏi: “Con muốn Thầy là ai đối với con?” và do đó, làm lộ ra điều họ thực sự mong muốn: một Đấng Mêsia quyền năng và một Đấng Mêsia chiến thắng, Đấng sẽ ban cho họ một vị trí danh dự. Và đôi khi trong Giáo hội ý nghĩ này cũng đến: danh vọng, quyền lực…

Sau đó, với câu hỏi thứ hai, Chúa Giêsu phủ nhận hình ảnh Mêsia này và bằng cách này giúp họ thay đổi cái nhìn, nghĩa là hoán cải: “Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?”. Bằng cách này, Người tiết lộ cho họ biết rằng Người không phải là Mêsia như họ nghĩ; Người là Thiên Chúa tình yêu, Đấng hạ mình xuống để đến với những người thấp kém; Đấng trở nên yếu đuối để nâng đỡ người yếu, Đấng làm việc vì hòa bình chứ không phải vì chiến tranh, Đấng đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ. Chén mà Chúa sẽ uống là chính của lễ sự sống của Người, sự sống được ban cho chúng ta vì tình yêu, cho đến chết và chết trên thập giá.

Và rồi, bên tả và bên hữu Người sẽ là hai tên trộm, bị treo như Người trên thập giá và không yên vị ở những nơi quyền lực; hai tên trộm bị đóng đinh cùng với Chúa Kitô trong đau đớn và không được ngồi trong vinh quang. Vị vua bị đóng đinh, người công chính bị kết án, trở thành nô lệ của mọi người: đây thực sự là Con Thiên Chúa! (x. Mc 15,39). Người chiến thắng không phải là người thống trị mà là người phục vụ vì tình yêu. Thư gửi tín hữu Do Thái cũng nhắc nhở chúng ta về điều này: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta” (Dt 4,15).

Ở điểm này, Chúa Giêsu có thể giúp các môn đệ hoán cải, thay đổi não trạng của họ: “Anh em biết : những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân” (Mc 10:42). Nhưng không phải là như vậy đối với những ai bước theo Chúa, nhưng phải trở thành tôi tớ để đến với mọi người bằng tình yêu của Chúa. Ai theo Chúa Kitô, nếu muốn nên cao cả, thì phải phục vụ, học hỏi nơi Người.

Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu cho thấy những suy nghĩ, những ước muốn và dự phóng nơi tâm hồn chúng ta, đôi khi làm lộ ra những mong đợi của chúng ta về vinh quang, thống trị, quyền lực và hư danh. Người giúp chúng ta suy nghĩ không còn theo tiêu chuẩn của thế gian nữa, nhưng theo cách của Thiên Chúa, Đấng trở nên rốt cùng để những người sau chót được nâng lên và trở thành những người đầu tiên. Và những câu hỏi này của Chúa Giêsu, với lời dạy của Người về việc phục vụ, thường không thể hiểu được, các môn đệ đã không thể hiểu, và chúng ta cũng không thể hiểu. Nhưng bằng cách bước theo Người, theo bước chân của Người và đón nhận món quà tình yêu của Người, chúng ta cũng có thể học được cách của Thiên Chúa: cách phục vụ của Thiên Chúa. Chúng ta đừng quên ba từ thể hiện cách phục vụ của Thiên Chúa: gần gũi, trắc ẩn và dịu dàng. Chúa đến gần để phục vụ; Người trở nên trắc ẩn để phục vụ; Người dịu dàng để phục vụ.

Chúng ta phải khao khát điều này: không phải quyền lực mà là sự phục vụ. Phục vụ là lối sống Kitô giáo. Nó không phải là một danh sách những việc cần làm, để rồi, sau khi xong, chúng ta có thể coi như hoàn thành công việc của mình; những người phục vụ bằng tình yêu không nói: “bây giờ sẽ đến lượt người khác”. Đây là suy nghĩ của nhân viên chứ không phải của nhân chứng. Sự phục vụ được sinh ra từ tình yêu và tình yêu không có ranh giới, không tính toán mà trao ban. Tình yêu không giới hạn ở việc sản xuất để mang lại kết quả, nó không phải là một sự biểu diễn vào dịp nào đó nhưng xuất phát từ trái tim, một trái tim được đổi mới bởi tình yêu và trong tình yêu.

Khi chúng ta học cách phục vụ, mọi cử chỉ quan tâm và chăm sóc của chúng ta, mọi biểu hiện dịu dàng, mọi việc làm của lòng thương xót đều trở thành phản ánh tình yêu của Thiên Chúa và vì vậy tất cả chúng ta – và mỗi người chúng ta – tiếp tục công việc của Chúa Giêsu trong thế giới.

Dưới ánh sáng này, chúng ta có thể nhớ đến các môn đệ của Tin Mừng, những vị được phong thánh hôm nay. Trong suốt lịch sử đau thương của nhân loại, họ đã là những tôi tớ trung thành, những người nam nữ phục vụ trong sự tử đạo và niềm vui, giống như Manuel Ruiz Lopez và các bạn. Họ là những linh mục và nữ tu thánh hiến nhiệt thành, nhiệt thành với niềm đam mê truyền giáo, như Don Giuseppe Allamano, Nữ tu Paradis Marie Leonie và Nữ tu Elena Guerra. Những vị thánh mới này đã sống theo phong cách của Chúa Giêsu: phục vụ. Đức tin và việc tông đồ mà họ thực hiện không khơi dậy trong họ những ham muốn trần thế và ham muốn quyền lực, nhưng trái lại, họ trở thành tôi tớ của anh chị em mình, sáng tạo trong việc làm điều thiện, kiên vững trong gian khó và quảng đại cho đến cùng.

Chúng ta tin tưởng cầu xin sự chuyển cầu của họ, để chúng ta cũng có thể theo Chúa Kitô, theo Người trong sự phục vụ và trở thành những chứng nhân của niềm hy vọng cho thế giới.

KINH TRUYỀN TIN

Vào cuối Thánh Lễ, trước khi đọc Kinh Truyền Tin và ban phép lành, Đức Thánh Cha nhắc rằng hôm nay chúng ta mừng Ngày Thế giới Truyền giáo, với chủ đề “Hãy đi mời mọi người đến dự tiệc” (xem Mt 22:9), nhắc nhở chúng ta rằng lời loan báo truyền giáo là mang đến cho mọi người lời mời tham dự một cuộc gặp gỡ lễ hội với Chúa, Đấng yêu thương chúng ta và muốn chúng ta chia sẻ niềm vui của Người. Như các vị Thánh mới dạy chúng ta: “Mỗi Kitô hữu được kêu gọi tham gia vào sứ mạng phổ quát này với chứng tá Tin Mừng của chính mình trong mọi môi trường” (Sứ điệp Ngày Truyền giáo Thế giới lần thứ 98, ngày 25 tháng 1 năm 2024). Chúng ta, bằng lời cầu nguyện và sự giúp đỡ của mình, hỗ trợ tất cả các nhà truyền giáo, những người thường hy sinh rất nhiều để mang Tin Mừng đến mọi miền trên trái đất.

Xin Đức Trinh Nữ giúp chúng ta can đảm và vui tươi làm chứng cho Tin Mừng.

Nguồn. Vatican News