Ngày 24/10/2024, Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban hành Thông điệp thứ tư có tên “Dilexit nos” (Người đã yêu thương chúng ta). Thông điệp lược lại suy tư truyền thống và hiện tại “về tình yêu theo chiều kích con người và Thiên Chúa của trái tim Chúa Giêsu Kitô”, mời gọi chúng ta canh tân lòng sùng kính đích thực của mình để không quên sự dịu dàng của đức tin, niềm vui của việc hiến thân phục vụ và lòng nhiệt thành của sứ mạng.
Thông điệp về Thánh Tâm Chúa Giêsu được ban hành trong bối cảnh các cử hành kỷ niệm 350 năm lần đầu tiên Thánh Tâm Chúa Giêsu hiện ra với Thánh nữ Magarita Maria Alacoque, vào năm 1673; các cử hành này sẽ kết thúc vào ngày 27/6/2025.
Thông điệp gồm 220 số, được chia thành 5 chương, bắt đầu với lời của Thánh Phaolô nói về Chúa Kitô: “Dilexit nos” (Người đã yêu thương chúng ta) (Rm 8,37) để giúp chúng ta khám phá rằng “không gì có thể tách rời chúng ta” khỏi tình yêu này (Rm 8,39).
Đức Thánh Cha cũng viết trong số đầu tiên của Thông điệp: “Trái tim rộng mở của Người đi trước chúng ta và chờ đợi chúng ta vô điều kiện, không đòi hỏi bất kỳ yêu cầu nào trước để có thể yêu thương chúng ta và cống hiến cho chúng ta tình bạn của Người: Người yêu thương chúng ta trước (x. 1 Ga 4,10). Nhờ Chúa Giêsu “chúng ta đã biết và tin vào tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta” (1 Ga 4,16)” (1).
Trong Trái Tim Chúa Giêsu chúng ta nhận ra chính mình và học cách yêu thương
Trong một xã hội với sự gia tăng của “nhiều hình thức tôn giáo khác nhau mà không đề cập đến mối quan hệ cá nhân với Thiên Chúa tình yêu” (87), trong khi Kitô giáo thường quên mất “sự dịu dàng của đức tin, niềm vui của việc cống hiến để phục vụ, lòng nhiệt thành truyền giáo từ người này sang người khác” (88), Đức Thánh Cha đề xuất tái đào sâu về tình yêu của Chúa Kitô được thể hiện trong Thánh Tâm Người và mời gọi chúng ta canh tân lòng sùng kính đích thực của mình bằng cách nhớ rằng trong Trái Tim Chúa Kitô “chúng ta có thể tìm thấy toàn bộ Tin Mừng” (89): chính trong Trái Tim Người mà “cuối cùng chúng ta nhận ra chính mình và học cách yêu thương” (30).
Đức Thánh Cha giải thích rằng bằng cách gặp gỡ tình yêu của Chúa Kitô, “chúng ta có khả năng dệt nên những mối dây huynh đệ, nhận ra phẩm giá của mỗi con người và cùng nhau chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta” (217). Và trước Trái Tim Chúa Kitô, ngài cầu xin Chúa “một lần nữa tỏ lòng thương xót đối với trái đất bị thương tích này” bằng cách tuôn đổ trên đó “những kho tàng ánh sáng và tình yêu của Người”, để thế giới “tồn tại giữa chiến tranh, những mất cân bằng kinh tế xã hội, chủ nghĩa tiêu thụ và việc sử dụng công nghệ chống con người, có thể phục hồi điều quan trọng và cần thiết nhất: trái tim” (31).
Chương 1: Tầm quan trọng của trái tim
Chương thứ nhất, “Tầm quan trọng của trái tim”, giải thích tại sao cần phải “trở về với trái tim” trong một thế giới mà chúng ta bị cám dỗ “trở thành những người tiêu dùng vô độ” (2). Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng hiện nay tầm quan trọng của trái tim bị đánh giá thấp lại do “chủ nghĩa duy lý Hy Lạp và tiền Kitô giáo, chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật hậu Kitô giáo”, vốn ưa thích các khái niệm như “lý trí, ý chí hay tự do”.
Chương 2: Những cử chỉ và lời nói yêu thương của Chúa Kitô
Chương thứ hai nói về những cử chỉ và lời nói yêu thương của Chúa Kitô, những cử chỉ qua đó Người cư xử với chúng ta như những người bạn và cho thấy rằng Thiên Chúa “là sự gần gũi, trắc ẩn và dịu dàng”.
Chương 3: Đây là trái tim đã yêu thương rất nhiều
Trong chương thứ ba, “Đây là trái tim đã yêu thương rất nhiều”, Đức Thánh Cha cho thấy rõ rằng Trái Tim Chúa Kitô chứa đựng “ba mặt của tình yêu”: sự nhạy cảm của trái tim thể lý “và tình yêu thiêng liêng kép của Người, con người và Thiên Chúa” (66), trong đó chúng ta tìm thấy “cái vô hạn trong cái hữu hạn” (64). Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi chúng ta canh tân lòng sùng kính Trái Tim Chúa Kitô cũng để chống lại “những biểu hiện mới của một ‘linh đạo phi thân xác’” hiện diện trong xã hội” (87). Cần phải quay trở lại với “sự tổng hợp nhập thể của Tin Mừng” (90) khi đứng trước “các cộng đồng và các mục tử chỉ tập trung vào các hoạt động bên ngoài, những cải cách cơ cấu không có Tin Mừng, các ám ảnh về tổ chức, các dự án trần thế, những suy tư thế tục hóa”, trước các đề xuất “mà đôi khi đòi áp đặt lên mọi người” (88).
Chương 4: Tình yêu ban nước Thánh Thần
Trong chương thứ tư, “Tình yêu ban nước uống”, Đức Thánh Cha trích dẫn một số Giáo phụ đã nói về “vết thương nơi cạnh sườn Chúa Giêsu là nguồn gốc của nước Thánh Thần” làm dịu đi cơn khát tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta. Thánh Augustinô “đã mở đường cho việc sùng kính Thánh Tâm như một nơi gặp gỡ cá nhân với Chúa” (103). Đức Thánh Cha nhắc lại, dần dần khía cạnh bị thương tích này “đã mang hình dáng của trái tim”, và liệt kê một số phụ nữ thánh thiện đã “kể lại những kinh nghiệm về cuộc gặp gỡ của họ với Chúa Kitô, được đặc trưng bởi sự an nghỉ trong Trái Tim Chúa” (110).
Đức Thánh Cha cũng nhắc lại kinh nghiệm kết nối mật thiết với Thánh Tâm Chúa Giêsu của một số vị thánh như Thánh Magarita Maria Alacoque, Thánh Têrêsa thành Lisieux, Thánh Faustina Kowalska, Thánh Gioan Phaolô II.
Chương 5: Tình yêu vì tình yêu
Trong chương thứ năm và cũng là chương cuối cùng “Tình yêu vì tình yêu”, Đức Thánh Cha đi sâu vào chiều kích cộng đồng, xã hội và truyền giáo của mọi lòng sùng kính đích thực đối với Trái Tim Chúa Kitô, Đấng mà khi “dẫn chúng ta đến với Chúa Cha, sai chúng ta đến với anh em của chúng ta” (163). Thực ra, “tình yêu dành cho anh em” là “cử chỉ lớn nhất mà chúng ta có thể cống hiến cho họ để đáp lại tình yêu bằng tình yêu” (167). Nhìn vào lịch sử linh đạo, Đức Thánh Cha nhắc lại rằng sự dấn thân truyền giáo của Thánh Charles de Foucauld đã biến ngài thành một “người anh em phổ quát”: “để cho mình được uốn nắn bởi Trái Tim Chúa Kitô, ngài muốn đón nhận toàn thể nhân loại đang đau khổ trong trái tim huynh đệ của mình” (179).
Đền tạ Thánh Tâm
Sau đó, Đức Thánh Cha nói về “sự đền tạ” Thánh Tâm, như Thánh Gioan Phaolô II giải thích: “bằng cách cùng nhau hiến thân cho Trái Tim Chúa Kitô, ‘trên những đống đổ nát do hận thù và bạo lực tích tụ, Người có thể xây dựng nền văn minh của tình yêu mà nhiều người mong ước, vương quốc của trái tim Chúa Kitô’” (182).
Thông điệp một lần nữa nhắc lại lời Thánh Gioan Phaolô II rằng việc thánh hiến cho Trái Tim Chúa Kitô “được so sánh với hoạt động truyền giáo của chính Giáo Hội”, và lời Thánh Phaolô VI nhấn mạnh, chúng ta cần “những nhà truyền giáo yêu thương, những người đã để Chúa Kitô chinh phục” (209).
Nguồn. Vatican News
Thánh Phaolô tiếp tục nhắc Titô hướng dẫn mọi người về cách ăn nết ở, về thái độ và lối ứng xử… nhưng hôm nay đề cập cách riêng trong tương quan với những người nắm giữ quyền bính. Thánh Phêrô, trong Thư của ngài, cũng nêu giáo huấn tương tự. Có thể tóm kết rằng: các tín hữu phải vâng phục những người lãnh đạo nắm giữ quyền bính, đừng thoá mạ ai, đừng gây gỗ, hãy biết khoan dung và hết mực hiền từ với mọi người!
Thái độ đối với quyền bính xã hội là một chủ đề khá phức tạp và tế nhị. Nó liên quan đến phẩm chất của thể chế và của những người thực thi quyền bính tốt hay xấu. Người tín hữu có thể là những công dân thân chính hay đối lập hay trung lập… Nhưng căn bản là tuân phục luật pháp trong những gì không trực tiếp đối nghịch với lương tâm Kitô giáo, và một cách thực tiễn, “đừng thoá mạ ai, đừng gây gỗ, hãy biết khoan dung và hết mực hiền từ với mọi người!”… Nói cách khác, người ta có thể đối lập, phản kháng, phản biện quyết liệt mà không bao giờ bỏ mất bác ái!
Chúa Giêsu, đứng trước tiếng kêu cứu của mười người phong cùi, đã truyền cho họ “đi trình diện với các tư tế”. Điều này cho thấy thái độ tôn trọng của Chúa đối với quyền bính thuộc cơ chế tôn giáo. Chính quyền bính ấy sẽ xác thực tình trạng lành bệnh của mười người kia, và nhờ đó phẩm giá của họ sẽ được ‘phục hồi’ trước mắt cộng đồng. Đây là một loại qui ước, vốn mang trong mình nó những giới hạn. Nhưng Chúa Giêsu muốn tôn trọng chứ không bất chấp. Chúa Giêsu không vô chính phủ, cũng không phi cơ chế. Người dạy nộp thuế cho Xêda và cả cho Đền thờ…
Để rồi, điểm tới là: “Của Thiên Chúa hãy trả về Thiên Chúa!” Một trong mười người được chữa lành kia đã quay lại với Chúa Giêsu (có lẽ anh ta vẫn chưa tới gặp vị tư tế nào), để ngợi khen Thiên Chúa. Chi tiết này gợi cho ta cảm thức về chủ quyền tối cao của Thiên Chúa trên mọi quyền bính, nhất là khi anh này không phải một người ‘có đạo’ mà là một ‘kẻ ngoại’ (Samaria).
Chúng ta có châm ngôn ‘tốt đạo đẹp đời’. Thật ra đây không phải hai lãnh vực tách rời. Đối với người tín hữu, đạo đi vào và thấm đẫm trong đời của họ. Họ tôn trọng Xêda, và xác tín rằng cuối cùng chính Thiên Chúa mới nắm quyền bính trên tất cả.
Hôm qua thánh Phaolô khuyên giám mục Titô phải nắm giữ đạo lý chân thật để giáo hoá người ta và để bẻ lại những kẻ chống đối. Hôm nay thánh Phaolô tiếp tục lưu ý Titô những gì cần dạy cho các ông các bà lớn tuổi và các bạn trẻ trong cách ăn nết ở – và lưu ý cả cách ăn nết ở của chính Titô nữa – để “không ai bắt bẻ được, để đối phương phải xấu hổ, vì không thể nói xấu chúng ta điều gì”… Chúng ta nhận ra ngay từ thuở ban đầu ấy, các tín hữu đã phải đương đầu với nhiều sự bài bác, gièm pha, công kích từ phía những người thiếu thiện cảm với mình.
Thời nào cũng vậy và ngày nay cũng vậy, nhất là khi phương tiện truyền thông nằm sẵn trong tay mọi người, chúng ta càng nghe, đọc thấy nhiều sự bôi bác báng bổ thù nghịch Kitô giáo, cách riêng Công giáo. Ví dụ, dưới một video Thánh lễ trọng thể nhân sự kiện nào đó, có những comment kiểu: “Thật là một lũ u mê hết thuốc chữa!”… Cũng vậy, có những lời nói xấu về người ‘có đạo’, có khi do ác ý, có khi do thơ ngây và bị dẫn dắt bởi hệ thống tuyên truyền đầy xuyên tạc!… Chúng ta buồn, và thường bỏ ngoài tai, nghĩ rằng ‘người ta muốn nói gì thì họ nói’, chứ mình đâu có kiểm soát được tình hình.
Đúng là nói chung chúng ta không kiểm soát được tình hình. Nhưng lời thánh Phaolô hôm nay lại gợi ý rằng chúng ta có thể làm gì đó để “không ai bắt bẻ được, để đối phương phải xấu hổ, vì không thể nói xấu chúng ta điều gì”! Nghĩa là mình phải kiểm soát tốt những gì trong phạm vi mình có thể kiểm soát. Phạm vi đó là cách ăn nết ở của mình, sự tử tế của mình trong các môi trường mình sống và làm việc, trong các tương quan của đời sống thực tế hằng ngày. Người Công giáo không được chào đón (persona non grata) trong một số lãnh vực của đời sống xã hội. Nhưng chúng ta đang thể hiện thế nào trong những lãnh vực mà mình có mặt?
Vì thế, để hưởng ứng thông điệp của lời Chúa qua những gì thánh Phaolô viết cho Titô hôm nay, có lẽ trước hết chúng ta cần khảo sát lương tâm mình, và điều chỉnh những gì cần thiết mà mình hoàn toàn có thể kiểm soát được. Ta bỏ qua những gì người ta xuyên tạc và vu khống; bỏ qua cả những cái dở có thật của cha ông mình trong quá khứ (chẳng hạn, cấm đoán việc tôn kính tổ tiên) – nhưng phải chăng ta có thể bỏ qua những phê bình về những điều không tốt của mình trong hiện tại?
Lạy Chúa, xin tha thứ và xin ban ơn hoán cải cho chúng con. Chúa thấy đó, gương xấu nơi chúng con vẫn còn nhiều!
Lm. Lê Công Đức
Trước khi Giáo hội dạy chúng ta về đào tạo linh mục bằng những ánh sáng trong giáo huấn của các Giáo phụ, các Công đồng, các vị giáo hoàng, các thánh bộ liên hệ qua các thế kỷ (như gần đây là các Sắc lệnh PO và OT của Vatican 2, Pastores dabo vobis của Đức Gioan Phaolo 2, vân vân…), thì chính Lời mặc khải cũng đã hướng dẫn về chủ đề này. Đoạn mở đầu Thư Tito là một ví dụ.
Phaolô uỷ thác cho Tito ở lại Creta để thiết lập các Trưởng lão trong mỗi thành (tức các linh mục như ta gọi ngày nay), với lời căn dặn về các tiêu chuẩn như sau: “Người chủ toạ cộng đoàn, theo tư cách là người quản lý của Chúa, phải là người không có gì đáng trách, không kiêu căng, không nóng nảy, không mê rượu, không gây gỗ, không trục lợi đê hèn, nhưng hiếu khách, hiền lành, tiết độ, công minh, thánh thiện, tiết hạnh, nắm giữ lời chân thật hợp với đạo lý, để có thể dùng đạo lý lành mạnh mà khuyên dụ và phi bác những kẻ chống đối”…
Ngày nay, với mong muốn canh tân Giáo hội, chúng ta cũng cần các linh mục y như thế! Và mọi người cần góp phần mình vào công cuộc đào tạo linh mục, cả trước khi chịu chức (đào tạo khai tâm), lẫn sau khi chịu chức (đào tạo thường xuyên). Nhưng trước hết, mọi người cần thể hiện khao khát của mình về ‘những mục tử như lòng Chúa mong ước’ bằng lời cầu nguyện chân thành – bởi chính ân sủng của Chúa mới bảo đảm cho chúng ta có một hàng linh mục đích thực là hiện thân của Chúa Giêsu Kitô, vị Mục tử Tốt lành duy nhất!
Cái hại trước hết của các mục tử xoàng xĩnh, hư hỏng, đó là gây gương xấu cho những ‘anh em bé mọn’ của Chúa. Vì thế Chúa Giêsu cảnh cáo rất mạnh mẽ điều này. “Vô phúc cho kẻ nào gây ra gương xấu. Thà nó bị cột cối đá vào cổ mà ném xuống biển còn hơn là làm gương xấu cho một trong những trẻ nhỏ này”…
Giáo huấn của Chúa Giêsu về tránh gây gương xấu (trong Tin Mừng Luca) gắn với giáo huấn về việc tha thứ vô giới hạn. Đặt câu hỏi tại sao cho hai giáo huấn này, ta sẽ thấy lý do tiềm ẩn đằng sau chính là PHẨM GIÁ CON NGƯỜI! Vì phẩm giá cao quí bất khả nhượng của mọi con người, nên ta phải tôn trọng ngay cả những người bé mọn nhất. Phẩm giá con người không mất đi do tội lỗi của họ, nên ta phải phân biệt giữa ‘tội lỗi’ và ‘người tội lỗi’, và sẵn sàng tha thứ cho bất cứ ai hối hận về điều sai trái của mình.
Tất cả chúng ta, cách đặc biệt các mục tử, cần nhận thức phẩm giá con người như vậy, để tránh gây gương xấu, và để có khả năng tha thứ như Chúa dạy. Khó! Nhưng nếu ta TIN, thì sẽ thấy mình có thể – như chính Chúa đã hứa về ‘cây dâu xuống biển mà mọc’!
Lm. Lê Công Đức
Trong cuộc sống, chúng ta thường nhận xét, đánh giá về một người hay sự việc qua hình thức bề ngoài. Đặc biệt trong xã hội hôm nay, con người thường dựa vào của cải, những giá trị vật chất để làm thước đo cho các giá trị mà quên mất những giá trị đích thực ở bên trong. Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta nhìn rõ đâu là những giá trị đích thực bằng cái nhìn của Chúa.
Với cái nhìn ở mỗi góc độ khác nhau, Chúa Giêsu đã lên án lối sống đạo đức giả hình của các kinh sư, luật sĩ. Người khuyên các môn đệ phải coi chừng lối sống ấy. Có thể nói lối sống này phổ biến vào mọi thời đại, từ thời của Chúa Giêsu cho đến bây giờ; với chủ nghĩa hưởng thụ, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa duy vật chất làm cho chúng ta mải mê chạy theo những của cải vật chất, đeo những chiếc mặt nạ để có thể che mắt được những khuyết điểm bên trong. Với lời khiển trách của Chúa Giêsu với các kinh sư và giới luật sĩ giúp chúng ta biết nhìn lại con người mình. Việc chúng ta đến nhà thờ, đọc kinh sáng tối cốt chỉ để cho người khác thấy vẻ thánh thiện của mình? Chúng ta mải mê chạy theo những hình thức bên ngoài mà quên mất việc chăm sóc tâm hồn của mình không? Chúng ta có thực sự khao khát Chúa, khao khát sống thánh thiện và giúp đỡ những người bên cạnh không? Chúng ta yêu mến Chúa nhưng chúng ta có sẵn sàng sống bác ái yêu thương, giúp đỡ người khác hay không?… và biết bao câu hỏi đặt ra cho chúng ta. Dưới ánh sáng của lời Chúa giúp chúng ta nhìn lại chính bản thân mỗi người, nhận thấy chúng ta rõ ràng hơn; chúng ta là những con người còn đầy giới hạn, yếu đuối; để từ đó chúng ta dễ dàng đón nhận những yếu đuối của người khác hơn, nhìn người khác với ánh mắt yêu thương của Chúa.
Chúa lên án và khuyên chúng ta tránh xa lối sống giả hình. Chúa không dừng lại ở đó nhưng Chúa còn chỉ cho chúng ta thấy rõ những điều chúng ta cần phải làm để tránh lối sống đó. “Người ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng trong đền thờ, quan sát xem người ta bỏ tiền vào thùng. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rôma”. Có rất nhiều người đến bỏ tiền, người nhiều kẻ ít nhưng Chúa Giêsu dừng lại ở hành động của bà góa nghèo; Chúa cảm mến vì tấm lòng quảng đại của bà. Dù bà chỉ dâng có hai đồng tiền kẽm, trị giá bằng một phần tư đồng xu Rôma. Đây là tất cả tài sản mà bà có, bà dâng cho Chúa hết. Qua hành động của bà, Chúa Giêsu muốn dạy cho mỗi chúng ta hiểu được điều cốt lõi của lòng yêu mến Chúa, không hệ tại ở việc dâng cúng nhiều tiền của cho Hội Thánh, hay giúp đỡ nhiều người nghèo, cho nhiều học bổng, phát nhiều quà … nhưng hệ tại ở tấm lòng quảng đại dâng hiến. Như người ta thường nói “của cho không bằng cách cho”, nghĩa là chúng ta cho bao nhiêu không quan trọng nhưng quan trọng là ta đặt bao nhiêu tình yêu thương để cho đi.
Mỗi người đều được Chúa ban những ân huệ khác nhau, chúng ta đã sử dụng chúng thế nào? Chúng ta đang lãng phí hay sử dụng đúng theo ý Chúa. Bà góa nghèo là một mẫu gương cho chúng ta noi theo, bà đã quản lý hai đồng tiền kẽm Chúa trao cách tốt nhất và làm cho nó sinh lời với lòng quảng đại của bà, bà dám dâng hiến tất cả cho Chúa, bà dâng hiến mà quên đi chính bản thân, mạng sống của bà. Chúa mời gọi chúng ta hãy quản lý ân huệ Chúa ban bằng lối sống quảng đại, hy sinh và bác ái với những người đang cần chúng ta giúp đỡ. Của cải không làm nên giá trị của một con người nhưng chính cách sống của chúng ta tạo nên một con người có nhân cách.
Là mỗi người Kitô hữu chúng ta được mời gọi xây dựng đời mình trên tình yêu, lòng bác ái vị tha, sẵn sàng cho đi và dâng hiến, hãy sử dụng và làm sinh lời những ân huệ mà Chúa đã giao cho mỗi người. Chúa mời gọi chúng ta sống một lối sống siêu thoát, hãy thiết lập một xã hội công chính và nền văn minh tình thương qua hành động chia sẻ, yêu thương; và chúng ta hãy thay đổi cái nhìn của ta như cái nhìn của Chúa, giúp chúng ta có những nhận định về giá trị nhân sinh cách đúng đắn, để cùng nhau bước đi trên hành trình hành hương của mỗi người, cùng hướng về một cuộc sống viên mãn trong Nước Trời mai sau.
Anna Nguyễn Giao
Ngày lễ kỷ niệm Cung hiến Đền thờ Laterano, ‘Nhà thờ Mẹ’ của Giáo hội, gợi cho chúng ta ý thức lại Đền thờ thực sự là gì.
Trước hết, khi Chúa Giêsu xua đuổi những kẻ buôn bán ở sân Đền thờ Giêrusalem, Người đã có một hành động biểu tượng – không khác việc chúng ta cố gắng bảo vệ khi các nhà thờ hay ảnh tượng thánh của mình bị xúc phạm (chẳng hạn, thánh giá và tượng Chúa chịu nạn bị đập phá ở vườn sau Đan viện Thiên An cách đây ít năm)… Bởi ngay trong sự kiện ấy, Chúa Giêsu đã mạc khải Đền thờ đích thật là chính Thân Thể của Người, sẽ bị phá huỷ (tức bị giết chết) và sẽ được xây lại (tức Người sống lại) sau ba ngày!
Thông điệp Dilexit nos mới đây của Đức thánh cha Phanxicô gợi ý cho chúng ta về sự nối kết GIỮA mạch suối sự sống chảy ra từ Đền thờ trong thị kiến của Êdekien VÀ nước cùng máu chảy ra từ cạnh sườn bị đâm thâu mở toang của Chúa Giêsu chết trên thập giá. Chúa Giêsu là Đền thờ chân thực, ở đó Chúa Cha được tôn thờ và phụng sự cách chân thực! Và ở đó nguồn suối sự sống và ân sủng chảy ra tràn trào cho con người.
Rõ ràng, Chúa Giêsu đã bảo vệ sự thánh thiêng của Đền thờ Giêrusalem (một yếu tố của giao ước cũ) nhằm để gợi mở và hướng chỉ ĐỀN THỜ đích thực là chính bản thân Người (nơi tôn thờ Thiên Chúa của Giao Ước Mới). Có thể nói, tương quan giữa hai đền thờ cũ và mới ấy là tương quan giữa phương tiện và mục đích. Cũng vậy, tương quan giữa các nhà thờ gỗ/ đá / bê tông của chúng ta với ‘Nhà Thờ Thiêng Liêng’ là tương quan phương tiện-mục đích! Nhà thờ này để phục vụ cho việc xây dựng NHÀ THỜ kia!
Nhà Thờ Thiêng Liêng – là Thân Thể Chúa Kitô – chính là Hội Thánh, là CHÚNG TA! Bởi Hội Thánh (còn gọi là Giáo hội) là Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Kitô, Đấng là Đầu! Thánh Phaolô nói trong 1Cr: “Anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa”.
Tất cả điều nói trên dẫn ta tới một kết luận đầy thích thú tự hào và cũng đầy thách đố: Thiên Chúa được tôn thờ cách đích thực nơi con người và đời sống toàn thời gian (fulltime) và mọi nơi chốn của chúng ta, trong tư cách cộng đoàn và cá nhân, và như những chi thể gắn bó với Đầu là Chúa Giêsu Kitô. Và chúng ta tôn thờ Thiên Chúa như vậy thông qua khả năng YÊU THƯƠNG của mình (mến Chúa yêu người)! Đây là điểm tới của Thông điệp Dilexit nos, nói về sứ mạng yêu thương của những người cảm nhận sâu xa mình được Thiên Chúa yêu thương hết mực qua cạnh sườn mở toang của Chúa chịu đóng đinh.
Làm lan toả tình yêu thương xót của Thiên Chúa trên thế giới này, đó là cách tôn thờ Thiên Chúa đúng trọng tâm và, do đó, phù hợp nhất. Chúng ta cần các nhà thờ gỗ / đá / bê tông là để trang bị cho mình khả năng YÊU THƯƠNG này. Tất cả chúng ta không được quên điều đó. Các mục tử, các vị lãnh đạo cộng đoàn càng không thể quên.
Ai đã từng đến Đền thờ Laterano, cũng như các Đại thánh đường khác ở Rôma, có thể nhận ra thực tế này: Xem ra số người từ khắp nơi trên thế giới đến các Đền thờ này để tham quan du lịch, để chiêm ngưỡng kiến trúc trong mỗi năm có thể vượt xa con số các tín hữu đến để cầu nguyện và cử hành phụng tự!
Nên chăng chúng ta cần thường xuyên ‘thăm viếng’ và khảo sát tình trạng ngôi Nhà Thờ Thiêng Liêng đích thực của Thiên Chúa – là Giáo hội, là chính CHÚNG TA – để xem có chuyện ‘buôn bán’, ‘đổi tiền’ và các kiểu tục hoá diễn ra ở đó hay không?
Lm. Lê Công Đức
Trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư ngày 6/11 Đức Thánh Cha đã suy tư về vai trò của Chúa Thánh Thần trong cầu nguyện. Ngài nói rằng Chúa Thánh Thần là “Đấng Phù Trợ”, cầu bầu trước Chúa Cha để chúng ta nếm hưởng niềm vui lòng thương xót của Người. Nhưng ngoài việc cầu thay cho chúng ta, Chúa Thánh Thần còn dạy chúng ta cầu thay cho anh chị em mình. Ngài nhắn nhủ các tín hữu hãy luôn cầu nguyện và cầu nguyện cho nhau, đặc biệt cầu nguyện cách chân thành, từ tâm lòng.
Trong các Phúc Âm, Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện để xin ơn Chúa Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần cũng cầu nguyện trong chúng ta, giúp đỡ chúng ta trong sự yếu đuối của chúng ta, bởi vì chúng ta không biết cách cầu nguyện như chúng ta phải cầu nguyện.
Chúa Thánh Thần là “Đấng Phù Trợ”, nghĩa là người bênh vực và bảo vệ chúng ta, Đấng cầu bầu trước Chúa Cha để chúng ta nếm hưởng niềm vui lòng thương xót của Người. Nhưng ngoài việc cầu thay cho chúng ta, Chúa Thánh Thần còn dạy chúng ta cầu thay cho anh chị em mình. Lời cầu nguyện chuyển cầu này làm đẹp lòng Thiên Chúa vì nó nhưng không và vô vị lợi. Khi chúng ta cầu nguyện cho người khác và người khác cầu nguyện cho chúng ta, lời cầu nguyện sẽ nhân lên gấp bội.
Đức Thánh Cha nhắn nhủ các tín hữu hãy luôn cầu nguyện và cầu nguyện cho nhau, đặc biệt cầu nguyện cách chân thành, từ tâm lòng, chứ không chỉ bằng môi miệng.
Cầu nguyện cho thành phố Valencia, Tây Ban Nha
Trước khi bắt đầu buổi tiếp kiến, Đức Thánh Cha đến cầu nguyện trước tượng Đức Mẹ bổn mạng của thành phố Valencia. Sau đó ngài mời gọi cầu nguyện cho thành phố này cũng như những nơi khác bị ảnh hương nặng nề bởi lũ lụt.
Và sau khi Đức Thánh Cha làm Dấu Thánh Giá và chào phụng vụ, cộng đoàn nghe đoạn thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Roma (Rm 8,26-27):
Hơn nữa, lại có Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả. Và Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa.
Và Đức Thánh Cha bắt đầu bài giáo lý như sau:
Cầu nguyện như con cái Thiên Chúa, chứ không phải như nô lệ
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Bên cạnh tác động thông qua Lời Chúa và các Bí tích, tác động thánh hóa của Chúa Thánh Thần còn được thể hiện trong lời cầu nguyện, và chúng ta muốn dành suy tư hôm nay cho điều này: việc cầu nguyện. Chúa Thánh Thần vừa là chủ thể vừa là đối tượng của kinh nguyện Kitô giáo. Nghĩa là Người là Đấng ban lời cầu nguyện và là Đấng được ban qua lời cầu nguyện. Chúng ta cầu nguyện để nhận được Chúa Thánh Thần và chúng ta nhận được Chúa Thánh Thần để có thể cầu nguyện thực sự, nghĩa là như con cái Thiên Chúa, chứ không phải như nô lệ.
Chúng ta hãy suy nghĩ một chút về điều này: cầu nguyện như con cái Thiên Chúa, chứ không phải như nô lệ. Chúng ta phải luôn cầu nguyện với sự tự do. “Hôm nay tôi phải cầu nguyện điều này, điều này, … bởi vì tôi đã hứa điều này, điều này, … Nếu không tôi sẽ xuống địa ngục”. Không, đó không phải là lời cầu nguyện! Cầu nguyện là tự do. Bạn cầu nguyện khi Thánh Linh giúp bạn cầu nguyện. Bạn cầu nguyện khi bạn cảm thấy cần phải cầu nguyện trong lòng và khi bạn không cảm thấy gì cả, hãy dừng lại và tự hỏi: “Tại sao tôi không cảm thấy muốn cầu nguyện? Chuyện gì đang xảy ra trong cuộc đời tôi vậy?”. Nhưng luôn luôn, sự tự phát trong cầu nguyện là điều giúp ích cho chúng ta nhiều nhất. Điều này có nghĩa là cầu nguyện như những đứa trẻ chứ không phải như những nô lệ.
Cầu nguyện để nhận được Chúa Thánh Thần
Trước hết, chúng ta phải cầu nguyện để nhận được Chúa Thánh Thần. Về vấn đề này, Chúa Giêsu nói rất chính xác trong Tin Mừng: “Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?” (Lc 11,13). Mỗi người chúng ta đều biết dành những điều tốt đẹp cho những trẻ em, dù là con, cháu hay bạn bè. Các trẻ em luôn nhận được những điều tốt đẹp từ chúng ta. Vậy làm sao Chúa Cha sẽ không ban Thánh Thần cho chúng ta! Trong Tân Ước chúng ta thấy Chúa Thánh Thần luôn ngự xuống trong cầu nguyện. Người ngự xuống trên Chúa Giêsu khi Chúa chịu phép rửa ở sông Giođan, khi Chúa “đang cầu nguyện” (Lc 3,21); và Người ngự xuống trên các môn đệ vào ngày lễ Ngũ Tuần, trong khi “họ kiên trì và đồng tâm cầu nguyện” (Cv 1,14).
Đó là “quyền lực” duy nhất mà chúng ta có đối với Thánh Thần của Thiên Chúa. Sức mạnh của lời cầu nguyện: Chúa Thánh Thần không cưỡng lại lời cầu nguyện. Chúng ta cầu nguyện và Người đến. Trên Núi Carmel, các tiên tri giả của Baal – hãy nhớ lại đoạn Kinh Thánh đó – điên cuồng cầu xin lửa từ trời xuống trên lễ vật của họ, nhưng không có gì xảy ra, bởi vì họ là những kẻ thờ ngẫu tượng: họ tôn thờ một vị thần không tồn tại; ngôn sứ Êlia bắt đầu cầu nguyện và lửa ập xuống thiêu rụi của lễ (xem 1 V 18,20-38). Giáo hội trung thành noi theo gương này: trên môi miệng luôn vang lời khẩn cầu “Xin hãy đến!” mỗi khi hướng về Chúa Thánh Thần. Giáo hội khẩn cầu Chúa Thánh Thần cách đặc biệt trong Thánh lễ để Người ngự xuống như sương và thánh hóa bánh và rượu cho hy lễ Thánh Thể.
Chúa Thánh Thần dạy chúng ta cầu nguyện
Nhưng còn có một khía cạnh khác, quan trọng và đáng khích lệ nhất đối với chúng ta: Chúa Thánh Thần là Đấng ban cho chúng ta lời cầu nguyện đích thực. Thánh Phaolô khẳng định: “Thần Khí đến giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì nhiều khi chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả. Và Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa” (Rm 8,26-27).
Đúng thật là chúng ta không biết cầu nguyện. Chúng ta phải học cầu nguyện mỗi ngày. Lý do của sự yếu kém này trong việc cầu nguyện của chúng ta trước đây được diễn tả bằng một từ duy nhất, được sử dụng theo ba cách khác nhau: như một tính từ, như một danh từ và như một trạng từ. Nó rất dễ nhớ, ngay cả đối với những người không biết tiếng Latinh, và nó đáng để ghi nhớ vì nó chứa đựng toàn bộ vấn đề. Theo câu nói đó, con người chúng ta “mali, mala, male petimus”, có nghĩa là: xấu xa (mali), chúng ta xin những điều sai trái (mala) và sai cách (male). Chúa Giêsu nói: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa… và phần còn lại sẽ được ban cho con nhiều hơn” (Mt 6,33); ngược lại, nhiều lần, chúng ta trước hết tìm kiếm sự dư thừa, tức là lợi ích của mình, và chúng ta hoàn toàn quên cầu xin Nước Thiên Chúa.
Nhờ Chúa Thánh Thần, chúng ta gọi Thiên Chúa là Cha
Đúng vậy, Chúa Thánh Thần đến trợ giúp sự yếu đuối của chúng ta, nhưng Người thực hiện một điều quan trọng hơn nhiều: Người chứng nhận cho chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa và đặt trên môi chúng ta tiếng kêu: “Abba! Lạy Cha!” (Rm 8,15; Gal 4,6). Chúng ta không thể gọi “Abba! Cha ơi!”. Không có sức mạnh của Chúa Thánh Thần chúng ta không thể gọi Thiên Chúa là “Cha”. Lời cầu nguyện Kitô giáo không phải là con người ở đầu bên này điện thoại nói chuyện với Thiên Chúa ở đầu bên kia của điện thoại. Không. Chính Thiên Chúa cầu nguyện trong chúng ta! Chúng ta cầu nguyện với Thiên Chúa nhờ Thiên Chúa. Cầu nguyện là đặt mình trong Thiên Chúa và xin Thiên Chúa đi vào lòng chúng ta.
Chúa Thánh Thần giúp chúng ta hưởng niềm vui được Chúa Cha thương xót
Chính trong cầu nguyện mà Chúa Thánh Thần được mặc khải như là “Đấng Phù Trợ”, nghĩa là Đấng bênh vực và bảo vệ. Người không buộc tội chúng ta trước Chúa Cha, nhưng bảo vệ chúng ta. Đúng, Người thuyết phục chúng ta về sự thật rằng chúng ta là những kẻ tội lỗi (xem Ga 16,8), nhưng Người làm như vậy để chúng ta có thể vui hưởng niềm vui của lòng thương xót của Chúa Cha, chứ không phải để hủy diệt chúng ta bằng những cảm giác tội lỗi vô ích. Ngay cả khi lòng chúng ta trách móc chúng ta về điều gì đó, Người vẫn nhắc nhở chúng ta rằng “Thiên Chúa cao cả hơn lòng chúng ta” (1 Ga 3,20).
Thiên Chúa lớn hơn tội lỗi của chúng ta. Tất cả chúng ta đều là tội nhân, nhưng chúng ta hãy nghĩ: có lẽ một số người trong các bạn – tôi không biết – quá sợ hãi những điều mình đã làm, sợ bị Chúa quở trách, sợ nhiều điều và không thể tìm được sự bình an. Hãy cầu nguyện, kêu cầu Chúa Thánh Thần và Người sẽ dạy bạn cách cầu xin sự tha thứ. Và các bạn biết không? Thiên Chúa không biết nhiều ngữ pháp và khi chúng ta cầu xin sự tha thứ, Người không để chúng ta nói hết từ “tha..”! Người tha thứ cho chúng ta trước, Người luôn tha thứ cho chúng ta, Người luôn ở bên cạnh chúng ta để tha thứ cho chúng ta, trước khi chúng ta nói hết từ ngữ tha thứ. Chúng ta nói “tha …” và Chúa Cha luôn tha thứ cho chúng ta.
Được Chúa Thánh Thần chuyển cầu và cầu khẩn cho anh chị em
Chúa Thánh Thần chuyển cầu và cũng dạy chúng ta cầu thay cho anh chị em chúng ta; Người dạy chúng ta lời cầu nguyện chuyển cầu: cầu nguyện cho ngyời này, cho bệnh nhân kia, cho người ở trong tù,… cả cho mẹ chồng! Và cầu nguyện luôn luôn. Lời cầu nguyện này đặc biệt đẹp lòng Thiên Chúa vì là lời cầu nguyện nhưng không và vô vị lợi nhất. Thánh Ambrosio lưu ý rằng khi mỗi người cầu nguyện cho mọi người, mọi người đều cầu nguyện cho mỗi người; lời cầu nguyện được nhân lên[1]. Cầu nguyện là như thế. Đây là một nhiệm vụ quý giá và cần thiết trong Giáo hội, đặc biệt là trong thời gian chuẩn bị cho Năm Thánh này: để hiệp nhất chúng ta với Đấng An ủi, Đấng “cầu bầu cho tất cả chúng ta theo kế hoạch của Thiên Chúa”. Nhưng đừng cầu nguyện như những con vẹt! Đừng nói “Blah, blah, blah…” Không. Hãy nói “lạy Chúa” từ trái tim. “Lạy Chúa, xin giúp con”, “Con yêu Chúa”. Và khi đọc Kinh Lạy Cha, hãy cầu nguyện “Lạy Cha, Cha là Cha của con”. Hãy cầu nguyện bằng trái tim chứ không phải bằng môi miệng, đừng hành động như những con vẹt.
Nguồn. Vatican News
“Giờ đây tôi đau lòng sa nước mắt để nhắc lại rằng có nhiều người sống thù nghịch với thập giá Ðức Kitô. Chung cuộc, đời họ là hư vong, chúa tể của họ là cái bụng, và họ đặt vinh danh của họ trong những điều ô nhục; họ chỉ ưa chuộng những thứ trên cõi đời này. Phần chúng ta, quê hương chúng ta ở trên trời, nơi đó chúng ta mong đợi Ðấng Cứu Chuộc là Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta…”
Vẫn là sự đối lập giữa Thần Khí và xác thịt mà thánh Phaolô thường xuyên nói đến! Nhấn mạnh mấy cũng không vừa về tầm quan trọng của việc qui phục Thần Khí! Và để được vậy, ta phải thoát ra, thoát lên khỏi những khuôn suy nghĩ và hành động thuần tuý phàm trần! Ta thấy thánh Phaolô như van xin, như năn nỉ… qua chính nước mắt đau đớn và qua những lời cảnh cáo nghiêm khắc của ngài. Phaolô nói về sự hư vong của những kẻ dán chặt mình vào cõi đời: tôn thờ cái bụng, thù nghịch với thập giá Chúa Kitô! Và Phaolô kêu gọi hướng vọng cõi trời, nơi ta hạnh ngộ mãi mãi Đấng Cứu Chuộc mình.
Ngay từ thuở ban đầu của Kitô giáo, cái căng thẳng giữa ‘cõi đời’ và ‘cõi trời’ được kinh nghiệm rất rõ nơi các cá nhân và cộng đoàn tín hữu. Vì thế mà thánh Phaolô và các Tông đồ phải thường xuyên nhắc đi nhắc lại, đặc biệt tác giả Thư gửi Diognetus (thế kỷ 2) đã mô tả rất hay về sự căng thẳng này xét như hiện sinh Kitô giáo: Người Kitô hữu bước đi trên mặt đất này với thái độ tích cực và đầy trách nhiệm, nhưng họ luôn hướng vọng trời cao và được dẫn dắt bởi trời cao!… Vả chăng, Chúa Giêsu từng nói về các môn đệ là “ở giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian”.
Tại sao? Tại vì ánh sáng Tin Mừng không phải là ‘cái bụng’; tại vì sự khôn ngoan nằm ở Thập giá; tại vì Kitô hữu thuộc về Thần Khí của Chúa Kitô, chứ không còn thuộc về ‘xác thịt’ – theo ý nghĩa mà thánh Phaolô gán cho từ này. Ta hiểu vì sao giáo huấn xã hội của Hội Thánh rất thường gây tranh cãi, bởi đây là lãnh vực trong đó Giáo hội dùng ánh sáng Tin Mừng soi chiếu vào các thực tại đời sống xã hội, rút ra những nguyên tắc hướng dẫn cách ứng xử của người ta, cả dân chúng lẫn những quyền bính quản lý xã hội. Ví dụ, về phá thai, về chiến tranh, về di dân, về án tử hình, về quyền tư hữu được định hướng công ích, về kinh tế thị trường ‘tự do vô giới hạn’ cần được giới hạn bởi bác ái, thậm chí bác ái đó chính là công bằng, vân vân…
Anh chị em giáo dân cần nắm vững các giáo huấn xã hội để sống đạo giữa đời, để mình luôn còn là Kitô hữu. Các mục tử càng cần nắm vững và xác tín để hướng dẫn đoàn chiên của Chúa, nếu không sẽ có nguy cơ như Chúa Giêsu từng nói: “Các ngươi đã không vào (Nước Trời), mà những kẻ muốn vào thì các ngươi cũng không cho vào… Kẻ mù dắt người mù, lăn cù xuống hố… Thật khốn cho các ngươi!”…
Tóm lại, dù là linh mục, tu sĩ hay giáo dân, chúng ta luôn cần tự hỏi mình đang thuộc về Thần Khí hay xác thịt.
Lm. Lê Công Đức
Thăm Đại học Giáo hoàng Gregoriana ở Roma vào sáng ngày 5/11/2024, Đức Thánh Cha cảnh giác các giảng viên và sinh viên tránh trở thành “môn đệ của linh đạo Coca-Cola”, cách nói ẩn dụ ám chỉ sự tiếp cận hời hợt đối với việc đào tạo đức tin.
Đức Thánh Cha đặt câu hỏi: “Anh chị em đã tự hỏi mình đang đi đâu và tại sao lại làm những điều mình đang làm chưa?” Ngài nói tiếp: “Cần phải biết mình đang đi đâu mà không đánh mất tầm nhìn về đường chân trời kết nối con đường của mỗi người với mục đích hiện tại và cuối cùng”.
Lấy ví dụ về Thánh Phanxicô Xaviê, Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến nhu cầu “trở thành những nhà truyền giáo vì tình yêu thương dành cho anh chị em mình và sẵn sàng đáp lại tiếng gọi của Chúa”.
Ngài thúc giục cộng đồng học thuật tránh “những giả định biến dự án của Thiên Chúa thành thứ gì đó quan liêu, cứng nhắc và thiếu sự ấm áp khi áp đặt các chương trình nghị sự và tham vọng lên trên các kế hoạch của sự quan phòng”.
Tiếp đến, Đức Thánh Cha kêu gọi đưa “trái tim” vào công tác đào tạo, cảnh báo rằng nếu không có nó, giáo dục sẽ trở thành “chủ nghĩa duy lý trí khô khan hoặc chủ nghĩa ái kỷ lệch lạc”.
Ngài kêu gọi một trường đại học có “mùi của người dân”, nơi thúc đẩy trí tưởng tượng và thể hiện tình yêu của Thiên Chúa, “Đấng luôn đi đầu trong một thế giới dường như đã đánh mất trái tim mình”.
Ngài than thở rằng “thế giới đang bốc cháy” do “sự điên rồ của chiến tranh, bao phủ mọi hy vọng bằng bóng tối của cái chết”.
Đức Thánh Cha cũng thúc giục cộng đồng học thuật “mở rộng tầm nhìn của trái tim” và tìm kiếm sự thống nhất trong sự đa dạng thông qua việc trao đổi khả năng, kêu gọi nghiên cứu sâu hơn về các truyền thống Đông phương. Ngài thúc giục tránh những ý tưởng trừu tượng nảy sinh trong các văn phòng và cổ võ “tiếp xúc với cuộc sống của người dân, biểu tượng của các nền văn hóa và tiếng kêu đau khổ của người nghèo”.
Chuyến thăm đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong lịch sử của đại học Gregoriana, mới hợp nhất ba tổ chức giáo dục – Collegium Maximum, Học viện Kinh Thánh và Học viện Đông phương – theo chỉ thị của Đức Thánh Cha.
Được thành lập vào năm 1551 bởi Thánh Inhaxiô thành Loyola với tên gọi là Học viện Roma, Đại học Giáo hoàng Gregoriana hiện có 2.952 sinh viên từ 121 quốc gia đang theo học thần học, triết học, giáo luật, tâm lý học và nhân chủng học, cùng nhiều chuyên ngành khác.
Vừa qua chúng ta thấy người ta bận đi coi đất, bận thử bò, bận ở nhà với vợ… nên xin kiếu không đến dự ‘bữa tiệc trong Nước Thiên Chúa’. Theo ngôn ngữ của thánh Phaolô, đó là xác thịt bóp nghẹt Thần Khí… Và đó là tội lỗi – như thánh Tôma Aquino định nghĩa: Tội lỗi là chạy theo thụ tạo mà quay lưng lại với Thiên Chúa!
Chính thánh Phaolô cho biết ngài cũng từng kinh nghiệm tình trạng ỷ lại vào ‘xác thịt’, tức những giá trị phàm trần, mà mù quáng không nhận ra sự thật và giá trị chân thực nằm ở đâu. Nay được ơn hoán cải, Phaolô chia sẻ: “Những điều xưa kia được kể là ích lợi cho tôi, thì nay vì Ðức Kitô tôi coi là bất lợi. Vả lại tôi coi tất cả mọi sự như thua thiệt trước cái lợi tuyệt vời là được biết Ðức Giêsu Kitô, Chúa tôi. Vì Ngài, tôi đành thua lỗ mọi sự, và coi là phân bón cả, để lợi được Ðức Kitô”. Phaolô dùng chữ và diễn đạt thật hình tượng: coi mọi sự là “phân bón”, là ‘shit’, trước cái lợi là được biết Đức Kitô!
Nếu chúng ta thấy mình cũng bận bịu chuyện phàm trần, cũng tội lỗi vì quyến luyến những sự đời mà quay lưng lại với Chúa, thì hãy nhớ rằng Chúa Giêsu muốn giải phóng, chữa lành cho chúng ta… Chúng ta là con chiên lạc, là đồng bạc bị đánh mất, thì Người quan tâm đặc biệt đến chúng ta và không bao giờ bỏ quên chúng ta…
Người Do thái, nhất là giới Phariseu, dị ứng khi thấy Chúa Giêsu gần gũi những người tội lỗi. Họ nghĩ mình ‘đạo đức’, và mình phải tránh xa những kẻ xấu xa để bảo vệ cái sự ‘đạo đức’ của mình. Họ không thể hiểu được rằng “Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần hối cải.”
Giáo hội của Chúa Giêsu không nhắm lập một thứ ‘nhóm kín’, một thứ ‘câu lạc bộ đạo đức’ để tung hứng tôn vinh lẫn nhau. Đúng hơn, Giáo hội nhắm nối dài sứ mạng “tìm và cứu vớt những gì lạc mất” của chính Chúa Giêsu, Đấng đến không phải để kêu gọi những người công chính mà để kêu gọi những người tội lỗi. Chính Giáo hội dù có bản chất thánh thiện nhưng thực tế vẫn dính đầy tội lỗi, và do đó chính Giáo hội luôn phải không ngừng hoán cải, không ngừng trở về với Chúa Giêsu Kitô!
Vì thế, Giáo hội thánh thiện trong tư cách là cộng đoàn của những ‘hối nhân thánh thiện’. Trong Giáo hội, mỗi chúng ta chia sẻ sứ vụ chữa trị các tổn thương của con người, và đừng quên: ta thi hành sứ vụ chữa trị luôn luôn trong tư cách là ‘những nhà chữa trị mang thương tích’!
Như Chúa Giêsu đã tự xếp mình đứng vào hàng các tội nhân!
Lm. Lê Công Đức