Thánh Giuse là một người thợ mộc làng Nazareth hiền lành, chất phát. Thế nhưng, Thiên Chúa đã chọn Ngài làm bạn trăm năm của Đức Ma-ri-a và Cha nuôi của Đấng Cứu Thế. Trước kế hoạch lớn lao ấy, Thánh Giuse đã tín thác hoàn toàn trong bàn tay yêu thương của Thiên Chúa, Ngài chăm sóc, bảo vệ Ngôi Hai. Ngài trở thành mẫu gương của Giáo Hội nói chung và cách riêng là mẫu gương của người nữ tu Mến Thánh Giá.
Trước hết, Thánh Giuse – mẫu gương về sự công chính. Tin Mừng kể rằng: “Giu-se bạn của bà là người công chính” (Mt 1,19). Trong Kinh Thánh, “công chính” không chỉ có nghĩa là sống đạo đức, tuân giữ lề luật, nhưng còn là người hoàn toàn đặt cuộc đời mình theo ý muốn của Thiên Chúa, lắng nghe và thi hành ý muốn của Ngài. Sự công chính của Thánh Giuse được biểu hiện cách cụ thể qua hai hành động là tình yêu thương, sự tôn trọng đối với Đức Maria
Khi biết Đức Ma-ri-a mang thai, Thánh Giu-se rơi vào một tình huống vô cùng khó khăn. Theo luật Do Thái, Đức Ma-ri-a có thể bị kết án rất nặng. Nhưng Thánh Giu-se “định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo (Mt 1,19). Điều này cho thấy một trái tim đầy lòng thương xót của thánh Giuse. Chính lúc ấy Thiên Chúa can thiệp qua giấc mơ: “Hỡi Giu-se con vua Đa-vít, đừng ngại nhận Ma-ri-a về làm bạn mình, vì Ma-ri-a mang thai là bởi phép Chúa Thánh Thần.” (Mt 1,20) Và ngay lập tức: “Khi tỉnh dậy, Giu-se đã thực hiện như lời Thiên Thần Chúa truyền.” (Mt 1,24). Trước thánh ý của Thiên Chúa, Thánh Giuse không một lời phản đối, không một câu hỏi nhưng ngài biết lắng nghe những dấu chỉ của Thiên Chúa và chọn con đường an toàn nhất cho gia đình.
Trong Tông huấn Patris Corde, Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô viết rằng: “Thánh Giu-se là người biết lắng nghe Thiên Chúa trong im lặng và đón nhận kế hoạch của Ngài với lòng tin tưởng.”
Thứ đến, Thánh Giuse – mẫu gương của đời sống thinh lặng. Một điều đặc biệt là trong Tin Mừng, Thánh Giu-se không nói một lời nào, không có câu nói nào của ngài được ghi lại. Nhưng chính sự thinh lặng ấy lại nói lên sựu trung tín của ngài. Trong Patris Corde, Đức cố Giáo Hoàng Phan-xi-cô gọi thánh Giu-se là “người cha trong bóng tối”, một người cha không tìm vinh quang cho mình, nhưng dành tất cả cho gia đình. Thánh Giu-se đã dạy Chúa Giê-su lao động và cầu nguyện. Ngài dạy Chúa Giê-su sống tốt lành và thánh thiện nơi chính gia đình Nazareth nhỏ bé.
Những người nữ tu Mến Thánh Giá đón nhận gương tỉnh thức đời sống nội tâm của Thánh Giuse để mau mắn lắng nghe tiếng Chúa, học cách hoạt động nơi các công việc mục vụ nhưng không quên sống kết hợp liên lỉ với Thiên Chúa, học kiên vững và phó thác trong mọi thử thách. Học sự dịu dàng và tinh tế khi sống với mọi người chung quanh. Nhờ đó, người nữ tu Mến Thánh Giá luôn hướng mọi cái nhìn về Đức Giêsu, đặt Ngài làm trung tâm của cuộc sống và nơi Đức Giêsu Kitô Chịu Đóng Đinh người nữ tu Mến Thánh Giá tìm thấy niềm hạnh phúc thực sự cho cuộc đời mình.
Đọc lại Lịch sử Dòng Mến Thánh Giá dưới nhãn quan của Lịch sử cứu độ, ta nhận thấy rằng không phải ngẫu nhiên mà khi thành lập Dòng Mến Thánh Giá Đức Cha Lambert đã chọn Thánh Giuse làm Đấng bảo trợ. Nhưng tin rằng Đấng Sáng Lập có chủ đích muốn gửi gắm những người con thiêng liêng của mình cho một người cha Công Chính và mời gọi mỗi chị em sống theo gương sáng của người cha tuyệt vời ấy. Đức Cha Lambert mong muốn mỗi người cố gắng để được nên hoàn thiện và trung tín với ơn gọi từng ngày, để ngay cả khi sống giữa thế gian những người nữ tu ấy vẫn làm chứng cho mầu nhiệm Tình Yêu của Thiên Chúa là Cha.
Têrêsa Nguyễn Hảo
Trung tâm Hiến pháp Quốc gia Hoa Kỳ (National Constitution Center) thông báo sẽ trao Giải thưởng “Liberty Medal” (Huân chương Tự do) lần thứ 38 cho Đức Thánh Cha Lêô XIV trong một buổi lễ công khai diễn ra ngày 3/7/2026 tại Philadelphia, một sự kiện được tổ chức ngay trước thềm kỷ niệm 250 năm ngày thành lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Giải thưởng Liberty Medal nhằm tôn vinh những cá nhân và tổ chức có đóng góp nổi bật trong việc thúc đẩy tự do và nhân quyền trên toàn cầu. Năm nay, Đức Thánh Cha Lêô XIV được vinh danh nhờ những nỗ lực không ngừng trong việc cổ vũ các quyền tự do tôn giáo, tự do lương tâm và tự do ngôn luận — những điều cốt lõi được ghi nhận trong Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ.
Theo kế hoạch, Đức Thánh Cha sẽ phát biểu khi nhận giải trực tiếp từ Vatican thông qua kết nối trực tuyến.
Giám đốc Phòng Báo chí Tòa Thánh, ông Matteo Bruni, cho biết Đức Thánh Cha biết ơn “vì sự công nhận cao quý này, vào một dịp kỷ niệm quan trọng đối với người dân Hoa Kỳ, được kêu gọi suy ngẫm về 250 năm lịch sử của họ, gìn giữ Tuyên ngôn Độc lập, Hiến pháp Hoa Kỳ và sự tự do như những dấu ấn di sản cho các thế hệ tương lai”.
Sự dấn thân đối thoại của Đức Thánh Cha Lêô XIV
Thông cáo của Trung tâm Hiến pháp Quốc gia cũng nhấn mạnh sự dấn thân của Đức Thánh Cha trong việc thúc đẩy đối thoại liên tôn và đại kết. Thông cáo nêu rõ: “Hành động của ngài phản ánh một tầm nhìn đạo đức rộng lớn hơn, coi tự do tôn giáo không phải là một quyền trừu tượng, mà là một biểu hiện cụ thể của phẩm giá con người, đặc biệt là đối với các cộng đồng bị thiệt thòi, bao gồm các nhóm thiểu số tôn giáo và những người bị ảnh hưởng bởi xung đột”.
Huân chương Tự do
Trung tâm Hiến pháp Quốc gia ở Philadelphia quy tụ mọi người ở mọi lứa tuổi và quan điểm, từ khắp nơi trên thế giới, để tìm hiểu, thảo luận và tôn vinh tầm nhìn về tự do con người được Hiến pháp Hoa Kỳ tuyên bố. Huân chương Tự do ra đời vào năm 1988 để kỷ niệm 200 năm Hiến pháp Hoa Kỳ. Được trao tặng hàng năm, huân chương này vinh danh những cá nhân và tổ chức dũng cảm và kiên định, dấn thân bảo đảm những quyền lợi của tự do cho người dân trên toàn thế giới.
Thiên Chúa từ bi và thương xót.
Thiên Chúa tốt lành, ân cần yêu thương chăm sóc chúng ta như người mẹ hết lòng quan tâm con mình… Đó là sự thật được chuyển tải cho chúng ta trong Bài đọc Isaia và Thánh vịnh 144 (Đáp ca) hôm nay.
Lòng từ bi thương xót, sự tốt lành và ân cần ấy của Thiên Chúa Cha được thể hiện trọn vẹn nơi Chúa Giêsu Kitô, Đấng là tình yêu của Thiên Chúa trở nên xác thân hữu hình, cụ thể. Tất cả sự tốt lành trong lời rao giảng và trong các việc làm của Chúa Giêsu, trong chính nhân cách của Người, đều bắt nguồn từ Chúa Cha. Chúa Giêsu như thế… như thế… bởi vì Cha như thế!
Và chính Chúa Giêsu hé lộ mối tương quan thâm sâu của Người với Cha: “Cha Ta làm việc liên lỉ, Ta cũng làm việc như vậy… Ta không tìm ý riêng Ta, mà tìm ý Đấng đã sai Ta”… Một lối dẫn vào mầu nhiệm Ba Ngôi! Nhưng rất tiếc, người Do thái lúc ấy không có khả năng cảm nhận điều này. Thay vào đó, họ tố cáo rằng Giêsu phạm thượng, tự coi mình ngang hàng với Thiên Chúa!…
Chúa Cha và Chúa Con là một. Thế nhưng oái ăm là người Do thái đã đi đến chỗ nhân danh Thiên Chúa, nhân danh việc bảo vệ tính siêu việt của Thiên Chúa mà giết Chúa Giêsu! Họ không ngờ rằng trong khi Thiên Chúa rất siêu việt thì Ngài cũng rất gần gũi, nhất là với cuộc Nhập thể làm người của Chúa Con thì Thiên Chúa đã trở thành hữu hình, cụ thể và gần gũi hết mức rồi.
Đừng trách những người Do thái đương thời Chúa Giêsu về sự bắt hụt ấy. Nhưng chúng ta hãy học từ sự bắt hụt của họ để không bắt hụt như họ. Nghĩa là, hãy đón nhận và tin vào Chúa Giêsu. Đây là tất cả dự án của đời Kitô hữu. Đây cũng là dự án, cách riêng, của Mùa Chay thánh này.
Thử hình dung mức thang đón nhận và tin vào Chúa Giêsu từ zê rô đến 100 phần trăm, mỗi chúng ta tự hỏi: Tôi đang đón nhận và tin Chúa Giêsu ở mức nào? Trong ý nghĩ này, lời nói này, phản ứng này của tôi, có bao nhiêu phần trăm ‘Giêsu’ trong đó?
Lm. Lê Công Đức
Ngày 16/3/2026, gặp gỡ các thành viên tham dự Phiên họp toàn thể của Ủy ban Tòa Thánh về Bảo vệ Trẻ vị thành niên, Đức Thánh Cha Lêô XIV nhấn mạnh rằng việc ngăn ngừa lạm dụng trẻ em và người dễ bị tổn thương không phải là nhiệm vụ tùy chọn, nhưng là một khía cạnh cấu thành sứ mạng của Giáo hội.
Trong bài nói chuyện với những người tham dự, Đức Thánh Cha ghi nhận những đóng góp và sự tận tụy của Ủy ban trong việc bảo vệ trẻ em, thanh thiếu niên và những người dễ bị tổn thương. Ngài nói đây là công việc âm thầm nhưng vô cùng quan trọng đối với đời sống Giáo hội và việc xây dựng “văn hóa quan tâm chăm sóc”.
Chiều kích cấu thành của sứ mạng Giáo hội
Đức Thánh Cha nhắc lại rằng khi đưa công việc của Ủy ban trở thành một phần thường trực trong cơ cấu của Giáo triều Roma, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắc nhở toàn thể Giáo hội rằng ngăn ngừa lạm dụng là chiều kích cấu thành của sứ mạng Giáo hội. Ngài cũng bày tỏ sự khích lệ trước sự hợp tác giữa Ủy ban và Bộ Giáo lý Đức tin, đặc biệt là với bộ phận kỷ luật, để việc ngăn ngừa và việc xử lý kỷ luật được tiến hành cách hài hòa và hiệu quả.
Tạo nên “một nền văn hóa quan tâm chăm sóc” trong toàn Giáo hội
Theo Đức Thánh Cha, nhiệm vụ của Ủy ban không chỉ dừng lại ở việc xây dựng các quy trình hay quy định để ngăn ngừa. Quan trọng hơn, đó là góp phần hình thành trong toàn Giáo hội “một nền văn hóa quan tâm chăm sóc, trong đó việc bảo vệ trẻ vị thành niên và những người trong hoàn cảnh dễ bị tổn thương không được coi là một nghĩa vụ bị áp đặt từ bên ngoài, mà là một biểu hiện tự nhiên của đức tin”.
Điều này, theo ngài, cần lắng nghe các nạn nhân và hành động. Dù câu chuyện của các nạn nhân thường đau đớn và khó nghe, nhưng chúng giúp làm sáng tỏ sự thật và mở ra con đường chữa lành, hy vọng và đổi mới cho Giáo hội.
Cần hợp tác liên ngành và phối hợp giữa các cơ quan trong Giáo triều và dân sự
Đức Thánh Cha cũng khuyến khích sự hợp tác liên ngành và sự phối hợp giữa các cơ quan trong Giáo triều cũng như với xã hội dân sự. Đồng thời, các giám mục và bề trên dòng tu có trách nhiệm trực tiếp trong việc lắng nghe và đồng hành với các nạn nhân tại các cộng đoàn địa phương.
Giáo hội theo tinh thần Tin Mừng
Kết thúc bài nói chuyện, Đức Thánh Cha nhắc rằng “việc bảo vệ trẻ vị thành niên và những người trong hoàn cảnh dễ bị tổn thương không phải là một lĩnh vực riêng biệt của đời sống Giáo hội, mà là một chiều kích thấm nhuần vào công việc mục vụ, đào tạo, quản trị và kỷ luật”. Ngài khẳng định: “Mỗi bước trên hành trình này là một bước tiến đến với Chúa Kitô và hướng tới một Giáo hội theo tinh thần Tin Mừng và đích thực hơn”.
Đoàn con chung kết tâm tình
Ngợi ca Thánh Cả, tôn vinh danh Ngài
Cha nuôi Thánh Tử Ngôi Hai
Là gương lao động miệt mài chuyên chăm
Khiêm nhu, cần mẫn, âm thầm
Mẫu người công chính hương nam sánh tày
Khiết trinh ngời sáng đẹp thay
Cây cao tỏa bóng tháng ngày trần gian
Trồng bên suối mát trong lành
Thế trần ngưỡng mộ uy danh tuyệt vời
Trong lòng Giáo Hội rạng ngời
Là người gia trưởng suốt đời trung kiên
Từng bừng khắp chốn mọi miền
Dâng lời cảm tạ cha hiền Giuse
Đoàn con tha thiết hướng về
Thành Na-da-rét: miền quê năm nào?
Gia đình Thánh Thất đẹp sao
Mẹ cha gương mẫu ngọt ngào yêu thương
Giêsu quý tử biểu dương
Người con thảo hiếu trên đường trần gian
Một nhà tỏa ngát thiên ân
Khôn ngoan Thánh đức trọn phần Thánh Gia
Dạt dào tình mến chan hòa
Dịu dàng dâng hiến đậm đà ý thơ
Trần gian Hội Thánh trông chờ
Ơn ngài phù trợ bến bờ tin yêu
Dâng lên tình khúc cao siêu
Hòa cùng chư thánh Thiên Triều ngâm nga
Đoàn con Mến Thánh Giá hoan ca
Ngợi mừng Cha Thánh vang xa khắp trời
Anna Đào Nguyễn
Mùa Chay mang sắc tím của đau buồn, đau buồn vì tội lỗi mình đã phạm. Nỗi đau buồn này cần thiết giúp đưa ta vào lộ trình thống hối ăn năn… Nhưng Mùa Chay cũng chất chứa dư vị của niềm vui nữa, niềm vui của tội nhân được tha thứ, của nô lệ được giải phóng, của tình trạng chết chắc mà được cứu sống… Lời Chúa qua miệng ngôn sứ Isaia công bố niềm vui ấy:
“Này Ta tác tạo trời mới, đất mới; người ta sẽ không còn nhớ lại dĩ vãng, và cũng sẽ không bận tâm đến dĩ vãng nữa. Nhưng các ngươi hãy hân hoan và nhảy mừng cho đến muôn đời trong các việc Ta tác tạo, vì đây Ta tác tạo một Giêrusalem hân hoan và một dân tộc vui mừng… Từ đây người ta sẽ không còn nghe tiếng khóc lóc và than van nữa”… (x. Is 65,17-21).
Và dân Chúa lên lời đáp lại: “Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con… Các tín đồ của Chúa, hãy đàn ca mừng Chúa, và hãy cảm tạ thánh danh Ngài. Vì cơn giận của Ngài chỉ trong giây phút, nhưng lòng nhân hậu của Ngài vẫn có suốt đời. Chiều hôm có gặp cảnh lệ rơi, nhưng sáng mai lại được mừng vui hoan hỉ… Chúa đã biến đổi lời than khóc thành khúc nhạc cho con, lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con sẽ tán tụng Chúa tới muôn đời” (x. Tv 29).
Tất cả viễn ảnh trời mới đất mới ấy, sự giải thoát ấy, nước mắt biến thành nụ cười ấy… trở thành hiện thực nơi con người và sứ vụ của Chúa Giêsu – như kinh nghiệm của vị quan chức nhà vua ở Capharnaum có người con trai đau liệt được Chúa cứu sống hôm nay. “Ông hãy về đi, con ông mạnh rồi”. Đúng vào lúc Chúa Giêsu truyền cho ông như vậy, con trai ông đã được khoẻ mạnh.
Nhưng câu chuyện tuyệt vời này có một điều mấu chốt cần ghi nhận: Vị quan chức này đã TIN, rồi không chỉ ông, mà cả gia quyến ông đều TIN! Bạn thấy đó, Chúa Giêsu đầy lòng xót thương lẫn quyền năng chữa lành. Người làm tất cả, cung cấp tất cả những điều tốt lành cho ta – và chỉ có một việc dành cho chúng ta, đó là TIN VÀO NGƯỜI. Vâng, tin vào Chúa Giêsu và đón nhận Người đi, bạn sẽ cảm nhận niềm vui cứu độ tràn ngập bản thân và gia đình mình!
Lm. Lê Công Đức
Bài Tin Mừng Chúa Nhật IV Mùa Chay, thánh Gioan kể cho chúng ta nghe câu chuyện về một người mù từ thuở mới sinh. Vì mù lòa, anh không biết khuôn mặt của mình ra sao, không biết cha mẹ mình trông như thế nào, cũng không thể nhìn thấy những người thân yêu chung quanh. Anh không được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên, của vũ trụ muôn màu. Cuộc sống của anh chỉ là một màn đêm dày đặc. Anh sống trong nỗi thất vọng và tăm tối cho đến khi gặp được Đức Giêsu. Chính lòng thương xót của Người đã nhìn thấy anh và chữa lành đôi mắt của anh.
1. Lòng thương xót của Chúa chữa lành đôi mắt thể lý của anh mù
Thân phận của người mù thật đáng thương. Trước cửa Đền Thờ, anh không có của cải, không có quyền thế, bởi anh chỉ là một kẻ ăn xin bị gạt ra bên lề xã hội. Hơn thế nữa, người ta còn cho rằng anh là người tội lỗi, vì sinh ra đã bị mù nên không thể học hỏi Lề Luật, và vì thế bị liệt vào hạng kém hiểu biết.
Đứng trước người mù, các môn đệ chỉ nhìn thấy một con người đang bị phạt vì tội lỗi. Những người Pharisêu tìm mọi cách né tránh sự thật để khỏi phải công nhận phép lạ đã xảy ra. Còn đám đông thì thờ ơ, nghi ngờ và chê bai.
Nhưng Đức Giêsu lại nhìn anh bằng một ánh nhìn hoàn toàn khác. Người nhìn thấu cõi lòng anh với ánh mắt trìu mến và đầy lòng thương xót. Người không nhìn bằng ánh mắt lạnh lùng, cũng không mang thành kiến như các môn đệ, không hoài nghi như đám đông, cũng không đố kỵ như những người Pharisêu. Chính vì thế, Người thấu hiểu nỗi khát khao sâu thẳm và cả nỗi sợ hãi đang đè nặng trong tâm hồn anh. Và Người đã chữa lành anh.
Từ giây phút ấy, anh bước ra khỏi bóng tối để đi vào ánh sáng. Anh được nhìn thấy con người, được chiêm ngắm thiên nhiên và vũ trụ muôn loài. Lòng anh tràn ngập niềm vui và hy vọng.
2. Lòng thương xót của Chúa giúp anh can đảm tuyên xưng đức tin
Đức Giêsu không chỉ chữa lành đôi mắt thể xác của anh, nhưng còn mở ra cho anh đôi mắt đức tin. Hành trình đức tin của anh là một hành trình đầy thử thách.
Ban đầu, việc tin đối với anh khá đơn giản. Anh chỉ vâng lời Đức Giêsu đi đến hồ Silôác để rửa mắt. Nhưng sau khi được sáng mắt, anh phải đối diện với những tình huống phức tạp hơn: người ta nghi ngờ, tò mò tra hỏi anh về việc được chữa lành. Thậm chí gia đình anh cũng tỏ ra dè dặt và giữ khoảng cách.
Căng thẳng lên đến đỉnh điểm khi anh phải đối diện với quyền lực tôn giáo. Những người Pharisêu không chấp nhận sự thật và đã khai trừ anh ra khỏi hội đường. Đối với người Do Thái, đây là một hình phạt nặng nề và đầy nhục nhã.
Như thế, hành trình đức tin của anh là một hành trình tiệm tiến. Ban đầu, anh chỉ coi Đức Giêsu là một con người bình thường: “Một người tên là Giêsu đã xức bùn vào mắt tôi.”
Sau đó, trước những câu hỏi và tra vấn của đám đông cũng như của người Pharisêu, anh suy nghĩ sâu xa hơn và nhận ra: “Ngài là một vị ngôn sứ.”
Khi phải đối diện với sự chống đối của giới lãnh đạo tôn giáo, anh mạnh mẽ khẳng định:
“Nếu Người không bởi Thiên Chúa mà đến, thì đã không làm được gì.”
Và cuối cùng, khi gặp lại Đức Giêsu, anh tuyên xưng niềm tin của mình: “Lạy Ngài, tôi tin.” Anh nhận ra Người chính là Con Thiên Chúa.
Chính sự mở lòng, mở trí và mở trái tim đã giúp anh từ bóng tối bước vào ánh sáng chân thật.
3. Hành trình đức tin của người môn đệ bước theo Đức Giêsu
Hành trình đức tin của người mù năm xưa cũng chính là khuôn mẫu cho hành trình đức tin của mỗi người chúng ta. Anh đã phải chiến đấu với những bóng tối vây phủ cuộc đời mình, nhưng anh đã kiên trì và chiến thắng. Anh đã bước ra khỏi bóng tối để gặp được Đức Kitô – nguồn ánh sáng của đời mình.
Còn chúng ta thì sao? Chúng ta đã chiến đấu thế nào với những bóng tối đang đe dọa đức tin của mình?
Có những bóng tối của ích kỷ, khiến ta không nhìn thấy nhu cầu của tha nhân.
Có những bóng tối của vô cảm, khiến ta không cảm nhận được nỗi đau của người khác.
Có những bóng tối của tự phụ và kiêu căng, khiến ta không nhận ra vẻ đẹp nơi tha nhân và cũng không thấy được những giới hạn của chính mình.
Lại có những bóng tối của thành kiến, khiến ta không nhận ra sự thật và vẻ đẹp của thế giới quanh ta.
Những bóng tối ấy có thể làm chúng ta xa rời đời sống thiêng liêng và không còn nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa là Tình Yêu.
Hành trình bước theo Đức Giêsu là một hành trình dài, đầy những khó khăn và thử thách. Nhưng Chúa luôn mời gọi chúng ta mở lòng để đón Người vào tâm hồn. Chính Người là nguồn sức mạnh giúp chúng ta vượt qua mọi chướng ngại trên hành trình đức tin.
Mùa Chay là cơ hội để mỗi người chúng ta khơi dậy ngọn đèn đức tin, đức cậy và đức mến cho cháy sáng. Điều đó được thể hiện qua việc ăn chay, cầu nguyện, thống hối, hòa giải và chia sẻ với những người đang cần sự giúp đỡ của chúng ta.
Xin Đức Kitô – Ánh sáng trần gian dẫn dắt mỗi người chúng ta trên suốt hành trình đức tin, để chúng ta được giải thoát khỏi mọi bóng tối và tiến đến gặp Người, nguồn ánh sáng tinh tuyền và vĩnh cửu.
Maria Thảo An
Sáng ngày 12/3/2026, trong cuộc gặp gỡ với các tham dự viên của “Cattedra dell’Accoglienza” lần thứ tư (Diễn đàn về văn hóa đón tiếp), sáng kiến được khởi xướng từ kinh nghiệm thiêng liêng của Hiệp hội Fraterna Domus và được nhiều tổ chức Giáo hội cũng như xã hội hỗ trợ, Đức Thánh Cha khích lệ họ tiếp tục tạo ra những môi trường có khả năng thúc đẩy lòng tốt và tình huynh đệ trong cộng đồng Kitô giáo và trong xã hội.
“Chào đón” nghĩa là “đưa người khác vào cuộc sống của mình”
Mở đầu diễn văn, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng “ơn gọi Kitô hữu hướng đến việc xây dựng sự hiệp thông giữa con người với nhau. Sự hiệp thông ấy được hình thành nhờ khả năng đón nhận người khác qua việc lắng nghe, mở cửa đón tiếp và phục vụ”. Đức Thánh Cha giải thích, “chào đón” nghĩa là “đón nhận” hoặc “đưa người khác vào cuộc sống của mình”. Vì thế, ở trung tâm của mọi hành động đón tiếp chân thành luôn là một mối tương quan được khơi nguồn từ ân sủng của một cuộc gặp gỡ.
Theo Đức Thánh Cha, mỗi người đều trải nghiệm nhiều dạng gặp gỡ khác nhau: với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và cả những người xa lạ, đôi khi thậm chí là những người có thái độ không thân thiện. Khi một cuộc gặp gỡ trở nên chân thật, nó có thể vượt ra khỏi kinh nghiệm cá nhân để dần hình thành một kinh nghiệm cộng đoàn, nơi con người học cách sống cùng nhau.
Đổi mới cách thức tương quan và lắng nghe người trẻ
Chủ đề của “Diễn đàn” lần thứ tư được dành cho người trẻ. Đức Thánh Cha nhận định: “Trong thời đại có nhiều biến đổi sâu sắc về văn hóa và xã hội, người trẻ không chỉ là tương lai của xã hội và Giáo hội mà còn là hiện tại sống động của cộng đoàn”. Do đó, “những câu hỏi và thao thức của họ mời gọi các Kitô hữu đổi mới cách thức tương quan, biết lắng nghe tiếng nói và nhận ra rằng Chúa Thánh Thần vẫn tiếp tục hoạt động trong cuộc sống và ngôn ngữ của thế hệ trẻ”.
Kitô hữu được mời gọi bảo vệ và quan tâm đến những người yếu thế
Từ đó, Đức Thánh Cha đặc biệt nhấn mạnh hai từ khóa: “hiện diện” và “chăm sóc”. Con người từ khi sinh ra đã sống trong những môi trường xã hội như gia đình, giáo xứ, trường học hay nơi làm việc. Ở đó, sự hiện diện có nghĩa là chia sẻ thời gian, kinh nghiệm và giá trị, giúp người khác có những điểm tựa vững chắc để trưởng thành.
Lấy hình ảnh Thánh Gia Nazareth làm mẫu gương, Đức Thánh Cha nhắc lại rằng việc hiện diện luôn gắn liền với trách nhiệm chăm sóc bảo vệ. “Chúng ta không thể bảo vệ mà không hiện diện, và không thể hiện diện mà không gánh vác trách nhiệm đối với người khác”. Như thánh Giuse đã chăm sóc gia đình được Thiên Chúa trao phó, mỗi Kitô hữu cũng được mời gọi chăm sóc các mối tương quan, bảo vệ sự sống và quan tâm đến những người yếu thế.
Nguồn: Vatican News
Tin Chúa là tin có Chúa, và tin rằng Chúa tốt lành. Tin Chúa, vì thế, cũng là lắng nghe Chúa và sống theo giáo huấn của Chúa.
Thế nhưng thực tế không luôn như vậy, như đoạn sách Giêremia hôm nay nhận định về dân Chúa: “Này là dân không chịu nghe lời Chúa là Thiên Chúa của họ”! Và Chúa phiền lòng lắm: “Từ ngày cha ông họ ra khỏi đất Ai-cập cho đến ngày nay, ngay từ sớm, Ta lần lượt sai các tiên tri tôi tớ của Ta đến với họ, nhưng họ không nghe Ta, không chịu lắng tai nghe. Họ tỏ ra cứng đầu cứng cổ, và còn sống tệ hơn cha ông họ!”…
Chúa dạy bảo dân cách chủ yếu qua các trung gian – là các ngôn sứ mà Chúa sai đến – nhưng dân thường cứng đầu cứng cổ từ chối các ngôn sứ… Cuối cùng, Thiên Chúa trực tiếp đến với dân Ngài, đây là câu chuyện nhập thể và làm người của Con Thiên Chúa. Và đến lượt Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, vẫn bị từ chối, bị tẩy chay…
Nghiêm trọng và báng bổ hơn nữa, người ta không chỉ từ chối, tẩy chay Chúa Giêsu, mà còn gán rằng Người là thuộc hạ của quỉ vương nữa, tức Giêsu là một thứ quỉ nhỏ! Sự mù quáng và sự xúc phạm ở đây thật là khủng khiếp. Người ta không hề phân định, hoặc đã phân định hoàn toàn sai lầm!
Cần phải phân định thì mới nhận ra Chúa ở đâu và Chúa muốn gì. Và phân định giả thiết thái độ chăm chú lắng nghe và khả năng ngạc nhiên trước những điều mới mẻ, chứ không cố thủ với những định kiến chủ quan của mình. Lắng nghe, đến lượt nó, lại giả thiết sự mềm mỏng sẵn sàng vâng phục – vì nếu không sẵn sàng vâng phục thì đâu cần phải lắng nghe!
Xin Chúa Thánh Thần giúp chúng ta vượt qua các định kiến chủ quan, biết lắng nghe tiếng Chúa, và mau mắn thi hành. Như lời Chúa kêu gọi chúng ta: “Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: Các bạn đừng cứng lòng” (x. Tv 94).