Em Ngươi Đâu? (17.02.2025 Thứ Hai Tuần VI Thường Niên)

Sự dữ đã đi vào gia đình nhân loại ngay từ hai ông bà nguyên tổ, qua câu chuyện biểu tượng là việc ăn trái cây biết lành biết dữ. Con người, vẫn với tự do của mình, tiếp tục lún sâu hơn trong tội lỗi với việc Cain sát hại Abel. Câu chuyện hai anh em, mỗi người dâng lễ phẩm của mình cho Đức Chúa, cũng đầy tính biểu tượng. Câu chuyện ấy không có ý nói rằng Chúa thích mỡ súc vật hơn là trái cây, nên Ngài nhận của Abel mà từ chối của Cain. Đúng hơn, câu chuyện muốn cho biết rằng nơi tâm hồn Cain đã có gì đó không đẹp ý Chúa.

Của lễ không được nhận, Cain “căm tức và sụ mặt xuống”. Chúa cảnh cáo và nhắc nhở. Nhưng điều xảy ra là do ghen tức, Cain đã “xông vào giết Abel”. Chúa truy hỏi em ngươi đâu, Cain chối quanh rằng tôi không biết, tôi không phải là người trông giữ em tôi!… “Tiếng máu em ngươi từ đất kêu thấu đến Ta”, Chúa nói… Nhưng trước một Cain dằn vặt và đầy sợ hãi, Chúa đã trấn an rằng Ngài sẽ bảo vệ mạng sống của Cain…

Xâu chuỗi các sự kiện có nhiều tính biểu tượng này, ta thấy gì?

Ta thấy tội đầu tiên mở van đáy cho mọi thứ tội tràn vào nhận chìm con người là tội BẤT TUÂN PHỤC THIÊN Ý – do đó, mọi thứ tội đều tự bản chất là tội bất tuân phục thánh ý Chúa…

Ta thấy con người mất khả năng đề kháng, tự do vẫn còn nguyên, nhưng khả năng sử dụng tự do bị suy yếu trầm trọng, và chuỗi tội lỗi bắt đầu, trong đó tội này gây ra thêm tội kia – như một phản ứng phân hạch dây chuyền trong vụ nổ bom hạt nhân.

Ta thấy khi bất tuân phục thánh ý Chúa, con người chống lại Thiên Chúa, thì cũng chống lại con người (tha nhân và chính bản thân mình) là hình ảnh của Thiên Chúa – sự dữ leo thang nhanh chóng đến mức Cain giết Abel, đó là con người giết chính mình và đồng thời cho thấy muốn giết Thiên Chúa (vì mọi con người đều là hình ảnh của Thiên Chúa).

Ta thấy như vậy là xáo trộn hoàn toàn rồi, và điên rồ tận cùng rồi! Bạo lực, xung đột, chiến tranh, loại trừ… đã nhảy vào sân khấu ngay từ đầu tiên, với hình ảnh Cain xông vào giết Abel, và kéo dài, gia tăng cấp độ cho đến ngày nay như chúng ta đã và đang thấy: không còn chỉ là chuyện giữa các cá nhân, mà là chiến tranh và tàn sát giữa các cộng đồng, các quốc gia, các liên minh…

Câu hỏi “Em ngươi đâu?” mà Thiên Chúa hỏi Cain không chỉ là câu hỏi dành cho các tương quan cá nhân, mà cả cho các cộng đồng, các quốc gia nữa. Khi mới làm giám mục Rôma, Đức thánh cha Phanxicô đã đến Lampedusa uỷ lạo tinh thần các di dân sống sót sau khi hàng ngàn người bị xua đuổi và chết thảm trên biển trong thời gian trước đó. Ngài đã có một bài giảng lễ xoáy sâu vào câu hỏi “Em ngươi đâu?” này, muốn nhắn gửi các giới hữu trách đã để xảy ra thảm kịch…

Bao lâu chúng ta còn chối quanh, như Cain, trước câu hỏi “Em ngươi đâu?”, thì bấy lâu chiến tranh và loại trừ vẫn còn, phẩm giá con người vẫn bị chà đạp, thí bỏ. Và không tránh được cảm thức xấu hổ, trần truồng, chúng ta sẽ run sợ khi Chúa đến gặp và hỏi: “Ngươi ở đâu rồi?” – “Con đang trốn trong bụi rậm đây, Chúa ơi, con không dám ra trước mặt Chúa”!

Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa làm người đã bị người ta loại trừ cách bất nhẫn và đầy bạo lực nhân danh sự an toàn và ổn định của những cá nhân và cộng đồng, xin Chúa giúp đưa chúng ta ra khỏi bụi rậm và nhận ra chính Chúa nơi khuôn mặt của anh chị em mình.

Lm. Lê Công Đức


Nghèo và Giàu – Phúc Và Khốn (16.02.2025 Chúa Nhật VI Thường Niên)

Tương phản KHỐN và PHÚC – đó là chủ đề của Lời Chúa hôm nay. Đây là tương phản giữa nghèo và giàu, giữa đói khát và no đầy, giữa khổ và sướng, giữa yếu thế và quyền lực… Sau tất cả, đó là tương phản giữa chết và sống! Tất cả các yếu tố của Phụng vụ Lời Chúa – gồm Bài đọc 1, Thánh vịnh Đáp ca, Bài đọc 2, và Bài Tin Mừng – đều cùng hội tụ khắc hoạ những tương phản này.

Bài đọc 1 (Gr 17,5-8) là hai tuyên bố ‘khốn thay’ và ‘phúc thay’. “Khốn thay cho kẻ tin tưởng người đời, họ nương tựa vào sức mạnh con người, còn tâm hồn họ thì sống xa Chúa”… Và: “Phúc thay cho người tin tưởng vào Thiên Chúa, và Thiên Chúa sẽ là niềm cậy trông của họ”…

Thánh vịnh Đáp ca (Tv1,1-2.3.4 và 6) xác nhận ‘phúc’ của người tin tưởng vào Chúa, chuyên cần sống trong lề luật Chúa, ngược lại với số phận vô phúc của những kẻ đi theo đường lối ác nhân.

Bài Tin Mừng (Lc 6,17.20-26) là bốn mối phúc và bốn mối khốn được tuyên bố. Có thể đúc kết cách cô đọng là ‘phúc cho kẻ nghèo’ và ‘khốn cho người giàu’. Quả thật, đói khát và khóc lóc – dù theo nghĩa hẹp hay nghĩa rộng – cũng là ‘nghèo’. Đặc biệt, mối phúc thứ tư ở đây liên quan đến ‘Con Người’: “Phúc cho các ngươi, nếu vì Con Người mà người ta thù ghét, trục xuất và phỉ báng các ngươi, và loại trừ tên các ngươi như kẻ bất lương”. Đây cũng là một dạng nghèo, đối lập với cái ‘giàu có’ của những ai “được mọi người ca tụng” như trường hợp các ngôn sứ giả!

Chúng ta ghi nhận, ở đây Chúa Giêsu đề cập cách khái quát hai nhóm NGHÈO và GIÀU – theo nghĩa mở rộng nhất – như là một thực tế xã hội. Trước thực tế này, Người tuyên bố Các Mối Phúc (trong cả hai phiên bản Máttheu và Luca) nêu rõ rằng Thiên Chúa đứng về phía người nghèo, bênh vực và nâng đỡ họ. Dĩ nhiên Thiên Chúa không muốn ai nghèo nàn khốn khổ – bằng chứng là Con Thiên Chúa chọn trở nên nghèo khó, để bằng cách đó Người làm cho chúng ta nên giàu có; chính Chúa Giêsu tuyên bố Người đến cho chiên được sống và sống dồi dào (x. 2Cr 8,9 và Ga 10,10)… Ta cũng ghi nhận, Chúa Giêsu cũng tuyên bố “Anh em luôn có người nghèo ở bên anh em”…

Trong Bài đọc 2 (1Cr 15,12.16-20), thánh Phaolô nhấn mạnh Chúa Giêsu đã CHẾT, nhưng đã SỐNG LẠI. Câu chuyện cái chết của Chúa nhắc chúng ta rằng chính Người đã đảm nhận thân phận một người nghèo, theo nghĩa “bị thù ghét, trục xuất, phỉ báng, và loại trừ như kẻ bất lương”. Câu chuyện Người sống lại nhắc ta rằng Thiên Chúa Cha bênh vực, ủng hộ Người – qua đó hùng hồn xác nhận Các Mối Phúc mà Người đã dạy các môn đệ và tất cả mọi người.

Xã hội và thế giới chúng ta càng cho thấy rõ sự phân hoá, phân cực giàu nghèo. Người nghèo vẫn CÓ ĐÓ, rất hữu hình cụ thể, khắp xung quanh chúng ta. Chúng ta có thể cuốn vào những tranh luận, những cuộc hội thảo, những bảng thống kê phân tích, những nghiên cứu phân loại, xác định nguyên nhân, tiên lượng hậu quả, nhận diện và qui gán trách nhiệm, mò mẫm giải pháp, vân vân và vân vân… Ví dụ, về vấn đề chính sách đối với di dân đang thu hút quan tâm với nhiều suy nghĩ trái chiều hiện nay!

Ừ thì ai cũng có (quyền) ý kiến.

NHƯNG đừng quên điều hết sức rõ ràng và chắc chắn này: Thiên Chúa mà chúng ta tôn thờ là vị Thiên Chúa đứng về phía người nghèo và bênh vực họ – vì thế Giáo hội của Chúa Kitô tuyên bố theo đuổi chủ trương ‘một Giáo hội nghèo của người nghèo’!

Lm. lê Công Đức


Bản Chất Của Tội Lỗi Không Ở Chỗ Phạm Luật, Mà Ở Chỗ Làm Chúa Đau Buồn (15.02.2025 Thứ Bảy Tuần V Thường Niên)

Trong cảm thức về sự trần truồng và ê chề xấu hổ, con người nghe Chúa khảo vấn. Ông đổ cho bà. Còn bà thì đổ cho con rắn. Chúa bắt đầu từ con rắn, rồi đến bà, cuối cùng là ông, khi tuyên bố hậu quả của sự chọn lựa và hành động xấu xa. Con rắn sẽ vô phúc ở giữa mọi sinh vật, sẽ bò đi bằng bụng và sẽ ăn bùn đất, sẽ bị miêu duệ người phụ nữ đạp nát đầu. Về phần người phụ nữ, sẽ gặp nhiều khổ cực khi thai nghén và đau đớn khi sinh con. Còn người đàn ông: phải làm lụng vất vả mới có mà ăn… Mọi phía liên quan, như vậy, phải chịu trách nhiệm về vấn đề của mình.

Có thể thấy, tội lỗi không chỉ phá hỏng tương quan với Chúa, mà phá hỏng cả tương quan giữa người với người. Ngay cả thiên nhiên cũng nổi loạn chống lại con người, như lời Chúa nói: “Ðất sẽ mọc cho ngươi đủ thứ gai góc”!… Tuy nhiên, Chúa không bỏ con người, mà vạch kế hoạch cứu độ. Thấy con người trần truồng thật tội nghiệp, Chúa “làm áo da mà mặc cho Ađam và vợ ông”…

Vì thế cần nhớ, tội lỗi không cốt ở vi phạm một điều luật, một qui định, mà cốt ở việc làm tổn thương mối tương quan với Chúa, kéo theo việc gây trục trặc cho các mối tương quan khác của con người. Bạn chạy xe máy vượt đèn đỏ, với Nghị Định 168, bạn bị phạt 6 triệu đồng – mà bạn không nhất thiết cảm thấy đau, cả anh cảnh sát giao thông tuýt còi bạn cũng không đau. Bạn chỉ phạm luật, chứ không có mối tương quan nào bị tổn hại đáng kể ở đây. Còn tội lỗi thì thực sự làm Chúa buồn và đau, và chính bạn cũng đau, bởi mối tương quan đang bị thương tổn!

Kinh Ăn Năn Tội mà chúng ta quen thuộc là một tuyệt phẩm. Chỉ cần ta ý thức đúng như lời kinh này diễn tả, thì ta sẽ tiến rất xa trên con đường tránh tội và nên thánh. Ngược lại, nếu chỉ đọc ào ào chẳng ý thức gì, ta có thể không nhận ra Chúa “trọn tốt trọn lành” đối với mình, ta không “lo buồn đau đớn và chê ghét tội mình trên hết mọi sự”, không “dốc lòng chừa cải”… Và do đó, điều xảy ra là ta không “tránh xa dịp tội”, ta đi xưng tội như một cái máy, và tái phạm như cũ rất dễ dàng và rất nhanh chóng!

Nói tắt, vấn đề của chúng ta là THÍCH tội. Ta cần xin Chúa cho mình biết GHÉT tội. Mà để thật sự ghét tội, ta cần nhận ra tội mình xúc phạm trực tiếp một cách phũ phàng đối với tình thương của Chúa, điều mà ta không thể cho phép mình tiếp tục.

Lm. Lê Công Đức


Tiếp kiến Chung (12/2): Nhận Ra Sức Mạnh Của Chúa Trong Sự Yếu Đuối

Sáng thứ Tư, ngày 12/2, Đức Thánh Cha đã có buổi tiếp kiến chung hằng tuần thường lệ tại Hội trường Phaolô VI. Trong bài giáo lý thứ 5 trong loạt bài giáo lý trong Năm Thánh, Đức Thánh Cha Thánh khai triển trình thuật của Tin Mừng Luca. Thánh sử cho thấy rằng Thiên Chúa không đến thế gian với những lời tuyên bố lừng vang, Người không tỏ mình trong sự ồn ào, nhưng bắt đầu cuộc hành trình của mình trong sự khiêm nhường.

Đức Thánh Cha tiếp tục phần 1 về “Thời thơ ấu của Chúa Giêsu” trong loạt bài giáo lý trong Năm Thánh, Chúa Giêsu Kitô – niềm hy vọng của chúng ta. Đây là bài giáo lý thứ năm của loạt bài này với chủ đề: “Chúa Giêsu sinh ra và các mục đồng viếng thăm”.

Bài Tin Mừng được đọc trước bài giáo lý được trích từ Tin Mừng thánh Luca (Lc 2,10-12):

Sứ thần bảo các mục đồng: “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân : Hôm nay, một Đấng Cứu Độ  đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người : anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ.”

Sau khi bài Tin Mừng được công bố bằng các thứ tiếng, Đức Thánh Cha bắt đầu bài giáo lý. Tuy nhiên, vì ngài vẫn còn bị viêm phế quản nên Đức Thánh Cha đọc phần đầu của bài giáo lý, sau đó cha Pierluigi Giroli, nhân viên Phủ quốc vụ khanh, đọc bài giáo lý thay Đức Thánh Cha.

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha 

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Trong hành trình Năm Thánh của chúng ta với chủ đề giáo lý “Chúa Giêsu là niềm hy vọng của chúng ta”, hôm nay chúng ta dừng lại để suy ngẫm về biến cố Chúa giáng sinh tại Bêlem.

Sau lời chào này, cha Pierluigi Giroli đọc tiếp bài giáo lý thay Đức Thánh Cha.

Con Thiên Chúa bước vào lịch sử nhân loại, trở thành bạn đồng hành của chúng ta, và bắt đầu cuộc hành trình ngay từ khi còn trong lòng Mẹ Maria. Thánh sử Luca kể lại rằng, ngay sau khi được thụ thai, Người đã cùng Mẹ Maria từ Nagiarét đến nhà ông Dacaria và bà Êlisabét; và sau đó, khi gần đến ngày sinh, Người lại cùng Mẹ Maria và Thánh Giuse từ Nagiarét đến Bêlem để thực hiện cuộc kiểm tra dân số. Mẹ Maria và Thánh Giuse buộc phải đến thành phố của vua Đavít, nơi Thánh Giuse cũng đã được sinh ra. Đấng Mêsia mà muôn dân trông đợi, Con Thiên Chúa Tối Cao, đã để mình được kiểm tra và ghi danh như một công dân bình thường. Người đã tuân theo sắc lệnh của hoàng đế Xêdarê Augustô, khi ông tự cho mình là chủ nhân của cả thế giới.

Thánh Luca đặt sự kiện Chúa Giêsu giáng sinh trong “một thời điểm có thể xác định rõ ràng” và trong “một bối cảnh địa lý cụ thể”, để “cái phổ quát và cái cụ thể gặp gỡ nhau” (ĐGH Bênêđictô XVI, Thời Thơ Ấu của Chúa Giêsu, 2012, tr. 77). Qua đó, chúng ta thấy được sự khiêm nhường của một Thiên Chúa đi vào lịch sử, không phá vỡ các cấu trúc của thế giới, nhưng muốn soi sáng và tái tạo chúng từ bên trong.

Bêlem có nghĩa là “nhà của bánh”. Tại nơi này, Mẹ Maria đã đến ngày sinh nở, và Chúa Giêsu đã chào đời, Người là bánh từ trời xuống để nuôi dưỡng cơn đói khát của thế giới (x. Ga 6,51). Thiên thần Gabriel đã loan báo sự ra đời của Vị Vua Mêsia với dấu hiệu của sự vĩ đại: “Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1,32-33).

Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã chào đời một cách hoàn toàn khác biệt so với một vị vua. Thật vậy, “khi hai người đang ở đó, thì bà Ma-ri-a đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà  không tìm được chỗ trong nhà trọ” (Lc 2,6-7). Con Thiên Chúa không sinh ra trong cung điện nguy nga, mà trong một nơi khiêm tốn, nơi dành cho các loài vật.

Thánh Luca cho chúng ta thấy rằng Thiên Chúa không đến thế gian với những lời tuyên bố lừng vang, Người không tỏ mình trong sự ồn ào, nhưng bắt đầu cuộc hành trình của mình trong sự khiêm nhường. Và ai là những nhân chứng đầu tiên của biến cố này? Đó là những người chăn chiên: những người ít học, có mùi hôi vì thường xuyên tiếp xúc với các loài vật, sống ở ngoài lề xã hội. Thế nhưng, họ lại là những người làm nghề mục tử mà chính Thiên Chúa đã dùng để tỏ mình cho dân Người (x. St 48,15; 49,24; Tv 23,1; 80,2; Is 40,11). Thiên Chúa đã chọn họ làm người nhận tin vui lớn nhất từng vang lên trong lịch sử: “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân : Hôm nay, một Đấng Cứu Độ  đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người : anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (Lc 2,10-12).

Nơi để gặp gỡ Đấng Mêsia là một máng cỏ. Thật vậy, sau bao nhiêu chờ đợi, “Đấng Cứu Độ của thế gian, Đấng mà mọi sự được tạo dựng nhờ Người (x. Cl 1,16), lại không có chỗ ở” (ĐGH Bênêđictô XVI, Thời Thơ Ấu của Chúa Giêsu, 2012, tr. 80). Những người chăn chiên nhận ra rằng, tại một nơi hết sức khiêm tốn, dành cho các loài vật, Đấng Mêsia mà họ mong đợi đã chào đời, và Người sinh ra vì họ, để trở thành Đấng Cứu Độ của họ, Người Mục Tử của họ. Một tin vui đã mở lòng họ ra với sự ngỡ ngàng, lời ngợi khen và niềm vui loan báo. “Khác với nhiều người đang bận rộn với trăm công nghìn việc, những người chăn chiên trở thành những nhân chứng đầu tiên của điều cốt yếu, đó là ơn cứu độ được ban tặng. Chính những người khiêm nhường và nghèo khó nhất lại biết đón nhận biến cố Nhập Thể” (Tông thư Admirabile signum, số 5).

Anh chị em thân mến, chúng ta cũng hãy xin ơn để có thể như những người chăn chiên, biết ngỡ ngàng và ngợi khen trước mặt Thiên Chúa, và biết gìn giữ những gì Người đã trao phó cho chúng ta: những tài năng, đặc sủng, ơn gọi của chúng ta, và những ai Người đặt bên cạnh chúng ta. Chúng ta xin Chúa ơn biết nhận ra trong sự yếu đuối sức mạnh phi thường của Hài Nhi Thiên Chúa, Đấng đến để đổi mới thế giới và biến đổi cuộc đời chúng ta bằng kế hoạch đầy hy vọng của Người dành cho toàn thể nhân loại.

Buổi tiếp kiến kết thúc với Kinh Lạy Cha và phép lành Đức Thánh Cha ban cho mọi người.

Nguồn. vatican News


Mắt Họ Mở Ra, Và Thấy Mình Trần Truồng! (14.02.2025 Thứ Sáu Tuần V Thường Niên)

Vừa khi hai người ăn trái cây ‘biết lành biết dữ’, thì quả thật mắt họ mở ra, biết mình đã làm điều dữ, không phải điều lành – tức đã làm điều xấu, không phải điều tốt như họ tưởng. Mắt mở ra, nhưng không phải mở ra để trở thành toàn năng, tự do tuyệt đối, tự ấn định tốt xấu như Thiên Chúa – mà mắt mở ra để nhận ra mình trần truồng! Thật xấu hổ! Xấu hổ với Thiên Chúa, nên nấp vào lùm cây. Xấu hổ với nhau và mỗi người xấu hổ với chính mình, nên kết lá che lại.

Thật khốn khổ với nỗi xấu hổ này. Nó là mặc cảm tội lỗi, là sự cắn rứt lương tâm, là nỗi ê chề của kẻ đã để mình bị lừa gạt. Tâm hồn không còn bình an thanh thản nữa, mà bị đè nặng. Nỗi xấu hổ vì ‘trần truồng’ này là dấu hiệu rõ ràng của tình trạng mất tự do. Phải che chắn, phải lấp liếm! Ông đổ tội cho bà, bà đổ tội cho con rắn – nhưng thật tội nghiệp, nỗi xấu hổ vẫn còn nguyên đó, tô hô, như chính hàm nghĩa của hai tiếng ‘trần truồng’…

Đó là cái giá của sự lạm dụng tự do. Chúa ban cho con người tự do, đó là để con người tự do chọn theo ý Chúa. Và khi con người đặt mình hoàn toàn thuộc về thánh ý Chúa, thì đó chính là lúc con người được tự do hoàn toàn. Thật điên rồ khi nghĩ rằng tự do hoàn toàn là ‘muốn gì làm nấy’. Bởi kinh nghiệm của hai con người đầu tiên cho thấy rõ: Muốn gì làm nấy, bất chấp ý Chúa, thì đó không chỉ là chống lại Thiên Chúa mà còn là chống lại chính mình. Điều mà người ta nhận được không phải là tự do, hạnh phúc, bình an, nhưng là nỗi xấu hổ vì thấy mình ‘trần truồng’!

Đùa dại với tự do thì nguy hiểm thế đó. Rất may, Chúa thấy chúng ta xấu hổ, khổ sở vì lỡ dại nướng hết vốn liếng tự do của mình vào canh bạc bịp của Satan, Ngài không đành nhìn chúng ta trong thảm cảnh, Ngài quyết định giải thoát chúng ta, để chúng ta lại được tự do lần nữa!

Sự giải thoát ấy, ơn cứu độ ấy, được thực hiện bởi cái chết Thập giá và sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô. Người hoàn toàn vô tội, nhưng chịu đóng đinh trần truồng xấu hổ trên Thập giá, vì Người muốn mang lấy hết tội lỗi và cả sự ‘xấu hổ vì trần truồng’ của chúng ta. Tình yêu cứu độ của Chúa kỳ diệu biết bao, đến nỗi Giáo hội thốt lên một cách nghịch lý mà hợp lý: “Ôi, tội Ađam thật là cần! Ôi tội hồng phúc! (felix culpa)”…

Nhìn lên cây Thập giá với Đấng Chịu Đóng Đinh treo trần truồng trên đó, chúng ta sẽ mở mắt ra và nhận hiểu thế nào là dữ và thế nào là lành, thế nào là tự do điên rồ và thế nào là tự do chân thực.

Lm. Lê Công Đức


Đức Thánh Cha Tại Sanremo: Âm Nhạc Là Công Cụ Hòa Bình, Chiến Tranh Hủy Hoại Trẻ Em

Trong một sứ điệp video gửi đến Liên hoan Âm nhạc Sanremo, Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh rằng “âm nhạc có thể giúp các dân tộc chung sống hòa bình”. Ngài cũng nhắc đến Ngày Thế giới Trẻ em và hướng suy nghĩ đến nhiều trẻ nhỏ đang “khóc than và đau khổ vì bao bất công trên thế giới”. Đức Thánh Cha bày tỏ mong muốn “nhìn thấy những người từng thù ghét nhau nay nắm tay nhau, ôm lấy nhau và nói với nhau qua cuộc sống, âm nhạc và tiếng hát: Hòa bình là điều có thể!”

Qua một video được ghi lại tại Nhà Thánh Marta, không nằm trong chương trình dự kiến, Đức Thánh Cha Phanxicô đã kết nối với khán giả của lễ hội âm nhạc nổi tiếng của Ý lần thứ 75 để nhắc nhở về tầm quan trọng của âm nhạc và thông điệp mà nó có thể mang lại.

Trong video Đức Thánh Cha nói: “Âm nhạc là vẻ đẹp, âm nhạc là công cụ hòa bình. Đó là ngôn ngữ mà mọi dân tộc, theo cách riêng của mình, đều nói và chạm đến trái tim của mọi người. Âm nhạc có thể giúp các dân tộc chung sống hòa bình”.

Nhắc đến Ngày Thế giới Trẻ em

Đức Thánh Cha đã chia sẻ một kỷ niệm cá nhân về mẹ của ngài, bà Regina Maria, người “đã kể và giải thích cho tôi một số đoạn nhạc kịch, giúp tôi hiểu về ý nghĩa của sự hài hòa và những thông điệp mà âm nhạc có thể mang lại”. Một kỷ niệm khác, được ngài “giữ trong tim”, là Ngày Thế giới Trẻ em được tổ chức vào tháng 5/2024 tại Sân vận động Olympic ở Roma, do chính Carlo Conti dẫn chương trình. Đó là một “khoảnh khắc tuyệt vời”, với sự hiện diện của hàng ngàn trẻ em từ khắp nơi trên thế giới.

Chiến tranh hủy hoại trẻ em

Đức Thánh Cha đã thu hút sự chú ý của nước Ý và thế giới về “nhiều trẻ em không thể hát”: nhiều trẻ em “không thể hát về cuộc sống, và đang khóc than, đau khổ vì bao bất công trên thế giới, vì bao cuộc chiến tranh và xung đột”.

“Chiến tranh hủy hoại trẻ em. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng chiến tranh luôn là một thất bại.”

Mong muốn nhìn thấy những người từng thù ghét nhau nắm tay nhau

Đức Thánh Cha chia sẻ: “Điều tôi mong ước nhất là nhìn thấy những người từng thù ghét nhau nay nắm tay nhau, ôm lấy nhau và nói với nhau qua cuộc sống, âm nhạc và tiếng hát: Hòa bình là điều có thể!”. Ngài nói: “Hôm nay, bạn đang làm điều đó và đang nói lên điều đó thông qua âm nhạc”.

Cố gắng xây dựng một thế giới công bằng và huynh đệ hơn

Đức Thánh Cha gởi lời chào đến “tất cả những người đang kết nối, đặc biệt là những người đang đau khổ” và bày tỏ hy vọng rằng “âm nhạc hay có thể chạm đến trái tim của mọi người”.

“Âm nhạc có thể mở rộng con tim đến sự hài hòa, niềm vui của sự đoàn kết, với một ngôn ngữ chung và thấu hiểu, giúp chúng ta cố gắng xây dựng một thế giới công bằng và huynh đệ hơn”.

Lời cảm ơn của Carlo Conti

Những lời của Đức Thánh Cha đã được đón nhận bằng một tràng pháo tay vang dội từ sân khấu đến khán giả và mọi người đứng dậy. Người dẫn chương trình Carlo Conti đã giới thiệu về đoạn video bất ngờ này và giải thích rằng ông đã viết thư cho Đức Thánh Cha để thông báo về “khoảnh khắc dành cho hòa bình”, với bài song ca của Noa và Mira Awad. Người dẫn chương trình đã chia sẻ: “Đức Thánh Cha là một người luôn ở trong trái tim của tất cả chúng ta và thường lên tiếng, kêu gọi thế giới hướng đến hòa bình. Tôi đã viết thư xin ngài gởi một thông điệp để giới thiệu khoảnh khắc này, và ngài đã làm nhiều hơn thế…”. Ông đã hai lần lặp lại “cảm ơn Đức Thánh Cha” khi đoạn video kết thúc.

Nguồn: Vatican News


Không Biên Giới! (13.02.2025 Thứ Năm Tuần V Thường Niên)

Mệt nhọc, lên thuyền đi nghỉ chút nơi thanh vắng, Thầy trò vẫn bị đám đông đón đầu… Còn ở đây, vùng dân ngoại, Chúa Giêsu muốn kín đáo ở yên một chút, mà người phụ nữ Phênixi kia cũng nhận ra, đến xin Người cứu chữa đứa con gái bị quỉ ám của mình!… Chúa Giêsu rất kinh nghiệm về tình trạng thường xuyên bị xáo trộn chương trình, kế hoạch riêng của mình, vì phải ưu tiên đáp ứng nhu cầu của bao con người thống khổ xung quanh…

Nhưng ta sẽ ngạc nhiên đây, khi nghe Người nói với người phụ nữ: “Hãy để con cái ăn no trước đã, vì không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó”. Ủa, sao kỳ vậy, việc Chúa làm phép lạ bị giới hạn theo ‘quota’ hay sao? Hay Chúa có sự phân biệt đối xử? Nhất là, tại sao Chúa dùng hình ảnh ‘con cái’ và ‘chó’ để nói sự khác biệt giữa dân Israel và dân ngoại? Chi tiết cuối cùng này thật dễ gây tổn thương, và xem ra mang hơi hướng ‘dân tộc chủ nghĩa cực đoan’ như ta thường thấy nơi nhiều chính khách hôm nay!…

Quả thật, đây là chi tiết không dễ hiểu, và gây căng thẳng cả cho chúng ta ngày nay, chứ không chỉ cho người phụ nữ ngoại giáo tội nghiệp ngày đó… THẾ NHƯNG, điều xảy ra và ta ngạc nhiên thấy rõ là: Chị ấy rất điềm nhiên, chẳng bức xúc gì, chỉ quan tâm một điều là xin ơn chữa lành cho con gái mình. “Thưa Thầy, đúng thế, nhưng các chó con cũng được ăn những mụn rơi dưới bàn ăn của con cái”. Và Chúa đã ‘bị’ chinh phục bởi lòng tin mạnh mẽ đó, Người đã chữa lành con gái của chị ấy. Chúng ta thở phào…

Thì ra, chẳng có ‘giới hạn quota’ nào cả. Cũng không có kỳ thị và phân biệt đối xử ở đây. Chỉ có tình thương của Đấng Cứu Độ và lòng tin tưởng không nao núng của con người khốn khổ! Trong phim Jesus, người viết kịch bản đã chú giải chuyện này bằng cách dựng lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Người phụ nữ này đã dạy cho Thầy rõ sứ mạng của Thầy không biên giới; anh em cũng phải học biết điều đó!”

Tình thương cứu độ của Chúa là vô giới hạn. Chỉ còn một việc: chúng ta hãy xin Chúa ban thêm lòng tin và lòng tín thác nơi mình!

Lm. Lê Công Đức


Đức Thánh Cha Gởi Thư Đến Các Giám Mục Hoa Kỳ: Trục Xuất Người Di Cư Làm Tổn Thương Phẩm Giá Con Người

Đức Thánh Cha Phanxicô đã gởi thư đến Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ về “cuộc khủng hoảng” liên quan đến chương trình trục xuất hàng loạt người nhập cư và tị nạn bất hợp pháp. Ngài nhấn mạnh: “Một Nhà nước pháp quyền đích thực được thể hiện qua cách đối xử xứng phẩm giá mà mọi người, đặc biệt là những người nghèo nhất và bị gạt ra bên lề, đáng được hưởng”.

Phản đối từ các Giám mục Hoa Kỳ

Trước đó, Đức Hồng Y Blaise Cupich của Chicago đã lên tiếng phản đối mọi chương trình trục xuất hàng loạt người nhập cư, ngay cả trước khi Tổng thống mới đắc cử Donald Trump tuyên thệ nhậm chức. Tiếp theo, Đức Giám mục Mark Joseph Seitz của El Paso đã nhấn mạnh sự không khoan nhượng đối với mọi hình thức bất công. Cuối cùng, toàn thể Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ đã bày tỏ sự kinh ngạc trước các biện pháp mà nhà lãnh đạo đảng Cộng hòa công bố, bao gồm việc hồi hương hàng triệu người nhập cư bất hợp pháp và quân sự hóa biên giới Hoa Kỳ-Mexico.

Giờ đây, chính Đức Thánh Cha đã lên tiếng về “cuộc khủng hoảng quan trọng đang diễn ra tại Hoa Kỳ do việc khởi động chương trình trục xuất hàng loạt” được chính quyền mới triển khai ngay sau khi Tổng thống nhậm chức. Đức Thánh Cha Phanxicô, đang theo dõi sát sao cuộc khủng hoảng này, đã gởi thư đến các Giám mục Hoa Kỳ để bày tỏ sự gần gũi và hỗ trợ trong những “thời điểm nhạy cảm” mà họ đang trải qua với tư cách là những mục tử đồng hành cùng dân Chúa, đồng thời lên án một số biện pháp làm tổn thương chính phẩm giá con người. Ngài cảnh báo: “Những gì được xây dựng dựa trên sức mạnh, chứ không phải trên sự thật về phẩm giá bình đẳng của mỗi con người, sẽ khởi đầu tồi tệ và kết thúc tồi tệ.”

Tổn thương phẩm giá con người

Trong bức thư được chia thành 10 điểm, Đức Thánh Cha viết: “Hành động trục xuất những người trong nhiều trường hợp đã rời bỏ quê hương vì nghèo đói cùng cực, bất an, bóc lột, bức hại hoặc môi trường sống bị suy thoái nghiêm trọng, làm tổn thương phẩm giá của nhiều người nam nữ, của cả gia đình, và đặt họ vào tình trạng đặc biệt dễ bị tổn thương và không được bảo vệ”. Bức thư được công bố bằng tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha, chỉ hơn hai tuần sau khi Nhà Trắng đăng tải trên tài khoản X những bức ảnh về một nhóm người di cư bị xích tay và dẫn lên máy bay quân sự để hồi hương.

Quyền bảo vệ cộng đồng

Trong thư, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng “lương tâm ngay thẳng không thể không bày tỏ sự phán xét có phê bình và bày tỏ sự bất đồng với bất kỳ biện pháp nào, dù ngầm hiểu hay công khai, đồng nhất tình trạng bất hợp pháp của một số người di cư với tội phạm”. Tuy nhiên, ngài cũng nhắc lại sự cần thiết phải công nhận “quyền của một quốc gia trong việc bảo vệ chính mình và giữ an toàn cho cộng đồng khỏi những người đã phạm các tội ác bạo lực hoặc nghiêm trọng khi ở trong nước hoặc trước khi đến đó”. Nhưng hành động trục xuất vẫn là một vết thương đối với nhân phẩm, là phẩm giá “vô hạn và siêu việt” được ban tặng bởi “Thiên Chúa gần gũi, nhập thể, di cư và trốn chạy”. Đức Thánh Cha trích dẫn lời của Đức Giáo Hoàng Piô XII trong Tông hiến về việc trợ giúp người di cư, được coi là “Hiến chương Magna Carta về tư tưởng của Giáo hội đối với vấn đề di cư”: “Thánh Gia Nazareth trong cảnh lưu đày, Chúa Giêsu, Đức Maria và Thánh Giuse, di cư sang Ai Cập và tị nạn tại đó để trốn tránh cơn thịnh nộ của một vị vua bất chính, là mẫu gương, là niềm an ủi cho những người di cư và lữ hành thuộc mọi thời đại và quốc gia, cho mọi người tị nạn trong bất kỳ hoàn cảnh nào, những người bị bức hại hoặc vì hoàn cảnh khó khăn buộc phải rời bỏ quê hương, gia đình thân yêu và bạn bè để đến một vùng đất xa lạ”.

Đối xử xứng đáng với mọi người

Đức Thánh Cha khẳng định rằng đây không phải là vấn đề thứ yếu: “Một Nhà nước pháp quyền đích thực được thể hiện qua cách đối xử xứng phẩm giá mà mọi người, đặc biệt là những người nghèo nhất và bị gạt ra bên lề, đáng được hưởng”. Ngài viết: “Lợi ích chung đích thực được thúc đẩy khi xã hội và chính phủ, với sự sáng tạo và tôn trọng nghiêm ngặt quyền lợi của mọi người – như tôi đã nói trong nhiều dịp – đón nhận, bảo vệ, thăng tiến và hội nhập những người yếu đuối, không được bảo vệ và dễ bị tổn thương nhất”. Điều này không ngăn cản việc thúc đẩy “một chính sách điều chỉnh việc di cư có trật tự và hợp pháp”, miễn là nó không được xây dựng “thông qua đặc quyền của một số người và sự hy sinh của những người khác”.

Nhìn nhận các quy định dưới ánh sáng nhân quyền

Đức Thánh Cha nhắc nhở các Giám mục rằng Chúa Giêsu Kitô dạy chúng ta về “sự nhận thức vĩnh viễn” về phẩm giá của mỗi con người: “Không ai bị loại trừ”. Do đó, Ngài nhấn mạnh, “tất cả các Kitô hữu và những người thiện chí được kêu gọi nhìn nhận tính hợp pháp của các quy định và chính sách công dưới ánh sáng của nhân phẩm và các quyền cơ bản của con người, chứ không phải ngược lại”. Hơn nữa, các Kitô hữu biết rõ rằng “chỉ bằng cách khẳng định phẩm giá vô hạn của mọi người, căn tính của chúng ta như những cá nhân và cộng đồng mới có thể trưởng thành”. “Con người không đơn thuần là một cá nhân, với một vài cảm xúc nhân đạo! Con người là một chủ thể có phẩm giá, thông qua mối quan hệ cấu thành với tất cả mọi người, đặc biệt là những người nghèo nhất, có thể dần dần trưởng thành trong căn tính và ơn gọi của mình”.

Ordo amoris

Trong thư, Đức Thánh Cha cũng đề cập đến nguyên tắc “ordo amoris” (trật tự của tình yêu) được phát triển trong thần học của Thánh Augustine, khẳng định rằng mọi người và mọi thứ nên được yêu thương theo cách thích hợp. Khái niệm này gần đây đã được Phó Tổng thống JD Vance nhắc đến để biện minh cho các biện pháp chống nhập cư bất hợp pháp tại Hoa Kỳ. Đức Thánh Cha viết: “Trật tự của tình yêu đích thực cần được thúc đẩy là trật tự mà chúng ta khám phá khi suy ngẫm liên tục dụ ngôn ‘Người Samaria nhân hậu’, tức là suy ngẫm về tình yêu xây dựng một tình huynh đệ mở ra cho tất cả mọi người, không loại trừ ai”. Đức Thánh Cha kết luận: “Quan tâm đến căn tính cá nhân, cộng đồng hoặc quốc gia mà bỏ qua những cân nhắc này sẽ dễ dẫn đến một tiêu chuẩn ý thức hệ làm méo mó đời sống xã hội và áp đặt ý chí của kẻ mạnh như một tiêu chuẩn của sự thật”.

Nói không với những câu chuyện phân biệt và gây đau khổ

Đức Thánh Cha bày tỏ sự gần gũi với các anh em Giám mục ở Hoa Kỳ, ghi nhận “những nỗ lực quý báu” của họ trong việc dấn thân “gần gũi” với người di cư và tị nạn, cũng như bảo vệ quyền con người. Ngài khẳng định: “Thiên Chúa sẽ ban thưởng dồi dào cho tất cả những gì anh làm để bảo vệ và che chở những người bị coi là ít giá trị, ít quan trọng hoặc ít phẩm giá hơn!” Trong phần cuối thư, Đức Thánh Cha kêu gọi tất cả tín hữu Công giáo và mọi người thiện chí “không nhượng bộ trước những câu chuyện phân biệt và gây đau khổ không cần thiết cho anh chị em di cư và tị nạn của chúng ta”. Ngài nói: “Với lòng bác ái và sự rõ ràng, tất cả chúng ta được kêu gọi sống trong tình liên đới và huynh đệ, xây dựng những cây cầu đưa chúng ta đến gần nhau hơn, tránh xa những bức tường ô nhục, và học cách hiến dâng cuộc đời mình như Chúa Giêsu Kitô đã hiến dâng, vì ơn cứu độ của tất cả mọi người”.

Lời cầu nguyện với Đức Trinh Nữ Guadalupe

Cuối cùng, Đức Thánh Cha dâng lời cầu nguyện với Đức Trinh Nữ Maria Guadalupe, Đấng bảo trợ Mexico, xin Mẹ “bảo vệ những người và gia đình đang sống trong sợ hãi hoặc đau khổ vì di cư và/hoặc trục xuất”. Ngài cầu nguyện rằng xin “Morenita” (tên gọi thân mật của Đức Mẹ Guadalupe) giúp mọi người “tiến thêm một bước trong việc xây dựng một xã hội huynh đệ hơn, bao dung hơn và tôn trọng phẩm giá của tất cả mọi người”.

Nguồn. Vatican News


Cây Biết Lành Biết Dữ!  (12.02.2025 Thứ Tư Tuần V Thường Niên)

Thuở ấy, buổi ban đầu, Vườn Địa Đàng đầy hoa thơm trái ngọt. Đặc biệt, giữa vườn có hai cây, là ‘cây sự sống’ và ‘cây biết lành biết dữ’. Mọi kịch tính cũng đến từ hai cây này…

Tại sao hai cây? Là để chọn lựa, ăn trái cây nào… Bởi Chúa đã nói rõ, cây này được ăn, cây kia thì không. Hai cây này mời gọi TỰ DO của con người. Vì Chúa bảo, Chúa gợi ý, nhưng Chúa đã ban tự do thì Chúa để con người tự do quyết định, chứ không ép buộc.

Cây sự sống được mời chào… như bao nhiêu cây trái thơm lành khác, ăn vào sẽ sống. Còn cây ‘biết lành biết dữ’ đứng đó giữa vườn dường như để thử thách. Nó không được mời chào, mà trái lại nó được cảnh báo: Đừng ăn, vì ăn vào sẽ chết! Nó là ‘cây sự chết’.

Cái tên ‘cây biết lành biết dữ’ thật vô cùng hàm súc. Cái tên này chất chứa tất cả nền tảng sâu xa nhất của luân lý và linh đạo Do thái-Kitô giáo. Chỉ Thiên Chúa mới biết, hay quyết định, điều gì lành, điều gì dữ, điều gì tốt, điều gì xấu. Nói thật đúng, Chúa muốn điều gì, thì đó là điều tốt, và ngược lại.

Nghĩa là, không phải vì một điều gì đó tốt, nên Chúa muốn. Mà vì Chúa muốn, nên nó tốt! Phân định tốt xấu, vì thế, chính là phân định xem ý Chúa muốn gì. Cây biết lành biết dữ là thử thách, theo nghĩa là cám dỗ. Con người muốn tự mình quyết định tốt xấu, đó là muốn tiếm quyền của Thiên Chúa, muốn tự do khỏi ý muốn của Thiên Chúa, muốn bằng Thiên Chúa. Con rắn đã dụ dỗ con người theo hướng này, và con người đã bị lừa, ăn trái cây ‘biết lành biết dữ’!

Tội nào chúng ta phạm cũng ở trong lốt cái tốt. Chúng ta ích kỷ vì nghĩ nó tốt, tham lam vì nghĩ nó tốt, ghét ghen, oán hận, kiêu căng, lăng loàn, vân vân… vì nghĩ nó tốt – ít là tốt cho mình vào lúc đó. Nhưng Chúa không muốn những điều đó, nên chúng xấu. Ngay cả những gì có vẻ tốt, hoặc ta chân thành nghĩ là tốt, mà Chúa không muốn và Chúa đề nghị một điều khác, thì điều tưởng là tốt kia cũng trở thành xấu rồi! Một ví dụ, Giuse nghĩ rằng bỏ Maria cách kín đáo là một chọn lựa tốt, nhưng Chúa muốn Giuse đón Maria về chung sống, vì thế Giuse đã gạt ý mình đi, và làm theo điều Chúa mách bảo!

Việc phân định để nhận ra ý Chúa thật quan trọng biết bao!

Lm. Lê Công Đức


Dân Này Sùng Kính Ta Ngoài Môi Miệng (11.02.2025 Thứ Ba Tuần V Thường Niên)

Rình. Phát hiện lỗi. Chỉ trích… Đó là lối của những người ‘biệt phái’, tức phái đạo đức đặc biệt. Có vẻ họ cảm thấy thú vị mỗi khi bắt được lỗi nào đó nơi người khác… Còn các môn đệ Chúa Giêsu – và chính Người – thì luôn bị rình, cũng thường bị bắt lỗi, nhất là lỗi luật ngày Sa-bát, và do đó thường bị chỉ trích…

Lần này, bị bắt bẻ vì vài môn đệ đã không rửa tay (như một nghi thức tôn giáo) trước khi dùng bữa, Chúa Giêsu rất đỗi phiền lòng – không phải do bị bắt bẻ, mà do thấy rõ tình trạng đạo đức giả nơi những người bắt bẻ. Đạo đức giả, hay giả hình, thì không tốt chút nào. Bởi bản chất của nó là giả dối, không thật, không trung thực. Nó làm tổn hại phẩm giá con người là hình ảnh của Thiên Chúa, Đấng hoàn toàn chân thực và nơi Ngài chỉ có sự thật!

Giả hình, hay đạo đức giả, cũng là trò lừa người ta, và lừa cả Thiên Chúa, mà đây là điều không thể được! Như có người nói: Bạn có thể lừa mọi người trong một thời gian, và lừa một số người mãi mãi, nhưng bạn không thể nào lừa được mãi mãi tất cả mọi người. Còn lừa Thiên Chúa ư? Đó bao giờ cũng ngớ ngẩn như trò trẻ con thôi! Điều quan trọng, đừng quên rằng giả dối, lừa gạt do Satan sinh ra – chính Satan là cha đẻ. Do đó, mọi sự giả dối, lừa gạt đều là con đường huỷ diệt, con đường chết.

Phiền lòng lắm, nên Chúa Giêsu nhắc nhở: “Hỡi bọn giả hình, Isaia thật đã nói tiên tri rất chí lý về các ngươi, như lời chép rằng: ‘Dân này kính Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng chúng ở xa Ta. Nó sùng kính Ta cách giả dối, bởi vì nó dạy những giáo lý và những luật lệ loài người’”.

Chúng ta có kính Chúa ngoài môi miệng mà lòng mình thì rất xa Chúa không?

Lm. Lê Công Đức