HÃY TRỞ VỀ TRONG VÒNG TAY ĐẦY THƯƠNG XÓT CỦA CHA – Lm. Lê Công Đức
Thiên Chúa là Cha thật tốt lành; hãy trở về giao hoà với Ngài! Đây là thông điệp của Phụng vụ Lời Chúa CN 4C Mùa Chay.
Thiên Chúa tốt lành ấy, sau khi dẫn dắt dân qua hành trình những năm tháng sa mạc, đã đưa họ vào Đất Hứa. Dân không còn phải ăn tạm loại thức ăn độ đường là manna nữa, mà bắt đầu thưởng thức các thổ sản của địa phương (x. Gs 5,9a.10-12). Như vậy là đã ‘đi tới nơi, về tới chốn’. Chúa cho thấy Ngài trung thành làm đúng lời Ngài hứa, cho dẫu đoàn dân ấy đã không luôn luôn trung thành với Ngài.
Nhận thức được sự thật ấy, tác giả Thánh vịnh 33 kêu lên: “Các bạn hãy nếm thử và hãy nhìn coi, cho biết Chúa tốt lành biết mấy!” (x. Đáp ca). Vâng, Thiên Chúa của Israel và của chúng ta là Thiên Chúa tốt lành vô cùng. Ta tin Ngài hiện hữu, và tin Ngài là Thiên Chúa độc nhất, toàn năng, siêu việt, vân vân… thì vẫn chưa đủ. Bởi Ngài còn là Thiên Chúa TỐT LÀNH vô hạn nữa! Và bởi vì nếu Thiên Chúa không tốt lành đến thế, thì sẽ là… thảm hoạ cho chúng ta biết bao!
Chúa Giêsu mặc khải Thiên Chúa tốt lành là Cha của Người, cũng là Cha của chúng ta. Sự tốt lành ấy của Thiên Chúa đối với chúng ta được Chúa Giêsu diễn tả cách kết đọng là LÒNG THƯƠNG XÓT – và đây là cốt lõi của toàn bộ Tin Mừng mà Chúa Giêsu không chỉ rao giảng mà còn minh chứng bằng hành động của Người. Dụ ngôn về người cha đầy lòng thương xót vui mừng đón nhận đứa con thứ đi hoang trở về, cũng như ân cần giúp hoán cải đứa con trưởng vốn cũng ‘đi hoang’ theo cách của anh, là một trong những trang đẹp nhất và cảm động nhất của Phúc Âm (x. Lc 15,1-3.11-32). Danh của Thiên Chúa là Lòng Thương Xót. Không có gì nơi Thiên Chúa mà không phải là Lòng Thương Xót. Chính Lòng Thương Xót của Thiên Chúa làm cho sứ điệp Kitô giáo được gọi là ‘Tin Mừng’!
Toàn bộ mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô, với đỉnh cao là cái chết Thập giá và sự sống lại của Người, là diễn tả tột đỉnh lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúa thương xót chúng ta, Ngài muốn chúng ta trở về giao hoà với Ngài – đây là lời kêu gọi đầy thúc bách của thánh Phaolô. “Vì Ðức Kitô, chúng tôi van nài anh em hãy giao hoà với Thiên Chúa. Ðấng không hề biết tội, thì Thiên Chúa làm nên thân tội vì chúng ta, để trong Người, chúng ta trở nên sự công chính của Thiên Chúa” (x. 2Cr 5,17-21).
Đã trôi qua ngót nửa thời gian Mùa Chay, chúng ta đến gần hơn với việc cử hành cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu – cũng chính là cử hành sự tốt lành/ lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúa là Người Cha luôn thương xót chúng ta, và Ngài không mong ngóng gì hơn là chúng ta tin tưởng đứng lên, ra khỏi tình trạng ‘đi hoang’ của mình, để trở về trong vòng tay yêu thương của Ngài.
TÌNH YÊU CỦA NGƯỜI CHA – Maria Kim Mỹ
Chúa Nhật IV Mùa Chay mời gọi chúng ta cùng chiêm ngưỡng hình ảnh “người cha nhân hậu” để chúng ta cảm nghiệm được tình yêu thương và lòng thương xót của người cha dành cho hai người con: người con cả và người con thứ. Đồng thời, chúng ta cũng nhận ra chính mình đang là ai trong hai người con. Qua đó, ta cảm nhận được rằng, ta cần đến tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc đời.
Theo công bằng của xã hội thường thưởng cho người có công và luận phạt kẻ có tội nhưng sự công bằng của Thiên Chúa được đo bằng tình yêu. Trước sự sai trái của người con thứ bỏ nhà ra đi thay vì Chúa luận phạt thì hành động của Chúa thật lạ lùng “hãy mở tiệc ăn mừng, vì con ta đây đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy”. Thành công đích thực của cuộc trở về không chỉ dừng lại ở việc nhận ra mình mà là nhận ra tình yêu của Chúa vẫn chờ đợi ta. Tất cả những gì người con thứ mất, đó là tiền bạc, bạn bè, danh tiếng, tự trọng, niềm vui hay an bình nội tâm, tất cả những điều đó không quan trọng, điều chính yếu là anh luôn luôn vẫn là con của cha mình. Và vì thế, anh tự nhủ: “Biết bao người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa…thôi ta đứng lên đi về cùng cha…” (Lc ). Như thế, Chúa không cần một tấm lòng trong sạch trước khi ôm lấy chúng ta nhưng Chúa chỉ cần ta trở về trong tình yêu của Chúa.
Hình ảnh nhân hậu của người Cha được thể hiện bằng hành động rất cụ thể. Sau hành động người con hoang đàng bỏ đi, ngày ngày người cha vẫn miệt mài kiên nhẫn chờ đợi. Trong lòng người cha tình yêu được thay thế bằng sự giận dữ. Đây cũng là hình ảnh của một vị Thiên Chúa giàu lòng thương xót dẫu rằng chúng ta hết lần này lượt khác đi lạc và thậm chí là phản bội, Ngài vẫn chờ chỉ cần ta quay lại.
Vậy tôi có đang là con thứ không? Có thể chúng ta không bỏ nhà ra đi đến nơi chân trời xa xôi nhưng chính khi chúng ta giận dữ, thù oán dai dẳng, hận thù, ghen tương, thèm muốn, tham lam, chống đối, ganh đua là những dấu hiệu hiển nhiên tôi đang bỏ nhà ra đi. Vì thế, chúng ta cùng cầu xin Chúa cho mỗi người chúng ta nhận ra giới hạn, yếu đuối và tội lỗi của bản thân để chúng ta khiêm tốn chạy đến bên Chúa để xin Ngài trợ giúp và thêm sức cho chúng ta chống trả lại cơn cám dỗ trong cuộc đời. Đặc biệt, chúng ta cảm nhận được “chúng ta là người con yêu dấu của Chúa” để chúng ta sống xứng đáng với từng khoảnh khắc mà Chúa ban tặng.
Lạy Chúa, con xin dừng lại những đam mê của con để đam mê mình Ngài, con xin mở ra cõi lòng mình để mở ra với tha nhân, con xin trở về với Chúa để trở về cùng đích của đời con là chính Ngài. Amen.
“Ta muốn tình yêu, chứ không muốn hy lễ!”
Lời này trong sách Hôsê thật quá rõ ràng, dứt khoát, trong xác định Chúa muốn gì nơi dân của Ngài. Hôm qua, ta thấy vấn đề ‘tà thần’ lớn biết bao, cả ngày xưa lẫn trong thời hiện đại. Hôm nay, lời Chúa đặc biệt lưu ý chúng ta về CÁCH tôn thờ Thiên Chúa. Bỏ mọi tà thần, quay về với Chúa, ừ, nhưng nếu tôn thờ Chúa chủ yếu bằng cách sì sụp bái lạy và dâng các thứ lễ vật hay tiền bạc mà thôi, thì Chúa vẫn phiền lòng…
Vì đó không phải là cách tôn thờ mà Chúa muốn! “Ta muốn tình yêu, chứ không muốn hy lễ”. Chúa đòi chúng ta dâng Chúa trọn tấm lòng cơ. Và chỉ cần dâng trọn tấm lòng, nghĩa là dâng hiến chính con người và đời sống mình, là đủ! (xem chủ đề Sứ điệp của Đức thánh cha Phanxicô cho Ngày Ơn Gọi 2025). Vâng, Chúa muốn tình yêu nơi ta, và đó là yêu mến Chúa “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức”… Đó cũng là “yêu tha nhân như chính mình”. Chúa Giêsu còn đẩy mạnh tới mức dạy chúng ta “yêu thương nhau như Thầy yêu anh em”!…
Chúa cần một tấm lòng, ngay cả dù tấm lòng ấy của chúng ta rách nát tả tơi vì tội lỗi, như người thu thuế trong dụ ngôn của Chúa Giêsu. Anh lên Đền thờ, không dám bước ra đứng giữa, không dám ngước mặt lên, không có gì để dâng Chúa. Anh chỉ có tấm lòng thống hối chân thành về tội lỗi mình: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi!”… Còn người biệt phái thì rất hãnh thắng, tự tin, tự mãn, vì ông ta có quá nhiều công trạng, nhiều việc ‘đạo đức’ để dâng Chúa… Nhưng Chúa buồn ông, vì ông không có tấm lòng với Chúa và với người khác!
Nhìn người biệt phái, bạn thấy ông ấy có tội nghiệp không? Ông ‘chắc cú’ rằng mình đạo đức, rằng mình rất đẹp lòng Chúa, rằng mình tốt lành hơn bao người khác (nhất là tên thu thuế đứng dúm dó dưới góc kia!)… Thế nhưng ông không ngờ là trước con mắt của Chúa, những điều ông tin chắc ấy đều sai bét, chẳng đúng tí nào cả! Thật là ngớ ngẩn đến tội nghiệp…
Thiết tưởng cần nhắc lại ở đây: Một vị thánh là một vị thánh cho tới khi vị ấy biết mình là một vị thánh! Và không một vị thánh nào nghĩ mình tốt hơn người khác, tất cả các thánh đều nghĩ người khác tốt hơn mình!
Một tấm lòng chân thành và khiêm cung sâu thẳm như thế chính là tấm lòng mà Chúa ưa thích. Chúng ta hãy xin Chúa uốn nắn lòng chúng ta, để trở nên có khả năng yêu thương nhiều hơn – vì Chúa muốn tình yêu, chứ không muốn hy lễ!
Lm. Lê Công Đức
Trong bài giáo lý được dọn sẵn cho buổi Tiếp kiến chung được dự kiến vào thứ Tư ngày 26/3/2025, Đức Thánh Cha suy tư về cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với người phụ nữ xứ Samaria. Ngài nói rằng khi gặp gỡ Chúa Giêsu, gánh nặng của người phụ nữ này được đặt dưới chân Người và không còn là gánh nặng nữa; bà đã được hòa giải. Do đó, chúng ta cũng được mời gọi đi loan báo Tin Mừng, trước tiên bằng cách đặt gánh nặng cuộc đời chúng ta dưới chân Chúa, phó thác cho Người gánh nặng quá khứ của chúng ta.
Dù Đức Thánh Cha đã xuất viện và trở về Vatican vào Chúa Nhật ngày 23/3/2025, Phòng Báo chí Tòa Thánh cho biết rằng thời gian dưỡng bệnh của Đức Thánh Cha tại Nhà Thánh Martha, nơi cư trú của ngài, vẫn tiếp tục “theo các điều khoản do bác sĩ quy định tại thời điểm ngài xuất viện”.
Do đó, các buổi tiếp kiến chung dự kiến diễn ra vào thứ Tư ngày 26/3/2025 và Kinh Truyền tin vào Chúa Nhật sẽ vẫn bị hủy. Tuy thế, Vatican tiếp tục công bố bài giáo lý và huấn dụ đã được Đức Thánh Cha chuẩn bị, như đã làm trong gần sáu tuần ngài nằm viện tại Bệnh viện Gemelli ở Roma.
Trong bài giáo lý tuần này, Đức Thánh Cha chia sẻ cuộc gặp gỡ với người phụ nữ xứ Samaria. Đức Thánh Cha nói rằng gặp gỡ Chúa Giêsu, gánh nặng của người phụ nữ xứ Samaria được đặt dưới chân Chúa Giêsu không còn là gánh nặng nữa; bà đã được hòa giải. Do đó, chúng ta cũng được mời gọi đi loan báo Tin Mừng, trước tiên bằng cách đặt gánh nặng cuộc đời chúng ta dưới chân Chúa, phó thác cho Người gánh nặng quá khứ của chúng ta.
Bài giáo lý của Đức Thánh Cha
Chúa đang chờ đợi chúng ta ở ngã tư cuộc đời
Anh chị em thân mến,
Sau khi suy niệm về cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với ông Nicôđêmô, là người đã tìm gặp Chúa Giêsu, hôm nay chúng ta suy tư về những lúc dường như chính Chúa đang chờ đợi chúng ta, nơi các ngã tư đường đời của chúng ta. Đó là những cuộc gặp gỡ làm chúng ta ngạc nhiên, và thoạt đầu có lẽ cả chúng ta cũng có phần nghi kỵ: chúng ta tìm cách thận trọng và hiểu xem điều gì đang xảy ra.
Đây có lẽ cũng là kinh nghiệm của người phụ nữ xứ Samaria, mà chương thứ tư của Tin Mừng theo thánh Gioan (Xc 4,5-26) nói đến. Bà không chờ được thấy một người đàn ông giữa trưa tại giếng nước, đúng hơn bà hy vọng không gặp ai cả. Thực vậy, bà đến kín nước ở giếng vào một giờ khác thường, khi trời rất nóng. Có lẽ phụ nữ ấy xấu hổ về cuộc đời của mình, có lẽ bà cảm thấy bị xét đoán, bị lên án, không được thông cảm, và vì thế bà tự cô lập, cắt đứt tương quan với mọi người.
Để đi từ Galilea đến miền Giuđa, Chúa Giêsu có thể chọn một con đường khác mà không đi qua miền Samaria. Chọn lựa này có lẽ an ninh hơn, xét vì những quan hệ căng thẳng giữa người Do Thái và người Samaria. Trái lại Chúa muốn đi qua con đường này và dừng lại tại chính giếng nước vào giờ đó! Chúa Giêsu chờ đợi chúng ta và để chúng ta tìm thấy Người chính khi chúng ta nghĩ rằng chẳng còn hy vọng gì đối với chúng ta nữa. Ở Trung Đông thời xưa, giếng nước là nơi gặp gỡ, nhiều khi người ta thu xếp các cuộc hôn nhân tại đó, đó là nơi giao ước, đính hôn. Chúa Giêsu muốn giúp người phụ nữ ấy hiểu nên tìm câu trả lời đích thực cho ước muốn mong được yêu thương của bà.
Chúa Giêsu khát đức tin của người phụ nữ
Đề tài ước muốn là điều cơ bản để hiểu cuộc gặp gỡ này. Chúa Giêsu là người đầu tiên bày tỏ ước muốn: “Xin hãy cho tôi uống!” (v.10). Tuy bắt đầu cuộc đối thoại, Chúa Giêus tỏ cho thấy Người yếu đuối, qua đó Người làm cho người khác cảm thấy thoải mái, để họ không kinh hãi. Tromg Kinh Thánh, cái khát thường là hình ảnh của ước muốn. Nhưng ở đây Chúa Giêsu đang khát, trước tiên là khát cứu độ người phụ nữ ấy. Thánh Augustino đã nói: “Người xin được uống là vì người đang khát đức tin của người phụ nữ ấy” (Omelia 15,11).
Trong khi ông Nicôđêmô đến gặp Chúa Giêsu ban đêm, thì ở đây Chúa Giêsu gặp người phụ nữ xứ Samaria giữa trưa, lúc có ánh sáng nhiều nhất. Thực vậy, đó là một lúc mặc khải. Chúa Giêsu tỏ ra với phụ nữ ấy chính Người như Đức Mêxia và ngoài ra, Người chiếu sáng cuộc đời của bà. Người giúp bà đọc lại cuộc sống của bà một cách mới mẻ, một cuộc đời phức tạp và đau thương: bà đã có 5 đời chồng và hiện bà đang ở với người đàn ông thứ sáu không phải là chồng bà. Con số 6 không phải là tình cờ, nhưng thường chỉ sự bất toàn. Có lẽ đó là một sự ám chỉ tới người chồng thứ 7, người mà sau cùng có thể làm mãn nguyện ước muốn của phụ nữ này mong được yêu thương thực sự. Và người chồng ấy chỉ có thể là Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu có thể đáp ứng ước muốn được yêu thương của người phụ nữ xứ Samaria
Khi nhận thấy rằng Chúa Giêsu biết cuộc đời của bà, bà ta chuyển câu chuyện sang vấn đề tôn giáo gây chia rẽ giữa người Do Thái và Samaria. Điều này nhiều khi cũng xảy ra cho cả chúng ta khi chúng ta cầu nguyện: trong lúc Thiên Chúa đang đánh động cuộc sống chúng ta với các vấn đề, thì chúng ta lại lạc mất trong những suy tư tạo cho chúng ta ảo tưởng môt kinh nguyện thành công. Trong thực tế, chúng ta dựng lên những hàng rào bảo vệ. Nhưng Chúa luôn cao cả hơn, và Người tỏ lộ một mặc khải cao quí hơn cho người phụ nữ Samaria ấy, người mà theo khuôn khổ văn hóa bấy giờ, lẽ ra không được ngỏ lời với bà: Người nói với bà về Chúa Cha, Đấng phải được tôn thờ trong tinh thần và chân lý. Và khi bà ta ngạc nhiên, nêu nhận xét rằng về những điều đó, tốt hơn nên đợi Đức Mêxia, thì Chúa nói với bà: “Chính tôi đây, ngươi đang nói với bà” (v.26). Điều này giống như một sự tỏ tình: Đấng mà bà đang chờ đợi chính là tôi; Người có thể đáp ứng ước muốn được yêu thương của bà
Loan báo Tin Mừng xuất phát từ kinh nghiệm được yêu thương, đón nhận và tha thứ
Khi ấy người phụ nữ chạy đi kêu gọi dân chúng trong làng vì chính từ kinh nghiệm được yêu thương mà xuất phát sứ mạng loan báo. Và lời loan báo nào có thể loan truyền nếu không phải là kinh nghiệm của bà được cảm thông, đón nhận và tha thứ? Đó là một hình ảnh phải làm chúng ta suy tư về việc chúng ta tìm kiếm những cách thức mới để loan báo Tin Mừng.
Đặt gánh nặng cuộc đời dưới chân Chúa
Giống như một người được yêu thương, người phụ nữ xứ Samaria quên vò nước của bà dưới chân Chúa Giêsu. Gánh nặng của vò nước ấy mang trên đầu mỗi khi bà đi về nhà, nhắc nhớ bà về thân phận của bà, cuộc đời sóng gió của bà. Nhưng giờ đây, vò nước được đặt dưới chân Chúa Giêsu. Quá khứ không còn là gánh nặng nữa; bà đã được hòa giải. Và cả chúng ta cũng như thế: để đi loan báo Tin Mừng, trước tiên chúng ta cần đặt gánh nặng cuộc đời chúng ta dưới chân Chúa, phó thác cho Người gánh nặng quá khứ của chúng ta. Chỉ những người được hòa giải mới có thể loan truyền Tin Mừng.
Anh chị em thân mến, chúng ta đừng đánh mất hy vọng! Cho dù cuộc đời chúng ta có vẻ nặng nề, phức tạp, thậm chí có lẽ bị hư hỏng rồi, chúng ta luôn có thể phó thác cho Chúa để bắt đầu lại hành trình của chúng ta. Thiên Chúa thương xót và luôn chờ đợi chúng ta!
Nguồn. Vatican News
Dân Chúa từ thời Xuất hành, rong ruổi trong sa mạc, cho đến thời định cư và sau đó là những giai đoạn lưu đày… có một vấn đề chủ chốt mà Thánh Kinh hay nhắc đến, đó là hay chạy theo tôn thờ tà thần, ngẫu tượng. Việc đúc con bò vàng là một ví dụ… Để uốn nắn sửa dạy họ, Chúa dùng Môsê và các ngôn sứ – như ngôn sứ Hôsê hôm nay – lưu ý họ rằng thần minh của họ không do tay họ làm ra: “Hỡi Ephraim, tượng thần có giúp ích gì cho ngươi không? Chính Ta sẽ nhậm lời và săn sóc ngươi, cho ngươi mọc lên như cây hương nam xinh tươi. Nhờ Ta, ngươi sẽ sinh hoa kết quả”…
Lời Thánh vịnh 80 (Đáp ca) khẳng định Thiên Chúa duy nhất và thúc bách việc qui phục Ngài: “Ta là Chúa, là Thiên Chúa của ngươi, hãy nghe Ta răn bảo!” Có thể thấy, truyền thống niềm tin độc thần là một điểm nổi bật của Do thái giáo. Về sau, Hồi giáo xuất hiện và cũng được xây dựng trên nền tảng độc thần này, như câu tuyên xưng hai vế trên cửa miệng của họ: “Không có Chúa nào khác ngoài Thiên Chúa (Allah); Mohamet là sứ giả của Thiên Chúa”.
Chúa Giêsu, khi trả lời cho người kinh sư hỏi về điều răn trọng nhất, cũng nhấn mạnh rằng Thiên Chúa là Chúa duy nhất, phải yêu mến Ngài hết lòng, hết sức, và yêu tha nhân như chính mình. Để ý, Thiên Chúa độc nhất và tối cao là nội dung của lời tuyên xưng, của đức tin; còn ‘điều răn’ trọng nhất gắn theo đó là ‘yêu mến’! Bởi vì vị Thiên Chúa độc nhất ấy là Tình Yêu! Cũng hãy để ý, Chúa dạy ta yêu mến Chúa ‘hết lòng, hết trí khôn, hết sức mình’, nghĩa là với một trái tim không chia sẻ.
Ngày nay, nhiều người có thể lầm tưởng rằng chúng ta, các Kitô hữu, không còn vấn đề tôn thờ tà thần và ngẫu tượng nữa, vì chúng ta đâu có đặt thần nào khác lên bàn thờ! Rõ ràng không phải thế, vì thực tế ta tôn thờ tà thần /ngẫu tượng rất nhiều đó. Bất cứ gì lôi kéo chúng ta chạy theo, đến nỗi quay lưng lại với Thiên Chúa, thì đó đều là những tà thần và những ngẫu tượng – dù ta không lập bàn thờ hữu hình và không sì sụp bái lạy. Tiền bạc, của cải, dục vọng, đam mê, hư danh, quyền lực, vân vân… đều có thể là tà thần của tôi, trong mức độ tôi dành trọn hay chia sẻ lòng mình cho chúng. Nghĩa là chúng lật đổ hoặc cạnh tranh với Thiên Chúa trong lòng tôi!
Chúng ta phải cảnh giác, vì xem ra không thời nào có nhiều tà thần hấp dẫn như thời này!
Lm. Lê Công Đức
Dân hư hỏng, trôi lạc xa đường lối Chúa… Chúa dùng ngôn sứ Giêremia để tha thiết kêu gọi dân trở về… Nhưng họ cứng đầu cứng cổ, không nghe… Đó là nỗi phiền lòng của Chúa và là bi kịch cho họ.
Thánh vịnh 94 nhắc lại kinh nghiệm cứng cỏi của dân Chúa trong sa mạc, và lại vang lên tiếng kêu khắc khoải của chính Chúa: “Ngày hôm nay, đừng cứng lòng như ở Mêriba, như hôm ở Massa trong khu rừng vắng, nơi mà cha ông các ngươi đã thử thách Ta, họ đã thử Ta mặc dầu đã thấy công cuộc của Ta”… Mối tương quan giữa Chúa với dân Chúa trong dòng lịch sử xem ra không êm ả mà đầy sóng gió. Vấn đề chính yếu về phía dân này là cứng cỏi, không chịu mở tai, mở mắt, mở lòng ra trước Chúa!
Chúa Giêsu đến. Người là sự hiện diện bằng xương bằng thịt của Thiên Chúa ở giữa dân Ngài. Và chính Chúa Giêsu phải phiền lòng khi đứng trước thái độ cứng cỏi của những người Do thái đương thời. Người rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa và minh họa bằng nhiều việc thi ân giáng phúc cho họ, nhất là chữa bệnh và trừ quỉ. Nhưng họ không tin. Thậm chí họ tìm cách giải thích rằng Giêsu nhờ quyền của tướng quỉ mà trừ quỉ! Thế đấy, khi muốn từ chối thì tất cả điều người ta cần là một lý do, ngay cả một lý do được tưởng tượng ra…
Đây chính là bối cảnh của lời Chúa Giêsu tuyên bố: “Ai không thuận với Ta là nghịch cùng Ta, và ai không thu góp với Ta là phân tán”. Khi Chúa không còn ở trên cao, xa xăm, vô hình… mà đã đến, đứng trước mặt chúng ta một cách hữu hình, cụ thể, và đã ngỏ lời bằng ngôn ngữ của chúng ta, đã hành động yêu thương cách hoàn toàn khả giác đối với kinh nghiệm của chúng ta, thì ta không còn chọn thái độ trung lập được nữa. Một là ủng hộ Giêsu, hai là chống lại Giêsu – chúng ta phải chọn dứt khoát thôi!
Người Do thái, nhất là giới lãnh đạo và tầng lớp ưu tú của họ, đã chọn chống lại Chúa Giêsu. Vì thế cuộc Khổ Nạn và cái chết Thập giá đã xảy ra. Sự mù quáng và cứng cỏi của con người có thể lên đến mức đó… Bạn hãy tưởng tượng nỗi phiền lòng và đau khổ của Chúa Giêsu chịu đóng đinh và treo lên trên cây gỗ ấy!
Và hãy đưa ra quyết định, hãy làm sự chọn lựa của mình: ủng hộ hay chống lại Giêsu? Đừng quên, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục chịu đóng đinh và treo lên xung quanh chúng ta hôm nay, nơi những người bị ngược đãi và bị loại trừ chỉ vì họ là những người tốt và tử tế!…
Lm. Lê Công Đức
Môsê là khuôn mặt biểu tượng cho Lề Luật, được cô đọng trong Thập Giới. Đây thực sự là sự khôn ngoan sáng suốt được ban cho dân Chúa, và do đó, là một niềm tự hào chính đáng của dân tộc này. Không phải ngẫu nhiên mà Ngũ Giới căn bản của Phật giáo và 10 giáo huấn luân lý nền tảng trong Kinh Coran của Hồi giáo có rất nhiều điều trùng hợp với Thập Giới của Do thái-Kitô giáo.
Chúng ta ghi nhận, Thập Giới không chỉ là những giới cấm (không được thế này, không được thế nọ), mà còn bao hàm những thái độ tương quan và những hành động tích cực nữa, cả đối với Thiên Chúa lẫn đối với con người. Thật vậy, cốt tuỷ của toàn bộ Lề Luật là yêu mến Thiên Chúa và yêu mến con người!
Nhưng ngay cả Thập Giới, dù ưu việt là thế, cũng cần được kiện toàn. Chúa Giêsu là Môsê mới, Đấng kiện toàn Lề Luật yêu thương ấy trong cả biên độ và mức độ. Biên độ vượt quá ‘những người thân cận’ để yêu thương hết mọi người không trừ ai, yêu cả kẻ thù ghét và chống lại mình! Mức độ vượt quá tiêu chuẩn ‘yêu người như chính mình’ để yêu người bằng Tình Yêu của Thiên Chúa, yêu người như Chúa Giêsu yêu!
“Hãy yêu thương nhau NHƯ THẦY YÊU THƯƠNG ANH EM”! Lời này của Chúa đã diễn dịch Lề Luật thành… chính Trái Tim Chúa Giêsu, là khuôn vàng thước ngọc cho lối sống của chúng ta. “Chỉ biết Phúc Âm hay thực thi cách máy móc các yêu cầu của Phúc Âm thì chưa đủ; chúng ta cần sự trợ giúp của tình yêu Thiên Chúa. Trong Trái Tim Chúa Kitô, chúng ta học biết yêu thương (Thông điệp Dilexit nos, 30)… Ta hiểu điều Chúa Giêsu muốn nói khi tuyên bố “một chấm, một phẩy trong bộ Luật cũng không bỏ qua”, trong khi Trái Tim của Người hết sức dị ứng đối với thói nệ luật nơi những người biệt phái và giới kinh sư Do thái đương thời.
Bởi khi chính Tình Yêu của Chúa Giêsu là Lề Luật, thì chế độ Lề Luật đã trở thành chế độ của Ân Sủng!
Lm. Lê Công Đức
Biến cố Truyền Tin là một biến cố ‘LỊCH SỬ’, theo mọi nghĩa của từ ‘lịch sử’. Vì nó vô cùng lớn lao! Và vì nó nằm ở trung tâm của toàn bộ lịch sử! Tất cả lịch sử phía trước hướng về đây, và tất cả lịch sử phía sau cũng qui hướng về đây! Bởi biến cố này mở ra Biến cố Chúa Giêsu Kitô, là biến cố cứu độ dứt khoát trong chương trình của Thiên Chúa!
Lời hứa cứu độ sau sự sa ngã của nguyên tổ mở ra viễn ảnh sự xuất hiện của “miêu duệ người phụ nữ”. Sự xuất hiện này được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong suốt dòng lịch sử Thánh Kinh – như ý nghĩa của “một dấu” trong lời Chúa nói với vua Achaz qua miệng ngôn sứ Isaia: “Chính Chúa sẽ cho các ngươi một dấu: này một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (x. Is 7,10-14)…
Chúa Giêsu đến – là con trẻ được sinh ra ấy – để làm gì? Để thực thi ý Chúa Cha! Đây là diễn tả của Thánh vịnh 39, được tác giả Thư Do thái lấy lại để nói về ‘lý do hiện hữu’ của vị Thiên Chúa làm người, tức là động lực của mầu nhiệm Nhập thể, của toàn bộ biến cố Chúa Giêsu Kitô, bắt đầu từ khoảnh khắc Truyền Tin (x. Tv 39,7-8a.8b-9.10.11 và Dt 10,4-10).
Bạn thấy đó, câu chuyện Truyền Tin diễn ra thật đơn sơ, âm thầm, lặng lẽ… nhưng đó là một ‘vụ nổ lớn’, một BIG BANG có một không hai. Chấn động vũ trụ, chấn động lịch sử, và chấn động cả Thiên Đàng! Biến cố này và ngày lễ này trước hết là biến cố và ngày lễ của Chúa. Nhưng Đức Maria gắn chặt vào đây, vì Mẹ có vai trò đặc biệt và vô song ở đây. Các nhà chú giải Thánh Kinh khẳng định trình thuật Truyền Tin là trình thuật ơn gọi của Đức Maria, cùng mô típ với nhiều trình thuật ơn gọi khác trong lịch sử (x. Lc 1,26-38)…
Cảm nhận tầm cỡ như vậy của biến cố, ta sẽ ít ngạc nhiên hơn trước các diễn ngôn rất biệt loại liên quan đến thiếu nữ ‘Maria người Nadarét’: “đầy ơn phúc”… “Thiên Chúa ở cùng”… “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà, và uy quyền Đấng Tối Cao sẽ bao trùm Bà”… “người Con mà Bà sinh ra là Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa”… “vì không có gì mà Thiên Chúa không làm được”!
Nhưng ta sẽ còn ngạc nhiên hoài và được cuốn hút hoài để chiêm ngắm bất tận mầu nhiệm chứa đựng trong tiếng FIAT của Đức Maria: “Này tôi là nữ tỳ của Đức Chúa, xin Chúa hãy làm cho tôi như lời Sứ Thần nói!”
Cả Mẹ và Con đều “đến để thực thi ý Chúa”, điều sẽ ứng nghiệm cách tột đỉnh trong biến cố Thập giá Canvê, với Giêsu chịu đóng đinh và treo lên, còn Mẹ thì đứng đó, dưới chân Thập giá – stabat Mater! Lễ Truyền Tin thường ngẫu nhiên nằm trong Mùa Chay, nhưng không phải là không có ý nghĩa trong việc hướng chúng ta đến chân trời của mùa Phụng vụ này, phải không?
Lm. Lê Công Đức
Syria và Israel là hai vương quốc không thân thiện thời đó. Chuyện chính trị quân sự hai bên kèn cựa nhau, phản ánh trong tương quan và cách giao tiếp giữa các nhân vật lãnh đạo. Xảy ra là tướng Naaman của Syria bị bệnh phong cùi. Uy nghi lẫm liệt mạnh mẽ là thế, nhưng dính căn bệnh này thì ngoài tầm giải quyết. Và Chúa đã dùng một cô bé nữ tỳ người Israel để mách với bà chủ là vợ Naaman về cách chữa trị phong cùi cho tướng công. Chuyện vòng vo, cuối cùng Naaman được chữa lành bằng một cách thức đơn giản lạ lùng, ngoài sức tưởng tượng của chính ông.
Ta thấy cách Chúa làm như trêu ngươi khả năng suy nghĩ và hành động của con người, ngay cả những con người thông minh và quyền lực nhất. Qua tất cả, Thiên Chúa đã biểu lộ tình thương và uy quyền của Ngài, không loại trừ người ngoại bang như Naaman. Thiên Chúa không chỉ là Thiên Chúa của Israel, mà là Thiên Chúa của mọi người, mọi dân tộc!
Sự thật này được Chúa Giêsu nhắc lại, cùng với chuyện về Êlia đem ân phúc của Thiên Chúa đến cho một bà goá ở Sarepta, để lưu ý những người Do thái đồng hương rằng họ đừng ỷ lại, đừng tưởng duy chỉ sự việc mình là dân được Chúa chọn thì đã đủ bảo đảm mọi sự ổn cho mình, đừng tưởng mình là ‘dân riêng’ của Chúa thì có nghĩa rằng Chúa là ‘Chúa riêng’ của mình! Không. Nếu họ không khiêm tốn, cởi mở đón nhận chính Chúa và thông điệp của Chúa ở phía bất ngờ, thì rất có thể họ sẽ bắt hụt, trong khi những người ‘ngoài’ mà thành tâm thiện chí sẽ không bắt hụt.
Naaman đã từng xem thường đề nghị ‘như giỡn’ của tiên tri Êlisêo, tắm bảy lần ở sông Giođan, nhưng ông đã được khuyến khích nghĩ lại và đã làm theo. Những người Do thái đồng hương của Chúa Giêsu cũng xem thường Giêsu vì đối với họ thì Giêsu quá thường, họ quá biết rõ. Chính họ cũng tin vào cái mặc định “ở Nadaret này thì có gì hay ho”…
Hẳn Chúa Giêsu phiền lòng lắm nên mới nói thẳng ‘sự thật mất lòng’ với những người đồng hương Nadaret… Và Người phải trả giá. Niềm tự hào, tự mãn của họ bị động chạm nặng nề. Tất cả họ phẫn nộ, họ đứng dậy, đẩy Người ra khỏi thành và dẫn Người đến một triền đồi, để xô Người xuống vực!
Thật đáng tiếc biết bao! Nhưng lòng tự tôn cao ngút trời như vậy thì làm sao mà nhận ra Chúa ở chỗ quá bất ngờ! Chúng ta cũng vậy, phải coi chừng kẻo bắt hụt Chúa và thậm chí loại trừ Chúa… bởi lòng tự tôn, bởi thói kiêu ngạo xem thường người khác.
Lần này Chúa Giêsu lách qua giữa họ mà đi, nhưng cuối cùng, họ cũng đưa được Chúa Giêsu lên cây thập giá!
Lm. Lê Công Đức
Đức Hồng y Filipe Neri Ferrao
Thư Mục vụ của FABC gửi các Giáo hội địa phương tại Châu Á về việc Chăm sóc muôn loài thụ tạo:
Lời mời gọi hoán cải sinh thái
Anh chị em thân mến trong Chúa Kitô,
Bình an và phúc lành cho tất cả anh chị em.
Chúng tôi viết thư cho anh chị em, với tư cách là những mục tử của Giáo hội tại Châu Á, một vùng đất có nền văn hóa phong phú, truyền thống lâu đời và đức tin sâu sắc. Trong cái nôi đa dạng về con người và tinh thần này, Lời Chúa tiếp tục mang đến hy vọng cho những người đang phải đối mặt với những gian nan và thử thách.
Hôm nay, chúng ta suy ngẫm về tính cấp thiết của việc ứng phó với cuộc khủng hoảng sinh thái trong thời đại của chúng ta. Nhân kỷ niệm 10 năm Thông điệp Laudato Si’ của Đức Giáo hoàng Phanxicô, một lời kêu gọi mang tính ngôn sứ để nhân loại tái khám phá mối tương quan của mình với thụ tạo, với Thiên Chúa và với nhau, chúng ta cùng canh tân cam kết chăm sóc Ngôi nhà chung của chúng ta. Thông điệp này được đào sâu hơn nữa qua Thông điệp Laudate Deum, trong đó Đức Giáo hoàng Phanxicô kêu gọi hành động một cách quyết đoán để bảo vệ Trái đất cho các thế hệ tương lai.
Khi chúng ta tiếp tục cử hành Năm Thánh Hy Vọng 2025, chúng ta được khích lệ từ những lời của Thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma: “…ai gặp gian truân thì quen chịu đựng; ai quen chịu đựng, thì được kể là người trung kiên; ai được công nhận là trung kiên, thì có quyền trông cậy. Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng” (Rm 5,5). Niềm hy vọng Kitô giáo mời gọi chúng ta dấn thân tích cực vào việc phục hồi muôn loài thụ tạo và hàn gắn những thương tích của thế giới. Bức thư này là một lời mời gọi chúng ta nhìn nhận những đau khổ sinh thái của thời đại chúng ta – không phải là lý do để tuyệt vọng mà là lời mời gọi chúng ta kiên trì, hành động và đặt trọn niềm hy vọng nơi Chúa Kitô.
I. Những đau khổ trong Ngôi nhà chung của chúng ta
Trên khắp Châu Á, chúng ta chứng kiến muôn loài thụ tạo rên xiết dưới sức nặng của sự thờ ơ, lạm dụng và bóc lột của con người. Những hậu quả đã trở nên rõ ràng và được khoa học xác nhận:
– Nạn phá rừng và mất đa dạng sinh học: Các khu rừng mưa nhiệt đới ở Indonesia, Papua New Guinea, Malaysia, Myanmar và Philippines đang bị tàn phá, khiến các cộng đồng bản địa phải di dời và đe dọa đa dạng sinh học. Những khu rừng này, vốn rất quan trọng đối với sự sống còn của hành tinh, đang chịu áp lực rất lớn từ nạn khai thác gỗ bất hợp pháp, mở rộng nông nghiệp và khai thác khoáng sản.
– Mực nước biển dâng cao và tình trạng di dời ven biển: Hiện tượng ấm lên ở Thái Bình Dương đã làm gia tăng các cơn bão, lũ lụt và mực nước biển dâng cao, đe dọa sự tồn tại của nhiều ngôi làng ở các quốc gia như Philippines, Bangladesh và Việt Nam. Các cộng đồng ven biển phải đối mặt với tình trạng di dời ngày càng tăng, với hàng triệu người dễ bị tổn thương trước tác động của tình trạng di cư do biến đổi khí hậu.
– An ninh nguồn nước: Các sông băng tan chảy ở dãy Himalaya và các con sông khô cạn ở Nam Á và Trung Á đang đe dọa nguồn cung cấp nước cho hàng triệu người. Những biến đổi này làm trầm trọng thêm các cuộc xung đột về tài nguyên nước, đặc biệt là ở các lưu vực sông chung giữa nhiều quốc gia.
– Ô nhiễm không khí và tác động đến sức khỏe: Các thành phố trên khắp Châu Á, chẳng hạn như Bắc Kinh và Thượng Hải, Dhaka, Delhi, Karachi, Jakarta, Manila và Bangkok, đang phải chịu đựng tình trạng ô nhiễm không khí ở mức độ nguy hiểm. Ô nhiễm không khí này góp phần đáng kể vào các bệnh về đường hô hấp, đặc biệt là ở trẻ em và người già, đồng thời làm giảm chất lượng cuộc sống nói chung.
– Các hiện tượng thời tiết cực đoan mạnh và thường xuyên hơn: Sự ấm lên của Thái Bình Dương đang làm gia tăng tần suất và cường độ của các cơn bão nhiệt đới, gây ra những tác động thảm khốc cho các quốc gia Đông Nam Á giáp Thái Bình Dương, đặc biệt là Philippines. Những tác động của chúng còn lan rộng đến Nam Á (như Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh) và Đông Á (như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản), dẫn đến sự tàn phá, di cư và khó khăn về kinh tế. Những cơn bão mạnh này là lời nhắc nhở rằng việc chúng ta không hành động trước sự biến đổi khí hậu sẽ chỉ làm gia tăng thêm nỗi đau khổ của những người anh chị em dễ bị tổn thương nhất của chúng ta.
– Khủng hoảng nông nghiệp và an ninh lương thực: Hạn hán, lũ lụt và các kiểu thời tiết thất thường đang tàn phá ngành nông nghiệp, làm giảm năng suất cây trồng và đe dọa an ninh lương thực. Biến đổi khí hậu đặc biệt gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các cộng đồng nông thôn, những người phụ thuộc vào canh tác để kiếm sống.
Những thảm kịch sinh thái này ảnh hưởng đến những cộng đồng nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất tại Châu Á – những gia đình ven biển bị cuốn trôi nhà cửa, những người nông dân không còn có thể trồng trọt và những trẻ em phải chịu đựng không khí và nước bị ô nhiễm. Các nhà lãnh đạo chính trị, nhà hoạch định chính sách của chính phủ và những người ra quyết định, đặc biệt là những người tín hữu Công giáo trong số họ, cần được nhắc nhở rằng: những lựa chọn mà anh chị em đưa ra hôm nay sẽ được các thế hệ mai sau phán xét. Liệu anh chị em sẽ để lại một hành tinh bị tổn thương bởi sự bóc lột, hay một ngôi nhà phản chiếu vẻ đẹp của Thiên Chúa sáng tạo?
Trong thời điểm Năm Thánh này, những đau khổ ấy kêu gọi chúng ta ăn năn, hoán cải và cam kết sâu sắc hơn với trách nhiệm chung của chúng ta, với tư cách là những người quản lý muôn loài thụ tạo của Thiên Chúa.
II. Dấu chỉ hy vọng: Chúa Thánh Thần đang hoạt động
Bất chấp những thách đố này, chúng ta vẫn nhận ra những dấu chỉ hy vọng cho thấy rằng Chúa Thánh Thần đang sống động và hoạt động trong thế giới của chúng ta:
– Sức mạnh kiên cường của cộng đồng: Các phong trào cơ sở, chẳng hạn như các nỗ lực tái trồng rừng và phục hồi rừng ngập mặn ở nhiều nơi tại Châu Á, cho thấy tinh thần kiên cường của các cộng đồng địa phương. Những nỗ lực này duy trì sự đa dạng sinh học và sinh kế của người dân bản địa, những người đi đầu trong hành động vì khí hậu.
– Các mục vụ và giáo dục sinh thái: Trên khắp châu Á, các giáo phận đã áp dụng các mục vụ sinh thái, từ việc kiểm toán xanh các giáo xứ đến các dự án năng lượng tái tạo, tích hợp việc chăm sóc muôn loài thụ tạo vào đời sống giáo xứ và giáo dục Công giáo. Những nỗ lực này truyền cảm hứng cho những người khác noi theo.
– Sự dấn thân của giới trẻ: Giới trẻ trong các giáo phận của chúng ta đang trỗi dậy như những người tiên phong cho nền sinh thái toàn diện, đáp lại lời kêu gọi của Đức Giáo hoàng Phanxicô trong Laudate Deum để hành động khẩn trương vì tương lai của hành tinh. Cam kết của họ mang lại hy vọng cho tương lai của muôn loài thụ tạo và thách thức tất cả chúng ta hành động với trách nhiệm lớn hơn.
– Hợp tác liên tôn và xã hội dân sự: Tính cấp thiết cho nền công lý của khí hậu vượt qua ranh giới tôn giáo. Đây là điểm khởi đầu quan trọng cho các cuộc đối thoại đại kết và liên tôn, cũng như cho sự hợp tác với xã hội dân sự và tất cả những người thiện chí. Là Kitô hữu, chúng ta phải đồng hành cùng các tôn giáo bạn trong sứ mạng chung này để bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta.
– Sứ mệnh cho các cộng đoàn Giáo hội cơ bản: Việc chuyển đổi các cộng đoàn Giáo hội cơ bản thành các cộng đồng nhân loại cơ bản có thể giúp nuôi dưỡng tình huynh đệ nhân loại rộng lớn hơn và ý thức chung về sự quản lý đối với tạo hóa, kết nối các nỗ lực dựa trên đức tin với các mục tiêu phát triển bền vững toàn cầu.
– Cam kết của Giáo hội trong Năm Thánh: Là một phần của Năm Thánh Hy Vọng 2025, Giáo hội đang kết hợp việc Chăm sóc muôn loài thụ tạo như một chủ đề thiết yếu, thúc giục các Giáo phận và giáo xứ tăng cường các sáng kiến sinh thái và thúc đẩy lối sống bền vững như một biểu hiện của đức tin.
Những dấu chỉ hy vọng này nhắc nhở chúng ta rằng đau khổ không phải là kết thúc. Như Đức Giáo hoàng Phanxicô nhấn mạnh, tình yêu của Thiên Chúa, được tuôn đổ qua Chúa Thánh Thần, truyền cảm hứng cho chúng ta mạnh dạn tham gia vào sứ mệnh canh tân muôn loài thụ tạo (x. Rm 5,5).
III. Lời kêu gọi hành động của chúng ta
Hy vọng thúc đẩy chúng ta hành động. Là các Giáo hội địa phương tại Châu Á, chúng ta phải can đảm và quyết tâm đáp lại lời mời gọi của thời điểm này. Chúng ta cần giải quyết cuộc khủng hoảng sinh thái thông qua bốn chiều kích quan trọng: giảm thiểu, thích ứng, luật pháp và tài chính.
a. Giảm thiểu: Thu hẹp khoảng cách
Chúng ta phải ủng hộ các cam kết khí hậu mạnh mẽ hơn, chẳng hạn như Thỏa thuận Paris, và nỗ lực thu hẹp khoảng cách giữa các mục tiêu khí hậu quốc gia và mục tiêu toàn cầu là 1,5°C theo yêu cầu của khoa học. Bảo tồn những cánh rừng nhiệt đới, rạn san hô và sông ngòi của Châu Á phải là ưu tiên hàng đầu. Chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng phải cùng nhau làm việc để đảm bảo các hệ sinh thái này phát triển mạnh, với vai trò tiên phong của các cộng đồng bản địa. Như đã nêu trong Văn kiện FABC 50 Bangkok của chúng ta, trong đó nhắc lại thông điệp Laudato Si’, chúng ta phải thừa nhận rằng “môi trường là thứ được cho mỗi thế hệ vay mượn và chúng ta chịu trách nhiệm về cách chúng ta để lại cho những thế hệ mai sau” (BD, 104). Chúng ta nợ các thế hệ tương lai việc bảo vệ di sản chung này.
b. Thích ứng, mất mát và thiệt hại: Đứng về phía những người dễ bị tổn thương
Người nghèo là những người đầu tiên và chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Chúng ta phải đẩy mạnh tiếng nói của họ và yêu cầu các chính phủ và ngành công nghiệp phải chịu trách nhiệm. Việc tài trợ cho những thích ứng, mất mát và thiệt hại phải được đẩy nhanh, đặc biệt là đối với các quốc gia và cộng đồng dễ bị tổn thương ở Châu Á. Văn kiện FABC 50 Bangkok nhắc nhở chúng ta rằng tình liên đới giữa các thế hệ không phải là một lựa chọn mà là một vấn đề công lý (BD, 104).
c. Luật pháp quốc gia và quốc tế trong việc bảo vệ sinh thái
Chúng ta phải tích cực vận động để tạo ra các luật về môi trường với các quy tắc thực hiện được xác định rõ ràng về quản lý chất thải rắn, lỏng và khí, các quy định về khai thác mỏ và bảo vệ lưu vực sông, đồng thời tạo điều kiện cho các cộng đồng và các quốc gia nhỏ có thể yêu cầu các tập đoàn quốc gia và đa quốc gia chịu trách nhiệm giải trình khi chứng minh được là lạm dụng và phá hoại môi trường.
d. Tài chính
Việc tài trợ cho những hoạt động vì khí hậu khởi đi từ công lý là điều cần thiết. Những bên gây ô nhiễm phải chịu trách nhiệm tương xứng và các quốc gia giàu có hơn phải thực hiện các cam kết tài trợ cho những hoạt động vì khí hậu. Trong Năm Thánh này, chúng ta cũng phải vận động xóa nợ, nhận ra rằng bẫy nợ ngăn cản nhiều quốc gia giải quyết hiệu quả cuộc khủng hoảng khí hậu.
Tuy nhiên, ngoài việc xóa nợ, điều thực sự cần thiết là một cuộc đánh giá toàn diện toàn bộ hệ thống cho vay quốc tế – một hệ thống đặt lợi ích của các quốc gia mắc nợ lên hàng đầu thay vì tiếp tục duy trì vòng luẩn quẩn của sự lệ thuộc và áp bức tài chính. Công bằng kinh tế đòi hỏi các tổ chức tài chính và các quốc gia cho vay phải xem xét lại các cấu trúc bất công hạn chế hành động vì khí hậu và phát triển bền vững ở Nam Bán cầu.
IV. Tham gia hội nghị COP 30: Lời mời gọi dấn thân tích cực
Khi chúng tôi tìm cách tăng cường cam kết của mình đối với sự hoán cải sinh thái và tình liên đới toàn cầu, chúng tôi cũng khuyến khích tất cả các Giáo hội địa phương ở Châu Á tích cực tham gia vào Hội nghị COP 30 sắp tới, sẽ diễn ra tại Belem, Brazil, vào năm 2025. Hội nghị này là một diễn đàn quan trọng để các quốc gia và cộng đồng cùng nhau tái khẳng định cam kết hành động vì khí hậu. Chúng tôi kêu gọi các giáo phận của mình đóng góp bằng cách nâng cao nhận thức, hỗ trợ vận động vì khí hậu và hợp tác với những người ra quyết định để thúc đẩy các giải pháp khí hậu đầy tham vọng và công bằng. Chúng ta hãy đảm bảo rằng tiếng nói của những người dễ bị tổn thương nhất được lắng nghe và lời kêu gọi công lý được vang vọng mạnh mẽ, đặc biệt là trong bối cảnh trách nhiệm chung của Kitô hữu là chăm sóc Trái đất và tất cả cư dân của nó.
V. Mùa Thụ Tạo: Thời gian canh tân tinh thần và sinh thái
Khi chúng ta kỷ niệm 10 năm Thông điệp Laudato Si’ và Năm Thánh Hy Vọng 2025, chúng tôi cũng mời tất cả các Giáo hội địa phương ở Châu Á duy trì việc cử hành Mùa Thụ Tạo, từ ngày 01 tháng 9 (Lễ kính Công trình Sáng tạo tại nhiều Giáo hội Đông Phương) đến ngày 4 tháng 10 (Lễ Thánh Phanxicô Assisi, Thánh Bổn mạng của Sinh thái). Khoảng thời gian đặc biệt này là cơ hội để chúng ta đào sâu việc canh tân tinh thần và sinh thái bằng cách:
a. Giáo dục cộng đồng của chúng ta về trách nhiệm sinh thái.
b. Thúc đẩy lối sống đơn giản hơn, bền vững hơn.
c. Nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng về muôn loài thụ tạo, giúp làm đào sâu thêm mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa, nhân loại và vũ trụ.
Chúng ta không được để nỗi sợ hãi hoặc sự thờ ơ làm tê liệt mình. Thay vào đó, hãy cùng nhau bước đi như Những Người Hành hương của Hy vọng, đáp lại bằng đức tin và lòng can đảm. Chúng ta tin rằng Chúa Kitô đồng hành với chúng ta, đổi mới bộ mặt Trái đất thông qua những nỗ lực chung của chúng ta.
Kết luận
Ước mong Mùa Chay này là dịp để chúng ta hồi tâm xét mình và khiêm tốn nhìn nhận lỗi lầm của mình đối với muôn loài thụ tạo của Thiên Chúa. Xin cho đây là cơ hội để chúng ta đáp lại lời kêu gọi của Thiên Chúa về sự hoán cải sinh thái.
Khi chúng ta tiếp tục hành trình trở thành một Giáo hội hiệp hành truyền giáo, chúng ta hãy phó thác bản thân cho Đức Maria, Mẹ Rất Thánh của chúng ta, Đấng luôn đồng hành với chúng ta khi chúng ta chăm sóc muôn loài thụ tạo của Thiên Chúa. Nhờ lời chuyển cầu của Mẹ truyền cảm hứng cho chúng ta hành động với lòng can đảm, sự khôn ngoan và lòng trắc ẩn vì Ngôi nhà chung của chúng ta.
Trân trọng trong Chúa Kitô.
+ Hồng y Filipe Neri Ferrao
Chủ tịch FABC
+ Hồng y Pablo David
Phó Chủ tịch FABC
+ Hồng y Isao Kikuchi, SVD
Tổng Thư ký FABC
———-
Phêrô Lê Minh Hải, OFM & Tâm Bùi
Chuyển ngữ từ: fabc.org
Tiếng gọi dành cho Môsê gắn với một mặc khải tuyệt đẹp về tấm lòng thương cảm của Thiên Chúa trước những nỗi thống khổ của dân Ngài: “Ta đã thấy dân Ta phải khổ cực ở Ai-cập. Ta đã nghe tiếng chúng kêu than kẻ đốc công áp bức. Ta biết nỗi đau khổ của chúng, nên Ta xuống cứu chúng thoát khỏi tay người Ai-cập và đưa ra khỏi đất ấy đến miền đất tốt tươi rộng lớn, đất tràn trề sữa và mật” (x. Xh 3,1-8a.13-15)… Hãy để ý các động từ: Chúa đã THẤY, đã NGHE, đã BIẾT, đã XUỐNG để CỨU, và ĐƯA dân ra khỏi cảnh ấy!… Không còn nghi ngờ gì về tấm lòng quan tâm rất thực và rất cụ thể của Thiên Chúa, như lời Thánh vịnh Đáp ca: “Chúa là Ðấng từ bi và hay thương xót” (x. Tv 102)…
Thế là dân Chúa được Môsê lãnh đạo vào cuộc Xuất hành, ra khỏi cảnh nô lệ ở Ai cập, vượt Biển Đỏ, đi qua sa mạc 40 năm để tiến vào Đất Hứa. Chính trong cuộc hành trình lịch sử này, đoàn dân ấy đã bộc lộ tất cả những điểm yếu của mình, được Chúa uốn nắn, giúp họ nhận thức chính Chúa và về bản thân họ, trưởng thành hơn trong tương quan với Chúa và với nhau… Thông điệp căn bản cho họ: Thiên Chúa của họ rất thương xót và rất kiên nhẫn, nhưng họ không được ỷ lại, mà phải trở về với Ngài khi lỡ bội bạc…
Câu chuyện Phúc Âm cũng khắc hoạ đúng thông điệp ấy (x. Lc 13,1-9). Hai biến cố thời sự về những người Gali lê bị Philatô sát hại và về mười tám người bị tháp Silôe đổ xuống đè chết được Chúa Giêsu giải thích là tiếng Chúa thúc giục mọi người ăn năn hối cải. Chúa thúc giục và Chúa kiên nhẫn đợi chờ, vì Chúa biết sức ì của ta, biết ta cần thời gian – đây là thông điệp từ dụ ngôn cây vả ba năm không sinh trái. Nhưng ta không thể bắt Chúa đợi chờ mãi mãi được!
Cuối cùng, đoạn Thư 1Cr 10,1-6.10-12 của Bài đọc II âm vọng vẫn một sứ điệp hoán cải ấy. Thánh Phaolô nhắc lại hành trình sa mạc của dân Chúa ngày xưa dưới sự lãnh đạo của Môsê, và lưu ý rằng các Kito hữu cần biết rút kinh nghiệm: “Bao nhiêu sự kiện đó nêu gương cho chúng ta, để chúng ta đừng chiều theo những dục vọng xấu xa như những người đó đã chiều theo. Anh em đừng lẩm bẩm kêu trách như một số người trong họ đã làm, và đã vong mạng bởi tay một sứ thần huỷ diệt. Những việc đó đã xảy đến cho họ để làm gương, và đã được ghi chép để răn bảo chúng ta là những người đang sống trong thời đại cuối cùng”. Đặc biệt, thánh Tông Đồ cảnh báo: “Ai tưởng mình đang đứng vững, hãy ý tứ kẻo ngã!”…
Như vậy, tiếng gọi sám hối và hoán cải của Mùa Chay tiếp tục vang vọng giục giã chúng ta. Thiên Chúa đầy lòng xót thương và kiên nhẫn, nhưng ta phải trở về!
Lm. Lê Công Đức