Bước vào Tuần Thánh, ánh nhìn chúng ta ‘zoom’ vào sát hơn khuôn mặt và nội tâm của Chúa Giêsu, để từ việc chiêm ngắm Người, chúng ta hiểu và đồng cảm với Người hơn…
Người tôi tớ trong Isaia là một mô tả về kinh nghiệm nội tâm của Chúa Giêsu. Thiên Chúa nâng đỡ, tuyển chọn và hài lòng về người tôi tớ này. Về tính cách của người tôi tớ này: không lớn tiếng, không thiên vị ai, không ai nghe tiếng người ở công trường; người không bẻ gãy cây lau bị giập, không dập tắt tim đèn còn khói; người sẽ xét xử trong công lý; người không buồn phiền, không nao núng, cho đến khi đặt công lý trên mặt đất…
Sự mô tả ấy gợi cho chúng ta hình ảnh Chúa Giêsu vừa khiêm nhường, nhẫn nại, bao dung, vừa chính trực và mạnh mẽ! Đó là hình ảnh Chúa Giêsu sáu ngày trước lễ Vượt qua. Trong bầu khí bắt đầu sôi sục, xôn xao giữa những người Do thái, trong đó chính Người là đề tài thời sự, Chúa Giêsu cùng các môn đệ đến Bêtania, ghé lại chỗ gia đình bạn thân của Người…
Tình hình không hạ nhiệt, mà còn nóng lên, ngay giữa nhóm Mười Hai, khi cái tên ‘Giu đa Iscariot’ được đề cập, liên quan tới sự kiện cô Maria dùng dầu thơm hảo hạng xức chân Chúa… Giu đa phản ứng, vì tâm trí anh nặng mùi tiền. Chúa Giêsu lên tiếng biện minh cho hành động của Maria, và có nhắc đến việc táng xác của Người sẽ diễn ra…
Cuộc thương khó và cái chết của Chúa Giêsu đang ập tới gần. Chúng ta hãy đồng cảm với Chúa, ở lại bên Người đặc biệt trong những thời khắc quan trọng này. Chúa Giêsu đương đầu với sự dữ đang leo thang, và với những con người bị sự dữ thao túng. Gắn bó với nội tâm của Chúa, chúng ta cũng sẽ có tấm lòng và có sức mạnh để đối diện với sự dữ trong thế giới của mình hôm nay…
Lm. Lê Công Đức
Chúng ta được dẫn nhập vào Trình thuật Thương Khó của Chúa Giêsu bằng 3 yếu tố:
-Thứ nhất, hình ảnh Người Tôi Tớ Đau Khổ trong Isaia, với lời tự sự: “Tôi đã đưa lưng cho kẻ đánh tôi, đã đưa má cho kẻ giật râu; tôi đã không che giấu mặt mũi, không tránh những lời nhạo cười và những người phỉ nhổ tôi”…
-Thứ hai, tiếng kêu thảng thốt và thống thiết của một tâm hồn trong khủng hoảng và chới với tận cùng, được diễn tả bởi Thánh vịnh 21 (Đáp ca): “Ôi Thiên Chúa! Ôi Thiên Chúa! Sao Chúa đã bỏ con?”…
-Và thứ ba, bài thánh ca đầy cảm kích của thánh Phaolô nói về con đường ‘kenosis’ (tự hạ, tự huỷ mình ra không) của Chúa Giêsu Kitô, Đấng “đã không nghĩ phải giành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; trái lại, Người huỷ bỏ chính mình mà nhận lấy thân phận tôi đòi… Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá”…
Trong 3 yếu tố ấy, tiếng kêu “Sao Chúa bỏ con?”, vốn được chính Chúa Giêsu lặp lại trên thập giá khi cái chết đến thật gần, chắc hẳn là ấn tượng nhất trong việc giúp ta cảm nhận điều vô cùng thâm sâu mà Chúa Giêsu trải nghiệm trong cuộc Thương Khó của Người. Nên ghi nhận chính Đức thánh cha Phan xi cô đã từng đưa chủ đề “Sao Chúa bỏ con?” vào cấu trúc 14 Chặng Đàng Thánh Giá!
“Sao Chúa bỏ con?”… Đó là kinh nghiệm về tình trạng bị tước đoạt đến điểm tựa cuối cùng. Chúa Giêsu không chỉ bị tước đoạt uy tín, danh dự, phẩm giá, sự ủng hộ của đám đông và ngay cả của nhóm môn đệ thân tín của mình, mà Người còn cảm thấy bị tước đoạt cả điểm tựa cuối cùng là chính Chúa Cha nữa! Sau tất cả, chỉ còn Cha, mà sao Cha cũng bỏ!…
Đó là công lý của Thiên Chúa. Công lý của Thiên Chúa là lòng thương xót và ý chí cứu độ dành cho chúng ta. Thiên Chúa Cha không dung tha Con mình, nhưng bỏ Con mình, thí nộp Con mình vì hết thảy chúng ta. Tối thứ Bảy tới, Vọng Phục Sinh, Giáo hội sẽ trang trọng công bố trong bài ca Exsultet rằng “để cứu đầy tớ, Thiên Chúa thí nộp chính Con yêu”…
Bước vào Tuần Thánh, chúng ta hãy bắt đầu để cho tiếng kêu “Sao Chúa bỏ con?” vang vọng trong tâm trí mình…
– để hiểu công lý lạ lùng của Thiên Chúa,
– để đo lường sự nghiêm trọng khủng khiếp của tội lỗi chúng ta,
– để tâm phục khẩu phục tình yêu thương xót của Chúa dành cho chúng ta,
– và để qua việc chiêm ngắm nỗi ‘tuyệt vọng’ của Con Thiên Chúa trên Thập giá, chúng ta nhận hiểu rằng nếu kết hợp với Chúa Giêsu chịu đóng đinh, thì không có nỗi tuyệt vọng nào của chúng ta là thực sự tuyệt vọng cả!
Bởi vì… cái chết này của Chúa Giêsu không phải là tiếng nói cuối cùng!
Bởi vì… Chúa Cha không bỏ Chúa Con, mà đã nâng Chúa Con dậy từ cõi chết!
Lm. Lê Công Đức
Có nhiều quốc gia, dân tộc, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, văn hoá… trên mặt đất này. Nhưng những khác biệt ấy tồn tại không nhằm để người ta chia rẽ, kỳ thị, loại trừ, mà nhằm để thúc đẩy mọi người xây dựng sự hiệp thông, hiệp nhất trong tình huynh đệ phổ quát. Dân Israel được Thiên Chúa tuyển chọn, thiết lập, để hiệp nhất và để trở thành trung tâm hiệp nhất của mọi dân nước, trong ân phúc chứa chan của Thiên Chúa, như Ngài đã nêu rõ với tổ phụ của họ là Abraham ngay từ đầu.
Điều này không ngừng được nhắc lại trong dòng lịch sử dân Chúa, như ta đọc thấy ở đoạn sách Êdekien hôm nay: “Ta sẽ là Chúa của chúng, và chúng sẽ là dân Ta. Các dân tộc sẽ biết rằng Ta là Chúa, Ðấng thánh hoá Israel, khi đã lập nơi thánh Ta ở giữa chúng đến muôn đời” (x. Ed 37,21-28).
Nhưng thực tế ta thấy hoả tiễn đang gầm rú, bay vèo vèo trên bầu trời Trung Đông và Cận Đông, với Israel là một nhân tố trong cuộc xung đột dằng dai…, vậy tầm nhìn hiệp nhất của Thiên Chúa hoàn toàn phá sản rồi phải không? Không. Giao ước cũ đã được thay bằng giao ước mới; Israel cũ đã được thay bằng Israel mới là Hội Thánh Chúa Kitô, vẫn mang sứ mạng làm manh mối của sự hiệp nhất mọi dân tộc trong viễn ảnh Nước Thiên Chúa/ Triều đại Thiên Chúa, vốn vượt qua mọi ranh giới quốc gia, dân tộc, chủng tộc…
Chúa Giêsu là hiện thân và là trung tâm của Triều đại Thiên Chúa, là nguồn mạch và tác nhân của mối hiệp nhất hết thảy mọi người, mọi dân nước. Người thực hiện điều này qua cái chết của Người, như lời thượng tế Caipha đã nói, dù chính ông không hiểu hết: “Quý vị không hiểu gì cả! Quý vị không nghĩ rằng thà một người chết thay cho dân, còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt”… Và Phúc Âm Gioan chú giải: “Không phải tự ông nói điều đó, nhưng với danh nghĩa là thượng tế năm ấy, ông đã nói tiên tri rằng Chúa Giêsu phải chết thay cho dân, và không phải cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mát về một mối.”
Quy tụ mọi người về một mối, đó là điều mà Chúa Giêsu tìm kiếm và Người đã trả giá trong cuộc khổ nạn và cái chết của Người. Và vì giá đã được trả rồi, nên sự hiệp nhất của mọi người, mọi quốc gia, dân tộc là điều có thể, dù chúng ta thấy khó khăn đến đâu…
Lm. Lê Công Đức
Vatican – Ngày 26/3, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã gửi điện văn đến Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng, bày tỏ nỗi đau buồn trước sự ra đi của Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn. Ngài cũng hiệp thông chia buồn với Đức Tổng Giám mục Giuse và toàn thể cộng đoàn Dân Chúa.
Điện văn của Đức Thánh Cha
Kính gửi Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng
Tổng Giáo phận Sài gòn – Thành phố Hồ Chí Minh
Tôi vô cùng đau buồn hay tin về sự qua đời của Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, nguyên Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi xin gửi lời chia buồn chân thành đến Đức Tổng Giám mục, đồng thời đến toàn thể linh mục, tu sĩ và giáo dân của Tổng Giáo phận.
Hiệp ý với Đức Tổng Giám mục trong việc phó dâng linh hồn cao quý của Đức Hồng y cho lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, Cha chúng ta ở trên trời, tôi tưởng nhớ với lòng biết ơn sâu xa những năm tháng dài Đức cố Hồng y đã tận tụy phục vụ trong sứ vụ linh mục và giám mục tại các Giáo hội địa phương Mỹ Tho và Thành phố Hồ Chí Minh, cũng như những đóng góp của ngài cho Giáo hội tại Việt Nam và cho Tòa Thánh.
Sứ vụ của ngài được ghi dấu bởi sự dấn thân sâu sắc cho việc chăm sóc mục vụ và trách nhiệm xã hội, sự kiên trì cổ võ đối thoại và hiệp nhất trong Giáo hội, cùng chứng tá của một đời sống đơn sơ và khiêm nhường theo tinh thần Tin Mừng.
Tôi thân ái ban Phép lành Tòa Thánh như dấu chỉ ủi an và bình an trong Chúa cho tất cả những người đang thương tiếc sự ra đi của Đức Hồng y Phạm Minh Mẫn trong niềm hy vọng vào sự sống lại.
Lêô XIV, Giáo hoàng
Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn trở về Nhà Cha ngày 22/03/2026, hoàn tất hành trình đức tin 92 năm. Suốt 61 năm linh mục, 33 năm giám mục, và 23 năm hồng y, ngài đã tận tụy phục vụ Giáo hội Việt Nam cùng Tòa Thánh.
Thánh lễ an táng Đức Hồng y sẽ được cử hành tại Trung tâm Mục vụ của Tổng Giáo phận Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 27/3/2026.
Với sự ra đi của Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, Hồng y đoàn còn 243 vị, trong đó có 121 Hồng y cử tri – những vị dưới 80 tuổi, có quyền bầu Giáo hoàng – và 122 Hồng y không còn quyền bầu Giáo hoàng. Trong số 122 vị này có Đức Hồng y Angelo Becciu, dù chưa quá 80 tuổi, nhưng ngài không còn các quyền gắn liền với chức vụ Hồng y.
Kinh nghiệm của ngôn sứ Giêrêmia giúp chúng ta hiểu kinh nghiệm của Chúa Giêsu trong tình hình ngày càng gay cấn với người Do thái. Đó là tình trạng bị rình rập, vây bủa, gài bẫy bởi các đối thủ đang rắp tâm hại mình. Giêrêmia thốt lên: “Tôi đã nghe nhiều người thoá mạ và chế nhạo rằng: ‘Người này gieo khủng bố khắp nơi. Chúng ta hãy tố cáo nó, chúng ta hãy tố cáo nó’. Tất cả bạn hữu tôi rình tôi vấp ngã mà nói rằng: ‘Ước gì nó bị lừa dối để chúng ta thắng nó và sẽ trả thù nó’”.
Nhưng vị ngôn sứ vẫn không rúng chuyển giữa các áp lực ấy, mà kiên trung đặt niềm tin tưởng vào Thiên Chúa. “Nhưng Chúa ở cùng tôi như người lính chiến hùng dũng; vì thế, những kẻ bắt bớ tôi sẽ ngã quỵ và kiệt sức. Chúng sẽ thất bại bẽ bàng, chuốc lấy sự hổ nhục muôn đời, không bao giờ quên được.” (x. Gr 20,10-13). Thánh vịnh 17 (Đáp ca) vọng lại tâm tình và thái độ tín thác này của vị ngôn sứ: “Trong cơn đại hoạ, tôi đã cầu khẩn Chúa, tôi đã kêu xin Thiên Chúa của tôi… Lạy Chúa là dũng lực con, con yêu mến Chúa, lạy Chúa là Tảng Ðá, chiến luỹ, cứu tinh”…
Đó cũng là cơn khủng hoảng và niềm tín thác của Chúa Giêsu trong giai đoạn căng thẳng leo thang này. Chúng ta hẳn ngạc nhiên khi thấy Người bị ném đá nhưng vẫn điềm nhiên chất vấn các đối thủ của mình. “Ta đã cho các ngươi thấy nhiều việc tốt lành bởi Cha Ta. Vậy vì việc nào mà các ngươi muốn ném đá Ta?” Họ nói tại vì ông lộng ngôn, cho mình là Thiên Chúa. Chúa Giêsu dẫn sách thánh để giải thích cho họ, cuối cùng vẫn chốt lại với khẳng định rằng Người là Con Thiên Chúa, rằng Thiên Chúa ở với Người, và rằng Người làm những việc của Thiên Chúa!
Chúa Giêsu đối thoại với họ trong tất cả thiện chí của Người. Nhưng thiện chí của bên này lại vô tình càng chọc giận bên kia! Bế tắc! Tình hình không dịu đi chút nào, mà càng trở nên sôi sục hơn. Phúc Âm Gioan kể rằng họ tìm cách bắt Chúa Giêsu… Nhưng cũng đáng ghi nhận: có nhiều người nghe Chúa Giêsu nói, đã bắt đầu tin vào Người!
Sự kiện nói trên minh chứng Chúa Giêsu là dấu mâu thuẫn, và đồng thời nhắc chúng ta về những loại mảnh đất khác nhau đón hạt giống lời Chúa: vệ đường, sỏi đá, bụi gai, đất tốt… Bạn sẽ bước vào Tuần Thánh, cử hành những biến cố tột đỉnh của mầu nhiệm Chúa Giêsu với tâm hồn của bạn được xếp loại mảnh đất nào?
Lm. Lê Công Đức
Bộ Phong Thánh đã chính thức xác nhận không có trở ngại trong việc bắt đầu tiến trình phong chân phước giai đoạn cấp giáo phận cho cha Roberto Malgesini, linh mục 51 tuổi bị sát hại tại Como (Ý) cách đây sáu năm bởi một người vô gia cư quen biết. Quyết định này đã mang lại niềm xúc động và hy vọng lớn lao cho cộng đoàn tín hữu từng biết đến vị linh mục được Đức Giáo hoàng Phanxicô gọi là “chứng nhân của bác ái”.
Cha Roberto Malgesini nổi tiếng với sự dấn thân chăm sóc cho người nghèo và người di dân ở miền bắc nước Ý, được tìm thấy đã chết vì bị đâm, vào khoảng 7 giờ sáng ngày 15/9/2020.
Một người di dân gốc Tunisia 53 tuổi, được cho là bị một số bệnh tâm thần, thú nhận đã đâm cha và sau đó tự nộp mình cho cảnh sát. Cha Roberto biết người này và cho ông ngủ trong một phòng dành cho người vô gia cư do giáo xứ điều hành.
Cha Roberto được nhớ đến như một mục tử sống khiêm nhường, gần gũi và dấn thân phục vụ người nghèo. Đối với ngài, bác ái không chỉ là hành động, mà là bước khởi đầu của một mối tương quan, nhằm loan báo tình yêu Thiên Chúa. Những ai từng đồng hành với ngài đều nhấn mạnh rằng đời sống của ngài là một chứng tá âm thầm nhưng sâu sắc.
Chị gái của ngài, bà Caterina Malgesini, chia sẻ rằng gia đình dâng lên Chúa nỗi nhớ và nỗi buồn sâu sắc, nhưng đồng thời cũng cảm thấy “hạnh phúc” trước bước tiến này của Giáo hội. “Chúng tôi luôn nhớ đến cha, và sự trống vắng ấy vẫn còn rất lớn”, bà nói. Tuy nhiên, bà cũng nhìn nhận rằng cái chết của em trai mình, dù đau đớn, đã giúp nhiều người nhận ra những điều tốt đẹp mà ngài đã sống và gieo vãi.
Cha Roberto từng sống kín đáo, không muốn trở thành tâm điểm chú ý. Thế nhưng, chính cái chết bi thương lại khiến đời sống chứng tá của ngài được biết đến rộng rãi, trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều người. Gia đình cho biết họ đã chọn không tham gia vào quá trình xét xử để giữ gìn sự bình an nội tâm trước mất mát lớn lao.
Cuộc đời của Don Roberto – từ một linh mục âm thầm phục vụ đến một chứng nhân đức tin – được xem như ánh sáng cho các linh mục hôm nay. Chị gái của ngài bày tỏ mong muốn rằng các linh mục sẽ học hỏi nơi cách sống ơn gọi của em mình: sống giản dị, yêu thương vô vị lợi và luôn đặt người nghèo ở trung tâm.
Biến cố Truyền Tin, với trình thuật của Luca (1,26-38), trước hết là biến cố ‘khởi động’ câu chuyện của Chúa Giêsu, khai mào kỷ nguyên mới của lịch sử cứu độ, trong câu chuyện của Thiên Chúa! Phụng vụ Lời Chúa của ngày lễ trọng hôm nay gợi rất rõ điều này khi xác lập tiêu điểm là Chúa Giêsu và cuộc Nhập thể của Người. Thật vậy, ta ghi nhận:
Bài đọc Isaia (7,10-14): “Một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Thánh vịnh 39 (Đáp ca) và Bài đọc Thư Hípri (10,4-10) cùng vang âm: “Lạy Chúa, này con đến để thi hành thánh ý Chúa!” Đây là câu chuyện Nhập thể và sứ mạng của Chúa Giêsu, vốn là sự diễn tiến và mở ra giai đoạn quyết định trong câu chuyện sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa. Tầm vóc của biến cố ‘này con đến’ này được chúng ta diễn tả qua thực hành đọc Kinh Truyền Tin thường xuyên hằng ngày, thậm chí nhiều lần mỗi ngày, cũng như thực hành cúi mình – đôi khi quì gối – khi tuyên xưng mầu nhiệm này trong Kinh Tin Kính. Nói tóm lại, biến cố Truyền Tin thật vĩ đại và tự cốt lõi của nó là một biến cố qui-Kitô.
Tuy nhiên, đây đồng thời cũng là một biến cố qui-Maria, biến cố then chốt, có tính quyết định trong câu chuyện ơn gọi và sứ mạng của Maria ở Nadaret. Trình thuật Truyền Tin này nói chung theo kiểu thức của nhiều cuộc truyền tin trước đó, trong cả Cựu và Tân ước, liên quan tới ơn gọi và sứ mạng của những nhân vật Thánh Kinh nào đó, nhất là có rất nhiều điểm tương đồng so với trình thuật truyền tin cho Ghiđêôn (x. Thủ lãnh 6,11-24). Song mặt khác, câu chuyện của trình thuật này thì vô song, khôn sánh, vì đây là câu chuyện Đức Maria được kêu gọi làm mẹ Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể! Một biến cố vừa qui Kitô lại vừa qui Maria, bởi vì kể từ biến cố này Maria gắn kết với Giêsu mật thiết, mãi mãi, không bao giờ tách rời.
Chiêm ngắm biến cố Truyền Tin từ nhãn giới ơn gọi của Đức Maria, chúng ta có thể thấy: Maria đang sống đời mình cách bình thường, với những thực tại, những dự phóng của đời thường… thì Chúa đến gặp qua một hình thức thần hiện và ngỏ lời mời gọi Maria… Rõ ràng Maria bị bất ngờ trước những gì thiên sứ nói về mình, và nhất là trước điều Chúa đề nghị mình… Bất ngờ và một thoáng bối rối, vì chuyện to tát ngoài tưởng tượng, nhưng trong sự tự do của mình, Maria vẫn điềm nhiên và đĩnh đạc đặt vấn đề với thiên sứ: “Việc ấy sẽ xảy ra thế nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng?”… Được giải thích cách cô đọng, Maria đưa ra câu trả lời của mình: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Đức Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói”.
Bằng tiếng Fiat này, cả lịch sử cứu độ đã sang trang. Con Thiên Chúa trở thành ‘máu thịt’ trong Đức Maria, người nữ tỳ và Mẹ Thiên Chúa, người hiệp thông ‘Thánh Thể’ đầu tiên, người môn đệ thừa sai trong ý nghĩa thánh thiện được xác nhận trọn vẹn vì được mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô chiếm lấy mình hoàn toàn.
Đây là biến cố ‘Emmanuen’, Thiên Chúa ở cùng chúng ta – nhờ Đức Maria và trong Đức Maria. Hay nói cách khác, ‘chúng ta’ được đại diện trước hết bởi Đức Maria để kinh nghiệm cách sống động thế nào là ‘có Chúa ở cùng’.
Từ đây, tất cả những chi tiết của biến cố này, tất cả những lời nói của thiên sứ Gabrien được Maria ân cần ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng. Bởi làm sao quên được một tiếng gọi của Chúa và lời đáp trả của mình với tầm vóc như thế! Hơn nữa, tiếng gọi và lời đáp trả ấy không đóng lại như một cái gì đã xong xuôi và trở thành một ký ức chỉ để hoài niệm. Mà đúng hơn, tiếng gọi và lời đáp trả ấy mở ra cả một hành trình mới, một chân trời mới, một câu chuyện mới mẻ mãi, trong đó Đức Maria gắn kết với mầu nhiệm Chúa Giêsu từng bước, cho tới khi mầu nhiệm ấy được hoàn thành.
Đó là cách Đức Maria đặt câu chuyện con người và cuộc sống mình thuộc về câu chuyện của Thiên Chúa. Đó cũng là cách mà mỗi chúng ta được mời gọi để trao ý nghĩa cho câu chuyện cuộc đời mình.
Lm. Lê Công Đức
Đi trong sa mạc, khổ cực nhiều, được Chúa nuôi bằng manna, nhưng manna cũng sớm nhàm chán, dân lại cằm rằm kêu trách Chúa và Môse… Chúa cảnh cáo họ bằng sự xuất hiện của những con rắn lửa… Bị rắn cắn, họ hoảng sợ xin lỗi Chúa và Môse… Thế là Chúa truyền đúc CON RẮN ĐỒNG và treo lên, để ai bị rắn lửa cắn mà nhìn lên con rắn đồng thì được cứu!
Con rắn đồng được treo lên ấy trở thành một điển tích không thể nào quên trong kho lưu giữ kỷ niệm hành trình sa mạc của toàn dân tộc. Nhưng chức năng trước hết của con rắn đồng trong câu chuyện, đó là báo trước về Thập giá Chúa Kitô, hay chính xác hơn: báo trước về CHÚA KITÔ CHẾT TRÊN THẬP GIÁ!
Câu hỏi Giêsu là ai vẫn đánh đố những người Do thái. Chúa Giêsu vén mở nguồn gốc của Người, rằng Người đến từ Chúa Cha, nhưng thính giả của Người không xuyên thấu được bức tường định kiến để tiếp cận sự thật. Vâng, có một bức tường định kiến sừng sững!… Đã nói và làm hết cách rồi mà không thuyết phục được họ, Chúa Giêsu đề cập ‘biện pháp’ cuối cùng là trao đi chính sự sống: “Khi nào các ông đưa Con Người lên cao, các ông sẽ nhận biết Ta là ai.”
Khi mà mọi cách khác đều vô hiệu thì biện pháp cuối cùng để minh oan, để rút ruột giãi bày, để diễn tả tấm lòng sẽ là chính cái chết, chính việc trao đi mạng sống. Nhưng tình yêu và ý chí cứu độ của Chúa Giêsu không chỉ được cho biết (thông tri, thông tin) qua cái chết của Người, mà còn được thực hiện và hoàn thành qua cái chết ấy. Như con rắn đồng được treo lên ngày xưa, ai nhìn lên đó sẽ được cứu, thì cái chết thập giá của Chúa Giêsu cũng vậy, đây là cái chết trao năng lực cứu độ cho chúng ta!
Chúng ta chỉ cần NHÌN LÊN, như mắt của gia nhân nhìn tay ông chủ, như mắt của nữ tỳ nhìn tay bà chủ… Nhìn lên như vậy là TIN, là TRÔNG CẬY, là YÊU MẾN – và chúng ta sẽ nhận được lòng thương xót và ơn cứu độ của Đấng được treo lên cao!
Lm. Lê Công Đức
Trang Tin Mừng theo Thánh sử Gioan thuật lại câu chuyện Đức Giê-su đến làng Bê-ta-ni-a thì La-da-rô đã chết và chôn được bốn ngày. Chúa Giê-su gặp Mác-ta và Ma-ri-a là chị người chết đang khóc thương em, Ngài đã trấn an họ rằng: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết cũng sẽ được sống” (Ga 11,25). Khi ra thăm mộ của La-da-rô, Đức Giê-su đã chạnh lòng thương, Ngài cầu nguyện với Chúa Cha rồi truyền cho La-da-rô ra khỏi mồ và người chết liền trỗi dậy đi ra ngoài. Qua đó cho chúng ta thấy, Đức Giê-su đã mặc khải Người chính là Con Thiên Chúa hằng sống. Người luôn chạnh lòng thương trước nỗi đau khổ của con người và Người sẽ ban sự sống muôn đời cho những ai đặt trọn niềm tin nơi Người.
Sinh – lão – bệnh – tử là quy luật tất yếu của con người. Con người ai cũng khao khát được sống lâu, sống khỏe để thực hiện những ước mơ và hoài bão, nhưng cuối cùng vẫn phải đối diện với thực tại của cái chết. La-da-rô trong Tin mừng hôm nay là một minh chứng: dù còn trẻ, anh đã ra đi cách bất ngờ, để lại nỗi đau sâu sắc cho Mác-ta, Ma-ri-a và những người thân yêu. Thế nhưng, ngay trong giới hạn của thân phận con người, Đức Giê-su đã tỏ lộ quyền năng và lòng thương xót của Thiên Chúa. Người bước vào nỗi đau ấy, chạm đến và phá tan bóng tối của sự chết. Qua đó, chúng ta nhận ra rằng Thiên Chúa không xa vời hay dửng dưng, nhưng đã nhập thể để đến gần và ở lại với con người.
Đức Giê-su yêu thương chúng ta không chỉ bằng tình yêu của Thiên Chúa, mà còn bằng một trái tim rất con người. Người yêu thương “đến cùng”, nghĩa là yêu đến tận hiến, đến mức trao ban chính mạng sống vì những người mình yêu: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai. Người diễn tả lòng thương xót của Thiên Chúa qua các dấu lạ và trong mọi hành vi cử chỉ thường ngày: Người đã rơi lệ trước cái chết của bạn hữu, xót xa trước nỗi đau của tang quyến, và chạnh lòng thương trước những cảnh đời khốn khó… Qua tất cả, Đức Giê-su tỏ cho chúng ta thấy dung mạo của một Thiên Chúa đầy lòng thương xót, luôn gần gũi, cảm thông và không ngừng nâng đỡ con người trong mọi hoàn cảnh.
2. Chúa Giê-su là Đấng mở cánh cửa của sự sống và niềm hy vọng
Thiên Chúa là Đấng làm chủ sự sống và cái chết. Nơi Đức Giê-su, một chân trời mới được mở ra: con đường dẫn đến sự sống đích thực ngang qua cái chết mà chính Người đã đi qua. Nhờ cuộc Tử nạn và Phục sinh của Người, cái chết không còn là tận cùng, nhưng trở thành lời loan báo của sự sống.
Niềm tin của Mác-ta trước đó còn mơ hồ, như niềm tin của nhiều người đương thời. Nhưng khi chứng kiến La-da-rô được gọi ra khỏi mồ, niềm tin ấy trở nên rõ ràng, sống động và vững chắc. Tảng đá che cửa mồ được lăn đi cũng như tảng đá nghi ngờ trong lòng được phá vỡ, đưa con người đến chỗ xác tín rằng Đức Giê-su chính là nguồn sự sống đời đời: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta dù có chết cũng sẽ được sống” (Ga 11,25).
Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta phải đối diện với sự ra đi của người thân yêu, và không dễ để đón nhận; đôi lúc niềm tin cũng trở nên chao đảo. Giữa những mất mát ấy, chúng ta được mời gọi thưa lên như Mác-ta và Ma-ri-a: “Lạy Thầy, con tin”. Chính lời tuyên xưng đơn sơ nhưng chân thành ấy mở ra con đường cho ân sủng Thiên Chúa hoạt động, như khi Đức Giê-su gọi La-da-rô trở lại sự sống. Qua đó, chúng ta được dẫn đến xác tín rằng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, là Chúa của sự sống, Đấng có quyền năng ban sự sống cho con người.
3. Thái độ của người môn đệ để có sự sống mới
Đức Giê-su tiến đến mộ La-da-rô, dâng lời cầu nguyện cùng Chúa Cha, rồi lớn tiếng gọi: “Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ!” (Ga 11,43). Lập tức, “người chết liền ra, chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn” (Ga 11,44). Lời gọi ấy cũng đang vang lên cho mỗi người chúng ta hôm nay: “Hãy ra khỏi mồ!” Bao tảng đá của đau khổ, tội lỗi, sợ hãi, tổn thương, thất vọng… vẫn đang đè nặng tâm hồn ta. Đức Giê-su mời gọi ta bước ra, đứng dậy và tiếp tục hành trình trong niềm tin. Hãy tháo bỏ những băng quấn của sợ hãi, những ràng buộc của yếu đuối, để tâm hồn được tự do đón nhận ân sủng. Dù quá khứ nặng nề tội lỗi đến đâu, chúng ta đừng khép lòng mình trước Chúa, nhưng hãy mở ra để Người bước vào, nâng đỡ và dẫn dắt, vì Người vẫn luôn nói với chúng ta: “Đừng sợ, có Ta ở với con” (Is 41,10).
Lạy Chúa Giê-su giàu lòng thương xót, cuộc sống chúng con là hành trình không ngừng tìm kiếm: tìm sức khỏe, thành công và những điều chúng con khao khát. Nhưng chúng con nhận ra rằng càng tìm kiếm, chúng con càng nhận ra sự trống rỗng của những giá trị chóng qua. Chỉ có Chúa mới là nguồn sống đích thực, mới có thể lấp đầy tâm hồn chúng con. Xin cho chúng con biết cởi bỏ con người cũ, để mặc lấy con người mới là chính Đức Ki-tô. Xin củng cố đức tin cho chúng con, để giữa những thử thách và biến cố của cuộc đời, chúng con luôn vững tin và đặt trọn niềm hy vọng nơi Ngài.
Maria Thảo An