Cái chết của Chúa Giêsu đang đến gần. Hôm nay cái chết ấy được báo trước bởi việc Maria ở Bêtania xức dầu thơm lên chân Chúa, một hành động chỉ về ngày táng xác Chúa Giêsu.
Đó là cái chết của người Tôi Tớ được Thiên Chúa tuyển chọn và hài lòng, người tôi tớ khiêm nhường và nhẫn nại thi hành công lý: “không bẻ gãy cây lau bị giập, không dập tắt tim đèn còn khói”! Cái chết ấy đánh dấu bóng tối leo thang đến cực đại, nhưng cũng đánh dấu sự khải thắng chung cuộc của ánh sáng trên bóng tối, và người Tôi Tớ đau khổ của Thiên Chúa được đặt làm ánh sáng của chư dân. Và qua tất cả, cái chết ấy là cái chết giải phóng: “mở mắt cho người mù, đưa ra khỏi tù những người bị xiềng xích, đưa ra khỏi ngục những người ngồi trong tối tăm”…
Thánh vịnh 26 tuyên xưng ý nghĩa về ánh sáng và giải phóng nơi cái chết của người Tôi Tớ đau khổ là Chúa Giêsu: “Chúa là sự sáng, và là Ðấng cứu độ, tôi sợ chi ai? Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai?”…
Trong những tình tiết của câu chuyện tại gia đình Bêtania, có thể nhận ra ‘tuyên ngôn quan tâm người nghèo’ của Giuđa Iscariot. “Sao không bán dầu thơm đó lấy ba trăm đồng mà cho người nghèo khó?” Tuyên ngôn này đậm màu giải phóng, và do đó cũng là tiếng nói hùng hồn của công lý! Nhưng sự thật không phải thế. Giuđa chỉ mượn danh nghĩa ‘quan tâm người nghèo’ thôi. Anh ta đang lừa dối, đang ‘đưa số tài khoản của mình cho người ta chuyển khoản’ – có thể nói như thế theo ngôn ngữ ngày nay. Chính thánh sử Gioan vạch rõ tim đen của Giuđa: “Hắn nói thế không phải vì lo lắng cho người nghèo khó đâu, mà vì hắn là tên trộm cắp, lại được giữ túi tiền, nên bớt xén các khoản tiền người ta bỏ vào đó”!
Khổ thân cho Giuđa, cũng vì anh ta – dù theo Chúa bấy lâu – vẫn không biết Giêsu là ai và do đó không coi Giêsu ra gì, nên anh ta mới đắm chìm trong những tính toán tư lợi như thế. Không quá ngạc nhiên khi chỉ ít ngày nữa anh ta sẽ bán Chúa Giêsu!
Chúa Giêsu đã bị ‘môn đệ’ Giuđa bán một cách thô thiển cách đây hai ngàn năm. Ngày nay, bài học vẫn còn nguyên đó, thậm chí ‘lớn chuyện’ hơn nhiều, bởi Chúa thường bị bán cách tinh vi và chuyên nghiệp hơn, chứ không thô thiển như thế… Chúng ta hãy đi vào trong tâm hồn của Chúa Giêsu, và đồng cảm với Chúa!
Chúa chấp nhận bị người thân tín bán đứng như thế… để giải phóng chúng ta, và cho ta thấy thế nào là chiến thắng cuối cùng của ánh sáng trên bóng tối.
Lm. Lê Công Đức
Thánh lễ hôm nay, cách riêng nghi thức kiệu lá và toàn bộ phụng vụ Lời Chúa, trao cho chúng ta toàn cảnh biến cố Khổ Nạn của Chúa Giêsu, kể từ khi Người vào thành Giêrusalem lần cuối cùng ấy cho đến khi Người chịu đóng đinh và chết trên Thập giá, được gỡ xuống và an táng trong mồ. Bài Thương Khó là tường thuật chi tiết cuộc Khổ Nạn (x. Mc 14,1-15.47). Nhiều nhân vật và đầy ắp sự kiện trong đó có thể là dữ liệu hàm súc giúp suy niệm/ chiêm niệm và gợi tâm tình cho chúng ta.
Chẳng hạn, có thể tuỳ chọn tập trung vào hình ảnh của Phêrô, của Giuđa Iscariot, các môn đệ trong Bữa Tiệc Ly và trong Vườn Cây Dầu, Philatô, đám đông cuồng nhiệt, vân vân…! Hay những sự kiện, như: Chúa lập bí tích Thánh Thể, Chúa thổn thức cầu nguyện với Cha trong Vườn Cây Dầu, Chúa bị bắt, bị xét xử, Chúa vác Thập giá, bị đóng đinh và treo lên, những lời cuối cùng trên Thập giá, và Chúa trút hơi thở…!
Nhưng hôm nay có lẽ việc tiếp cận Cuộc Thương Khó của Chúa cách toàn bộ, tổng quan, thì được khuyến khích hơn – như người ta đứng trước sân nhà nhìn toàn cảnh công trình trước khi bước vào chiêm ngắm các hạng mục bên trong. Bài đọc Isaia – là Bài ca thứ ba về Người Tôi Tớ đau khổ của Chúa – giúp cho thấy cái cốt yếu trong kinh nghiệm ‘thương khó’ của Chúa Giêsu, đó là kinh nghiệm bị sỉ nhục, bị chà đạp tận cùng, nhưng tinh thần của Người vẫn trụ vững: “Tôi đã đưa lưng cho kẻ đánh tôi, đã đưa má cho kẻ giật râu; tôi đã không che giấu mặt mũi, không tránh những lời nhạo cười và những người phỉ nhổ tôi. Vì Chúa nâng đỡ tôi, nên tôi không phải hổ thẹn” (x. Is 50,4-7).
Nhưng có sự căng thẳng và giằng co nào đó bên trong cảm xúc: Chính cảm nghiệm được Thiên Chúa nâng đỡ cũng bị thử thách, trong thân phận con người. Và tính bi tráng của Cuộc Thương Khó không chỉ ở chỗ Giêsu bị con người vứt bỏ cách thậm tệ, mà hơn thế nữa, Người cảm thấy như Người bị chính Thiên Chúa loại trừ: “Ôi Thiên Chúa! Ôi Thiên Chúa! Sao Chúa đã bỏ con?” (Đáp ca, Tv 21).
Việc chiêm ngắm toàn bộ Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu hy vọng sẽ dẫn chúng ta vào sâu hơn nữa trong xác tín này: Chính VÌ CHÚNG TA mà Chúa Giêsu đã từ chối địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, đã huỷ mình ra không, đã trở nên một người phàm, đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá! (x. Pl 2,6-11).
Nhưng “Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu”! (ibid.) Và chúng ta, khi chiêm ngắm toàn bộ mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Giêsu, sẽ tuyên xưng cách tâm phục khẩu phục rằng: Người là CHÚA!
Lm. Lê Công Đức
Một ngày trước khi bước vào Tuần Thánh (với trình thuật Thương Khó long trọng trong Lễ Lá ngày mai, và với những diễn biến căng thẳng tăng dần trong những ngày tiếp theo), Lời Chúa hôm nay hé mở cho thấy trước chân trời ý nghĩa của tất cả những gì mà Chúa Giêsu phải đảm nhận trong cuộc Khổ Nạn và cái chết của Người. Trước mắt là u ám, tối tăm… Nhưng điểm tới sẽ là ánh sáng huy hoàng và niềm vui tràn ứ khi kế hoạch của Thiên Chúa đạt thành tựu.
Trước hết, đoạn sách Êdekien là bản kế hoạch tổng thể của Thiên Chúa, trong đó với âm giọng phấn khích, Chúa mô tả bức tranh đầy những gam màu sáng là những việc tốt lành mà Ngài sẽ thực hiện cho dân Ngài… Chúa sẽ qui tụ con cái Israel từ khắp nơi và đưa về quê hương… Dân sẽ hợp nhất nên một, không còn phân hoá nữa, và sẽ từ bỏ tà thần, tội lỗi xấu xa… Chúa sẽ thanh tẩy họ, làm cho họ thành dân của Chúa, và Ngài sẽ là Thiên Chúa của họ… Chúa sẽ ký kết giao ước vĩnh cửu với Đavit, vua của họ… Các dân tộc sẽ nhận biết Thiên Chúa, Đấng thánh hoá Israel… Và Chúa sẽ ngự giữa dân Ngài đến muôn đời!…
Lời Đáp ca từ sách Giêremia là tâm tình hân hoan của dân Chúa trước viễn ảnh khải thắng tuyệt vời ấy: “Hỡi các dân tộc, hãy nghe lời Chúa, hãy công bố lời Chúa trên các đảo xa xăm; hãy nói rằng: ‘Ðấng đã phân tán Israel, sẽ quy tụ nó lại, và sẽ gìn giữ nó, như mục tử chăn dắt đoàn chiên mình’”…
Nhưng… bằng cách nào những điều đó được thực hiện?
Đoạn Tin Mừng Gioan tường thuật chuyện các thượng tế và biệt phái họp công nghị trong bối cảnh mà Chúa Giêsu được họ thấy là nguy hiểm quá. Chính tại công nghị này Caipha đã tuyên bố ‘thà một người chết thay cho dân, còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt’! Và đó là bản án quyết định số phận của Chúa Giêsu, trước khi các diễn biến đưa đến bản án chính thức mà tổng trấn Philatô sẽ tuyên để việc giết Con Thiên Chúa được hợp pháp hoá theo qui định hiện hành.
“Thà một người chết thay cho dân, còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt”! Thật bất ngờ, vì tuyên bố này của Caipha lại chính là sự giải thích chân thực cho biến cố Thập giá. Chúa Giêsu chết vì tội lỗi của con người, chết thay cho con người. Người chết để cho chúng ta được sống, để “quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mát về một mối”.
Ngày mai, vào Tuần Thánh, ngay trong Lễ Lá chúng ta sẽ nghe Giáo hội công bố cuộc Thương Khó của Chúa. Rồi những sự kiện cuối cùng được lần lượt nhắc lại, cho đến chiều Thứ Sáu Thánh, cái chết của Chúa sẽ được tưởng niệm cách long trọng. Tham dự cuộc cử hành cao điểm này của Giáo hội, tất cả chúng ta hãy luôn ghi nhớ chứ đừng quên: CHÚA GIÊSU CHẾT VÌ TA, CHÚA CHẾT CHO TA ĐƯỢC SỐNG! Chính cái chết của Chúa Giêsu sẽ đưa kế hoạch tổng thể tuyệt vời của Thiên Chúa đến chỗ hoàn thành. Điều này sẽ được đóng ấn bởi sự kiện Chúa Phục sinh!
Lm. Lê Công Đức
Giêremia kinh nghiệm tình trạng bị thoá mạ, chế nhạo, và tố cáo… nhưng cũng tin tưởng và kinh nghiệm rằng Chúa ở với mình và bảo vệ mình… Niềm tin tưởng này quí biết bao, bởi không gì khác ngoài niềm tin tưởng này sẽ giúp chúng ta mạnh mẽ và đứng vững trong thử thách, nhất là những khi mà cả thế giới dường như chống lại mình.
Từ niềm tin tưởng này, tác giả Thánh vịnh 17 có thể thốt lên: “Trong cơn đại hoạ, tôi đã cầu khẩn Chúa, tôi đã kêu xin Thiên Chúa của tôi… Lạy Chúa là dũng lực con, con yêu mến Chúa, lạy Chúa là Tảng Ðá, chiến luỹ, cứu tinh…”
Đó chính là tâm cảnh của Chúa Giêsu trong những ngày này, khi mà giờ của Người đang đến rất gần. Người ta lượm đá để ném Chúa. Nhưng Người vẫn đĩnh đạc đối đáp với họ, trong những cố gắng cuối cùng nhằm giúp họ nhận ra đâu là sự thật…
Các anh à. Tôi đã làm bao việc giữa các anh. Đó là những việc Cha sai tôi làm. Vì việc nào mà các anh cho rằng tôi đáng chết nhỉ? À, các anh nói tôi lộng ngôn khi khẳng định nguồn gốc thần linh của mình? Khoan đã, các anh không nhớ lời Chúa tuyên bố “Các ngươi là thần”, nói về những ai nghe lời Thiên Chúa đó sao? Hãy mở mắt, mở lòng trí ra đi, các anh sẽ thấy tôi không lộng ngôn đâu, bởi tôi đến từ Cha, được Cha thánh hiến và sai vào trần gian, chỉ nhằm giúp các anh đón nhận ân sủng và sự thật!…
“Các ngươi là thần!” Vâng, ở lại trong thánh ý Thiên Chúa, tất cả chúng ta là những thần linh. Con người được tạo nên để đi vào thông dự thần tính của Thiên Chúa. Bộ phim ‘Des hommes et des dieux’ được đặt tiêu đề như thế có lẽ nhằm phản ánh ý nghĩa này. Đó là câu chuyện về các đan sĩ Xi tô nhặt phép ở Đan viện Tibhirine (Algerie) trong tình thế cực kỳ nguy hiểm vẫn quyết định liều mạng sống mình, để ở lại với bà con nông dân địa phương và chia sẻ đời sống với họ. Các đan sĩ bị bắt và bị sát hại (năm 1996). Những con người này đã cho thấy ơn gọi làm người của mình là sống và hành động như những thần linh! Chọn thánh ý Thiên Chúa, người ta phản ánh tình yêu thần linh của chính Thiên Chúa, nơi con người ‘xác đất vật hèn’ của mình…
Chính Chúa Giêsu – trong sự đảm nhận cuộc Thương Khó của Người – là nguồn cảm hứng, là động lực cho sự chọn lựa của các đan sĩ ở Tibhirine ấy, cũng như cho vô số các môn đệ thừa sai của Người trong dòng lịch sử đã chọn lựa sống và chết vì con người. Phẩm giá ‘thần linh’ nơi mình và nơi những anh chị em nghèo hèn mà mình phục vụ rất đáng để mình chọn lựa như thế!
Chuẩn bị cử hành cuộc Thương Khó của Chúa vì tình yêu cứu độ dành cho chúng ta, tâm tình và thái độ xứng hợp của chúng ta là biết ơn và tự trọng. Biết ơn, vì Chúa thương ta đến cùng. Và tự trọng, vì phẩm giá con người chúng ta đáng trọng đến mức được gọi đi vào trong phẩm giá thần linh của Chúa, qua cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô!
Lm. Lê Công Đức
Đoạn sách Sáng thế về lời hứa của Thiên Chúa với Abraham chứa đầy những cụm từ “Ta sẽ…”: – “Này Ta đây, Ta giao ước với ngươi… Ta sẽ đặt ngươi làm tổ phụ nhiều dân tộc. Ta sẽ ban cho ngươi con cháu đông đúc. Ta sẽ đặt ngươi làm tổ phụ nhiều dân tộc, và nhiều vua chúa xuất thân từ ngươi. Ta sẽ thiết lập giao ước vĩnh viễn giữa Ta với ngươi cùng con cháu ngươi từ thế hệ này qua thế hệ khác… Ta sẽ ban cho ngươi và dòng dõi ngươi đất mà ngươi cư ngụ, sẽ cho ngươi làm chủ vĩnh viễn toàn cõi đất Canaan và Ta sẽ là Chúa của chúng”…
Đó là những việc Chúa hứa sẽ làm. Còn về phía Abraham và con cháu, Chúa chỉ yêu cầu một điều thôi: “Phần ngươi và dòng dõi ngươi, từ đời nọ sang đời kia, hãy giữ lời giao ước của Ta”. Chúng ta thấy bản ‘hợp đồng’ bất tương xứng về nghĩa vụ của hai bên – bởi vì Chúa quá thương nên Ngài quá hào phóng. Abraham trung tín, dù không phải không có trầy trật. Nhưng con cháu của vị Tổ phụ thì thường xuyên trôi giạt xa đường lối Chúa và làm Chúa phiền nhiều…
Và thật mầu nhiệm, lịch sử cứu độ cho thấy đó là cách Thiên Chúa đưa con người vào Giao Ước mới trong Chúa Giêsu Kitô. Chính ơn cứu độ phổ quát qua cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu sẽ cho thấy cách mà Abraham được đặt “làm tổ phụ nhiều dân tộc”! Chính Chúa Giêsu Kitô là chìa khoá giúp đọc lại và nhận hiểu những lời nói và hành động của Thiên Chúa trong lịch sử, trong tầng ý nghĩa sâu xa nhất của những lời nói và những hành động đó.
Khổ nỗi, đứng trước Chúa Giêsu, những người Do thái đương thời vẫn không nhận ra Người là chiếc ‘Chìa Khoá’ thần kỳ ấy. Họ chỉ nắm bắt tầng nổi của những gì họ thấy và nghe. Chúa Giêsu muốn nói một đàng, họ hiểu một nẻo – vì thế bầu khí xung đột và căng thẳng ngày càng tăng!… Chúa Giêsu nói: “Nếu ai giữ lời Ta, thì muôn đời sẽ không phải chết”… “Các ngươi không biết Chúa Cha, còn Ta, Ta biết Ngài”… “Cha các ngươi là Abraham đã thấy ngày của Ta và đã vui mừng”… “Khi Abraham chưa sinh ra, thì Ta đã có rồi”… Họ không hiểu. Và điều xảy ra là họ bảo Giêsu bị quỉ ám – và họ lượm đá ném Người!
Sắp sửa bước vào cử hành cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, chúng ta tự hỏi mình có hay mau mắn ‘ném đá’ không, ‘ném đá’ anh chị em mình, và ‘ném đá’ cả Chúa? Ta dễ dàng ‘ném đá’ vì ta nghĩ mình sở hữu sự thật, vì ta xa lạ với Sự Thật là Chúa Giêsu. Đồng cảm với Chúa trong cuộc Thương Khó của Người, ta xin Người giúp ta biết buông mọi khí giới của mình xuống, và để cho Sự Thật của Người chiếm hữu lấy mình. Ta sẽ kinh nghiệm thế nào là sự giải phóng đích thực.
Lm. Lê Công Đức
Sáng Chúa Nhật ngày 6/4, trong Thánh Lễ Năm Thánh dành cho các bệnh nhân và giới y tế tại quảng trước thánh Phêrô, Đức Thánh Cha đã ra quảng trường để chào các tín hữu tham dự.
Đức Thánh Cha diễn tả trong sứ điệp cho Kinh Truyền Tin: “Trong ngày hành hương Năm Thánh dành cho các bệnh nhân và giới y tế, tôi cầu xin Chúa cho cái chạm yêu thương của Người được lan tỏa đến tất cả những ai đang đau khổ và khích lệ những ai đang tận tình chăm sóc họ. Tôi cũng cầu nguyện cách đặc biệt cho các bác sĩ, y tá và nhân viên y tế – những người không phải lúc nào cũng nhận được sự hỗ trợ đầy đủ để làm việc trong điều kiện xứng đáng, và đôi khi còn trở thành nạn nhân của những hành vi bạo lực. Sứ mạng của họ không dễ dàng, vì thế cần được nâng đỡ và tôn trọng. Tôi mong muốn rằng các nguồn lực cần thiết sẽ được đầu tư nhiều hơn cho việc chăm sóc sức khỏe và nghiên cứu, để các hệ thống y tế trở nên bao hàm và quan tâm đến những người yếu thế và nghèo khổ nhất.”
Ngài đã nói lời chào các tín hữu dù giọng còn rất yếu: “Buona domenica a tutti. Grazie tante!” – “Chúc mọi người Chúa Nhật tốt lành. Cảm ơn rất nhiều!”
Đức Thánh Cha cũng đã ban phép lành cùng với Đức TGM Rino Fisichella, người chủ sự thánh lễ Năm Thánh dành cho các bệnh nhân và giới y tế.
Sau khi chào thăm, Đức Thánh Cha đã qua Cửa Thánh để vào Đền thờ Thánh Phêrô.
Nguồn. Vatican News
Vua Nabucôđônôsor xử ‘đốt lò’ ba chàng thanh niên. Và lò phải được đốt nóng tối đa, vì ba chàng ấy kiên định giữ vững niềm tin của mình, bất chấp lệnh truyền của nhà vua. Câu chuyện này cho thấy Nabucôđônôsor là hình tượng tiêu biểu, là ‘thánh bổn mạng’ của những kẻ độc đoán, cường quyền (trong Giáo hội thì một đặc trưng của loại cường quyền này là tệ nạn giáo sĩ trị). Nhưng rồi, như mọi người đều biết, núi đá đã hoá ra mềm nhũn như bùn. Vua Nabucôđônôsor đã mở mắt, nhìn nhận mình sai lầm, và nhìn nhận ba chàng trai trẻ kia đã đúng đắn khi “không phục luỵ thờ lạy Chúa nào khác ngoài Thiên Chúa của họ”. Chúng ta cảm ơn Chúa đã ra tay, và ở đây chúng ta chúc mừng Nabucôđônôsor. Sự thật đã chinh phục và lật đổ sự sai lầm!
Diễn từ của Chúa Giêsu với những người Do thái trong Tin Mừng Gioan hôm nay cũng xoay quanh chủ đề về sự thật và năng lực giải phóng của sự thật: “Nếu các ngươi cứ ở trong lời Ta, các ngươi sẽ thật là môn đệ của Ta, sẽ được biết sự thật, và sự thật giải thoát các ngươi”.
“Chúng tôi là con cháu Abraham, và chưa bao giờ làm nô lệ ai cả. Tại sao ông lại nói ‘Các ngươi sẽ được tự do’?” Vấn đề nằm ở đây, ở phản ứng này của những người Do thái. Họ không nghĩ mình là nô lệ, dù thực sự họ là nô lệ cho sự sai lầm và tội lỗi của họ. Nghe một lời động chạm, họ giãy nảy như đỉa phải vôi.
Thế đó. Không phải nô lệ nào cũng biết mình là nô lệ. Ở trong sai lầm, không phải ai cũng biết mình đang sai lầm. Đó là bi kịch. Chúng ta thường dễ tưởng mình nắm được, sở hữu được sự thật, mà không biết rằng sự thật lớn hơn chúng ta và sở hữu chúng ta – theo nghĩa chúng ta không bao giờ thoát được khỏi sự thật. Chống lại sự thật, thì trục trặc, bế tắc, và đau! Chắc chắn như thế.
Chỉ có một người, là Chúa Giêsu, mới sở hữu sự thật. Đúng hơn, Người LÀ SỰ THẬT – như chính Người tuyên bố. “Ta là Sự Thật”. Hãy lắng nghe lại lời này của Chúa Giêsu, và hãy cho phép lời này âm vang trong mình, chúng ta sẽ nhận ra đây là mặc khải then chốt nhất của Chúa cho chúng ta – và về phía chúng ta, đây là khám phá vĩ đại nhất, có sức giải phóng toàn diện và tận căn mọi vấn đề của mình.
Vì Chúa Giêsu là Sự Thật, nên ở trong Người, nghe lời Người, chúng ta sẽ ở trong Sự Thật và sẽ được Tự Do. Chúa Giêsu, và chỉ nơi Người, mới có câu trả lời cho tất cả những khúc mắc của hiện sinh chúng ta.
Lm. Lê Công Đức
Sáng Chúa nhật ngày 06/4, trên đường từ Nhà Thánh Marta đến Quảng trường Thánh Phêrô để chào thăm các tín hữu tham dự Thánh lễ Năm Thánh dành cho các bệnh nhân và giới y tế, Đức Thánh Cha có cuộc gặp bất ngờ với sơ Francesca Battiloro, 94 tuổi, nữ đan sĩ Dòng Thăm Viếng đã 75 năm.
Sơ Francesca Battiloro đang sống tại đan viện ở Napoli. Ở tuổi 94, sơ ước mong được đến Đền thờ Thánh Phêrô, qua Cửa Thánh và tham dự Thánh lễ Năm Thánh dành cho các bệnh nhân. Với sự hỗ trợ của Hội hiệp sĩ Malta, sơ được toại nguyện. Do sức khoẻ yếu nên sơ được phép trải nghiệm những giờ phút linh thiêng này ở phía trong Đền thờ trong lúc Thánh lễ diễn ra bên ngoài với sự tham dự của khoảng 20.000 tín hữu.
Lúc sơ Francesca Battiloro đang cầu nguyện trước mộ Thánh Phêrô cùng với một số người, thì xe lăn của Đức Thánh Cha đi ngang qua. Khi thấy vị nữ tu cao niên, Đức Thánh Cha liền hỏi “Sơ có phải là một trong những nữ tu ở Napoli không?”. Đức Thánh Cha muốn nói đến các nữ tu Dòng Thăm Viếng đã được gặp ngài trong dịp ngài viếng thăm thành phố này vào năm 2015. Dịp đó, mọi người đã được chứng kiến một cuộc gặp gỡ đầy thân tình, tràn đầy niềm vui giữa Đức Thánh Cha và một nhóm các nữ tu dòng kín tại Nhà thờ Chính Toà Napoli. Sơ không có mặt trong dịp gặp gỡ đó.
Với sự xúc động, sơ Francesca Battiloro kể lại cuộc gặp gỡ: “Tôi đã xin Chúa cho tôi được gặp Đức Thánh Cha, nhưng tôi biết chuyện này là không thể. Trái lại Chúa đã gửi Đức Thánh Cha đến gặp tôi. Dường như khi tôi xin điều gì Chúa luôn ban cho tôi. Đây thực sự là thời gian Chúa lắng nghe tôi, ngay cả trong những điều bé nhỏ”.
Nữ tu nói với Vatican News, sau khi được gặp Đức Thánh Cha, sơ đã xin Chúa một điều khác: “Xin cho con được chết trong tình yêu thương thuần khiết. Ước muốn của tôi là cuối cùng được gặp Đấng đã tạo dựng nên tôi”. Sơ Francesca Battiloro khẳng định, sơ cũng đã nói điều này với Đức Thánh Cha trong cuộc gặp gỡ, và bảo đảm với Đức Thánh Cha về việc cầu nguyện cho ngài trong thời gian dưỡng bệnh này.
Sơ nói: “Tôi đã nói với Đức Thánh Cha: Thưa Đức Thánh Cha, con đang cầu nguyện rất nhiều cho Đức Thánh Cha. Con dâng hiến cuộc sống cho Chúa Giêsu để Chúa chữa lành Đức Thánh Cha, và trái lại con sẽ ra đi… Đức Thánh Cha mỉm cười. Và tôi trở về nhà trong niềm vui. Tôi thực sự mong ước cuộc gặp gỡ này”.
Nguồn: Vatican News
“Các ông sẽ chết trong tội của các ông!” Câu này của Chúa Giêsu được nhắc đến ba lần trong đoạn Phúc Âm Gioan hôm nay. Và có lẽ đây là cách ‘chú giải’ tốt nhất cho sự kiện “Chúa cho rắn lửa bò ra cắn chết nhiều người” trong sa mạc khi họ kêu trách Chúa và Môsê. Sự kiện ấy mở ra giải pháp “con rắn đồng” mà Chúa đề nghị Môsê cho đúc và treo lên. Một hình ảnh biểu tượng mà chính Chúa Giêsu xác nhận có ý nghĩa tiên báo về cái chết treo Thập giá đầy năng lực cứu rỗi của Người!
Tất cả việc mà những người bị rắn cắn cần làm là NHÌN LÊN con rắn đồng. Chỉ nhìn lên bằng ánh mắt kêu cứu thôi, vâng, chứ đã yếu nhược lắm rồi, thoi thóp sắp chết rồi, thì có khả năng làm gì hơn? NHÌN LÊN như vậy chính là TIN vào Chúa Giêsu, Đấng chịu đóng đinh: “Nếu các ông không TIN Ta, các ông sẽ chết trong tội của các ông!” Thập giá là nơi Chúa Giêsu mặc khải rõ nhất về Người: “Khi nào các ông đưa Con Người lên cao, các ông sẽ nhận biết Ta là ai”.
Lưu ý, Chúa Giêsu đang nói với những người biệt phái, họ là nhóm đạo đức đặc biệt. Đạo đức đặc biệt, nhưng bị cảnh cáo rằng “các ông sẽ chết trong tội của các ông”! Đạo đức đặc biệt, nhưng mù tịt không nhận biết Chúa Giêsu, đến nỗi chính họ sẽ “đưa Con Người lên cao” tức là giết Con Thiên Chúa, hành động điên rồ nhất, thì khi ấy họ mới nhận biết Người là ai! Sự mù quáng, cố chấp, sai lầm, ảo tưởng và hư hỏng của con người có thể đến mức đó. Nhưng điều lạ lùng không tưởng nhất, đó là Thiên Chúa – dù không hề muốn sự dữ – vẫn có thể rút ra điều tốt lành nhất cho con người từ chính sự dữ khủng khiếp của con người: Chúa Giêsu bị treo lên ấy trở thành ƠN CỨU ĐỘ cho bất cứ ai nhìn lên và TIN vào Người!
Thật vậy, sứ điệp căn bản trong bài giảng tiên khởi (kerygma) của các Tông đồ là: Đức Giêsu Nadaret… quí vị đã cho đóng đinh… và Người đã chết, nhưng Thiên Chúa đã cho Người sống lại… đặt Người làm Đấng Kitô… quí vị hãy sám hối và tin vào Người… sẽ được sống! Như con rắn đồng đem lại sự chữa lành và sự sống, Chúa Giêsu chịu đóng đinh trở thành NGUỒN SỐNG cho tất cả chúng ta.
Để không “chết trong tội của mình”, tất cả chúng ta hãy NHÌN LÊN và TIN vào Người!
Lm. Lê Công Đức
Câu chuyện về bà Susanna là một trình thuật dài, đầy kịch tính, trong đó khắc hoạ tà tâm của hai kỳ lão dẫn đến việc dàn dựng kịch bản hãm hại người phụ nữ vô tội một cách độc ác. Bà Susanna bất lực trước ‘lời chứng của hai người’, chỉ biết hướng về Chúa mà kêu lên: “Lạy Chúa hằng hữu, Ðấng thấu biết mọi bí ẩn và mọi sự trước khi xảy ra, Chúa biết họ làm chứng gian hại con; và đây con phải chết, dù con không làm điều gì mà họ ác ý vu khống cho con”… Chúa đã nhìn đến và nghe lời bà, Ngài đã dùng sự can thiệp của Đanien vào giờ phút chót để cứu mạng bà, đồng thời trừng phạt hai kỳ lão có tâm địa đen tối kia. Câu chuyện khép lại với tiếng thở phào nhẹ nhõm của người theo dõi: “Ngày hôm đó máu người vô tội khỏi đổ oan”. Ánh sáng đã chiến thắng bóng tối!
Những gì xảy ra với Chúa Giêsu còn kịch tính hơn thế, và cũng khắc hoạ cuộc tương tranh gay gắt giữa ánh sáng và bóng tối đến nghẹt thở. Chúa Giêsu là ánh sáng chiếu soi thế gian, nhưng thế gian không đón nhận. Người Do thái cần ‘lời chứng của hai người’ để họ tin – còn Chúa Giêsu có lời chứng của chính Người và của Chúa Cha, họ không nhận biết và quyết không tin. Ta thấy bóng tối chống lại ánh sáng thật kịch liệt, và cuộc chiến đấu của ánh sáng không dễ dàng chút nào. Cuối cùng, số phận của Chúa Giêsu không ‘may mắn’ như bà Susanna trong sách Đanien. Con Thiên Chúa đã bị giết chết, máu của người vô tội đã đổ ra!…
Có điều là câu chuyện vẫn chưa hết. Chúa Giêsu chết và đã được Chúa Cha nâng dậy. Người sống lại. Và đây mới là tiếng nói cuối cùng. Ánh sáng không hề chịu khuất phục bóng tối. Ánh sáng, sự thật, tình yêu của Thiên Chúa khải thắng. Và như thế, những người thuộc về Thiên Chúa, thuộc về ánh sáng, sẽ có thể thốt lên: “Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con” (x. Tv 22).
Thế giới và nhân loại thời nay – cũng như bất cứ thời nào – vẫn đầy những bi kịch liên quan tới những nỗi oan khiên chất ngất của người công chính. Cuộc chiến giữa ánh sáng và bóng tối, giữa sự thật và sự mù quáng, giữa thiện và ác… vẫn còn đó. Và chỉ cần nhìn vào kinh nghiệm của chính mình, chúng ta cũng đủ nhận thấy thế lực của bóng tối thật mạnh mẽ khủng khiếp!
Nhưng đừng quên, Ánh Sáng là Chúa Kitô đã chiến thắng! Nghĩa là chiến thắng cuối cùng của chúng ta, các môn đệ của Người, đã được ‘bảo kê’ chắc chắn. Cứ đứng về phía Ánh Sáng, là THẮNG, cứ chiến đấu, là THẮNG. Dẫu thịt nát xương tan, cuối cùng Ánh Sáng sẽ chiến thắng bóng tối – điều mà chúng ta cử hành trong Đêm Canh Thức Phục Sinh!
Lm. Lê Công Đức