Chúng Tôi Đã Cấm Ngặt, Sao Các Anh Cứ Rao Giảng? (01.5.2025 Thứ Năm Tuần II Phục Sinh)

“Chúng tôi đã truyền lệnh nghiêm ngặt cấm các anh giảng dạy nhân danh đó. Thế mà lời rao giảng của các anh đã tràn ngập Giêrusalem, và các anh muốn máu của con người ấy đổ trên đầu chúng tôi!” Đó là lời vị thượng tế tố cáo các Tông đồ tại thượng hội đồng. Nhưng Phêrô và các Tông đồ trả lời mạnh mẽ và dứt khoát: “Chúng tôi phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời con người!”

Một lần nữa, các Tông đồ khẳng định rằng mình cần phải rao giảng về Chúa Phục sinh, bất chấp mọi sự cấm đoán của quyền lực tôn giáo và xã hội. Sự căng thẳng này vẫn luôn có mặt mọi nơi và mọi thời, ngay trong thời của chúng ta – như Đức Phanxicô lưu ý mọi người, cách riêng các nhà cầm quyền, trong Sứ điệp Phục sinh hôm trước khi ngài qua đời: “Không thể có hòa bình ở nơi không có tự do tôn giáo hoặc nơi không có tự do tư tưởng và ngôn luận, cũng như sự tôn trọng ý kiến của người khác”.

Và một lần nữa, chúng ta tự hỏi tại sao phải rao giảng Chúa Giêsu Kitô trong hoàn cảnh gay cấn như thế? Lý do là đây: Phải rao giảng Chúa Giêsu Kitô vì Chúa Cha yêu Chúa Con và trao mọi sự trong tay Chúa Con. Phải rao giảng vì ai tin vào Chúa Con thì có sự sống đời đời, và vì ai không tin Chúa Con thì sẽ không có được sự sống, và cơn giận của Thiên Chúa vẫn còn trên người ấy – như Chúa Giêsu xác nhận với ông Nicôđêmô…

Phải rao giảng Chúa Giêsu Kitô, vì Người đến từ trên cao và Người cao vượt trên tất cả. Không biết, không tin, không đón nhận Người, thì chúng ta vẫn là ‘giun dế’, chỉ thuộc về đất và chỉ bận tâm tới những gì thuộc dưới đất mà thôi.

Nhưng chúng ta có phẩm giá cao quí hơn loài ‘giun dế’ nhiều!

Lm. Lê Công Đức


Được Cứu Để Tự Do, Được Tự Do Để Rao Giảng Và Làm Chứng (30.4.2025 Thứ Tư Tuần II Phục Sinh)

Ngày 30 tháng 4, trước đây thường gọi là ngày ‘giải phóng miền nam’, nhưng hiện nay ta thường nghe những cụm từ khác hơn, chẳng hạn, ‘kết thúc chiến tranh’, ‘thống nhất đất nước’ – vì có một số lý do làm cho cách gọi kia ngày càng bị chất vấn… Hôm nay, các tông đồ bị bắt và tống giam rất kỹ, nhưng được giải phóng một cách ngoạn mục. Tuy nhiên, cả ở đây, hai tiếng ‘giải phóng’ cũng không nói lên được điều cốt yếu trong thực tế…

Bởi các tông đồ được giải phóng khỏi ngục tù không phải để trốn tránh đi đâu đó cho an toàn, mà để vào đền thờ và công khai giảng dạy dân chúng (khỏi phải nói, công khai giảng dạy như thế thì việc bị bắt lại và bị tống giam là điều rất bình thường và hiển nhiên!) Vâng, mục đích của việc thiên thần mở cửa ngục và đưa các tông đồ ra ngoài, đó là để các ông rao giảng! Rao giảng về Chúa Phục sinh là việc vô cùng khẩn thiết. Về sau, thánh Phaolô sẽ tuyên bố phải rao giảng Chúa Giêsu Kitô lúc thuận cũng như lúc nghịch, và “khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”!

Không phải “khốn cho tôi vì tôi bị giam trong ngục tù”, mà “khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô”! Sự giải phóng đích thực chỉ có khi người ta tự do rao giảng/ làm chứng cho Chúa Phục sinh. Không ở trong Chúa, thì dù ở đâu người ta cũng là nô lệ, cũng bị giam giữ cách nào đó, chứ không có tự do thực sự.

Và rao giảng Chúa Giêsu chết và sống lại chính là rao giảng tình yêu thương xót của Thiên Chúa, điều đã được chính Chúa Giêsu nói với ông Nicôđêmô: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một”… Thiên Chúa ban Con Một! Chúng ta vừa mới tuyên xưng điều này trong lời loan báo Exsultet Canh thức Phục sinh: “Để cứu đầy tớ, Thiên Chúa đã thí nộp chính Con yêu!”

Chúng ta được cứu, được giải phóng để trở thành tự do, đó là nhờ việc Thiên Chúa ban/ thí nộp Con Một của Ngài. Vì thế, sự tự do của chúng ta là để rao giảng và làm chứng về tình yêu đến mức ‘thí nộp Con Một’ ấy của Thiên Chúa!

Lm. Lê Công Đức


Đón Luồng Gió Tự Do, Siêu Thoát Của Chúa Thánh Thần (29.4.2025 Thứ Ba Tuần II Phục Sinh)

“Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió, nhưng chẳng biết gió từ đâu đến và đi đâu: mọi kẻ sinh bởi Thần Linh cũng vậy”. Chúa Giêsu đang nói về sự tự do của Thánh Thần qua hình tượng ‘gió’. Và những ai được sinh lại bởi Thánh Thần cũng kinh nghiệm sự tự do như vậy.

“Việc ấy xảy ra thế nào được?” – Nicôđêmô hỏi. Và Chúa Giêsu dẫn ông vào tiếp cận chính mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Người: “Không ai lên trời được, ngoài người đã từ trời xuống, tức là Con Người vốn ở trên trời. Cũng như Môsê treo con rắn nơi hoang địa thế nào, thì Con Người cũng phải bị treo lên như vậy, để những ai tin vào Người, thì không bị tiêu diệt muôn đời”. Một lần nữa, Chúa Giêsu xác nhận ơn ban Thánh Thần là kết quả mầu nhiệm Vượt Qua của chính Người.

Ơn ban Thánh Thần ấy đem lại sự tự do đầy ấn tượng cho các tín hữu đầu tiên. Họ siêu thoát trên mọi của cải, tiền bạc. Họ để mọi sự làm của chung, nên không ai phải túng thiếu… Đây là nguyên tắc nền tảng của Kitô giáo trong việc thiết lập tương quan với của cải. Mọi quyền tư hữu đều nhận ý nghĩa cuối cùng của chúng nơi định hướng phục vụ cho thiện ích chung. Nói cho cùng, không ai là chủ nhân của bất cứ gì ‘thuộc về’ mình. Chúng ta chỉ là những người quản lý mà thôi – và ta phải sử dụng mọi sự theo ý vị Chủ nhân đích thực là Thiên Chúa.

Cần nhắc lại: phải có sự tự do của ngọn gió Thánh Thần thì mới có thể siêu thoát như thế. Cộng đoàn tín hữu sơ khai là một cộng đoàn sống sự tự do này. Còn chúng ta ngày nay, trong thế giới và cả trong Giáo hội, đang thiếu sự tự do này cách trầm trọng – mà hậu quả là rất nhiều người túng thiếu trong khi những kẻ khác thừa mứa. Đức Phanxicô vạch rõ rằng người ta thích chiến tranh, chạy đua trang bị vũ khí, và thích sống trong sợ hãi… hơn là sống trong tự do, tin tưởng và hy vọng. Ngừng chế tạo vũ khí trong một năm, cả thế giới sẽ không còn nạn đói; chỉ một ngày cắt chi tiêu quân sự, sẽ cứu đói được 34 triệu người! Thế nhưng, thế giới này muốn hành động cách điên khùng hơn là hành động cách tỉnh táo, có lý có tình…

Xin ngọn gió Thánh Thần cuốn phăng bản năng chết, bản năng nô lệ và sợ hãi khỏi tâm trí chúng ta, nhất là những người có vai trò quyết định trên số phận những kẻ khác, để thay vào lòng chúng ta bằng đầy ắp sự tự do siêu thoát của chính Thánh Thần!

Lm. Lê Công Đức


Đông Timor Tuyên Bố Để Tang Đức Thánh Cha Phanxicô Trong 7 Ngày

Chính phủ Đông Timor tuyên bố để tang Đức Thánh Cha Phanxicô trong bảy ngày và yêu cầu treo cờ rủ trên toàn quốc.

Phát biểu trước truyền thông vào ngày 24/4/2025, sau khi từ Melbourne, Úc, trở về Dili, Thủ tướng Kay Rala Xanana Gusmão của Đông Timor nói ông đã nhận được tin Đức Thánh Cha qua đời từ Tổng thống Cộng hòa, và theo thông tin từ Tổng Giáo Phận Dili, chính phủ Đông Timor đã tuyên bố quốc tang trong bảy ngày và yêu cầu treo cờ rủ trên toàn quốc.

Ông Gusmão nói rằng Đức Thánh Cha Phanxicô là “một người đầy uy tín đối với mọi người”, và ca ngợi ngài vì suốt đời cổ vũ mọi người “yêu thương tất cả, đặc biệt những ai bị gạt ra bên lề xã hội”.

Thủ tướng nói: “Chúng ta đều đau buồn trước tin Đức Thánh Cha qua đời. Ngài là một vị Giáo hoàng được cả thế giới quý trọng vì lòng can đảm trong việc thúc đẩy tình huynh đệ nhân loại. Ngài luôn lên tiếng phản đối chiến tranh và kêu gọi những người gây chiến nghĩ nhiều hơn đến những người đang chịu khổ đau, bởi vì không phải người gây chiến chết, nhưng là người khác”.

Thủ tướng Gusmão nhắc lại rằng trước khi qua đời, Đức Thánh Cha đã lên án bạo lực tại Gaza, Ucraina và Palestine, đồng thời đặt câu hỏi về việc luật quốc tế bị áp dụng không nhất quán: “Luật quốc tế được áp dụng trong trường hợp Ucraina, nhưng lại không được áp dụng với Palestine, bởi vì có những lợi ích riêng của các cường quốc không muốn thừa nhận cái chết của những người vô tội, trẻ em thiệt mạng”.

Thủ tướng nhấn mạnh rằng Đức Thánh Cha là hiện thân cho một vai trò lãnh đạo đạo đức tích cực trong Giáo hội, không chỉ giới hạn trong cầu nguyện hay phụng vụ, mà còn dấn thân sâu sắc vào các vấn đề xã hội. Theo ông, sự quan tâm của Đức Thánh Cha về đạo đức, chính trị và xã hội đã khiến ngài trở thành một nhân vật được kính trọng và ngưỡng mộ trên toàn thế giới.

Nhắc lại cuộc viếng thăm của Đức Thánh Cha đến Đông Timor, với đỉnh cao là sự tham dự của hơn 600.000 người trong Thánh lễ được cử hành gần thủ đô Dili, ông Gusmão nói rằng Đức Thánh Cha đã để lại “một sứ điệp quý giá và đầy cảm hứng” cho người dân Đông Timor thuộc mọi tầng lớp.

Ông nhấn mạnh rằng trong chuyến thăm, Đức Thánh Cha đã có những lời nhắn gửi đến nhiều thành phần trong xã hội Đông Timor, gồm cộng đồng Hồi giáo, giới trẻ và các nhà lãnh đạo quốc gia, với thông điệp nhấn mạnh rằng người dân Đông Timor chính là tài sản quý giá nhất của đất nước. Ông cũng lưu ý rằng Đức Thánh Cha đã đặc biệt kêu gọi giới trẻ, nhất là những người đã có điều kiện học vấn và kinh tế vững vàng, hãy biết yêu thương và tôn kính cha mẹ của mình.

Ông nói thêm: “Tôi đã theo dõi tất cả các nghi thức tại Vatican qua truyền thông. Mọi người đều bày tỏ sự tiếc thương trước sự ra đi của một vị lãnh đạo vĩ đại của Giáo hội”.

Nguồn. Vatican News


Thánh Thần: Quà Tặng Của Chúa Phục Sinh (28.04.2025 Thứ Hai Tuần II Phục Sinh)

Trò chuyện riêng với Nicôđêmô, Chúa Giêsu nói về sự tái sinh cần thiết của mọi người. Nicôđêmô không hiểu, vì cứ nghĩ làm sao chui vào lòng mẹ để được sinh lại. Chúa Giêsu giải thích rằng Người đang nói đến sự tái sinh bởi Thánh Thần. Đây là con người hoàn toàn mới trong tinh thần, trong tâm trí, và do đó lối sống cũng hoàn toàn mới – dù phương diện thể lý không thay đổi. “Sự gì sinh bởi huyết nhục, thì là huyết nhục; và sự gì sinh bởi Thần Linh, thì là thần linh. Ông đừng ngạc nhiên vì nghe Tôi nói rằng: Các ngươi phải tái sinh bởi trời”.

Sự tái sinh bởi Thánh Thần ấy chỉ trở thành có thể xuyên qua cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô. Ta hiểu tại sao Chúa Phục sinh hiện ra thường ban Thánh Thần, và biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống trong lễ Ngũ Tuần chính là vụ mùa thu gặt được từ mầu nhiệm Chúa Kitô! Thánh Thần được ban cho Giáo hội để đồng hành và hướng dẫn Giáo hội trên thế giới này.

Thánh Thần vô hình, nhưng rất thực, hoạt động trong Giáo hội suốt hai mươi thế kỷ qua, và vẫn được kinh nghiệm cách sống động không kém chi thuở ban đầu. Trình thuật sách Công vụ Tông đồ hôm nay ghi nhận rằng “khi các Tông đồ cầu nguyện xong, thì nơi họ đang tập họp liền chuyển động, mọi người được tràn đầy Thánh Thần và tin tưởng rao giảng lời Thiên Chúa”.

Cầu nguyện là nối kết với Thánh Thần, là kinh nghiệm sự biến đổi bên trong, là được khai trí đối với sự thật, là thức tỉnh… Tất cả những điều này đều thuộc về sự tái sinh mà Chúa Giêsu nói đến. Mừng Chúa Phục sinh, chúng ta tha thiết xin ơn Thánh Thần xuống trên mình, đặc biệt xin cho Thánh Thần được đổ tràn trên các đấng bậc trực tiếp liên hệ đến cuộc bầu chọn vị tân giáo hoàng – để Giáo hội lại được Chúa ban cho một vị mục tử tốt lành, thánh thiện và khôn ngoan như lòng Chúa mong ước!

Lm. Lê Công Đức


Thánh lễ An Táng Đức Thánh Cha Phanxicô

Sáng thứ Bảy ngày 26/4/2025, tại thềm Đền thờ Thánh Phêrô, Đức Hồng y Niên trưởng Hồng y đoàn, Giovanni Battista Re, đã chủ sự Thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô, với khoảng 200 Hồng y, 700 Giám mục và 5.000 linh mục đồng tế, trước sự hiện diện tham dự của hơn 200 ngàn tín hữu đến từ nhiều nước trên thế giới.

Bên cạnh đông đảo các tín hữu, cũng có nhiều phái đoàn đại diện các Giáo hội Kitô như Chính Thống, Tin Lành, Anh giáo, vv, cũng như một số tôn giáo khác như Hồi giáo, Do Thái giáo, Phật Giáo, Ấn giáo, vv. hiện diện trong Thánh lễ.

Có hơn 150 phái đoàn các quốc vương, quốc trưởng cũng như thủ tướng, bộ trưởng, đại sứ của các nước hiện diện trong Thánh lễ an táng.

Với Thánh lễ an táng được cử hành hôm nay, ngày 26/4/2025, Đức Giáo hoàng Phanxicô được chào đón như một mục tử và môn đệ của Chúa Kitô. Nghi lễ an táng này nhằm mục đích bày tỏ đức tin của Giáo hội vào Chúa Kitô Phục sinh.

Thánh lễ được cử hành bằng tiếng Latinh và theo quy định của Ordo Exsequiarum Romani Pontificis – Nghi lễ an táng các Giáo hoàng – trong ấn bản mới năm 2024, với những đơn giản hóa theo ý của Đức Giáo hoàng Phanxicô.

Thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô

Thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô

Trong bài giảng, Đức Hồng y Niên trưởng Hồng y đoàn đã nhắc lại những điểm nổi bật trong 12 năm trị vì đầy nhiệt huyết và mang tính ngôn sứ của Đức Thánh Cha Phanxicô, được đánh dấu bằng sự gần gũi với mọi người, đặc biệt là những người nhỏ bé và thấp kém nhất, và tình yêu sâu sắc của ngài dành cho Giáo hội mở ra với tất cả mọi người. Đức Hồng y nói:

Triều đại Giáo Hoàng sâu sắc của Đức Thánh Cha Phanxicô đã chạm đến trí óc và con tim biết bao người

Trong quảng trường Thánh Phêrô uy nghiêm này, nơi Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhiều lần cử hành Thánh Lễ và chủ sự các cuộc gặp gỡ lớn trong suốt 12 năm qua, giờ đây chúng ta quây quần cầu nguyện bên thi hài của ngài với lòng đau buồn, nhưng được nâng đỡ bởi niềm tin vững chắc vào sự sống đời sau. Đức tin này bảo đảm với chúng ta rằng đời người không kết thúc nơi mộ phần, nhưng trong nhà Cha trên trời, nơi hạnh phúc vĩnh cửu không bao giờ tàn lụi.

Nhân danh Hồng Y Đoàn, tôi xin chân thành cảm ơn sự hiện diện của tất cả quý vị. Với tấm lòng trân trọng, tôi xin gửi lời chào mừng và lời tri ân sâu sắc đến các Nguyên thủ Quốc gia, các Thủ tướng và các Phái đoàn chính thức từ nhiều quốc gia đã đến đây để bày tỏ tình yêu thương, lòng tôn kính và sự ngưỡng mộ đối với vị Giáo Hoàng đã rời xa chúng ta.

Những biểu hiện tình cảm và sự đồng hành dạt dào trong những ngày qua, kể từ khi ngài về với Chúa, cho thấy triều đại Giáo Hoàng sâu sắc của Đức Thánh Cha Phanxicô đã chạm đến trí óc và con tim biết bao người.

Hình ảnh cuối cùng của ngài, sẽ mãi khắc ghi trong mắt và tim chúng ta, là vào Chúa Nhật Phục Sinh vừa qua. Dù sức khỏe suy yếu, Đức Thánh Cha vẫn muốn ban phép lành từ ban công Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô, rồi xuống quảng trường này trên chiếc xe mui trần để chào đám đông tín hữu trong Thánh Lễ Phục Sinh.

Giờ đây, qua lời cầu nguyện, chúng ta muốn phó thác linh hồn của vị Giáo Hoàng kính yêu cho Chúa, để Người ban cho ngài hạnh phúc vĩnh cửu trong ánh sáng và vinh quang của tình yêu bao la.

Thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô

Thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô  

Hiến dâng đến hơi thở cuối cùng

Lời Chúa trong Tin Mừng hôm nay soi sáng và dẫn dắt chúng ta, khi Chúa Kitô hỏi vị Tông đồ trưởng: “Phêrô, anh có mến Thầy hơn các anh em này không?”. Và Phêrô đã đáp lại cách chân thành: “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự ; Thầy biết con yêu mến Thầy!”. Chúa Giêsu đã trao cho ngài sứ mạng cao cả: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy”. Đây là nhiệm vụ trường tồn của Phêrô và các vị kế nhiệm, một sứ vụ yêu thương theo gương Thầy Chí Thánh, Đấng “đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người” (Mc 10,45).

Dù những ngày cuối yếu và đau, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chọn con đường hiến dâng đến hơi thở cuối cùng. Ngài bước theo dấu chân Chúa, vị Mục Tử nhân lành, Đấng yêu thương đoàn chiên đến nỗi hy sinh mạng sống. Ngài đã làm điều đó với sức mạnh và bình an, gần gũi với đoàn chiên là Giáo Hội của Chúa, ghi nhớ lời Chúa Giêsu được Thánh Phaolô trích dẫn: “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35).

Thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô

Thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô  

Một Giáo hoàng giản dị, gần gũi và giàu lòng nhân ái

Khi Hồng Y Bergoglio được Mật nghị bầu làm Giáo Hoàng kế vị Đức Bênêđictô XVI vào ngày 13 tháng 3 năm 2013, ngài đã có nhiều năm sống đời tu sĩ trong Dòng Tên và nhất là được hun đúc bởi 21 năm mục vụ tại Tổng Giáo phận Buenos Aires, với các vai trò Giám mục Phụ tá, Giám mục Phó, và sau đó là Tổng Giám mục.

Việc ngài chọn danh hiệu Phanxicô đã ngay lập tức thể hiện một chương trình và phong cách mà ngài muốn định hình cho triều đại Giáo Hoàng, lấy cảm hứng từ tinh thần của Thánh Phanxicô Assisi.

Ngài giữ nguyên cá tính và cách lãnh đạo mục tử, đồng thời khẳng định mạnh mẽ cá tính trong việc điều hành Giáo Hội. Ngài thiết lập mối liên hệ trực tiếp với từng con người và cộng đồng, luôn mong muốn gần gũi với mọi người, đặc biệt quan tâm đến những người gặp khó khăn, không ngừng dấn thân cho những người nghèo nhất, những người bị gạt ra bên lề xã hội. Ngài là vị Giáo Hoàng giữa lòng dân chúng, với trái tim rộng mở. Ngài cũng là vị Giáo Hoàng nhạy bén với những điều mới mẻ trong xã hội và những gì Chúa Thánh Thần khơi dậy trong Giáo Hội.

Với ngôn ngữ đặc trưng giàu hình ảnh và ẩn dụ, ngài luôn tìm cách chiếu tỏa ánh sáng Tin Mừng vào những vấn đề của thời đại, đưa ra câu trả lời dưới lăng kính đức tin và khích lệ người tín hữu sống niềm tin giữa những thách thức và nghịch lý của thời đại chuyển mình, mà ngài thường gọi là “thay đổi thời đại”.

Ngài có sự giản dị và cách tiếp cận gần gũi với tất cả mọi người, kể cả những người xa rời Giáo Hội.

Giàu lòng nhân ái và thấu cảm sâu xa những bi kịch thời đại, Đức Thánh Cha Phanxicô thực sự chia sẻ những lo âu, đau khổ và hy vọng của thời toàn cầu hóa. Ngài dành trọn cuộc đời của mình để an ủi và khích lệ bằng một sứ điệp có khả năng chạm đến trái tim con người cách trực tiếp và mạnh mẽ.

Ơn đặc sủng chào đón và lắng nghe, cùng phong cách ứng xử phù hợp với nhịp sống hiện đại, đã chạm đến biết bao con tim, khơi dậy những năng lực tinh thần và đạo đức.

Ưu tiên của ngài là loan báo Tin Mừng, với dấu ấn truyền giáo rõ nét, lan tỏa niềm vui Phúc Âm – chính là tựa đề của Tông huấn đầu tiên Niềm Vui Tin Mừng (Evangelii Gaudium). Một niềm vui tràn đầy tin tưởng và hy vọng cho những ai phó thác nơi Chúa.

Thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô

Thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô

Giáo Hội là ngôi nhà luôn mở cửa cho mọi người

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt sứ vụ của ngài là niềm xác tín rằng Giáo Hội là ngôi nhà cho mọi người, một ngôi nhà luôn mở cửa. Ngài thường ví Giáo Hội như “bệnh viện dã chiến” sau trận chiến, nơi có nhiều người bị thương; một Giáo Hội quyết tâm chăm sóc những vấn đề của con người và những nỗi đau làm rạn nứt thế giới hôm nay; một Giáo Hội biết cúi xuống trên mỗi người, bất kể tín ngưỡng hay hoàn cảnh, để chữa lành vết thương.

Vô số những cử chỉ và lời kêu gọi của ngài dành cho người tị nạn và di dân. Ngài cũng không ngừng nhấn mạnh việc hành động vì người nghèo.

Thật ý nghĩa khi chuyến tông du đầu tiên của ngài là đến Lampedusa, hòn đảo biểu tượng cho bi kịch di cư với hàng ngàn người chết đuối trên biển. Tương tự là chuyến thăm Lesbos cùng với Đức Thượng Phụ Đại Kết và Tổng Giám mục Athens, hay Thánh Lễ tại biên giới Mexicô-Hoa Kỳ trong chuyến tông du Mexicô.

Thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô

Thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô  

Chuyến tông du Iraq

Trong 47 chuyến tông du đầy vất vả, lịch sử sẽ mãi ghi nhớ chuyến đi Iraq năm 2021, một hành trình đầy rủi ro. Chuyến thăm khó khăn ấy như liều thuốc xoa dịu vết thương của người dân Iraq, những người đã chịu nhiều đau khổ dưới bàn tay tàn bạo của ISIS. Đây cũng là chuyến đi quan trọng cho đối thoại liên tôn, một khía cạnh nổi bật trong sứ vụ mục tử của ngài. Với chuyến tông du năm 2024 đến bốn quốc gia châu Á-Thái Bình Dương, ngài đã đến “vùng ngoại biên xa xôi nhất của thế giới”.

Lòng thương xót và niềm vui Tin Mừng

Đức Thánh Cha Phanxicô luôn đặt Tin Mừng lòng thương xót làm trung tâm, nhấn mạnh rằng Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi tha thứ: Người luôn tha thứ cho bất kỳ ai biết sám hối và quay về.

Ngài đã khởi xướng Năm Thánh Lòng Thương Xót Ngoại Thường, để khẳng định lòng thương xót là “trái tim của Tin Mừng”.

Lòng thương xót và niềm vui Tin Mừng là hai từ khóa trong triều đại Giáo Hoàng của ngài.

Trái ngược với “văn hóa loại bỏ”, ngài nói về văn hóa gặp gỡ và liên đới. Chủ đề tình huynh đệ xuyên suốt triều đại của ngài với âm hưởng mạnh mẽ. Trong Thông điệp Fratelli tutti (Tất cả anh em), ngài muốn khơi dậy khát vọng toàn cầu về tình huynh đệ, vì tất cả đều là con của cùng một Cha trên trời. Ngài thường nhắc nhở rằng chúng ta thuộc về cùng một đại gia đình nhân loại.

Thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô

Thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô  

Tình huynh đệ nhân loại

Năm 2019, trong chuyến thăm Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, ngài đã ký văn kiện về “Tình Huynh Đệ Nhân Loại vì Hòa Bình Thế Giới và Chung Sống”, nhấn mạnh nguồn gốc chung từ Thiên Chúa.

Qua Thông điệp Laudato si’, ngài kêu gọi mọi người ý thức trách nhiệm với ngôi nhà chung của chúng ta: “Không ai được cứu một mình”.

Trước những cuộc chiến tàn khốc với bao cảnh tang thương và chết chóc trong những năm qua, ngài không ngừng lên tiếng kêu gọi hòa bình và theo lương tri, thúc giục đối thoại chân thành để tìm giải pháp, vì chiến tranh – như ngài nói – chỉ mang lại cái chết, sự hủy diệt nhà cửa, bệnh viện và trường học. Chiến tranh luôn để lại thế giới tồi tệ hơn trước đó: đó là một thất bại đau đớn và bi thảm.

“Xây cầu chứ đừng xây tường” là lời nhắn nhủ ngài thường nhắc đi nhắc lại. Sứ vụ đức tin với tư cách là Người Kế vị Thánh Phêrô luôn gắn liền với sứ vụ phục vụ con người trong mọi chiều kích.

Trong sự hiệp thông thiêng liêng với toàn thể Giáo Hội, giờ đây chúng ta cùng cầu nguyện cho Đức Thánh Cha Phanxicô, để Chúa đón nhận ngài vào vòng tay yêu thương vô biên của Người.

Thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô

Thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô  

Xin cầu nguyện cho chúng con.

Đức Thánh Cha Phanxicô thường kết thúc các bài diễn văn và cuộc gặp gỡ bằng lời nhắn: “Xin anh chị em đừng quên cầu nguyện cho tôi”.

Kính thưa Đức Thánh Cha Phanxicô yêu quý,
giờ đây chúng con xin ngài cầu nguyện cho chúng con,
và từ thiên đàng, xin ngài chúc lành cho Giáo Hội,
cho Roma, và cho toàn thế giới,
như ngài đã làm từ ban công Vương cung Thánh đường này vào Chúa Nhật vừa qua,
trong vòng tay cuối cùng ôm trọn Dân Chúa,
và cả nhân loại đang tìm kiếm chân lý với tấm lòng chân thành
và giữ cao ngọn đuốc hy vọng.

Thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô

Thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô   (VATICAN MEDIA Divisione Foto)

Nguồn: Vatican News


Suy Niệm Chúa Nhật II Phục Sinh

Khi Chúa Giêsu chết, các môn đệ rơi vào tình trạng mất phương hướng và lo sợ, sống khép kín trong ngôi nhà đóng cửa cài then, không giao du, không tiếp xúc với ai. Tình trạng sống buồn bã ấy không khác gì một cái xác không hồn sau cuộc tử nạn của Thầy. Chúa Phục Sinh biết tâm thế các học trò của mình. Vì thế, ngay chiều ngày thứ nhất, Ngài đã hiện ra, đứng giữa các ông. Sự hiện diện này như sự hiện diện của một người cha trước mặt con cái, sự hiện diện có sức an ủi và gia tăng sự bình an và niềm tin cho các môn đệ.

Chúa Giêsu Phục Sinh hiện diện mang lại sự bình an cho các môn đệ

Cửa phòng đóng kín và cửa lòng của các môn đệ cũng cũng khép kín sau biến cố không còn Thầy. Thế nhưng, sự hiện diện bất ngờ của Chúa Giêsu Phục Sinh đã mang lại cho các ông niềm vui và sự bình an đích thực. Người chủ động đến với các ông và ban bình an cho các ông. Từ đây, bóng đêm của sợ hãi đã bị đẩy xa. Người cho các ông xem tay và cạnh sườn là những dấu chứng của tình yêu đến cùng của Người. “Bình an cho các con!” (Ga 20, 19-21). Ðây không phải là một lời cầu chúc đơn sơ, nhưng là món quà cao quý mà Chúa Kitô Phục Sinh đã ban tặng cho các mộn đệ sau khi đã trải qua cái chết thương đau của Thầy mình.

Chúa Giêsu Phục Sinh hiện diện củng cố niềm tin cho các môn đệ

Lần hiện ra thứ hai của Chúa Giêsu Phục Sinh mang tính cụ thể hơn. Lòng thương xót của Thiên Chúa không chỉ mang tính chung chung, nhưng là một tình thương đụng chạm đến từng cá nhân mỗi người. Cuộc hiện ra tám ngày sau, có thể nói là cuộc hiện ra dành riêng cho Tôma, một người muốn kiểm chứng cho những điều mình không thấy: Nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin. Chúa Phục Sinh khiêm nhường đã đến và đáp ứng sự khao khát tìm kiếm dấu chỉ đức tin của Tôma. Vì thế, Chúa Phục Sinh đã gọi đích danh ông, cho ông đụng chạm đến Đấng Phục Sinh. Chạm vào vết thương của Chúa không phải là chạm vào nỗi đau của Chúa mà Tôma được chạm vào tình thương của Chúa Phục Sinh và Tôma đã được biến đổi. Giờ đây, Tôma đã tuyên xưng niềm tin của ông một cách xác tín: Lạy Chúa của con! Lạy Thiên Chúa của con!

Sau khi đến ban bình an và niềm tin cho các môn đệ, Chúa Phục Sinh đã ra lệnh truyền cho các môn đệ: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con…Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại” (Ga 20, 21-23). Các Tông đồ đã can đảm bước ra làm chứng cho Thầy mình, trở nên sứ giả bình an đích thực, trở thành khí cụ tình yêu, tha thứ, và làm máng thông ơn xót thương của Người. Như thế, tất cả những người đã thấy Đức Giêsu Phục Sinh đều trở thành những sứ giả loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Nhìn lại hành trình đức tin của chúng ta: Liệu chúng ta đã và đang trở nên chứng nhân của lòng thương xót Chúa, trở thành sứ giả tình yêu và bình an của Chúa Giêsu Phục Sinh? Chúng ta có đang sống lan toả niềm vui của người môn đệ đến cho mọi

Cuộc sống hôm nay nhiều biến động: những khó khăn, thử thách xảy đến trong cuộc đời. Làm thế nào để chúng ta có thể nhận ra sự hiện diện của Đấng Phục Sinh trong cuộc đời này? Người có đang ban ơn bình an và củng cố đức tin cho chúng ta như xưa Ngài đã làm với các môn đệ? Tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại thật lớn lao. Đó là một tình yêu trọn vẹn, yêu cho đến cùng. Tình yêu của Ngài không chỉ dừng lại ở cái chết trên thập giá. Ngài đã mở ra cho chúng ta cánh cửa của niềm hy vọng tràn trề về sự sống đời sau qua sự Phục sinh của Ngài. Hôm nay Chúa Giêsu Phục Sinh cũng đang hiện diện bên ta. Xin Chúa Phục Sinh cho chúng ta luôn khao khát đón chờ Người. Hãy tỉnh thức lắng nghe tiếng bước chân Người bởi gặp được Người, lòng ta sẽ bình an, cuộc đời ta sẽ sống, sống mãnh liệt, sống phong phú và dồi dào.

Maria Thảo An


Đức Thánh Cha Phanxicô Và Bức Họa Còn Dang Dở

Phanxicô – cái tên được nhắc đến nhiều nhất trong những ngày vừa qua, Đức Giáo Hoàng đáng kính của Giáo Hội Công giáo đã khép lại cuộc đời ở tuổi 88. Ngài đã sống một cuộc đời thật đẹp và ý nghĩa.

Lúc ngài nằm xuống là lúc mà báo chí, giới truyền thông lục lại những ký ức về ngài, những người thân thân cận với ngài, những ai có diễm phúc được gặp ngài một lần, dù chỉ là một cái bắt tay, một ánh mắt, một nụ cười, hay cả những người chỉ nhìn thấy ngài qua truyền thông cũng muốn đọc lại, xem lại từng bức ảnh, từng video, những câu nói, những bài diễn văn… như thước phim về cuộc đời của một con người nhỏ bé, nhưng cũng thật vĩ đại. Tất cả mọi bức ảnh về ngài thật đẹp, khiến tôi nhận ra rằng, những bức ảnh đó chẳng phải do máy ảnh của các nhà báo chụp được, nhưng do chính “Họa sĩ Phanxicô” vẽ nên theo ý muốn của Thiên Chúa.

Trong lịch sử hội họa hiện đại, nếu Pablo Picasso là họa sĩ đã làm bùng nổ mọi giới hạn của hình ảnh bằng trí tưởng tượng táo bạo, nghệ thuật của Picasso như một bản hòa tấu của hình khối và cảm xúc, nơi thực tại được bẻ cong theo trí tưởng tượng. Ông vẽ không chỉ bằng mắt, mà bằng tâm trí – giải phóng hình ảnh khỏi khuôn mẫu, để từng nét cọ nói lên điều chưa từng được thốt ra. Nếu Picasso từng tái tạo thế giới qua những mảng màu phá cách, thì Đức Thánh Cha Phanxicô cũng đang vẽ nên bức tranh của Giáo Hội và nhân loại bằng những đường nét rất riêng. Không ngại phá vỡ những khuôn mẫu cũ kỹ, ngài chọn gam màu của lòng thương xót, của sự gần gũi và khiêm nhường để thêu dệt nên một viễn cảnh đức tin sống động, đầy nhân tính và hy vọng.

Bằng nét cọ của lòng trắc ẩn và đôi mắt không ngừng tìm kiếm khuôn mặt anh em nơi những con người bị lãng quên, Đức Thánh Cha Phanxicô đang vẽ nên một bức tranh thời đại – không phải tranh sơn dầu trưng trong viện bảo tàng, mà là một bức tranh sống động đang chuyển mình giữa phố chợ cuộc đời. Trong bức tranh ấy, nền trời là Laudato Si’, mời gọi nhân loại trở về với căn tính thụ tạo – khiêm tốn và gắn bó với đất Mẹ. Đường chân trời là Fratelli Tutti, mở ra không gian huynh đệ vượt qua biên giới, định kiến và hận thù. Những gam màu mạnh mẽ nhất là Laudate Deum, nhắc ta rằng thời gian không còn nhiều, và trái đất đang rên xiết chờ được cứu lấy. Không có màu nào bị loại trừ trong bức tranh ấy – cả những màu xám tro của chiến tranh, màu đen của tuyệt vọng, hay những sắc đỏ nhức nhối của bất công. Nhưng chính giữa bức tranh, ngài đặt một ánh sáng nhỏ nhưng bền bỉ: Hy vọng. Như ánh nến chập chờn trong đêm, nhưng chưa bao giờ tắt.

Cũng một khung cảnh, nhưng có thể cho ra nhiều bức tranh khác nhau, đơn giản vì khác nhau ở góc nhìn của người họa sĩ. Góc nhìn của “Họa sĩ Phanxicô” không mang tính thần học một cách máy móc, ngài nhìn về thế giới và con người, không phải để phá vỡ cấu trúc, mà là để cho thế giới lẫn con người hiện lên trong vẻ tươi mới vốn có. Nơi ấy, chúng ta không đóng vai quan tòa, không phán xét, không chụp mũ. Trong một thế giới đầy đổ vỡ, ta vẫn nhận ra cái đẹp – không phải vẻ đẹp bị đóng khung bởi sự cân đối, chính xác; mà là vẻ đẹp được tìm thấy trong sự bất an – của môi sinh, của người trẻ, của những cuộc khủng hoảng trong lẫn ngoài Giáo Hội. Chính trong sự bất an tưởng chừng vô định, ta lại nhận ra hình ảnh xót thương của Thiên Chúa; nhận ra Mẹ Trái Đất đang khóc than; nơi những anh chị em còn mang trong mình nỗi khát khao yêu và được yêu. Đó là bức tranh mà Đức Thánh Cha Phanxicô đang phác họa – về Giáo Hội, về con người, về thế giới.

Đức Phanxicô là một họa sĩ táo bạo. Ngài chấp nhận giữ lấy những nét vẽ “không đẹp” của quá khứ, không cố tìm cách xóa bỏ hay che giấu. Như cách mà lần đầu tiên trong hơn 1.000 năm, một Giáo hoàng Công giáo và một Thượng phụ Chính thống Nga gặp nhau. Hai vị đã ký một tuyên bố chung kêu gọi sự tha thứ và hợp tác để đối mặt với các thách thức của thời đại, đặc biệt là bạo lực và bách hại tôn giáo. Hay cách mà ngài đã nhiều lần công khai xin lỗi các nạn nhân bị lạm dụng trong Giáo Hội, không chỉ như một nghĩa vụ pháp lý mà là một lời xin lỗi chân thành và cá nhân, từ chính vị Cha chung của Giáo Hội…  Những điều ấy làm nên bức họa đang sống: không trau chuốt, không đánh bóng, cũng chẳng giả vờ hoàn hảo. Sự thật luôn mang theo vết sẹo. Giáo Hội và con người được ký họa không chỉ bằng những dòng trơn tru, không tì vết mà cả những vết sẹo của hạnh phúc và nỗi đau. Nơi bức họa ấy, người họa sĩ không vội giải quyết xử lý vấn đề nhưng là chiêm niệm. Bức họa ấy còn dang dở, nó chỉ được thành toàn nơi Đấng là Cái Đẹp. Đúng vậy. Bức họa chưa hoàn tất; nhưng đó cũng là bức khảm của hy vọng (une mosaïque de l’espérance) và sẽ được hoàn tất bởi Đấng “là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.”

Người đã yên nghỉ, để lại bao nỗi niềm và ký ức, bao hoài vọng ngậm ngùi… lặng lẽ nhìn về quá khứ: ánh mắt, nụ cười của ngài vẫn nguyên vẹn đâu đây. Trong cõi thinh lặng thẳm sâu huyền nhiệm, đang khi tụng ca Thiên Chúa nhân từ, thì có lẽ ngài vẫn muốn gửi trao lời tâm huyết đến con người, nhất là bạn trẻ hôm nay, để mỗi người trong chúng ta tiếp nối ngài, vẽ nên bức tranh cho Giáo Hội, cho nhân loại này: “Các bạn trẻ thân mến, các con được Chúa rất yêu dấu, các con rất quý giá vì được cứu chuộc bằng máu châu báu của Đức Kitô! Các con ‘là vô giá!’ Các con không phải là món đồ để bán đấu giá![…] Các con là vô giá: các con phải luôn nhắc đi nhắc lại điều này: tôi không phải là món đồ để bán đấu giá, tôi vô giá. Tôi là người tự do, tôi là người tự do! Các con hãy yêu chuộng sự tự do này, tự do mà Chúa Giêsu ban tặng”.[1]

Phượng Hoàng, SJ

[1] ĐTC Phanxicô, Tông huấn Christus Vivit, Ban dịch thuật HĐGMVN dịch, Hà Nội, 2020, n.122.


Những Hàm Ý Của Đức Tin Vào Chúa Phục Sinh (26.4.2025 Thứ Bảy Tuần Bát Nhật Phục Sinh)

Tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại là điều không dễ. Theo thánh sử Mác-cô, chứng từ của Maria Mađalêna rồi của hai môn đệ Emmau ban đầu đều không được nhóm mười một tin. Vì thế, khi hiện ra, Chúa đã khiển trách sự cứng lòng của các ông. Mác-cô muốn lưu ý khía cạnh ‘không tin’ trước lời chứng, nghĩa là lưu ý đến cái thách đố cho người làm chứng.

Đến lượt Phêrô và Gioan, trong tư cách người rao giảng và làm chứng, đã kinh nghiệm tình trạng cứng cỏi không tin của giới thủ lãnh Do thái. Dù không thể phủ nhận những dấu chứng rành rành nơi hai vị Tông đồ, họ vẫn đàn áp các ngài bằng việc bắt bớ và đe doạ. Họ cấm đoán các ngài rao giảng nhân danh Chúa Giêsu Kitô Phục sinh. Ngày nay chúng ta nghe gọi sự cấm đoán hay bịt miệng này là ‘xử lý truyền thông’, bởi những thế lực độc tài độc đoán…

Như vậy, người ta không tin cũng có thể chỉ vì họ không muốn tin! Về phần Phêrô và Gioan, bị đàn áp nhưng các ngài vẫn mạnh mẽ: “Trước mặt Chúa, các vị hãy xét coi: nghe các vị hơn nghe Chúa, có phải lẽ không? Vì chúng tôi không thể nào không nói lên những điều mắt thấy tai nghe”.

Mặt khác, việc tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại mặc dù thuộc về phần cốt lõi nhưng chưa phải là tất cả nội dung cốt lõi của đức tin chúng ta. Thậm chí có thể nói nếu không liên quan gì đến đời sống và sự cứu rỗi của chúng ta, thì việc Chúa sống lại hay không sống lại cũng như nhau thôi. Những hàm ý của việc Chúa sống lại, vì thế, có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Trong sứ điệp Phục Sinh hôm 20.4 vừa qua, Đức thánh cha Phanxicô nêu các hàm ý đó là: “Tình yêu đã chiến thắng hận thù; ánh sáng đã chiến thắng bóng tối; sự thật đã chiến thắng sự sai lầm; tha thứ đã chiến thắng sự trả thù; sự dữ không còn thống trị, không còn quyền lực trên những ai đón nhận ân sủng của Chúa Phục sinh”. Vì thế, sự sống lại của Chúa Giêsu là hy vọng của chúng ta, ‘niềm hy vọng không làm thất vọng’ (x. Rm 5,5). Chúng ta đứng về phía sự sống, ăn mừng sự sống. Chúng ta nói ‘không’ với chiến tranh, xung đột, và chúng ta xây dựng hoà bình. Chúng ta tôn trọng phẩm giá của mọi con người, nhất là những người yếu thế và dễ bị tổn thương…

Đó là một số những hàm nghĩa của sự kiện Chúa Giêsu sống lại đối với chúng ta. Đó là đức tin Phục sinh của chúng ta. Thật rõ, tuyên xưng đức tin này không chỉ là việc của miệng lưỡi hay đầu óc. Đúng hơn, tuyên xưng đức tin này trước hết là can đảm dấn thân, làm chứng cho tình yêu, ánh sáng, sự thật, sự tha thứ, và hy vọng!

Thế giới này không dễ tin, nhưng chúng ta tin, và chúng ta làm chứng!

Lm. Lê Công Đức


Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô: Chứng Tá Về Ơn Gọi Làm Người

“Ông bà anh chị em thân mến: Xin chào (buổi tối)!” Đó là những lời đầu tiên mà Đức Phan-xi-cô ngỏ với dân Chúa và thế giới trong cương vị Giáo Hoàng. Khác với lời chào trịnh trọng của truyền thống, đây là những lời mà mỗi người chúng ta nghe và nói trong cuộc sống hàng ngày, giữa những người bạn, người hàng xóm, người đồng nghiệp, vv.

Vì vậy, điều đầu tiên mà dân Chúa và thế giới chứng kiến ở vị tân Giáo Hoàng không phải là hình ảnh của chức vị, mà là một con người, một người cha, người anh em giữa chúng ta; và như thế, dường như Đức Phan-xi-cô nhắc nhở nhân loại rằng Giáo Hoàng trước hết và cơ bản là một con người. Do vậy, dù Đức Phan-xi-cô hẳn là một trong các Giáo Hoàng đã và sẽ được nhắc đến nhiều như một nhân vật lớn của lịch sử, với những di sản về khả năng quản trị, về tư tưởng thần học, về nỗ lực cải cách, về tinh thần phục vụ, vv., nhưng có lẽ điều lớn lao hàng đầu mà ngài cống hiến chính là cuộc đời chứng tá về ơn gọi làm người, ngay trong tư cách Giáo Hoàng. Giữa muôn vàn cung bậc nhân sinh, cuộc đời của ngài đã hoạ lên một số nét đặc biệt sống động, khơi gợi và nhắc nhở chúng ta những chiều kích và vẻ đẹp của ơn gọinày.

Đặc nét đầu tiên về con người mà Đức Phan-xi-cô đã thể hiện và liên lỉ làm chứng là tâm hồn tìm kiếm Thiên Chúa. Có lẽ ấn tượng lớn lao mà ai cũng nhận ra là Đức Phan-xi-cô luôn tìm cách đặt trọn cuộc sống và sứ mạng của ngài nơi tay Chúa; và điều này biểu lộ ngay từ những giây phút đầu tiên của ngài trên cương vị Giáo Hoàng, cho tới khi ngài nghiệm thấy buổi hoàng hôn cuộc sống trần gian đang đến gần. Trước khi giơ tay ban phép lành đầu tiên cho dân Chúa, ngài đã cúi đầu xin họ cầu nguyện cho mình để được Chúa dẫn dắt; và trong Di Nguyện, ngài nói “Tôi ước mong cuộc hành trình trần gian cuối cùng của tôi kết thúc ở ngay đền thánh tôn vinh Đức Maria cổ kính này, nơi tôi luôn dừng lại để cầu nguyện khi bắt đầu và kết thúc mỗi chuyến Tông du, nơi tôi tự tin phó thác ý định của mình cho Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, và tạ ơn Người vì sự chăm sóc dịu dàng và từ mẫu của Mẹ”. Đó không chỉ đơn thuần là những cử chỉ và lời nói của sự khiêm nhường, mà là những cử chỉ và lời nói của đức tin, của một tâm hồn luôn tha thiết tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa, của ơn gọi mà thánh Âu-tinh từng nghiệm rõ: “Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng con cho Chúa và lòng con luôn khắc khoải cho đến khi được an nghỉ trong Ngài.” Vì thế, gương sống của Đức Phan-xi-cô nhắc chúng ta điều căn bản và quý giá nhất của đời người. Chúng ta sẽ thế nào nếu không có niềm khát khao tìm kiếm nguồn cội siêu việt của mình? Liệu chúng ta có gì thật đáng gọi là “phẩm giá” nếu không ở trong tương quan với Đấng Thánh Thiện?

Tinh thần tìm kiếm Thiên Chúa và ý muốn của Người, vốn hàm ý tinh thần cầu nguyện, phân định và tín thác, đã giả định lối sống hành hương – lối sống của những ai muốn hiện hữu theo niềm hy vọng trong diễn trình thời gian. Tác giả Vũ Văn An, trong bài viết “Đại dịch Covid-19 và nguyên lý thời gian lớn hơn không gian”, đã nhận xét rất thích đáng rằng một trong những định hướng mà Đức Phan-xi-cô xác lập cho bản thân và cho triều Giáo Hoàng của ngài chính là công thức được gợi hứng từ triết gia Romano Guardini: “thời gian lớn hơn không gian.” Công thức này ngụ ý rằng không gian thì mang tính đóng khung, cắt lát như cái chân trời hiện tại, trong khi thời gian lại mang tính diễn trình, vốn có đặc tính trở thành, nên nó luôn hàm chứa nét cởi mở, bí ẩn và biến đổi như một mầu nhiệm; vì thế, diễn trình đẩy ta về tương lai, khuyến khích ta tiến bước trong hy vọng. Với công thức này, Đức Phan-xi-cô muốn nhấn mạnh rằng cuộc sống, xét trong tư cách cá nhân lẫn cộng đồng, là diễn trình của thời gian hơn là một lát cắt của không gian; diễn trình đó mang tính chuyển đổi sáng tạo nhờ hoạt động của Chúa Thánh Thần. Vì vậy, thay vì dành ưu tiên cho không gian, tức điên cuồng mưu toan duy trì mọi sự trong hiện tại, tìm cách khống chế, kiểm soát cuộc sống theo một kế hoạch định trước, chúng ta cần phải dành ưu tiên cho thời gian, tức đón nhận cuộc sống trong tính mầu nhiệm của nó, đồng thời thúc đẩy các hành động phát sinh diễn trình mới, nghĩa là góp phần vào tiến trình sáng tạo và hoa trái của nó. Do đó, Đức Phan-xi-cô nêu gương cho mỗi cá nhân lẫn cộng đoàn Giáo hội tinh thần mở ra không gian cho Thiên Chúa và cộng tác với công việc của Ngài, tránh thứ não trạng đóng khung chính mình trong các ý thức hệ, trong các loại kế hoạch, theo các tiêu chuẩn chúng ta đặt ra để kiểm soát cuộc đời. Tất nhiên, nói như thế không có nghĩa là ta không lên kế hoạch, không sử dụng ơn khôn ngoan tiên liệu mà Chúa Thánh Thần ban cho. Nhưng điều muốn nhấn mạnh ở đây là một tâm thế cởi mở, phân định để tìm kiếm ý Chúa và đón nhận mọi thứ trong bình tâm.

Chúng ta cũng thấy một đặc nét nữa của ơn gọi làm người nơi gương mẫu của Đức Phan-xi-cô: sống với trái tim yêu thương và nhân hậu. Thực vậy, ngài từ lâu đã được đặt biệt hiệu là vị Giáo hoàng của Lòng Thương Xót, không chỉ vì việc ngài công bố Năm Thánh Ngoại thường về Lòng Thương Xót (2015–2016), mà vì ngài đặt trung tâm của đời sống và sứ mạng mình nơi trái tim. Người ta có thể liệt kê không biết bao nhiêu hình ảnh phát xuất từ lòng yêu thương của Đức Phan-xi-cô. Ngài mang một trái tim nhạy cảm và quan tâm đến mọi thứ diễn ra, từ những ai gần gũi nhất trong tầm tiếp xúc với ngài, cho tới những biến cố xung đột và thảm hoạ ở phạm vi toàn cầu. Câu chuyện gặp gỡ giữa ngài và cậu bé Emmanuele trong dịp viếng thăm Giáo xứ Thánh Phaolo Thánh Giá, ngày 15/4/2018, là một ví dụ điển hình. Dù đang được vây quanh bởi nhiều bạn trẻ, và dù đang nghe biết bao nhiêu tiếng cười vui mừng của những con người được gặp gỡ vị cha chung, ngài vẫn có thể nhận ra nỗi lòng thổn thức của cậu thiếu niên Emmanuele, dù em chỉ bộc lộ cách gián tiếp và ẩn kín khi em không dám đặt câu hỏi trực tiếp cho ngài. Trái tim mục tử lớn lao đã giúp ngài có sự nhạy bén và tinh tế để khích lệ em nói thầm cùng ngài; và sau khi xin phép em, ngài đã công bố câu chuyện của bố em, và đưa ra lời giải đáp tuyệt vời, không phải bằng sự khôn ngoan của lý luận, mà bằng sự khôn ngoan lớn lao của tình yêu, rằng chắc chắn Thiên Chúa – một Người Cha Nhân Hậu – không để cho một người cha tốt lành trần thế vừa qua đời là bố của em phải ở xa Ngài, dù ông chưa lãnh nhận phép Rửa Tội.

Với một trái tim như thế, nên thật chẳng ngạc nhiên khi Ngài được xem là vị Giáo hoàng của  mọi người, nhất là của người nghèo, người di dân và tất cả những ai thuộc “vùng ngoại vi”. Ngài hiện diện với tất cả trong sự giản dị hết mức có thể, như một người cha, một người anh em thân thiết giữa mọi người; ngài giảng dạy những những điều gần gũi, với ngôn từ mà ai cũng có thể hiểu. Tất cả là để xoá bỏ khoảng cách vô hình mà các chức tước thường tạo ra, để sống như “vị chủ chăn mang lấy mùi của đàn chiên”, và để thành khí cụ kiến tạo hoà bình, xây đắp tình huynh đệ. Có lẽ cũng vì vậy mà ngài từ chối mặc phẩm phục truyền thống bằng vàng cũng như chọn sống tại Nhà Thánh Marta thay vì Dinh Tông Tòa; và hẳn cũng chính vì thế mà ngài đã chọn Phan-xi-cô, tên của vị thánh hoà bình, để đặt cho mình.

Đặt trung tâm đời sống nơi trái tim cũng đồng nghĩa với tâm thế bước ra khỏi chính mình để có thể đụng chạm và chia sẻ những đau thương và thách đố của người khác, để dành chỗ cho tha nhân trong lòng mình. Người nào để cho trái tim hướng dẫn và thúc đẩy thì không thể tách mình ra khỏi những ước mong thầm kín và những tiếng kêu cầu của anh chị em, vốn vẫn luôn khẩn thiết ở mọi nơi mọi lúc. Như thế, trung tâm của trái tim giúp chúng ta gặp thấy tha nhân và nghe được tiếng nói của Đấng Tình Yêu, nhờ đó ta hội nhất bản ngã và tìm gặp chính mình. Để diễn tả điều này, Đức Phan-xi-cô dẫn lại những lời tuyệt đẹp sau của triết gia Romano Guardini: “người ta không thể đi vào nội tâm mình bằng trí óc. Do vậy, nếu trái tim không sống động, người ta vẫn xa lạ với chính mình” (Dilexit Nos, 9). Vì thế, ngài đã mong ước Giáo hội Giáo hội trở thành một “bệnh viện dã chiến,” đón nhận, chữa lành và đồng hành với con người trong mọi hoàn cảnh của họ. Và thiết tưởng phải đặt trong viễn tượng đó thì chúng ta mới thực sự hiểu được các bận tâm trong những huấn giáo của ngài, từ những Tông Huấn như Amoris Laetitia (2016) hay Evangelii Gaudium (2013), cho tới các Thông điệp quan trọng như Laudato si’ (2015), Fratelli Tutti (2020) hay Dilexit nos (2024). Tất cả đều là tiếng kêu mời khởi đi từ con tim, hướng về những nỗi đau, những bất công, những phân rẽ của gia đình nhân loại, nhất là về những người không có tiếng nói trong thế giới này. Còn bản thân ngài, trong tư cách vị lãnh đạo Giáo hội, đã thực hiện tinh thần đó thật tận căn, và thực hiện cho tới những giây phút cuối của cuộc đời: sau khi hoàn thành những việc mục vụ Tuần Thánh như ngài vẫn làm hàng năm, và chỉ khoảng 19 giờ trước khi trút hơi thở cuối cùng, dù trong tình trạng sức khoẻ rất yếu, ngài đã hiện diện để ban ban phép lành toàn xá ngày Phục Sinh Urbi et Orbi cho dân Chúa!

Nhưng nét đẹp tuyệt vời của ơn gọi làm người không phải chỉ nơi sự cao cả của tình yêu, mà còn nơi cách chúng ta đảm nhận những yếu đuối của thân phận mỏng dòn. Như câu cách ngôn mà người Phương Tây thường nhắc nhau, “to err is human, to forgive divine”, con người ta ai cũng có những yếu đuối; ai cũng dễ dàng gặp phải những lỗi lầm trong đời sống. Điều quan trọng là mỗi người được kêu gọi để đảm đương thân phận đó bằng cách chân nhận sai phạm, sửa đổi và tha thứ cho nhau. Như bao con người khác, Đức Phan-xi-cô cũng có những lúc nóng giận, như trong lần ngài mất kiên nhẫn với một phụ nữ khi bị bà nắm chặt và giữ tay tại Quảng trường Thánh Phêrô. Nhưng ngay ngày hôm sau, trong huấn từ Kinh Truyền Tin, ngài lên tiếng rằng “Rất nhiều lần chúng ta bị mất kiên nhẫn; cha cũng vậy. Cha xin lỗi vì gương xấu ngày hôm qua.” Ngài cũng mắc những sai lầm, điển hình như trong việc thẩm định sai khi xử lý vụ bê bối lạm dụng ở Chilê. Nhưng sau đó, khi có cơ hội đọc đầy đủ hồ sơ, ngài gửi thư cho các giám mục Chilê, thừa nhận rằng đã “mắc sai lầm nghiêm trọng” và xin Thiên Chúa cùng anh chị em tha thứ cho mình. Đức Phan-xi-cô luôn ý thức về sự yếu đuối của phận người và của Giáo Hội, đồng thời xác tín vào tình thương tha thứ của Chúa, như trong những lời thật đẹp ngỏ cùng các tu sỹ Chilê ngày 16/01/2020: “Chúng ta có mặt ở đây không phải vì chúng ta tốt lành hơn những người khác; chúng ta không phải là những siêu anh hùng đứng trên đỉnh cao cúi xuống gặp gỡ người phàm. Nhưng chúng ta được sai đi như những người ý thức rằng mình đã được tha thứ. Đó là nguồn vui của chúng ta. Chúa Giêsu Kitô không hiện ra với các môn đệ mà không có các vết thương. Một Giáo hội mang thương tích mới hiểu được những vết thương của thế giới ngày nay và lấy những thương đau ấy làm của mình, bằng cách đau khổ với họ, đồng hành với họ và tìm cách chữa lành họ.”

Cuối cùng, Đức Phan-xi-cô đã sống một cuộc đời “rất người” qua nét đẹp của sự hài hước và niềm vui. Ngài nổi tiếng là con người có óc khôi hài, với nụ cười thường trực trên môi. Trong quyển sách Thiên Chúa là niềm vui (Dio è Gioia), ngài chia sẻ rằng niềm vui Kitô giáo vừa gần với hòa bình vừa gần với khiếu hài hước. Ngài nói thêm, “Tinh thần hài hước là thái độ của con người gần với ân sủng Chúa nhất vì thế ai thiếu khả năng này thì họ như thiếu một cái gì.” Còn trong cuốn tự truyện có tựa đề Biết Cười: Men Tạo Nên Niềm Vui, Đức Phan-xi-cô nói rằng hài hước giúp chúng ta có sức mạnh đối mặt với khó khăn trong những hoàn cảnh của cuộc sống thường nhật và vượt qua chúng; nụ cười còn là đặc nét của tinh thần trẻ thơ, vì vậy sự hài hước và vui cười cũng là dấu chỉ của tâm hồn hoán cải, tức của người đặt niềm trông cậy nơi Thiên Chúa thay vì nơi chính mình. Do đó, ngài mời gọi chúng ta nhìn đến trẻ thơ như những tấm gương của nhân tính, để ta có thể tìm lại khả năng vui cười như các em và sống chân thật ơn gọi của mình.

Có lẽ chúng ta cảm nhận được sự gần gũi với Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô vì nơi ngài ta ít nhiều thấy được cuộc sống của chính mình, thấy ẩn chứa những khía cạnh rất thân thuộc trong ơn gọi làm người mà Thiên Chúa vẫn luôn kêu mời chúng ta. Hôm nay, khi trái tim lớn của vị cha chung đã ngừng đập, chúng ta có thể thốt lên rằng: Tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con một vị Giáo Hoàng rất người! Tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con một người cha đã sống theo gương mẫu Đức Giê-su – Con Người Toàn Vẹn –  để khơi gợi và cổ võ chúng con những chiều kích và những nét đẹp của ơn gọi làm người.

Nguồn. Vatican News