Ơn Gọi Của Matthia Thật Kỳ Diệu – Chúng Ta Cũng Thế (14.5.2025 Thứ Tư Tuần IV Phục Sinh)

Ngày của thánh Matthia, Lời Chúa cung cấp cho chúng ta những điểm nền tảng trong ơn gọi của vị Tông Đồ vào ‘phút 91’ này. Cả thế giới vừa mới nôn nao theo dõi mật viện bầu giáo hoàng; nhưng ‘mật viện’ đầu tiên thì hầu như chỉ nội bộ các Tông Đồ biết và tiến hành cách đơn sơ hơn nhiều, và ‘mật viện’ ấy không phải là bầu giáo hoàng, mà bầu một ‘giám mục’ thay thế chỗ của Giuđa Iscariot!

Điều kiện hay tiêu chuẩn để được bầu chọn, đó là: người đã cùng đi với các Tông Đồ, theo Chúa Giêsu dọc theo sứ vụ của Người qua các biến cố, và sẵn sàng để làm chứng cho Chúa Giêsu Phục sinh. Matthia và Giuse Barsabba đáp ứng những tiêu chuẩn này, và Matthia được chọn qua một lượt bắt thăm duy nhất – điều ‘ngẫu nhiên’ này cho thấy rõ tác nhân của sự chọn lựa là chính Thánh Thần.

Ta nhận ra, Matthia cũng đi theo Chúa Giêsu ngay từ đầu, cũng đi với các Tông Đồ cho dù chỉ ở vòng ngoài chứ không thuộc nhóm 12… Và mãi tới hôm nay, khi Chúa không còn hiện diện bằng xương bằng thịt với các môn đệ nữa, thì Matthia mới được chính thức đưa vào nhóm, để trám một chỗ trống do Giuđa để lại! Ơn gọi và sứ mạng của Matthia được thấy có vẻ đơn sơ như thế – nhưng thật ra đó vẫn là cách Chúa gọi vị Tông Đồ này cho công cuộc của Chúa. Đó vẫn là một mầu nhiệm như bất cứ mầu nhiệm ơn gọi nào!

Chúa Giêsu xác nhận điều nói trên cho Matthia, và cho tất cả chúng ta: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và đã cắt đặt, để anh em đi và mang lại hoa trái, và để hoa trái anh em tồn tại”… Và chính Chúa Giêsu cho biết nền tảng của những nền tảng nói trên trong ơn gọi của Matthia, cũng là của tất cả chúng ta, đó là: “Như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em. Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy!” Mọi ơn gọi đều là một diễn tả tình yêu của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu Kitô. Một tình yêu nhưng không, vô điều kiện, và không ai có thể cho rằng mình xứng đáng cả!

Đức tân giáo hoàng Lê ô XIV, trong Thánh lễ đầu tiên sau khi được bầu chọn, đã mời gọi các Hồng y bằng lời Thánh vịnh này: “Hãy ca tụng Chúa một bài ca mới, vì Ngài đã làm cho chúng ta bao điều kỳ diệu!”

Cũng như Thánh Matthia… cũng như Đức tân giáo hoàng… ơn gọi mà Chúa dành cho mỗi người chúng ta tự bản chất là một điều kỳ diệu!

Lm. Lê Công Đức


Vượt Qua Bức Tường Vô Minh Để Hiểu Chúa Giêsu Kitô (13.5.2025 Thứ Ba Tuần IV Phục Sinh)

“Ông còn để chúng tôi thắc mắc cho đến bao giờ? Nếu ông là Ðức Kitô, thì xin ông nói rõ cho chúng tôi biết”. Hãy hình dung nỗi băn khoăn và bất quyết nơi những người Do thái. Họ muốn biết rõ Giêsu có phải là Đấng Kitô mà họ hằng mong đợi. Nhưng họ hiểu ‘Kitô‘ theo cách của họ, không giống với con đường của Đấng Kitô đích thật, vì thế họ không hiểu những lời Chúa Giêsu nói và không hiểu ngay cả những hành động mà Người thể hiện…

Có một bức tường hay một vực thẳm phải vượt qua thì mới hiểu được Chúa Giêsu, Đấng là Con Đường, Sự Thật, và Sự Sống. Bức tường hay vực thẳm ấy có tên là ‘nhận thức’/ ‘thức tỉnh’ mà các nhà linh đạo thường nhấn mạnh. Có thể nói, sự khác biệt giữa hai bên là sự khác biệt giữa tỉnh và điên, giữa sáng và tối, giữa sống và chết.

Chúa Giêsu phải chịu đựng sự vô minh nơi những người Do thái đương thời của Người. Các môn đệ của Người qua các thế hệ, cả chúng ta là các Kitô hữu ngày nay, cũng phải vượt qua bức tường vô minh ấy và đồng thời có sứ mạng giúp mọi người khác vượt qua! Đây là điểm nòng cốt trong bài giảng đầu tiên của Đức Lê ô XIV trong sứ vụ giáo hoàng. Ngài nhắc đến Hội Thánh như ‘thành xây trên núi’, như ‘con tàu cứu rỗi lướt trên biển lịch sử’, như ‘ngọn hải đăng soi sáng những đêm tối của thế giới này’… Ngài lưu ý việc chúng ta thực thi sứ mạng ấy không cốt ở xây dựng những công trình nguy nga đồ sộ, mà cốt ở sự thánh thiện của mọi thành viên Hội Thánh… Ngài nhắc rằng chúng ta là dân Thiên Chúa, đã được gọi ra khỏi bóng tối để bước vào ánh sáng kỳ diệu, để loan báo những kỳ công Thiên Chúa đã làm (x. 1Pr 2,9)…

Đức tân giáo hoàng kêu gọi chúng ta ý thức ngày nay vẫn “có nhiều bối cảnh trong đó đức tin Kitô giáo bị coi là vô lý, là thứ dành cho những người yếu đuối và khờ khạo; những bối cảnh mà các sự an ổn khác được ưa chuộng hơn, như công nghệ, tiền bạc, thành công, quyền lực hoặc thú vui!”… Ngài nói đó là “những bối cảnh thật không dễ để rao giảng Phúc Âm và làm chứng cho sự thật của Phúc Âm, những bối cảnh mà những người tin Chúa bị chế giễu, bị chống đối, khinh thường hoặc chỉ là được dung thứ và thương hại”… Tuy nhiên, Đức tân giáo hoàng khẳng định: “Chính vì lý do này mà sự vươn ra của sứ mạng chúng ta vô cùng cần thiết. Tình trạng thiếu đức tin thường gắn liền một cách bi thảm với việc mất đi ý nghĩa trong cuộc sống, sự thờ ơ với lòng thương xót, những sự chà đạp khủng khiếp đối với phẩm giá con người, những khủng hoảng gia đình và rất nhiều vết thương khác đang hành hạ xã hội chúng ta”…

Sách Công vụ hôm nay ghi nhận danh xưng ‘Kitô hữu’ đã bắt đầu ở Antiokia, nói lên căn tính của chúng ta là những người đã lãnh Phép Rửa. Nhưng Đức tân giáo hoàng Lêô XIV cũng cảnh giác rằng nếu chúng ta mang danh Kitô hữu nhưng không nhận thức đúng về Chúa Giêsu Kitô và về con đường của Người, thì chúng ta cũng chỉ là những người “vô thần thực tiễn” mà thôi!

Lm. Lê Công Đức


Đức Thánh Cha Lêô XIV Viếng Mộ Đức Cố Giáo Hoàng Phanxicô

Phòng Báo chí Tòa Thánh cho biết vào chiều thứ Bảy ngày 10/5/2025, trên đường trở về Vatican sau khi viếng Đền thánh Đức Mẹ Chỉ bảo Đàng lành ở Genazzano, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã đến Đền thờ Đức Bà Cả và cầu nguyện trước ảnh Đức Mẹ Salus Populi Romani và tại lăng mộ của Đức cố Giáo hoàng Phanxicô.

Lần cuối cùng Đức Thánh Cha Lêô XIV cầu nguyện tại mộ của Đức cố Giáo hoàng Phanxicô là vào chiều Chúa Nhật thứ Hai sau Lễ Phục sinh, Chúa Nhật Lòng Thương Xót, khi đó Đức Hồng y Robert Prevost, cùng với các thành viên của Hồng y đoàn, đã đến Đền thờ Đức Bà Cả để cầu nguyện trước mộ Đức cố Giáo hoàng.

Đức Thánh Cha Lêô XIV cầu nguyện tại Đền thờ Đức Bà Cả

Đức Thánh Cha Lêô XIV cầu nguyện tại Đền thờ Đức Bà Cả   (@Vatican Media)

Trước khi dừng lại tại Đền thờ Đức Bà Cả, Đức Thánh Cha đã viếng Đền thờ Đức Mẹ Chỉ bảo Đàng lành ở Genazzano, cách Roma khoảng 60 km, do các tu sĩ Dòng Augustinô điều hành từ năm 1200.

Đền thờ là nơi lưu giữ một bức ảnh Đức Mẹ Đồng Trinh cổ xưa, có nguồn gốc từ Shkodër (Albania) và được Đức Giáo hoàng Lêô XIII rất yêu thích.

Đức Thánh Cha Lêô XIV viếng Đền thánh Đức Mẹ Chỉ bảo đàng lành ở Genazzano

Đức Thánh Cha Lêô XIV viếng Đền thánh Đức Mẹ Chỉ bảo đàng lành ở Genazzano

Nguồn. Vatican News


Mục Tử – Chiên – Và Tính Bao Gồm Phổ Quát Của Đoàn Chiên  (12.5.2025 Thứ Hai Tuần IV Phục Sinh)

Trước khi tự giới thiệu là Mục tử (người chăn chiên) Tốt lành (trong tương quan với đoàn chiên), Chúa Giêsu tuyên bố Người là CỬA chuồng chiên (trong tương quan với những người chăn chiên tức các mục tử trong Hội Thánh). Điều kiện để trở thành các mục tử chính danh trong Hội Thánh, đó là phải đi qua cửa Giêsu, tức được chính Chúa Giêsu gọi và chọn. Ta nghĩ đến tiến trình phân định ơn gọi và được đào tạo của các ứng viên linh mục, cũng như việc Giáo hội gọi và đặt tay truyền chức cho các ứng viên…

Vâng. Không ai có quyền tự mình quyết định trở thành linh mục. Chức linh mục không phải là một dự án của cá nhân hay sự sắp xếp của gia đình. Chính Chúa – qua thẩm quyền của Giáo hội là người giữ cửa chuồng chiên – kêu gọi và tuyển chọn người ta làm phó tế, linh mục, giám mục… Người lạ không dẫn dụ được chiên, vì chiên không nghe tiếng người lạ. Kẻ trộm vào chuồng chiên mà không qua cửa: rất nguy hiểm cho chiên, hắn sẽ ăn trộm chiên, sát hại, và phá huỷ! Đây là những người ‘đến với chức linh mục mà không qua cánh cửa ơn gọi’ (theo cách nói của Cha J.J. Olier)!

Chúng ta có thể nghĩ đến các trường hợp như: những chủng sinh cố làm linh mục bằng mọi giá, thay vì phân định kỹ lưỡng phải chăng Chúa thật sự kêu gọi mình đi con đường này; những người mưu mô thoán đoạt chức thánh, chẳng hạn bằng các chứng thư giả mạo và đánh lừa vị giám mục truyền chức, như chuyện lùm xùm cách đây vài năm; những vụ bổ nhiệm giám mục bởi thế quyền chứ không phải bởi thẩm quyền của Giáo hội, vân vân… Nói tóm, ơn gọi là của Chúa, hoàn toàn thuộc ý chí tự do của Chúa mà ta cần tôn trọng tuyệt đối.

Điều vừa nói cũng đúng với mọi ân sủng cho mọi người. Chúa muốn mọi người được cứu độ, cả người Do thái và dân ngoại, chứ không trừ ai. Câu chuyện thị kiến của Phêrô ở Gióppe cho biết rõ như thế, dù nhiều người Do thái lúc bấy giờ vẫn nhìn dân ngoại với cái nhìn phân biệt và kỳ thị… Phêrô trả lời họ: “Nếu Thiên Chúa ban cho dân ngoại cũng một ơn như đã ban cho chúng ta, là những kẻ tin vào Chúa Giêsu Kitô, thì tôi là ai mà có thể ngăn cản Thiên Chúa?” Phêrô đang nói về ơn Phép Rửa trong Thánh Thần.

Thì ra, đoàn chiên của Chúa mở ra bao gồm hết mọi người thuộc mọi dân mọi nước. Chúng ta cần nhận thức tính bao gồm phổ quát này, và chính tính bao gồm này giải thích sứ mạng ‘ad gentes’ và ‘inter gentes’ của chúng ta!

Lm. Lê Công Đức


Yêu Như Chúa Yêu (Suy Niệm Chúa Nhật IV Phục Sinh, Năm C – Chúa Chiên Lành)

Chúa Nhật thứ tư mùa Phục sinh được gọi là Chúa nhật Chúa Chiên Lành.  Hình ảnh người chăn chiên đã được mô tả trong Cựu ước về Thiên Chúa như là Đấng chăn dắt dân Người (Tv 22). Chính Chúa Giêsu cũng dùng những hình ảnh người chăn chiên quen thuộc để dạy chúng ta những chân lý thiêng liêng.

Chúng ta cùng chiêm ngưỡng hình ảnh của Chúa – một người mục tử nhân lành. Trước tiên, người mục tử nhân lành luôn biết chạnh lòng thương. “Ngài chạnh lòng thương khi thấy dân chúng vất vưởng lầm than như đàn chiên không người chăn dắt” (Mc 6, 34). Ngài chạnh lòng thương khi thấy dân chúng đói lả, nên hoá bánh ra nhiều cho họ ăn uống thoả thuê” (Mt 15, 32). “Ngài chạnh lòng thương trước bệnh tật của con người, nên ra tay chữa lành nhiều người” (Mt 14,14). Ngài chạnh lòng thương trước nỗi mất mát đau buồn của bà goá thành Na-im (Lc 7, 13-15). Ngài chạnh lòng thương khi thấy chúng ta đang phải đối diện với những khó khăn, thử thách và đau khổ trong cuộc sống. Vì thế, Ngài luôn nói với chúng ta rằng “Ơn Ta đủ cho con” (2Cr 12,9); “Đừng sợ, có Ta ở với con” (Is 41,10), “Người yêu thương chúng ta đến cùng” (Ga 13,1). Như thế, chúng ta tin tưởng rằng Chúa luôn bên cạnh chúng ta trên mọi nẻo đường.

Người mục tử nhân lành luôn thấu hiểu và không bao giờ bỏ rơi con chiên. Chúa Giêsu biết rõ từng người chúng ta, Ngài biết tên, biết những nhu cầu cần thiết mà chúng ta cần bởi Ngài đã trải qua thân phận của con người: vui, buồn, khó khăn, hạnh phúc, đau khổ, nước mắt và cả sự mất mát để thông chia và đồng hành với chúng ta. Ngài không bao giờ mỏi mệt để đi tìm chúng ta: Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao?” (Mt 18,12). Người mục tử bỏ lại chín mươi chín con kia ở lại trên núi trong tình trạng không an toàn, như thể con chiên lạc là duy nhất, là con chiên yêu thương duy nhất đối với mình. Chúa cũng muốn đi vào tương quan tình yêu với từng người chúng ta, dù chúng ta ở trong tình trạng nào, tội lỗi hay bé nhỏ. Đã bao lần chúng ta đi lạc đường, xa Chúa? Chúng ta hãy luôn nhớ rằng “Chúa không cần một tấm lòng trong sạch trước khi ôm lấy ta, chỉ cần ta trở về trong bàn tay yêu thương của Chúa là đủ rồi”.

Cuối cùng, người mục tử nhân lành dám hy sinh mạng sống vì đàn chiên “Tôi là mục tử nhân lành, mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên” (Ga 10,11). Người mục tử đích thực là người chăm sóc, bảo vệ đoàn chiên khỏi sự tấn công của lũ sói, dẫu phải đối diện với nguy cơ phải bỏ mạng. Chính Chúa Giêsu đã hy sinh mạng sống Ngài trên thánh giá để cứu độ chúng ta, để chúng ta được sự sống đời đời. Ngài còn đi đến đỉnh cao của sự dâng hiến trọn vẹn là trở nên lương thực nuôi dưỡng chúng ta trong tấm bánh bé nhỏ mà mỗi ngày chúng ta rước lễ. Ngài đã trở nên người bạn để đồng hành và nâng đỡ chúng ta.

Vậy tiêu chuẩn nào để chúng ta là đàn chiên của Chúa? “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi” (Ga 10,27). Tiêu chuẩn đầu tiên, chúng ta phải “nghe” được tiếng của Chúa. Nghe ở đây không dừng lại ở việc nghe Lời Chúa qua Kinh Thánh, giáo huấn của Giáo hội nhưng chúng ta phải nghe được tiếng Chúa bằng trái tim mình, đi vào mối tương giao thân tình, cá vị với Chúa. Nếu chúng ta không nói chuyện với Chúa nhiều, không gặp gỡ Chúa nhiều thì chắc chắn chúng ta không thể nhận ra tiếng nói của Chúa. Điều nguy hiểm hơn, chúng ta sẽ đi theo những tiếng gọi lạ. Như thế, chúng ta được mời gọi ở lại với Chúa mỗi ngày để lắng nghe lời mời gọi của Chúa và để Chúa hướng dẫn mọi chọn lựa sống của chúng ta. Tiêu chuẩn thứ hai là chúng ta cần đáp trả lời mời gọi của Chúa “Hãy theo Thầy”. Theo Chúa với một thái độ tự do, tự nguyện dấn thân và gắn bó với một mình Chúa. Theo Chúa là chúng ta dám từ bỏ con người cũ với những tính toán, ích kỷ… Bước đi theo Chúa là theo sát con đường Chúa đi, con đường yêu thương, phục vụ, dám hy sinh, không rẽ ngang dù gặp chông gai, thử thách và dám bước vào con đường thập giá với Chúa vì yêu thương anh chị em mình.

Lạy Chúa! Lời mời gọi của Chúa cách đây hai ngàn năm vẫn còn vang vọng trong thế giới hôm nay đặc biệt trong ngày Giáo hội cầu nguyện cho ơn thiên triệu. Chúa mời gọi tất cả chúng con đặc biệt là các linh mục, tu sĩ của Chúa hãy trở nên người mục tử nhân lành để dẫn dắt đàn chiên Chúa trao phó, đừng bao giờ mỏi mệt để biết các con chiên của mình nhưng biết chạnh lòng thương với những con chiên đang đi lạc, cần sự giúp đỡ. Xin Chúa cho chúng con biết lắng nghe tiếng Chúa và can đảm đáp lại lời mời gọi của Chúa “Hãy theo Thầy” để giữa thế giới ngày càng phát triển chúng con không đánh mất đi căn tính của mình nhưng làm chứng nhân sống động cho mọi người nhận thấy sự hiện diện đầy tình yêu thương của Chúa.

Maria Thảo An


Thưa Thầy, Nếu Bỏ Thầy, Chúng Con Biết Theo Ai? (10.5.2025 Thứ Bảy Tuần III Phục Sinh)

Diễn từ dài về Bánh hằng sống, trong đó Chúa Giêsu vén mở về chính Người như nguyên lý sự sống đích thực, dẫn tới kết quả là nhiều môn đệ nhún vai bỏ đi! Diễn đạt theo kiểu hình tượng: họ biểu quyết bằng chân. Chắc Chúa không khỏi buồn… nhưng Người vẫn sẵn sàng đối diện với sự thật một cách đầy bản lĩnh, Người hỏi cả Nhóm Mười Hai: “Còn anh em thì sao, anh em có muốn bỏ đi không?”

Simon Phêrô nói thay lời cho cả nhóm: “Thưa Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin và chúng con biết rằng: Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa”. Nhận thức và quyết định này của Phêrô thật là hay, thật đúng đắn. Chúng ta bớt ái ngại cho Chúa Giêsu. Hẳn Người yên tâm phần nào khi nghe lời tuyên xưng ấy… Nhưng chúng ta cần nhớ, ngay cả lời tuyên xưng này của Phê rô cũng cần được làm rõ – chẳng hạn, Thầy là Đấng Kitô theo cách nào, theo con đường nào?… Hơn nữa, lời tuyên xưng như thế cũng không phải là cái gì có hiệu lực ‘một lần cho tất cả’ (once for all)!

Phê rô và các đồng môn còn phải khám phá để hiểu Thầy hơn, và hiểu chính mình hơn… Một cuộc vật lộn ra trò, như kinh nghiệm cay đắng xen lẫn ngọt ngào của Phêrô cho thấy! Cuối cùng, sau Phục Sinh, Thầy vẫn đón nhận tấm lòng của Phêrô, tiếp tục kêu gọi Phêrô theo Thầy, trao năng lực để Phêrô đi vào sứ mạng…

Và trang sách Công vụ Tông đồ hôm nay cho thấy hình ảnh một Phêrô đĩnh đạc, mạnh mẽ với phong cách của vị Tông Đồ thủ lĩnh trong “Hội thánh được tổ chức và đầy ơn an ủi của Thánh Thần”. Ta thấy Phêrô rất tự nhiên chữa lành người bại liệt đã tám năm – và ngay cả làm cho nữ môn đồ Tabitha đã chết được sống lại! Rõ ràng, không phải tự sức Phêrô – và cũng rõ ràng, Chúa Giêsu không gọi người ưu tú, mà Người làm cho những kẻ Người kêu gọi trở thành ưu tú!

Cũng như Phêrô, tất cả chúng ta – những người được Chúa Giêsu kêu gọi – cần khởi đi từ xác quyết căn bản: “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin và chúng con biết rằng: Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa”.

Lm. Lê Công Đức


Lời Chào Đầu Tiên Của Đức Tân Giáo Hoàng Lêô XIV

Trước khi ban phép lành toàn xá Urbi et Orbi, cho Roma và toàn thế giới, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã ngỏ lời với tất cả mọi người với lời chào bình an, mời gọi xây nhịp cầu và đối thoại.

Bình an ở cùng tất cả anh chị em!

Anh chị em thân mến, đây là lời chào đầu tiên của Đức Kitô Phục Sinh, vị Mục Tử nhân lành đã hiến mạng sống vì đoàn chiên của Thiên Chúa. Tôi cũng mong muốn lời chào bình an này thấm sâu vào lòng anh chị em, lan tỏa đến gia đình của mỗi người, đến mọi người, ở bất cứ nơi đâu, đến mọi dân tộc, đến khắp mặt đất. Bình an ở cùng anh chị em!

Đây là bình an của Đức Kitô Phục Sinh, một sự bình an không vũ khí và buông vũ khí, khiêm nhường và kiên trì. Bình an này đến từ Thiên Chúa, Đấng yêu thương tất cả chúng ta vô điều kiện. Chúng ta vẫn còn nghe vang vọng trong tai chúng ta giọng nói yếu ớt nhưng đầy can đảm của Đức Thánh Cha Phanxicô khi ngài ban phép lành cho thành Roma!

Đức Thánh Cha ban phép lành cho Roma cũng là ban phép lành cho thế giới, cho toàn thể nhân loại, trong buổi sáng ngày lễ Phục Sinh. Xin cho phép tôi tiếp nối lời phép lành ấy: Thiên Chúa yêu thương chúng ta, Thiên Chúa yêu thương tất cả anh chị em, và sự dữ sẽ không bao giờ thắng thế! Tất cả chúng ta đều ở trong bàn tay Thiên Chúa. Vì thế, không sợ hãi, cùng nhau nắm tay Thiên Chúa và nắm tay nhau, chúng ta tiến bước. Chúng ta là môn đệ của Đức Kitô. Đức Kitô đi trước dẫn đường. Thế giới cần ánh sáng của Người. Nhân loại cần Người như cây cầu để đến được với Thiên Chúa và tình yêu của Người. Xin anh chị em cũng hãy giúp chúng ta, rồi giúp nhau xây dựng những nhịp cầu, qua đối thoại, qua gặp gỡ, hiệp nhất để trở thành một dân tộc duy nhất luôn sống trong hoà bình. Xin cảm ơn Đức Thánh Cha Phanxicô!

Tôi cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả các Hồng Y anh em đã chọn tôi làm Người Kế Vị Thánh Phêrô, để cùng anh chị em bước đi, như một Giáo Hội hiệp nhất, luôn tìm kiếm hòa bình, công lý, luôn cố gắng sống như những người nam nữ trung thành với Đức Giêsu Kitô, không sợ hãi, để loan báo Tin Mừng, để trở thành những nhà truyền giáo.

Tôi là người con của Thánh Augustinô, một tu sĩ Augustinô, người đã nói: “Với anh em, tôi là Kitô hữu; vì anh em, tôi là giám mục”. Theo nghĩa này, tất cả chúng ta có thể cùng nhau tiến về quê hương mà Thiên Chúa đã dọn sẵn cho chúng ta.

Gửi đến Giáo Hội Roma một lời chào đặc biệt! Chúng ta phải cùng nhau tìm cách trở thành một Giáo Hội truyền giáo, một Giáo Hội xây dựng nhịp cầu, đối thoại, luôn rộng mở để chào đón như quảng trường này với vòng tay rộng mở. Tất cả, tất cả những ai cần đến lòng bác ái, sự hiện diện, đối thoại và tình yêu của chúng ta.

Sau khi ngỏ lời chào bằng tiếng Ý, Đức tân Giáo Hoàng đã nói bằng tiếng Tây Ban Nha:
Và xin cho phép tôi gửi một lời chào đến tất cả mọi người, và đặc biệt đến giáo phận Chiclayo yêu dấu của tôi ở Peru, nơi có một dân thánh trung thành đã đồng hành với vị giám mục của mình, chia sẻ đức tin và đã cống hiến rất nhiều, rất nhiều, để tiếp tục là một Giáo Hội trung thành của Đức Giêsu Kitô.

Gửi đến tất cả anh chị em ở Roma, ở Ý, và trên toàn thế giới, chúng ta mong muốn trở thành một Giáo Hội hiệp hành, một Giáo Hội bước đi, một Giáo Hội luôn tìm kiếm hòa bình, luôn tìm kiếm đức ái, luôn cố gắng ở gần những người đau khổ nhất.

Hôm nay là ngày cầu nguyện với Đức Mẹ Pompei. Mẹ Maria luôn muốn đồng hành với chúng ta, ở gần bên, giúp đỡ chúng ta qua lời chuyển cầu và tình yêu của Mẹ.

Vì thế, tôi muốn cùng anh chị em cầu nguyện. Chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện cho sứ vụ mới này, cho toàn thể Giáo Hội, cho hòa bình thế giới, và xin Mẹ ban ơn đặc biệt này.

Sau đó Đức Tân Giáo hoàng đã cùng các tín hữu tại quảng trường thánh Phêrô đọc Kinh Kính Mừng và ngài ban phép lành toàn xá Urbi và Urbi, cho Roma và toàn thế giới.

Nguồn. Vatican News


Chúng Ta Có Dám Để Cho Chúa Biến Đổi Như Phaolô? (09.5.2025 Thứ Sáu Tuần III Phục Sinh)

Saolô đang điên tiết bắt bớ các tín hữu thì chính Chúa Phục Sinh ngăn chặn Saolô. Cuộc trở lại của Saolô diễn ra thật bất ngờ và dứt khoát, như thể Chúa giựt Saolô khỏi con đường lầm lạc và đẩy thẳng vào nẻo đường của Chúa. “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?”, đây là câu hỏi đồng thời là tuyên ngôn đầy tâm phục khẩu phục của một người được Chúa chinh phục.

Chúa muốn Saolô làm gì? Ngay trong biến cố ‘trở lại’ này của Saolô, tất cả điều Chúa muốn về con người này cũng được bộc lộ – như ta nghe lời Chúa nói với Anania: “Người này là lợi khí Ta đã chọn, để mang danh Ta đến trước dân ngoại, vua quan và con cái Israel. Ta sẽ tỏ cho nó biết phải chịu nhiều đau khổ vì danh Ta”. Thật bi tráng, vì không chỉ là mang danh Chúa Giêsu đến cho mọi người, mà còn là phải chịu nhiều đau khổ nữa!

Và như tất cả chúng ta đều thấy rõ, cả hai khía cạnh đó đều được thánh Tông đồ Phaolô đảm nhận trọn vẹn. Đó là ‘vận mệnh’ của những ai đón nhận và thuộc về Chúa Giêsu Kitô! Tại sao? Tại sao đau khổ và thập giá gắn không rời đường đời người môn đệ và người tông đồ chính danh? Bởi vì đi theo Chúa Giêsu mà! Bởi vì chính Chúa đã trải qua đau khổ và thập giá. Và bởi vì đau khổ và thập giá của Chúa và của những ai gắn kết với Chúa đều có sức cứu độ!

Cần nhắc lại, đau khổ, thập giá và cái chết ấy là con đường SỐNG. Dĩ nhiên đây là sự SỐNG đích thực, sự SỐNG đúng nghĩa – khác với những sự ‘sống’ lừa mị ta, bởi chúng là sự chết chứ không phải sự sống. Chúa Giêsu muốn ta sống, và Người trao cho ta con đường sống là chính Người: “Cũng như Cha là Ðấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta”. Thánh Phaolô bắt gặp sự sống này và bị cuốn hút lấy bởi sự sống này, nên ta hiểu vì sao ngài được biến đổi cách ngoạn mục như vậy.

Chúng ta có dám khát vọng được biến đổi như thánh Phaolô không?

Lm. Lê Công Đức


Đón Nhận Người Con Một Mà Cha ban Tặng, Nhờ Thánh Thần…(08.5.2025 Thứ Năm Tuần III Phục Sinh)

“Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống”…

Từ nhu cầu bánh ăn hằng ngày để sống còn mà đám đông tìm kiếm, Chúa Giêsu dẫn dắt mọi người quan tâm đến bánh của sự sống đời đời. Bánh ấy là chính THỊT của Người. Và đây là cốt yếu của Bí tích Thánh Thể. Chúng ta ĂN UỐNG chính Thịt và Máu Chúa!

Hãy nghĩ kỹ về sáng kiến lạ lùng này của Chúa, và nghĩ về TÌNH YÊU là động lực cho sáng kiến ấy. Chúa yêu thương ta đến mức đó. Việc của ta là hãy ăn uống Thịt Máu Chúa cho đàng hoàng, biết thưởng thức, với lòng trân trọng và biết ơn. Thưởng thức sự hiện diện đầy yêu thương của Chúa (như chầu Thánh Thể, chẳng hạn) là điều rất tốt. Nhưng ăn uống Chúa (trong việc rước lễ) với đầy ý thức là việc còn tốt hơn. Chúng ta cần khẩu vị tốt để hấp thu tốt cái mà mình ăn. Và luôn cảnh giác nguy cơ ăn uống Chúa thường xuyên mà không có khẩu vị và vì thế cũng không hấp thu được gì…

Ở đây, câu chuyện không phải chỉ là tương quan giữa ta và Chúa Giêsu. Chính Người chỉ rõ: chúng ta được Chúa Cha lôi kéo, và phải để cho Chúa Cha lôi kéo, thì mới đến được với người Con Một mà Cha ban tặng. “Không ai đến được với Ta, nếu Cha, là Ðấng sai Ta, không lôi kéo kẻ ấy”. Trong hiệp thông Thánh Thể, vì thế, chúng ta đang đón nhận tình yêu và kết hợp với thánh ý cứu độ của Chúa Cha, qua Chúa Con, nhờ Thánh Thần. Chúng ta được Thiên Chúa Ba Ngôi yêu và quý đến mức ấy!

Điều mà ta hấp thu từ Thánh Thể chính là Thánh Thần của Chúa Phục Sinh. Thánh Thần dẫn dắt và đồng hành với chúng ta trong cộng đoàn Hội Thánh để sống sự sống mới và để thi hành sứ mạng. Đừng nghi ngờ điều này. Hãy xem cách mà sách Công vụ Tông đồ nói về sự thúc đẩy, hướng dẫn và đồng hành của Thánh Thần Chúa Phục Sinh thật tự nhiên và gần gũi biết bao. Philipphê được thiên thần bảo chỗi dậy lên đường đi hướng đó, hướng đó… Rồi Thánh Thần thúc hối Philipphê bắt kịp viên quan thái giám người Êthiopi… Sau khi giải thích đoạn Thánh Kinh, làm Phép Rửa theo nguyện vọng của viên quan, Philipphê được Thánh Thần đem đi khỏi nơi đó!… Câu chuyện thật hay trong việc minh họa sự thật rằng Hội Thánh luôn có Chúa Thánh Thần trên những nẻo đường sứ mạng của mình.

Những ngày này, trông đợi vị kế nhiệm mới của thánh Phêrô, chúng ta càng thấy mình cần sự đồng hành và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần biết mấy!

Lm. Lê Công Đức


Căng Thẳng Muôn Thuở: Chọn Hay Từ Khước Giêsu? (07.5.2025 Thứ Ba Tuần III Phục Sinh)

Têphano bị ném đá chết. Cái chết thảm trước mặt những người bách hại, nhưng là cái chết thật đẹp theo nhãn quan của những ai tin vào Chúa Giêsu Kitô! Saolô nổi lên tham gia bách hại điên cuồng. Hội Thánh phân tán khỏi Giêrusalem. Tin Mừng cũng theo đó được rao giảng khắp các vùng có mặt các môn đệ Chúa – như ở Samari có Philipphe làm nhiều dấu lạ chữa lành kèm theo lời rao giảng. Sách Công vụ kể: Cả thành được vui mừng khôn tả!

Chúng ta thấy rõ một bầu khí căng thẳng cách lạ lùng: Tai ương ập đến sớm, hiểm nguy trùng giăng trên các Tông Đồ và những người tin Chúa, nhưng về phía mình, các môn đệ thừa sai vẫn vui mừng và không bao giờ ngừng loan báo Tin Mừng về Chúa Giêsu Kitô. Niềm tin và niềm hy vọng ở đây thật là bất khuất. Và ta thấy cuộc chiến đấu thật quyết liệt giữa sự thật và sự mê lầm, giữa ánh sáng và bóng tối, giữa con đường của Chúa Kitô và con đường của thế gian… Trận chiến không hề dễ dàng – nhưng tin vào Chúa Kitô và đi theo Người thì vốn dĩ… như thế!

Chính Chúa Giêsu đã sống và kinh nghiệm sự căng thẳng đầy thách đố này. “Ta đã bảo các ngươi rằng: Các ngươi đã thấy Ta, nhưng các ngươi không chịu tin!”… Hãy hình dung nỗi ưu tư khắc khoải của Chúa Giêsu, đặc biệt trong Tin Mừng Gioan và nhất là ở chương 6 này. Người nói thẳng và trực tiếp về chính Người là nguyên lý sự sống. Người kêu gọi hãy tin và đón nhận Người. “Ý của Chúa Cha là hễ ai thấy và tin vào người Con thì có sự sống đời đời”.

Trong khung cảnh Do thái giáo, Chúa Giêsu là sự hoàn thành, là đích đến – vì thế, việc từ khước không đón nhận Người sẽ làm cho tất cả trở thành dang dở vĩnh viễn. Nhưng người ta có xu hướng ‘bảo thủ’ hơn, thích sự an toàn của hiện trạng hơn, và không muốn những xáo trộn của việc canh tân và đón nhận yếu tố mới mẻ! Nếu yếu tố mới mẻ – là Chúa Giêsu – cứ mè nheo và thách thức quyết liệt, thì người ta sẽ dập tắt nó. Và đó là điều đã xảy ra trong vụ án và cái chết của Chúa Giêsu. Nhưng chuyện càng ‘rối’ cho họ vì Chúa chết mà không hết. Người chết nhưng rồi Người sống lại. Và chính sự sống lại này là câu trả lời cho biết ai thắng ai.

Ta hiểu vì sao các môn đệ thừa sai của Chúa, dù lúc thuận hay lúc nghịch, dù phải chết đi nữa, vẫn luôn luôn loan báo và làm chứng cho sự sống lại của Chúa Giêsu. Chúng ta ngày nay cũng thế: loan báo Tin Mừng Chúa Phục sinh, và làm chứng rằng Người là niềm hy vọng không làm chúng ta thất vọng!

Lm. Lê Công Đức