-“Thiên Chúa đã tôn Ðức Giêsu mà anh em đã đóng đinh, lên làm Chúa và làm Ðấng Kitô”.
-“Thưa các ông, chúng tôi phải làm gì?”
-“Anh em hãy ăn năn sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Ðức Giêsu Kitô để được tha tội; và anh em nhận lãnh ơn Thánh Thần”.
Mẩu thoại này trong Bài đọc sách Công vụ cho thấy hiệu năng đầy khích lệ của việc rao giảng thuở ban đầu. Trình thuật còn cho biết rằng ngày hôm ấy có thêm chừng ba ngàn người gia nhập đạo (x. Cv 2,14a.36-41).
Cộng đoàn tín hữu, tức đoàn chiên của Chúa, đã hình thành và tăng số khá nhanh. Họ kinh nghiệm gì? Thánh vịnh 22 (Đáp ca) nói lên kinh nghiệm của đoàn chiên Chúa. Họ cảm nghiệm tình thương và sự chăm sóc ân cần của Chúa:
“Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng. Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người… Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con… Chúa dọn ra cho con mâm cỗ ngay trước mặt những kẻ đối phương; đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa… Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài”…
Một kinh nghiệm tuyệt vời! Càng tuyệt vời hơn nữa khi hình ảnh vị Mục Tử tốt lành là chính Thiên Chúa được hình tượng hoá ấy đã trở nên rất thực, rất hữu hình nơi Chúa Giêsu Kitô, Đấng tuyên bố “Ta là Mục Tử Tốt Lành… Ta đến cho chiên được sống, và sống dồi dào” (x. Ga 10,10-11).
Và để cho chúng ta “được sống dồi dào”, Vị Mục Tử Tốt Lành đã chịu chết! Như thánh Phê rô khẳng định:
“Ðức Kitô đã chịu đau khổ vì chúng ta, lưu lại cho anh em một gương mẫu để anh em theo vết chân Người… Chính Người đã gánh vác tội lỗi chúng ta nơi thân xác Người trên cây khổ giá, để một khi đã chết cho tội lỗi, chúng ta sống một đời công chính; nhờ vết thương của Người, anh em đã được chữa lành”…
Phần chúng ta, hãy đáp lại kỳ vọng của Chúa: “Xưa kia, anh em như những chiên lạc, nhưng giờ đây, anh em đã trở về cùng vị Mục Tử và Ðấng canh giữ linh hồn anh em” (x. 1Pr 2,20b-25).
Ngày Chúa nhật hôm nay, vì thế, được dành để suy tôn Chúa Giêsu Mục tử Tốt lành. Chúng ta cầu nguyện cho các mục tử trong Giáo hội, và cầu nguyện cho các ơn gọi tận hiến, được cảm hứng sâu xa từ hình ảnh của Chúa Giêsu, Mục tử Tốt lành, trở nên hiện thân của Người: hết lòng yêu thương và phục vụ đoàn chiên của Chúa!
Lm. Lê Công Đức
Bản văn Thư 1 Phêro được chọn cho ngày lễ thánh Máccô bởi vì có nhắc đến Máccô như một người gửi lời thăm… Nhưng chắc chắn đó không phải là tất cả lý do. Chắc chắn thông điệp của đoạn văn này cũng liên hệ mật thiết với thánh Máccô nữa. Nó vừa phản ánh kinh nghiệm của ngài, vừa cho thấy điều chính ngài quan tâm giảng dạy cho các tín hữu. Đó là thông điệp gì?
Trước hết là thái độ KHIÊM NHƯỜNG. “Tất cả anh em hãy mặc lấy đức khiêm nhường để đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu căng và ban ơn cho người khiêm nhường”… Khiêm nhường là nền tảng tâm linh Kitô giáo. Mọi con đường nên thánh đều đặt trên nền móng khiêm nhường, trong tương quan với Chúa và với người khác. Thánh Phêro, tác giả của Thư này, hiểu rất rõ cái sai lầm của kiêu ngạo. Chính Phêro đã từng kiêu ngạo khi tự tin vào sức mình thái quá và muốn thể hiện! Thực tế đã dạy cho Phêro bài học đắt giá, qua cái đêm chối Thầy ba lần…
Thứ hai, “anh em hãy ăn ở TIẾT ĐỘ VÀ TỈNH THỨC, vì kẻ thù anh em là ma quỷ, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé; anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự”… Đời sống của người môn đệ và thừa sai là một cuộc chiến đấu quyết liệt. Vì thế không thể xuề xoà dễ dãi được, mà phải luôn biết sống tiết độ và tỉnh thức! Đây là khía cạnh kỷ luật bản thân, trước hết thuộc nhân bản và nhân cách, làm nền cho sự trưởng thành tâm linh.
Thứ ba, “Thiên Chúa nguồn mạch mọi ÂN SỦNG, … chính Người sẽ làm cho anh em là những người CHỊU ĐAU KHỔ ít lâu, được hoàn thiện, vững vàng và kiên cố”… Chịu đau khổ là thực tế của đời môn đệ thừa sai. Đau khổ gắn liền với cuộc chiến đấu để tiết độ, tỉnh thức, và khiêm nhường. Nhất là đau khổ luôn gắn liền với thập giá! Tất cả làm nên chiều kích khổ hạnh của chúng ta, các Kitô hữu. Nhưng bên cạnh khổ hạnh, luôn có ân sủng của Thiên Chúa nâng đỡ chúng ta. “Anh em hãy trút bỏ cho Người mọi điều lo lắng của anh em, bởi vì chính Người chăm sóc anh em”!
Tin Mừng Máccô rất nhấn mạnh khía cạnh chăm sóc của Thiên Chúa, được thể hiện nơi các hoạt động thi ân giáng phúc, nhất là nơi cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu. Toàn bộ Tin Mừng được đúc kết lại ở bài sai SỨ MẠNG, ngay lập tức được các Tông đồ khai triền thực hiện, luôn luôn “có Chúa cùng hoạt động” với các ngài: “Phần các ông, các ông đi rao giảng khắp mọi nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và củng cố lời giảng dạy bằng những phép lạ kèm theo”.
Mừng thánh Máccô, xin Chúa ban cho chúng ta ơn khiêm nhường, tiết độ, tỉnh thức, biết đảm nhận thập giá trong xác tín vào sự nâng đỡ của ân sủng Chúa – và luôn nhiệt tâm thi hành sứ mạng loan báo Tin Mừng.
Lm. Lê Công Đức
“Yêu thương là điều răn mới, anh em hãy mến yêu nhau.
Yêu thương người ta sẽ biết, anh em là môn đệ Thầy.”
Những lời ca quen thuộc của linh mục nhạc sĩ Nguyễn Duy gợi lại hình ảnh bữa Tiệc Ly năm xưa, nơi Đức Giêsu đã để lại cho các môn đệ lời trăn trối chan chứa yêu thương: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Đây không chỉ là một lời mời gọi, mà phải là con đường sống cốt lõi của mỗi người Kitô hữu.
Vâng, mùa Chay đã kết thúc, Tam Nhật Thánh cũng đã qua nhưng lời mời gọi yêu như thầy đã yêu vẫn luôn âm vang trong lòng và ngợi mở cho con tìm về lẽ sống.
Tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa
Trong xã hội hôm nay, “yêu thương” đôi khi bị hiểu như một thứ tình cảm có điều kiện: cho đi để được nhận lại, gắn với lợi ích hay danh vọng. Người ta dễ yêu những ai dễ thương, dễ gần, hoặc có lợi cho mình.
Thế nhưng, Kinh Thánh mặc khải một tình yêu khác, tình yêu tinh tuyền phát xuất từ chính Thiên Chúa: “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” (Lv 19,18).
Đến Tân Ước, tình yêu ấy đạt đến đỉnh cao nơi Đức Giêsu Kitô. Từ mầu nhiệm Nhập Thể đến hy lễ Thập Giá, Ngài đã tự hiến hoàn toàn vì nhân loại. Đó là một tình yêu đi bước trước, trao ban đến tận cùng, yêu ngay cả khi con người còn yếu đuối và tội lỗi: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân” (Rm 5,8).
Thầy yêu không chỉ bằng lời nói xuông
Yêu như Đức Giêsu không chỉ dừng lại ở cảm xúc hay lời nói, nhưng được thể hiện bằng hành động cụ thể: biết tha thứ, hy sinh, kiên nhẫn và không nuôi hận thù.
Đó là tình yêu vô vị lợi, không tính toán hơn thua, không phải kiểu “có qua có lại”, nhưng là tình yêu mở ra cho tất cả, kể cả những người làm tổn thương ta. Dẫu biết rằng yêu như Thầy không phải là điều dễ dàng, vì chúng ta vẫn còn nhiều giới hạn, ích kỷ và yếu đuối nhưng chính trong sự bất toàn ấy, chúng ta được mời gọi để tình yêu của Đức Kitô biến đổi mình mỗi ngày.
Sống giới răn yêu thương trong đời tu sĩ
Đối với người tu sĩ, lời mời gọi “yêu như Thầy” trở nên cụ thể và thách đố hơn trong đời sống hằng ngày.
Chính trong những điều rất bình thường ấy, tình yêu của Đức Kitô được lớn lên và trở nên sống động. Bởi vì, Ngài chính là nguồn mạch của mọi tình yêu và là Đấng giúp ta biết yêu cách chân thành hơn.
Lạy Chúa,
yêu thương không chỉ là cảm xúc, nhưng là một lối sống.
Xin giúp chúng con nhận ra giá trị sâu xa của tình yêu,
để mỗi ngày biết sống quảng đại, biết trao ban và lan tỏa tình yêu của Chúa đến với mọi người.
Dù có hy sinh hay vấp ngã,
xin cho chúng con luôn bình an với chính mình
và dịu dàng với tha nhân.
Xin dạy chúng con biết cho đi
không vì lợi ích trần gian,
nhưng biết tìm kiếm những giá trị của Nước Trời. Amen.
Ter. Avila Quỳnh Mai
Trọng tâm của thông điệp hậu Phục sinh là tiếng gọi TIN vào Chúa Giêsu, Đấng đã chết và sống lại, và được Thiên Chúa đặt làm Đấng Cứu Độ của mọi người mọi vật. Lòng tin và sự đón nhận Chúa Giêsu sẽ làm cho người ta được đầy Thánh Thần của Chúa Phục sinh, họ được Thánh Thần dẫn dắt, và họ sẽ bước đi trong Thánh Thần.
Các Bài đọc Lời Chúa cần phải được đặt trong sắc thái của mùa Phụng Vụ. Như bài Tin Mừng hôm nay nhấn mạnh rằng chính Thiên Chúa chủ động, hành động, lôi kéo chúng ta đến với Chúa Giêsu. “Không ai đến được với Ta, nếu Cha, là Ðấng sai Ta, không lôi kéo kẻ ấy”… Và đến với Chúa Giêsu, ta được kết hợp với Người qua Lời và Thánh Thể (là bánh hằng sống): “Mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy bảo… Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ sống đời đời”…
Câu chuyện về phó tế Philipphe trong sách Công vụ Tông đồ xác nhận rõ ràng những điều nói trên. Là một môn đồ của Chúa Giêsu, Philipphe đầy Thánh Thần. Và Thánh Thần đã thúc đẩy Philipphe để lôi kéo viên thái giám, giúp viên quan này hiểu Lời Thiên Chúa và đón nhận Chúa Giêsu, tin vào Người, lãnh nhận Phép Rửa.
Khi viên thái giám đã lãnh Phép Rửa, Thánh Thần đem Philipphe đi khỏi đó… Như vậy, từ đầu tới cuối, toàn bộ tiến trình hoán cải/ trở lại của viên thái giám được thực hiện bởi ‘nhà đạo diễn’ là Chúa Thánh Thần, điều mà chính viên quan này cũng hầu như không ý thức.
Thánh Thần, vì thế, là tác nhân chính (protagonist) của sứ mạng Hội Thánh. Nếu chúng ta thực sự thuộc về Chúa Kitô, chúng ta sẽ được Chúa Thánh Thần đồng hành, dẫn dắt, sử dụng cho công cuộc sứ mạng loan báo Tin Mừng và xây dựng Triều đại Thiên Chúa. Và một khi để cho Chúa Thánh Thần sử dụng, chúng ta sẽ nhận ra chẳng có gì là quá khó!
Lm. Lê Công Đức
Cái chết của Têphano đánh dấu sự mở đầu một cuộc bách hại khốc liệt, với sự tham gia của một nhân vật cốt cán là Saolô. Các môn đồ phải chạy tan tác khắp cả miền Giuđê và Samari. Trong bối cảnh này, sách Công vụ tường thuật câu chuyện về phó tế Philip… Điều thú vị là chúng ta thấy một bức tranh với hai gam màu rất tương phản: một đàng, tình trạng khốn đốn do bị săn đuổi bắt bớ; đàng khác, một bầu khí sục sôi sứ mạng loan báo Tin Mừng ngay chính trong hoàn cảnh ấy, với niềm phấn khích, hân hoan!…
Cuộc bách hại như thế đã trở thành cơ hội để các môn đệ thừa sai có mặt và rao giảng khắp nơi – như thể người ta chữa cháy nhưng điều xảy ra là ngọn lửa sứ mạng Kitô giáo càng bùng lên cao hơn và lan rộng hơn. Chúng ta rút ra những điều căn bản:
-Sứ mạng là lý do hiện hữu của Giáo hội, nên không thể ngừng trong bất cứ hoàn cảnh nào – như sau này thánh Phaolô sẽ nói về việc rao giảng lúc thuận cũng như lúc nghịch.
-Thiên Chúa luôn muốn – và Ngài luôn biết cách – rút ra điều tốt lành cho con cái Ngài từ những nghịch cảnh hay những điều tệ hại… Câu chuyện Saolô được ơn hoán cải sau này là một ví dụ hùng hồn.
-Nhưng điều nói trên không hề có nghĩa rằng các môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu sẽ vô sự dù bị bách hại. Không! Không hề vô sự, mà phải chịu nhiều điêu đứng khốn khổ. Người ta muốn giết mình và người ta có quyền lực, có điều kiện để giết mình, thì mình… chết, thế thôi – như số phận của Têphano và của vô số các tông đồ…
Tuy nhiên, chết như thế là sống! Bởi vì người môn đệ thừa sai tuẫn đạo vì tin vào Chúa Giêsu và làm chứng cho Người, nên có “sự sống đời đời”, như chính Chúa Giêsu tuyên bố: “Ta từ trời xuống không phải để làm theo ý Ta, nhưng để làm theo ý Ðấng đã sai Ta… Ý của Cha Ta là hễ ai thấy Con và tin vào Người thì có sự sống đời đời”.
Tất cả những điều này nhắc chúng ta: Số phận ở đời này là một chuyện, số phận vĩnh cửu là một chuyện khác! Và trong tư cách là những người tin, chúng ta phải chọn lựa.
Lm. Lê Công Đức
Trong khuôn khổ chuyến tông du tại Angola, sáng thứ Hai ngày 20/04, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã rời thủ đô Luanda để đến vùng cao nguyên Saurimo. Tại đây, ngài đã dành thời gian thăm hỏi, an ủi những người cao tuổi tại một mái ấm địa phương – nơi đón tiếp và chăm sóc cho 62 cụ già, những cuộc đời từng bị xã hội và chính gia đình mình chối bỏ.
Hành trình của Đức Thánh Cha bắt đầu rất sớm từ Toà Sứ thần Toà Thánh với quãng đường 27,4 km đến Sân bay quốc tế Luanda. Sau đó, chuyên cơ TAAG A220 đã đưa Đức Thánh Cha cùng phái đoàn bay khoảng 945 km hướng về phía Đông Bắc. Sau gần 1 giờ rưỡi bay, Đức Thánh Cha đã đặt chân đến Saurimo – thành phố nằm ở độ cao hơn 1.000 mét so với mực nước biển, vốn là thủ phủ của tỉnh Lunda Sul và là vùng đất giàu bản sắc văn hóa của người Lunda-Cokwe.
https://youtube.com/watch?v=QlplW5eej6A%3Fwmode%3Dopaque%26rel%3D0%26autohide%3D1%26showinfo%3D0%26wmode%3Dtransparent%26modestbranding%3D1%26enablejsapi%3D1%26origin%3Dhttps%3A
[Tông du Angola] Nhà đón tiếp người cao tuổi tại Saurimo
Sau khi di chuyển thêm 11,5 km bằng ô tô từ sân bay Saurimo “Deolinda Rodrigues”, Đức Thánh Cha đã tới thăm một Nhà đón tiếp người cao tuổi. Tại đây, ngài được chào đón bởi Giám đốc cơ sở, đại diện Bộ Y tế Angola, 62 cụ già (gồm 26 cụ ông và 36 cụ bà) cùng các nhân viên và tình nguyện viên phục vụ.
Trong lời chào mừng, vị Giám đốc cơ sở bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước sự hiện diện của Đức Thánh Cha, đồng thời gọi mái ấm là “nơi cứu cuộc đời” của những người “đã từng phải đối mặt với đủ loại tổn thương do bị gia đình bỏ rơi”. Bà cho biết “Chính quyền tỉnh Lunda-Sul đã xây dựng cơ sở này làm nơi trú ẩn cho những người già bị ngược đãi, khinh rẻ, thậm chí bị cáo buộc là phù thủy”. Vị Giám đốc cũng tạ ơn Thiên Chúa đã “soi sáng trái tim của những người thiện chí để tạo nên trung tâm đón tiếp những người bị suy giảm thể chất và tinh thần này”. Với việc Đức Thánh Cha viếng thăm, bà cảm nhận mái ấm đã “được chúc phúc vì được tình yêu của Thiên Chúa chạm đến”, đồng thời cầu chúc ngài sức khỏe và trường thọ để dẫn dắt Hội Thánh của Chúa.
Thay mặt cho các thành viên tại mái ấm, một người cao tuổi cũng bày tỏ niềm vui đầy biết ơn vì được gặp gỡ Đức Thánh Cha “như sứ giả của Chúa”. Chuyến thăm của Đức Thánh Cha là lý do mang lại “niềm vui lớn lao và làm tăng thêm hy vọng sống” cho họ – những con chiên trong đoàn chiên của ngài.
Trong lời đáp từ, Đức Thánh Cha cảm ơn mọi người ở mái ấm vì sự đón tiếp đầy đức tin đã chạm đến trái tim ngài và là nguồn an ủi lớn lao cho sứ mạng của ngài. Đức Thánh Cha bày tỏ ấn tượng đặc biệt trước từ “Lar” (Mái ấm hoặc Nhà) mà cơ sở sử dụng, đồng thời khẳng định tình yêu thương chính là dấu chỉ rõ nét nhất của Thiên Chúa. Ngài nói:
Tôi rất ấn tượng khi nghe anh chị em gọi nơi này là ‘lar’, một từ gợi lên ý nghĩa gia đình. Tôi tạ ơn Thiên Chúa vì điều đó, và tôi hy vọng tất cả anh chị em thực sự có thể sống ở đây trong một bầu khí gia đình, trong chừng mực có thể.
Chúa Giêsu rất thích ở tại nhà của những người bạn của Ngài. Tin Mừng kể rằng Ngài đã đến nhà của ông Phêrô ở Ca-phác-na-um, nơi một ngày nọ Ngài đã chữa lành mẹ vợ của ông. Tin Mừng cũng nhắc chúng ta về tình bạn của Ngài với Maria, Mátta và Ladarô: tại nhà của họ ở Bethania, Ngài được đón tiếp như là Thầy và là Chúa, đồng thời cũng đầy sự thân thuộc.
Vì vậy, anh chị em thân mến, tôi thích nghĩ rằng Chúa Giêsu cũng đang ở đây, trong ngôi nhà này. Đúng vậy, Ngài ở giữa anh chị em mỗi khi anh chị em cố gắng yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau như anh chị em một nhà. Mỗi khi, sau một hiểu lầm hay một xúc phạm nhỏ, anh chị em biết tha thứ và hòa giải với nhau. Mỗi khi một vài người hay tất cả anh chị em cùng cầu nguyện với lòng đơn sơ và khiêm hạ.
Tôi bày tỏ sự cảm kích đối với chính quyền Angola vì những sáng kiến dành cho những người cao tuổi túng thiếu nhất, cũng như với tất cả các cộng tác viên và tình nguyện viên. Việc chăm sóc những người yếu thế là một dấu chỉ rất quan trọng về chất lượng đời sống xã hội của một quốc gia. Và chúng ta đừng quên: người cao tuổi không chỉ cần được hỗ trợ, trước hết họ cần được lắng nghe, bởi vì họ gìn giữ sự khôn ngoan của một dân tộc. Và chúng ta nợ họ lòng biết ơn, vì họ đã đối mặt với những khó khăn lớn lao vì lợi ích của cộng đồng.
Anh chị em thân mến, tôi sẽ mang trong tim kỷ niệm về cuộc gặp gỡ này với anh chị em. Xin Đức Trinh Nữ Maria, Đấng đã đong đầy đức tin và tình yêu cho Ngôi nhà Nazarét, luôn trông nom cộng đoàn này. Và xin cho phép lành của tôi cũng đồng hành cùng anh chị em.
Sau lời chào thăm, Đức Thánh Cha đã trao tặng mái ấm bức tượng “Thánh Giuse và Chúa Hài Đồng”. Món quà mang ý nghĩa an ủi sâu sắc, nhắc nhớ rằng trong truyền thống Kitô giáo, Thánh Giuse là quan thầy của ơn chết lành và là lời mời gọi sống đức tin kiên vững vì mỗi giai đoạn của cuộc đời đều vô cùng quý giá trước mặt Thiên Chúa.
Kết thúc buổi gặp gỡ, Đức Thánh Cha đã dừng chân cầu nguyện và chầu Thánh Thể tại Nhà thờ Chính tòa Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời trước khi đến cử hành Thánh lễ tại quảng trường Saurimo vào lúc 11:15 trưa cùng ngày (giờ địa phương).
Dân chúng không giấu diếm nguyện vọng cần một phép lạ cỡ Manna thời Mô sê trong sa mạc xưa, để họ tin vào Chúa Giêsu. Đây là cơ hội để Chúa Giêsu giới thiệu cho họ về chính Người là bánh bởi trời đích thực. “Chính Cha Ta mới ban cho các ngươi bánh bởi trời đích thực. Vì bánh của Thiên Chúa phải tự trời xuống, và ban sự sống cho thế gian… Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta sẽ không hề đói; ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ”…
Thông điệp căn bản, vì thế, vẫn là TIN VÀ ĐÓN NHẬN CHÚA GIÊSU! Chính Người mới là sự lấp đầy cơn đói khát sâu thẳm của con người chúng ta. Người là bánh ban sự sống. Và thật rõ, sự sống ở đây tiên vàn là sự sống tâm linh, sự sống của linh hồn chúng ta!
Khỏi phải nói, bánh sự sống này trước hết là Lời Chúa và Thánh Thể Chúa, trong đó chúng ta nhận được sức sống của Thánh Thần Chúa Phục sinh. Sự sống này thể hiện ra như thế nào? Hãy nhìn Têphano trong trình thuật của sách Công vụ để có một minh hoạ.
Têphano đón nhận và tin vào Chúa Giêsu, gắn kết mật thiết với Người, nên được “đầy Thánh Thần”. Ta thấy một Têphano mạnh mẽ, can đảm làm chứng cho Chúa Giêsu, dù phải đương đầu với giới lãnh đạo đang muốn ‘ăn tươi nuốt sống’ mình. Mạnh mẽ làm chứng cho sự thật, nhưng tâm hồn Têphano đầy dịu dàng trắc ẩn, đến nỗi khi bị ném đá đến chết, Têphano đã “phó dâng linh hồn cho Chúa Giêsu” và tha thiết kêu xin Chúa thứ tha cho những người đang sát hại mình. Thật là một phiên bản của chính câu chuyện Chúa Giêsu chết trên thập giá!
Tâm hồn đầy Thánh Thần của Chúa Phục sinh là như thế. Mạnh mẽ kiên trung làm chứng cho Chúa Phục sinh, đáp lại bạo lực đang băm nát mình bằng tinh thần và thái độ hoàn toàn phi bạo lực, thương cảm và thứ tha cho những kẻ làm khổ mình, chân thành cầu nguyện cho họ!…
Chúng ta tạ ơn Chúa vì chứng tá tuyệt vời của thánh Têphano, vị tuẫn đạo đầu tiên của lịch sử Giáo hội. Và chúng ta hãy xin được ơn say mê Chúa Giêsu, được đầy Thánh Thần của yêu thương, tha thứ và tinh thần phi bạo lực, như thánh Têphano vậy, nhất là trong thế giới đầy hận thù, chiến tranh và bạo lực tràn lan của chúng ta hôm nay…
Lm. Lê Công Đức
Trong hành trình rao giảng, Đức Giê-su không chỉ là một vị Thầy dạy chân lý, mà còn là người đồng hành đầy thấu hiểu. Ngài kiên nhẫn bước đi với các môn đệ, lắng nghe và chạm đến những chuyển động sâu kín trong tâm hồn họ. Chính sự tinh tế ấy cho thấy Ngài không chỉ là một vị Thầy biết lắng nghe, biết thấu hiểu nhưng còn là một vị Lương y biết chữa trị đúng lúc và đúng cách.
Ngày nay, con người phải đối diện với nhiều khó khăn, đặc biệt là sự gia tăng các bệnh tật, không chỉ nơi thân xác mà còn trong tâm hồn. Nếu chữa bệnh thể xác đã khó, thì chữa bệnh tinh thần lại càng khó hơn, vì liên quan sâu xa đến ý chí và nội tâm con người. Với niềm tin Kitô giáo, người tín hữu có một vị Lương y chữa lành toàn diện, đó chính là Đức Giê-su – Đấng thấu hiểu lòng người.
Lương y Giê-su đã đem lại hy vọng và sức sống mới cho các môn đệ, nhất là hai môn đệ trên đường Emmau. Họ trở về trong thất vọng khi Thầy mình đã chết, mọi hy vọng dường như tan biến. Mất lý tưởng sống, họ cũng đánh mất niềm tin và ý nghĩa cuộc đời. Trước tình trạng ấy, Thầy Giê-su nhẹ nhàng đến gần bên, lắng nghe và “chẩn đoán” tâm hồn họ. Ngài giải thích những điều còn mờ tối, giúp họ hiểu lại và khơi dậy ánh sáng nội tâm. Nhờ đó, lòng họ “bừng cháy lên” như dấu hiệu của sự hồi sinh sức khỏe tinh thần.
Trong cuộc sống, ta cũng nhiều lần rơi vào lo lắng, thất vọng và mất phương hướng. Những lúc như thế, ta được mời gọi đến với Thầy Giê-su, kể cho Ngài nghe những “triệu chứng” của tâm hồn. Ngài luôn kiên nhẫn lắng nghe và ban phương thuốc thích hợp. Ý chí, nghị lực và hy vọng chính là sức mạnh nâng đỡ ta, giúp ta đứng dậy và tiếp tục sống một cuộc đời ý nghĩa.
Thầy Giê-su luôn chủ động đến với con người, đồng hành và chờ đợi. Ngài đã nhận lời ở lại với hai môn đệ, củng cố đức tin cho họ qua việc bẻ bánh. Ngài khơi dậy lòng tin trong họ, bóng tối tâm hồn không còn nữa, thay vào đó là ánh sáng Phục Sinh. Ánh sáng của niềm vui và hy vọng; là ý nghĩa cuộc đời mà họ đang tìm kiếm.
Thầy Giê-su luôn sẵn lòng ở lại với mỗi người chúng ta, nhưng có những lúc, Ngài sẽ vờ như “muốn đi xa hơn”, chính lúc ấy, ta phải là người chủ động mời Ngài ở lại. Đó là sự chủ động mở lòng để Chúa đến và ngự lại. Chính khi Ngài bước vào tâm hồn ta, liệu trình chữa trị mới có thể bắt đầu và đạt được kết quả tốt nhất. Quả thực, lương y Giê-su luôn mong muốn và sẵn sàng đến với ta, còn ta, ta có sẵn sàng mời Ngài ngự đến và chữa trị. Nếu ngày ấy, hai môn đệ không mời Chúa, có lẽ họ vẫn ở lại trong thất vọng.
Lạy Thầy Giê-su, trước bóng tối – Ngài là ánh sáng, trước thất vọng – Ngài là nguồn mạch của hy vọng, trước khổ đau – Ngài là phương thuốc chữa trị cho mọi tâm hồn. Xin cho chúng con năng chạy đến cùng Ngài và mời Ngài ngự đến trong tâm hồn chúng con. Nơi Ngài, chúng con tìm được viềm vui, niềm hy vọng và bình an trong cuộc đời, vì Ngài là vị lương y nhân hậu và quyền năng. Amen
Mary Nguyễn
Thiếu tổ chức, tức thiếu tính cơ chế, cộng đoàn nảy sinh những vấn đề – như ở đây các bà goá nhóm Hy lạp bị bỏ bê, không ai chăm sóc trong các bữa ăn huynh đệ. Thế là nhóm Phó tế được thiết lập chính thức. Cộng đoàn đã chọn bảy người ĐẦY THÁNH THẦN cho sứ vụ chuyên biệt này. Bạn thấy đó, điều kiện thiết yếu tiên vàn là phải ‘đầy Thánh Thần’ – cho dù các ứng viên được chọn để được đặt tay trao ban Thánh Thần!
Hãy tưởng tượng đi, điều xảy ra ở đây là ban Thánh Thần cho người vốn đã đầy Thánh Thần! Ơn ban Thánh Thần khẩn thiết đến mức đó – và ơn ấy không bao giờ đủ, càng không bao giờ dư thừa…
Cũng đáng ghi nhận, thật rõ ràng: một biện pháp có tính cơ chế vẫn giả thiết đặt nền trên ĐẶC SỦNG. Ơn ban Thánh Thần là đặc sủng, giúp thi hành các phận vụ mà cơ chế cộng đoàn phân công!
Trong Thánh Thần của Chúa Phục sinh, các Tông đồ không sợ hãi. Dù bị đe doạ, bị ngược đãi, bị sỉ nhục đến mức nào cũng không sợ. Chính Chúa Giêsu là hình mẫu của người đầy Thần Khí và do đó không sợ. Người không bao giờ sợ những chống đối hay những nghịch cảnh, và Người thường xuyên nhắc bảo các môn đệ đừng sợ – như trong câu chuyện Người đi trên mặt nước đến với các môn đệ giữa biển khơi đầy giông tố hôm nay. “Chính Thầy đây, đừng sợ”!
Ngày nay cũng vậy, Chúa Phục sinh không cất khỏi chúng ta những sự chống đối hay những nghịch cảnh. Người giúp chúng ta đương đầu, bằng cách ban Thánh Thần của Người cho chúng ta và ban cho chúng ta ơn ‘không sợ’.
Lm. Lê Công Đức
Những cuộc chiến không ngừng để lại dấu ấn sâu sắc, làm chao đảo nhịp sống của con người trên toàn thế giới. Nhắc đến chiến tranh, lòng người luôn khắc khoải hướng về hòa bình. Nhưng khi nói đến hòa bình, ta lại không khỏi ngoái nhìn về quá khứ đầy nước mắt và đau thương do chiến tranh gây ra.
Khi còn nhỏ, tôi từng ngây thơ nghĩ rằng nước Mỹ nằm ngay bên kia sông. Từ bên này bờ sông, tôi có thể ngước nhìn những chiếc máy bay “làm mưa” những tràng pháo hoa rực rỡ và vui mắt trên bầu trời. Lớn lên một chút, tôi dần hiểu được sự thật qua những bài học lịch sử về chiến tranh. Nó không mãi đẹp như “những tràng pháo hoa rực rỡ” nhưng lại tồn tại những vết thương không bao giờ lành hẳn. Chưa bao giờ và cũng chẳng ở đâu tồn tại cái gọi là “niềm vui của chiến tranh”. Nếu có, đó hẳn là một sự điên rồ và ích kỷ, khi sinh mạng và nỗi đau của con người bị giẫm đạp bằng bạo lực và tàn ác.
Từ ích kỷ, ghen ghét và chia rẽ, chiến tranh đã nảy sinh. Ngay từ thuở ban đầu của lịch sử nhân loại, câu chuyện Cain và Aben đã cho thấy bóng tối của bạo lực len lỏi vào đời sống con người. Thật vậy, chiến tranh không chỉ diễn ra ngoài chiến trường, trong xã hội, mà còn âm ỉ trong chính mỗi tâm hồn. Hậu quả của nó là sự lạnh lùng, chia cách; là những mảnh đời đói khát, tang thương; là nỗi đau vượt quá ngôn từ. Con người dần đánh mất khả năng đối thoại với nhau bằng tình yêu thương.
Đức cố Giáo Hoàng Phanxicô đã từng nhắn gửi: “chúng ta cần phải thay thế sự hèn nhát của vũ khí bằng lòng dũng cảm của sự hòa giải với niềm tin.” Cái chết của Chúa mở ra cho nhân loại một niềm hy vọng về chân trời yêu thương và tha thứ, nơi mà hận thù sẽ không bao giờ là tiếng nói cuối cùng. Và để ngày ấy đến gần hơn, mỗi người chúng ta cần bắt đầu từ chính mình: ngừng “sản xuất” những “vũ khí” của hận thù là đố kỵ, là ích kỷ, là thành kiến và sự kiêu ngạo… Để trao lại cho nhân loại sự bình yên, trước hết mỗi cá nhân cần sự bình yên thật sự trong tâm hồn, rồi lan tỏa đến những người xung quanh bằng sự tử tế và chân thành theo khuôn vàng thước ngọc từ Kinh Thánh: “Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7,12). Chỉ như thế, hòa bình mới thật sự được vun đắp và lớn lên.
Xin cho mỗi người chúng con trở nên khí cụ bình an của Chúa, biết xây dựng hòa bình từ những điều nhỏ bé trong đời sống hằng ngày. Và trong hành trình ấy, xin cho lời chúc lành của Chúa: “Bình an cho anh em” luôn vang vọng trong tâm hồn chúng con, nâng đỡ và dẫn dắt chúng con mỗi ngày. Amen.
Maria Đặng Hiền