Tôi gặp chị trong công tác dưới trường, chị cũng đã ngoài 40 tuổi, với dáng người mảnh mai, nụ cười thân thiện, ít nói… Nhưng điều đó không để lại ấn tượng gì trong tôi bằng khuôn mặt chất chứa nhiều ưu tư, và đôi mắt buồn của chị. Sau thời gian làm việc chung, mới biết con đường hôn nhân của chị đỗ vỡ hết lần này đến lần khác. Nỗi đau trong tâm hồn chị cứ chồng chất lên nhau.
Tôi hỏi chị có muốn tham gia ca đoàn tôi không? Chị đã đồng ý ngay. Từ ngày tham gia ca đoàn, tôi thấy chị hay cười hơn nhưng đằng sau nụ cười ấy vẫn còn ẩn chứa nhiều khắc khoải. Chị không rước lễ mỗi khi đi lễ. Tôi không hỏi, hay đúng hơn tôi không dám đụng chạm đến cõi lòng của chị. Tôi chỉ biết cầu nguyện cho chị và dành thời gian nói chuyện nhiều hơn với chị mỗi khi làm chung công tác.
Chị lập gia đình được bốn năm. Sau một chặng đường dài sống chung với nhau, chị đã không chịu đựng nổi được người chồng vô tâm vô tình, rượu chè bê tha của mình. Chị đành chia tay để mong thoát khỏi cảnh đau khổ ấy, nhưng sau đó lại là tiếng thị phi của những người trong giáo xứ và cả gia đình. Không còn cách nào, chị đành bỏ quê hương ra đi đến đất Bình Dương để kiếm sống, mong tìm được sự bình an trong tâm hồn. Những ngày tháng cô đơn nơi mảnh đất này chị làm đủ mọi công việc, chị cũng ít về quê thăm gia đình hay nói đúng hơn chị không muốn về quê vì phải đối diện với quá khứ. Chị mệt mỏi, bon chen với cuộc sống, lủi thủi một mình. Trước sự chới với đó chị nhận được bàn tay nâng đỡ của một người bạn cùng quê cũng đã lập gia đình. Dẫu biết đến với nhau chị sẽ phải đánh đổi rất nhiều, đặc biệt là mối tương quan với Chúa, nhưng với chị lúc này một chỗ dựa quan trọng dường nào, vì vậy chị đã chấp nhận tất cả.
Thế nhưng cuộc sống chẳng như mình mong ước, chị nghĩ rằng đây sẽ là bến đỗ của đời mình. Mỗi ngày chị cố vun xới, cố gắng nhẫn nhục, chịu đựng…nhưng cuộc sống của chị chỉ toàn đau khổ và bất an. Với người bạn thứ hai tưởng chừng như chỗ dựa của sự bình an và hạnh phúc thì cũng chỉ toàn đau khổ và nước mắt. Chị không biết chia sẻ với ai và cũng không biết phải chia sẻ như thế nào. Vì vậy chị giữ nỗi thầm kín trong tâm hồn mình.
Sau khi nghe câu chuyện của chị tôi mới hiểu tại sao khuôn mặt của chị lúc nào cũng buồn. Sao số phận của chị lại lênh đênh vậy? Sao đường tình duyên của chị lại nhiều trắc trở đến thế? Tôi đã quỳ trước Thánh Thể Chúa để xin Ngài ban thêm sức mạnh cho chị. Chị lo tôi bị ảnh hưởng lây khi cho chị tham gia ca đoàn mà không biết đời sống hôn nhân của chị đang gặp trắc trở, chị lo tôi bị tội lây khi chị là người đang có tội… Tôi giải thích cho chị hiểu và cho chị cảm nhận sự đồng cảm của tôi dành cho chị, vì trước mặt Chúa chẳng có ai là sạch tội.
Chị xin tôi giới thiệu cho một Linh mục, chị muốn được xưng tội, được bình an. Vì lòng chị tràn đầy đau khổ, chị cũng không biết mình có nên bước tiếp hay không? Đã nhiều năm chị không dám đến với Chúa vì cảm thấy mình tội lỗi, đã nhiều năm chị không cảm nhận được sự hiện diện của Chúa trong lòng vì không được rước lễ.
Tôi giới thiệu chị cho một vị Linh mục mà tôi tin tưởng. Chị đã gặp và tâm trạng chị cũng khá hơn rất nhiều. Tôi không khuyên chị từ bỏ người bạn trai đang sống, hay đúng hơn tôi cũng không biết phải khuyên chị làm sao? Tôi chỉ biết cầu nguyện và điều tôi ước mong là nhìn thấy chị được bình an, được xưng tội, rước lễ…
Covid đến mọi thứ thay đổi, mọi hoạt động của cộng đoàn cũng ngưng lại, nhà thờ đóng cửa mọi người cùng nhau chống dịch và tìm cách sinh sống. Chị cũng vậy, chị nghỉ làm, mở quán mà không biết mùa dịch kéo dài, cuộc sống khó khăn lại càng khó khăn hơn.
Thời gian thấm thoát, tôi gặp lại chị khi dịch tạm lắng xuống và công việc cộng đoàn lại tiếp tục. Gặp lại chị với khuôn mặt không còn buồn và đôi mắt không còn đọng nước mắt. Chị đã không còn sống với người bạn trai kia nữa, chị đã dừng lại và tìm sự bình an trong tâm hồn mình. Dẫu biết rằng điều này thật khó với chị nhưng tôi tin ơn Chúa đủ lớn để thêm sức cho chị.
Têrêsa Kim Anh
Một lối sư phạm của tình thương (Gioan 8, 1-11)
Làm thế nào để chúng ta thực sự sống tình yêu thương với tư cách là những người Kitô hữu trên phương diện cá nhân và cộng đoàn? Chúng ta cần nhận ra và sống theo cách của Chúa Giêsu, là thực hành những gì Ngài đã dạy, đã làm và đã sống. Mẫu hình tuyệt hảo về lòng trắc ẩn của Chúa Giêsu trong Tin Mừng Gioan 8, 1-11, cho chúng ta thấy cách của một Thiên Chúa đối xử nhân từ với những người hèn yếu tội lỗi. Đó là sứ điệp Chúa Giêsu gửi đến mỗi người chúng ta. Chúng ta đối xử với nhau và với những giới hạn của nhau như thế nào?
Truyền thống Do Thái rất rõ ràng trong việc lên án ngoại tình (x. Lv 20,10; Đnl 22, 23-24). Tại thời điểm Chúa Giêsu, ai phạm tội ngoại tình sẽ bị trừng phạt bằng cái chết (x. Ga 8,5). Tuy nhiên, kể từ khi La Mã chinh phục Palestine vào năm 63 TCN, người Do thái đã mất quyền đặt ra án tử hình. Quyền này đã được dành cho viện kiểm soát La mã.
Ở đây, những nhà Kinh sư và Pharisêu đã dùng người phụ nữ ngoại tình để thử thách và gài bẫy Chúa Giêsu (“Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người” Ga 8,6). Dự kiến của họ đã rất rõ ràng ngay từ đầu. Người bạn tình của người phụ nữ ở đâu? Nếu người phụ nữ bị bắt quả tang đang thực hiện hành vi ngoại tình (“…dẫn đến trước mặt Chúa Giêsu một người phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình” Ga 8,3), thì tại sao họ không mang theo cả người bạn tình của cô ấy? Luật pháp quy định cả hai người đều phải bị ném đá (x. Lv 20,10; Đnl 22,23-24). Không có câu hỏi nào về tội lỗi của người phụ nữ, mà chỉ về bản án thích hợp sẽ được thi hành. Nếu Chúa Giêsu chọn tuân theo luật Môsê và hình phạt của luật ấy, Ngài sẽ phải đối mặt với hai hệ quả: thứ nhất, Ngài sẽ mất danh tiếng là một người nhân từ, là một người bạn của những người thu thuế và tội lỗi; thứ hai: Ngài sẽ xung đột với chính quyền La Mã, người duy nhất có quyền đưa ra án tử hình. Nếu Ngài chọn khoan dung cho người ngoại tình, Ngài sẽ bị buộc tội vi phạm Luật Môsê, và sẽ trở thành kẻ thù của tính toàn vẹn và thiêng liêng của hôn nhân gia đình. Đối với Chúa Giêsu, đó rõ ràng là một tình huống nan giải. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã tránh được cái bẫy pháp lý đặt ra trước mặt Ngài theo hai cách. Thứ nhất, Ngài không nói một lời nào. Ngài giữ thing lặng. Thứ hai, Ngài khom mình xuống và dùng ngón tay viết ngệch ngoạc trên mặt đất (x. Ga 8,6).
Ngài đã viết gì? Cho đến nay các học giả vẫn chưa thể tìm ra những gì Ngài đã thực sự viết. Một số suy tư cho rằng Chúa Giêsu đã viết tội lỗi của những người đến tố cáo người phụ nữ. Một học giả tâm lý học cho rằng lần thứ hai Chúa Giêsu cúi xuống viết là một phương pháp tâm lý, một cách giữ thể diện cho những kẻ tố cáo người phụ nữ từ từ biến mất. Một lời giải thích có khả năng nhất là Chúa Giêsu đã dành thời gian để suy nghĩ và mang vấn đề đó vào trong cầu nguyện thầm lặng. Ngài đang phải đối diện với một tình huống rất khó khăn không chỉ cho bản thân mà còn cho người phụ nữ. Đó rõ ràng là một cái bẫy. Và bất cứ điều gì Ngài nói, đều sẽ ảnh hưởng lớn đến người phụ nữ. Điều quan tâm nhất là cần thời gian thinh lặng để phân định và cầu nguyện.
Chúa Giêsu đã bỏ qua hai lần câu hỏi của các nhà Kinh sư và Pharisêu. Khi đã đến lúc phải nói, Ngài không trả lời trên bình diện khách quan của luật, nhưng trên mức độ chủ quan của lương tâm: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8,7). Với cách trả lời này, Ngài có thể đồng thời lên án vấn đề ngoại tình và tha thứ cho người ngoại tình. Ở đây, Ngài cũng nhắc nhở chúng ta rằng, phản ứng ban đầu của chúng ta đối với bất cứ ai có lỗi phải là lòng trắc ẩn, chứ không phải sự xét đoán và kết án.
Chúa Giêsu nói với người phụ nữ: “Tôi cũng vậy, tôi không nên án chị đâu, hãy đi và từ nay đừng phạm tỗi nữa (x. Ga 8,11). Ngài không lên án người phụ nữ, cũng không dung túng hành vi của chị, cũng không miễn tội. Điều mà Ngài quan tâm không chỉ những gì con người là, đã là, và đang là, mà là những gì con người có thể trở thành. Ngài cũng không nói rằng những gì một người đã từng lầm lỗi là không quan trọng, nhưng Ngài chắc chắn rằng mỗi người đều có một tương lai cũng như một quá khứ, mỗi người đều có thể bắt đầu lại và có thể thay đổi cuộc sống nếu biết cộng tác với ơn Chúa và nắm giữ món quà thiêng liêng của Ngài về sự hoán cải và đổi mới.
Thách đố của Tin mừng là nhìn thấy chính bản thân chúng ta trong các nhân vật trong câu chuyện. Chúng ta có thể tưởng tượng mình ở vào vị trí của người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình và được Thiên Chúa và những người khác tha thứ. Chúng ta có thể đặt mình vào vị trí của các nhà Kinh sư và Pharisêu, những người luôn sẵn sàng ném đá vào tội nhân. Chúng ta có thể nhìn thấy mình trong vị trí của Chúa Giêsu, luôn sẵn sàng tha thứ. Hãy dừng lại trong thinh lặng để kiểm duyệt lại hồ sơ cá nhân mình. Đó có phải là một hồ sơ ghi nhận về lòng trắc ẩn, nhân từ, khiêm tốn và tha thứ? Hay là một hồ sơ ghi nhận về những lời lên án, buộc tội, tự cho mình là đúng và không khoan nhượng?
Lạy Thiên Chúa là Cha đầy tình thương và lòng trắc ẩn, Người không bao giờ từ chối Ân Sủng của Người đối với chúng con. Tình yêu và lòng thương xót của Người luôn bao phủ trên cuộc sống của mỗi chúng con. Người cũng luôn hy vọng và chờ đợi chúng con không ngừng hoán cải và bắt đầu lại với một hành trình mới sau những lần yếu đuối và vấp ngã. Xin cho mỗi chúng con luôn biết sẵn sàng để Ân Sủng và Tình yêu của Người biến đổi chúng con trở thành con người mới. Xin cho chúng con can đảm bước vào hành trình hoán cải tận căn và trở về với tâm tình phó thác trọn vẹn vào sự tha thứ của Người. Chúng con nguyện xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.
Maria Trần
Giáo dục mầm non đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho trẻ em. Trách nhiệm giáo dục của các thầy cô giáo là thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc tạo sự khởi đầu cho sự phát triển toàn diện của trẻ, đặt nền tảng cho các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời.
Đối với người nữ tu Mến Thánh Giá Tân Lập, giáo dục mầm non là lĩnh vực trọng yếu được Hội dòng quan tâm đặc biệt. Chị em như thuộc lòng “chân lý” quen thuộc của D. Iravkin, “Để làm một thầy giáo giỏi, trước hết phải yêu điều mình dạy và những người mình dạy”. Chị em không chỉ giáo dục mà còn chăm sóc, không chỉ “dạy” mà còn phải “dỗ” với tất cả “tình yêu”, vì mỗi một trẻ là một thí điểm truyền giáo.
Thực hiện sứ mệnh cao cả ấy, Hội dòng Mến Thánh Giá Tân Lập đã không ngừng nỗ lực mở các trường lớp, đón tiếp học sinh để chăm sóc và dạy dỗ. Hơn 60 năm, đến nay Hội dòng đã có một số cơ sở mầm non tại một số Cộng đoàn:
Các bậc cha mẹ thường “muốn gửi con em mình ở trường các Dì, các Sơ”. Tại sao không phải là trường quốc tế, những trường mầm non với cơ sở khang trang, đội ngũ giáo viên thuộc hạng bậc nhất; nhưng có lẽ họ tin tưởng, cũng như nhận thấy rằng nơi môi trường này và những người nữ tu đó đang thực hiện thiên chức cao cả với tấm lòng yêu thương các con của mình cách vô điều kiện.
Noi gương Thầy Giêsu, người nữ tu chúng ta mãi là hình ảnh sống động của Ngài trong mọi môi trường, đặc biệt trong môi trường giáo dục những mầm non tương lai. Trẻ thơ là một tờ giấy trắng để hôm nay người giáo viên Mầm non nói chung và người nữ tu nói riêng viết lên những cung điệu, những vần thơ và tô vẽ nơi đó những bức tranh sinh động muôn màu muôn sắc của cuộc sống. Mỗi người nữ tu chúng ta yêu quý và trân trọng nghề nuôi dạy trẻ, để mãi là những cánh tay nối dài của Chúa xây đắp tương lai tươi đẹp cho Giáo hội và xã hội.





Các hoạt động Trường Mầm Non Bình Minh tại Cộng đoàn Nhà Mẹ


Hoạt động Trường Mẫu Giáo Hoa Cúc tại Cộng Đoàn Bình Chiểu, Thủ Đức


Hoạt động Nhóm Trẻ Bé Ngoan tại Cộng đoàn Lai Uyên, Bình Dương


Hoạt động Nhóm Trẻ Hoa Xuân tại Cộng đoàn Phú Ninh, Tây Ninh
Ban Truyền Thông MTG Tân Lập
Có bao giờ ta thử ngồi bên lề đường và cảm nhận sự sống đang xoay vần những hạt cát li ti và mỏng manh. Có bao giờ ta tự hỏi nhờ đâu mà ta đang đứng vững trên đôi chân của mình. Nắm những hạt cát mềm mại nằm gọn trong tay, tôi tự hỏi chúng có mang trong mình sự sống không nhỉ? Giá trị của chúng là gì?
Nhìn những hạt cát li ti trên tay mình, tôi hiểu cái cảm giác nhột nhạt thật lạ lẫm. Cảm giác được nâng niu, cứ muốn bám víu khi người ta muốn buông ra. Cảm giác như một vật thật bé nhỏ được ôm chào cả thế giới này vậy. Thế giới này sống động bởi những vật tưởng chừng vô danh và rất đỗi bình thường.
Cái đẹp của hạt cát là dù nhỏ đến đâu nó cũng được liên kết bởi rất nhiều hạt cát khác. Nó nối liền cuộc sống của mọi con người trên mặt đất, làm nên lịch sử vẻ vang của cả địa cầu. Mỗi hạt cát là cả thế giới, có những nét rất riêng của vùng miền, mang theo những câu chuyện dài vượt mọi biên giới. Mỗi hạt cát cũng là một mảng riêng lẻ, một thế giới độc lập. Những hạt cát vô tình được đặt cạnh nhau tạo nên nhưng mảng lớn làm thành con đường dài.
Đã nhiều lần tôi đi trên cát và bỏ qua chúng như một vật vô tri vô giác và tầm thường. Nhưng khi ngồi lại và ngắm nhìn chúng tôi mới hiểu được giá trị của chúng. Có thể nói cuộc sống của chúng thật tự do, nay đây mai đó, mỗi hạt một nơi, nhưng chẳng bao giờ chúng dám lên tiếng hay ngỏ lời. Chúng cứ bám theo những bàn chân vô định đi đến hết phương trời này đến phương trời khác, tha hương cầu thực. Bàn chân nào nặng và giẫm mạnh thì mang chúng theo nhiều hơn và xa hơn, còn bàn chân nào nhẹ thì dẫn chúng theo được đoạn đường có khi rơi lúc nào không ai biết. Bàn chân thì chẳng bao giờ phải nghĩ có trách nhiệm với hạt cát, còn cát thì cứ vô tình bám theo gót chân con người.
Có thể nói hạt cát đã đồng hành với bàn chân con người một cách âm thầm nhưng đôi khi vẫn bị hắt hủi bởi một cái phủi nhẹ, hay cái giẫm thật mạnh phũ phàng. Đôi khi chúng cũng bị một cú sốc thật lớn được đưa lên cao rồi hạ xuống thấp tản mạn dưới mặt đất, va đập nhau bởi một cơn gió mạnh. Chúng cũng bị đè bẹp bởi những hòn đá to, những bàn chân luôn giẫm đạp. Vậy mà hạt cát vẫn vui vẻ, bình an và im lặng. Có lẽ hạt cát ấy ý thức được thân phận mình chăng, mặc cho người ta đưa đẩy đến đâu thì đến, bởi cuộc đời của cát là như vậy. Hạt cát đón nhận tất cả như là cái tất yếu phải đến trong cuộc đời mình. Vì vậy, có thể nói hạt cát tuy âm thầm nhưng đầy nội lực.
Cát chẳng biết mình thuộc về nơi nào nhưng cát biết nơi nào cũng là nhà của chúng. Bởi sứ mạng của cát là hiện diện và sống âm thầm dưới bàn chân con người, là môi trường để cây cỏ vươn cao rực rỡ, là con đường nối kết miền yêu thương… Chúng ta cũng biết rằng cuộc sống nơi sa mạc luôn đầy những khó khăn và thử thách, cái người ta thấy trước mắt thường chỉ là nắng gió và cát bụi. Nhìn về phí trước giữa lòng sa mạc mênh mông và bao la như vậy người ta thường cảm thấy mình bị lạc lối.
Cát không theo ta đến chốt điểm của mọi lộ trình nào, chúng có thể rải rác trong hành trình ta đi. Nhưng cát thật tuyệt vời kì lạ, chúng tín hiệu cho nhau để tiếp sức trong mọi quá trình của bước chân. Nhờ vậy ta mới hiểu không có vật gì trên đời này là vô nghĩa, chỉ có con người đôi lúc lãng quên. Càng bước đi ta mới hiểu được sự tồn tại của những hạt cát.
Cuộc sống quanh ta cũng vậy, ta gặp rất nhiều người, nhiều vật rất đỗi bình thường như những hạt cát, nhưng tất cả đã cho ta rất nhiều giá trị trong mọi chặng đường cuộc sống. Ta thường nghĩ rằng họ không phải là bạn của ta, là anh em của ta, là gia đình ta…Vì thế ta không biết trân trọng hay giữ gìn những khoảnh khắc tương giao và những giá trị nhỏ bé ấy, và để lúc nào vội rơi như những hạt cát mới biết xót xa. Ngay giữa dòng chảy của cuộc đời vẫn có những hạt cát đang rơi. Qua đi là vĩnh viễn.Vậy ta phải làm gì khi biết mình còn bước được trên những hạt cát âm thầm ấy?
Maria Khánh Vũ
Trưa Chúa Nhật 27/3/2022, sau khi đọc kinh Truyền Tin, Đức Thánh Cha lại nhắc đến tình hình chiến tranh ở Ucraina. Ngài lặp lại lời kêu gọi ngưng chiến, “huỷ bỏ chiến tranh trước khi nó xoá sổ nhân loại khỏi lịch sử.”
Quỹ đạo tình yêu của Thiên Chúa được trải dài trong suốt dòng lịch sử nhân loại. Đỉnh cao tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại là Mầu Nhiệm Thập Giá của Đức Giêsu – Con Thiên Chúa. Chính trên cây Thập Giá, Thiên Chúa đã dốc cạn tình yêu sâu thẳm nhất Ngài dành cho nhân loại, qua chính con của Ngài: “Thiên Chúa yêu thế gian đễn nỗi đã ban con Một, để ai tin vào Con của Người, thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Chính nhờ Mầu Nhiệm Thập Giá, ơn cứu độ của Thiên Chúa vẫn không ngừng chảy vào nhân loại. Người muốn dòng chảy Cứu Độ được thực hiện nơi người môn đệ qua con đường thập giá mà Con Thiên Chúa đã nêu gương. Khi Con Thiên Chúa xuống thế làm người, bắt đầu sứ vụ công khai rao giảng Tin Mừng, Người đã tuyển chọn một số người để làm môn đệ, để họ trở thành trung gian chuyển giao ơn cứu độ của Thiên Chúa dành cho con người.
Để khám phá được con đường thập giá Chúa Giêsu đã đi, cũng chính là con đường thập giá mà người môn đệ sẽ đi, người môn đệ cần phải được Đức Giêsu huấn luyện. Thánh sử Mc 10, 35-45, cho chúng ta thấy được lộ trình Thập Giá mà người môn đệ cần phải bước vào là đạt tới sự hiểu biết và yêu mến Chúa hơn qua con đường Thập Giá. Dĩ nhiên, không nhất thiết người môn đệ phải làm chứng cho Chúa Giêsu bằng cái chết của mình, nhưng người môn đệ đích thực phải nhận ra rằng Thập Giá là một điều có thể xảy ra trên con đường ơn gọi làm môn đệ của Chúa Giêsu. Người môn đệ sẽ tháp nhập vào con đường Thập Giá của Đức Giêsu, nhờ đó họ sẽ luôn hiện tại hóa hy lễ Thập Giá của Đức Giêsu trong đời sống thường nhật, như lời Thánh Phaolô nói: “Tôi sống, nhưng không phải là tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2, 20).
Bản văn Mc 10, 35-40 được đặt trong khung cảnh Chúa dẫn đầu các môn đệ cùng lên Giêrusalem, nơi Người sẽ chịu chết. Người tiếp tục loan báo lần thứ 3 về cuộc Thương Khó của Người: “Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, họ sẽ đánh đòn và giết chết Người” (Mc 10, 32-34). Liền sau lời loan báo này, hai người con ông Dêbêdê đến xin Chúa cho mình “ngồi bên hữu, bên tả Thầy khi Thầy được vinh quang” (Mc 10, 36). Điều này cho thấy, ít nhất hai người môn đệ này đã không nhận ra được con đường Thập Giá của Thầy, họ chưa đạt tới sự hiểu biết về con đường của Chúa Giêsu.
Thánh vịnh 110 cho thấy vị trí ngồi bên hữu Thiên Chúa là chỗ danh dự thứ nhất, còn bên tả là chỗ danh dự thứ hai (x. Tv 110, 1), đồng thời Thiên Chúa ngồi bên hữu ai thì điều đó hàm ý Ngài che chở cứu giúp vị ấy (x. Tv 110, 5; 16, 8; 109, 31). Đứng trước lời yêu cầu đó, Chúa Giêsu đã không trả lời trực tiếp cho họ, nhưng Người đưa ra những câu hỏi liên quan đến con đường chính Người sẽ đi: “Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống không hay chịu phép rửa Thầy sắp chịu không” và Người mời gọi họ: “Chén Thầy sắp uống anh em sẽ uống, phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu” (Mc 10, 39).
Sách ngôn sứ Giêrêmia cho thấy “Chén” của Chúa là cơn lôi đình của Thiên Chúa dành cho mọi dân tộc trên mặt đất (x. Gr 25, 15), là hình phạt của Thiên Chúa (x. Gr 49, 12). Bước sang Tân ước, người môn đệ được Chúa Giêsu cho họ thấy “Chén của Thầy” được trao vào tay người môn đệ không phải là cơn thịnh nộ của Thiên Chúa nhưng là chén của ơn cứu độ Chúa dành cho con người. Chén của ơn cứu độ chính là con đường Thập Giá, tượng trưng cho nỗi đau khổ, là Giao ước mới được lập bởi máu của Đức Kitô (x. 1Cr 11, 25). Tin Mừng Gioan cho thấy, khi quân lính đến bắt Chúa Giêsu, Phêrô đã bảo vệ Chúa bằng cách rút gươm chém đứt tai tên đầy tớ nhưng Chúa ngăn Phêrô lại và nói: “Chén Cha Thầy trao lẽ nào Thầy chẳng uống” (Ga 18, 11). Vì thế, người môn đệ được Chúa Giêsu mời gọi uống chén Thập Giá của Người nghĩa là được tham dự vào mầu nhiệm sự chết và sống lại của Người.
2. Người môn đệ hy sinh mạng sống mình (Mc 10, 42-45)
Bản văn Tin Mừng Mc 10, 42-45 cho thấy việc người môn đệ mong được ngồi bên tả hay bên hữu Thầy trong vinh quang của Thầy, không chỉ là chuyện riêng của hai người con ông Dêbêdê nhưng của mười môn đệ kia. Thật vậy, những vị này đã tỏ thái độ tức tối với Gioan và Giacôbê (x. Mc10, 41). Thái độ này của các môn đệ không khác gì cách hành xử của những người Pharisêu, khi họ phẫn nộ với Chúa Gieessu lúc Người chữa bệnh vào ngày Sabát (x. Lc 13, 14), và khi Chúa tiến vào Giêsusalem cùng với tiếng reo hò vang dậy của lũ trẻ trong Đền Thờ (x. Mt 21, 12). Ở đây, các kinh sư và người Pharisêu rất tức tối không muốn chấp nhận Chúa Giêsu là Con Vua Đavít. Đứng trước thái độ này của các môn đệ, Chúa lại tiếp tục bình tĩnh đưa họ vào trong hành trình huấn luyện, Người không tỏ ra tức tối với hai anh em Gioan và Giacôbê, và mười môn đệ kia nhưng Người lặp lại lời giáo huấn “Ai muốn làm lớn giữa anh em phải làm người phục vụ anh em” (Mc 10, 43).
Người môn đệ được Chúa Giêsu huấn luyện về tinh thần phục vụ, phải hy sinh mạng sống mình theo khuôn mẫu “Con Người”, chứ không phải tìm vinh quang trần thế: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10, 45). Cựu ước cho thấy “giá chuộc” là khoản tiền để chuộc lại mạng sống hoặc những người đang gặp đau khổ: người thân dùng tiền để chuộc con khỏi tay chủ (x. Xh 21, 8) hay chuộc lại bà con sa vòng nô lệ (x. Lv 25, 47). Bước sang Tân ước, từ ngữ “giá chuộc” theo nguyên nghĩa Hy lạp “λύτρον- lytron” chỉ xuất hiện ở đây và trong Mt 20, 28. “Lytron” (lyô: tháo, cởi, giải thoát) là số tiền bỏ ra để mua sự giải thoát cho một tù binh, hoặc để chuộc lại một nô lệ. Từ việc giải thích này, cho thấy Chúa Giêsu không phải bỏ tiền ra cho bất cứ ai, nên thành ngữ này chỉ có nghĩa là phương thế để cứu chuộc. Vì thế, Chúa Giêsu tự nguyện hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người bằng cái chết và sự Phục Sinh của Người. Do đó, người môn đệ được Chúa Giêsu huấn luyện thay vì được ngồi bên tả hay bên hữu Thầy, họ được Chúa Giêsu mời gọi đi vào con đường Thập Giá bằng chính mạng sống mình.
Như vậy, từ bản văn Tin Mừng Mc 10, 35-45, cho thấy người môn đệ được Chúa Giêsu huấn luyện bước vào con đường Thập Giá, đòi hỏi họ phải hy sinh cả mạng sống mình. Đây quả là thách đố cho người môn đệ hôm nay, đang sống trong bối cảnh xã hội đáp ứng mọi nhu cầu vật chất của con người, họ cũng cuốn vào vòng xoáy của thời đại. Do đó, người môn đệ, cần phải được đào luyện mỗi ngày để tháp nhập đời mình vào trong mầu nhiệm Thập giá của Chúa Giêsu, ý thức rằng, họ được mời gọi theo sát Chúa Kitô: “Sequela Christi” trong hành trình dâng hiến, và họ cảm nhận được hạnh phúc vì đời sống của họ đang trở nên giống Chúa hơn. Điều này, đã được Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết trong tông huấn Vita Consecrata số 72: “Càng để cho mình đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, người tận hiến càng làm cho Người hiện diện và hành động trong thế giới, để cứu độ nhân loại”.
M. Trang Phạm
Câu chuyện kể về một nhà thám hiểm đi vào khu rừng, mang theo la bàn. Trước khi đi, anh nhìn xem chiếc la bàn định vị hướng nào, rồi anh bỏ chiếc la bàn vào túi và bắt đầu vác ba lô lên vai bước đi theo hướng la bàn đã chỉ. Đi một quãng khá xa, anh ta dừng lại lấy la bàn trong túi ra để xem la bàn chỉ đi hướng nào, rồi anh lại cất la bàn vào túi và đi tiếp. Cứ như vậy, hết khu rừng anh ta dừng lại nhiều lần để xem định vị.
Đời sống của chúng ta cũng là một hành trình khám phá, nhưng để không lạc đường và chùn bước, chúng ta cũng cần phải dừng lại nhiều lần để định vị lại hướng đi cho bản thân. Định vị lại đời sống nội tâm, để xác định và chọn lựa đúng đắn thái độ sống cho mình. Định vị lại con người của mình để tiếp tục bước tiếp trên hành trình cuộc đời.
Trong hơn hai năm qua với dịch bệnh Covid-19, chứng kiến sức hủy diệt tàn ác của con vi rút nhỏ bé, chúng ta nhận ra rằng sự sống thật mong manh. Chẳng có gì có thể mua được hay kéo dài thêm sự sống nếu không xác tín vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Cuộc sống này tươi đẹp biết bao. Thế nhưng nhiều khi chúng ta đã không biết quý trọng chính cuộc sống tốt đẹp mà Thiên Chúa đã thương ban. Chúng ta lo toan nhiều thứ, để cho tâm hồn mình nặng nề bởi tác động ngoại cảnh. Chúng ta chưa yêu mình cho đúng và đủ.
Nhìn vào hoàn cảnh hiện tại, cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine đã gây bao đau thương chết chóc, hàng ngàn người Ukraine đã phải di dời xuống hầm trú ẩn, phải bỏ lại quê hương, ngôi nhà yêu dấu của mình đến những nước khác để lánh nạn. Họ mang theo nỗi sợ hãi, thiếu thốn và bất an. Dịch bệnh Corona và hậu quả của nó vẫn còn tác động rất nặng nề đến mọi lĩnh vực của cuộc sống con người trên khắp thế giới. Vẫn còn đó những tranh chấp xung đột ngoài xã hội trước thế lực của cải, quyền lực, địa vị…Trong gia đình, bất hòa, chia rẽ vẫn luôn xảy ra. Và ngay trong chính lòng mình vẫn tồn tại những cuộc chiến giữa thiện và ác, giữa sự lành và sự dữ, giữa ánh sáng và bóng tối…Con người chúng ta luôn bị điều kiện hóa, bị tác động bởi môi trường sống, làm chúng ta đau khổ, sợ sệt, nản lòng và bất an. Những lúc này, đâu là điểm tựa cuộc đời mình? Ai là “la bàn” của cuộc đời mình? Ai giúp ta tìm lại “la bàn” để định vị hướng đi?
Mùa Chay Thánh đang qua đi. Tận dụng thời gian còn lại, chúng ta dừng lại, định vị lại đời mình, định vị lại cách nhìn và lối sống. Có thể qua việc tham dự một khóa linh thao, tĩnh tâm, hoặc chỉ cần dành một ít thời giờ tĩnh lặng bên Chúa để nhìn lại chính mình, tìm lại mình trong dòng chảy của cuộc sống để bước tiếp trong ý thức, đi đúng con đường mình phải đi, làm những việc mình cần phải làm. Hãy sống hết mình để đến cuối con đường mình không phải cảm thấy hối tiếc về những gì đã qua.
Hãy cùng nhau xác định xem mình đang ở đâu? Mình là ai? Mục đích đời mình là gì? Điều gì mới thực sự là quan trọng? Cần lắm việc dừng lại, để định vị cuộc đời mình, để được sống bình an và hạnh phúc.
Têrêsa Thanh Xuyên
Trong Mùa Chay, chúng ta thường được nghe Lời Chúa nhắc nhở chúng ta trở về, trở về với Cha Nhân Lành, đặc biệt trong Tin Mừng Chúa Nhật IV Mùa Chay, “Dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu” (Lc 15, 1-3. 11-32). Chúng ta hãy cùng nhau đặt mình vào vị trí của người cha trong dụ ngôn “Người Cha nhân hậu” để phần nào hiểu được tình yêu của Thiên Chúa là Cha.
Đoạn Tin Mừng này để lại cho mỗi người chúng ta một cảm giác buồn man mác. Buồn vì gia đình trong câu truyện bị tan nát bởi hai chữ “của cải”. Đây là cám dỗ của mọi thời làm đổ vỡ bao nhiêu gia đình, gây hận thù khắp nơi và nó cũng đang len lỏi vào cuộc sống của mỗi người chúng ta, gia đình của chúng ta. Vì “của cải” mà người con thứ coi cha như đã chết (anh đòi cha chia tài sản rồi bỏ đi) bởi theo văn hoá Do Thái thời bấy giờ, con cái chỉ đòi chia gia tài khi cha mẹ đã quá cố. Vì “của cải” mà người con trưởng chối bỏ cha: “Ông coi đã bao năm tôi hầu hạ ông” chấp nhận mình là một đầy tớ và coi cha như một ông chủ hà khắc.
Chúng ta không biết cảm giác của người cha lúc bấy giờ như thế nào? Đau đến mức độ nào? Một cụ già, một người cha bị hất hủi, bị bỏ rơi bởi chính những đứa con. Hình ảnh đau thương này chúng ta vẫn thường bắt gặp trong mọi thời đại nhất là thời đại hôm nay, thậm chí ngay trong chính gia đình của mỗi chúng ta.
Thế nhưng, phản ứng của người cha trong dụ ngôn lại khác hoàn toàn với phản ứng tự nhiên của con người chúng ta. Người cha không để cho tiền bạc chi phối nhưng lại để cho tình yêu dẫn lối. Hai lần cha già đi ra để đưa hai đứa con trở về. Vì “yêu” mà cha chạy ra ôm đứa con thứ không còn hình dạng người. Người cha đã phục hồi nhân phẩm và thân phận làm con cho cậu và đưa cậu vào nhà. Vì “yêu” người cha đã phải ra ngoài năn nỉ đứa con trai trưởng của mình và phục hồi thân phận cao quý cho cậu bằng lời khẳng định “Tất cả những gì của cha là của con”.
Nếu như hai người con ra đi vì chữ “của cải” thì người cha chuộc hai con về bằng chữ “tình yêu”. Trong cuộc sống của mỗi người chúng ta không biết bao lần chúng ta xa Chúa và xa anh chị em của mình, cũng bởi cái dáng vẻ “Thiên hình vạn trạng” “xa hoa lộng lẫy” của hai chữ “của cải”. Và trong mỗi chúng ta, ai cũng một lần chứng kiến biết bao nhiêu đau khổ chia ly, bất hạnh trong chính con người mình và những người chúng ta thương yêu cũng bởi “của cải”. Nhưng qua hình ảnh của người cha chúng ta nhận ra rằng: Chìa khóa để hóa giải mọi sự là “tình yêu”.
Một tình yêu cao cả có thể bị coi là ngu dại trong thế giới này nhưng lại có sức mạnh chữa lành và hàn gắn. Đây là một liều thuốc chữa trị cho chúng ta ngày hôm nay, khi mà “của cải” là thước đo giá trị cho một con người, con người được đánh giá qua những gì họ có. Ước gì chúng ta biết dùng thước đo “tình yêu” cho mọi hành động của tha nhân cũng như của chính mình để không ai bị coi thường, bị bỏ rơi ngay trong chính gia đình cũng như trong xã hội này. Xin cho chúng ta biết sống đúng chữ yêu như người cha trong câu truyện, một tình yêu tha thứ, ra đi, hòa giải và trở về.
Lạy Chúa, Chúa đã yêu thương chúng con dường nào, Chúa đã tha thứ tất cả mọi sự cho chúng con và chỉ mong chúng con quay trở về với Ngài, để đón nhận tình yêu của Ngài. Xin cho chúng con nhận ra rằng chỉ có Chúa mới là “gia tài duy nhất” của chúng con. Chúa là tất cả của chúng con để chúng con biết quay về bên Chúa.
Dịu Hiền, Học viện MTG TL
Khi Sứ Thần chào Mẹ
“Kính mừng Ma-ri-a
Thiên Chúa ở cùng Bà
Mẹ khiêm cung “vâng phục”!
Mẹ: thật đầy ơn phúc!
Mẹ Thiên Chúa Ngôi Hai
Là Mẹ Đấng Thiên Sai
Mẹ vâng theo Thánh Ý!
Mẹ tinh tuyền tuyệt mỹ
Trinh Nữ Ma-ri-a
Mẹ là chính hòm bia
Cưu mang Đấng Cứu Thế!
Mẹ: Nhà Tạm Thánh Thể
Nơi Con Chúa ẩn mình
Ôi! Mẹ Chúa Thiên Đình
Lạy Nữ Trinh Vinh Hiển!
Mẹ tuyệt vời thánh thiện
Lòng sâu thẳm khiêm nhường
Sống phục vụ yêu thương
Nên Chúa Cha tuyển chọn
Này chúng con nơi chốn:
Biển khổ ải trần ai
Xin Mẹ Chúa Ngôi Hai
Nghe đoàn con cầu khẩn!
Tân Lập ngày 25.03.2022
Anna Nguyễn Thị Đào
Mỗi năm vào dịp cuối năm, HDMTG Tân Lập – cùng với sự đóng góp của quý vị Ân nhân, Hội Bác ái iLazarô đã chuyển trao những món quà yêu thương đến những người có hoàn cảnh khó khăn, những người đau ốm bệnh tật không phân biệt niềm tin tôn giáo.
Tết Nhâm Dần năm nay, ngày 16 tháng 1, 2021 tại Nhà Mẹ, Hội dòng đã đón tiếp hơn 200 vị khách. Hầu hết họ là những người di cư lao động có hoàn cảnh khó khăn đến từ các tỉnh thành, làm công việc bán vé số, lượm ve chai.
Họ không chỉ thiếu thốn về vật chất mà cả tinh thần. Đa số họ không chỉ sống một mình ở phòng trọ chật hẹp mà còn mang trong mình những căn bệnh. Tuy nhiên, những điều đó không lấy đi của họ những niềm vui, những sẻ chia tình người dành cho nhau. Trong hoàn cảnh khó khăn, họ lại càng biết giúp đỡ lẫn nhau. Họ có thể chia sớt những phần quà cho nhau hay mang giúp nhau những phần quà khi người bạn của mình không thể mang về do bệnh tật. Đặc biệt, trên khuôn mặt họ luôn nở những nụ rạng rỡ.


Nữ tu Maria Nguyễn Thị Yêu, Tổng Phụ Trách đại diện Hội dòng đã có những tâm tình chào đón và sẻ chia niềm vui trong ngày tết qua những món quà bằng tất cả sự yêu thương và trân trọng dành cho các vị khách. Đây cũng là sứ vụ của Hội dòng được góp phần lan toả tình yêu thương và sự sẻ chia với họ

.
Với món quà yêu thương gởi trao đến những người có hoàn cảnh đặc biệt này, Ban Bác ái của Hội dòng hy vọng chia sẻ và mang chút hương Xuân ấm áp đến cho họ. Tuy món quà nhỏ, nhưng đối với người di cư, những người làm công việc tự do này, thì thật là lớn và ấm áp.




Hội dòng Mến Thánh Giá Tân Lập xin chân thành tri ân quý vị Ân nhân và Hội Bác ái iLazarô đã cùng với chúng tôi gởi trao những món quà yêu thương đến với những người di cư lao động nghèo, những người cô thân, những người có hoàn cảnh khó khăn và đau ốm bệnh tật.
Nguyện xin Thiên Chúa là Mùa Xuân chúc lành và ban muôn ơn lành xuống trên quý vị! Xin tiếp tục cùng với chúng tôi đồng hành với với những người có hoàn cảnh khó khăn, các em học sinh nghèo!
BTT – MTG Tân Lập