Vô thường là nguyên lý cơ bản của sự tồn tại theo truyền thống Phật giáo. Nó giải thích rằng cả thế giới bên trong và bên ngoài của chúng ta đều thay đổi liên tục, theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực. Vì vậy gần như không thể giữ cho cuộc sống này luôn ở trạng thái tĩnh, nghĩa là một cuộc sống chỉ có thứ chúng ta thích mà không tồn tại những thứ khiến ta khó chịu.
Khi mới tìm hiểu về khái niệm vô thường, tôi ngay lập tức bị cuốn hút vì nó cho tôi hy vọng rằng những khoảnh khắc đau khổ sẽ không kéo dài mãi mãi và những điều tốt đẹp sẽ theo sau. Sự vô thường thách thức những nỗ lực nhằm giữ cho bản thân, các mối quan hệ, sự nghiệp và cơ thể luôn ở trạng thái tốt. Nó giúp tôi hiểu rằng dù là hạnh phúc hay khổ đau thì chúng đều không thể tồn tại mãi mãi. Việc chấp nhận rằng mọi thứ đều vô thường sẽ giúp ta tồn tại qua những lúc thăng trầm của cuộc đời với tâm lý linh hoạt hơn.
CON NGƯỜI LUÔN KHAO KHÁT SỰ ỔN ĐỊNH TRONG CUỘC ĐỜI
Là con người, chúng ta thấy thoải mái khi cuộc sống của mình đạt được sự ổn định và dễ đoán (trong công việc, các mối quan hệ, trạng thái tinh thần, môi trường xung quanh…). Sự ổn định mang lại cho chúng ta cảm giác an toàn và cảm giác kiểm soát mọi thứ trong tầm tay. Do đó, ý tưởng về vô thường và sự thay đổi khiến ta cảm thấy không thoải mái, vì nó mang lại sự mất mát, không chắc chắn, đòi hỏi chúng ta phải thích nghi với thực tế mới. Tâm lý con người luôn tránh né những điều khiến mình đau đớn và mong chờ những điều tốt đẹp sẽ tồn tại mãi mãi. Nhưng thực tế thì không như vậy.
BẢN CHẤT CỦA VÔ THƯỜNG
Kỳ vọng kiểm soát hoàn toàn cuộc sống, chỉ có sự hạnh phúc cho tất cả mọi người là một sự ảo tưởng. Nó mâu thuẫn với thực tế rằng việc các vấn đề liên tục xảy ra là một phần tất yếu của cuộc sống và không có gì là vĩnh cửu, dù chúng ta có muốn hay không:
Một số sự đổi thay hay mất mát là rất khó chấp nhận, đặc biệt khi chúng ta đánh mất những gì đã gắn bó thân thuộc, chẳng hạn như người thân. Do đó mọi người thường dành nhiều thời gian và công sức để cố lấy lại những gì đã mất. Những cố gắng đó thường là vô ích.
Tuy nhiên cũng có những thứ nằm trong tầm kiểm soát mà chúng ta có thể thay đổi để mang lại giá trị tích cực. Ví dụ việc bạn chăm chỉ tập luyện, thay đổi chế độ ăn uống để đưa cơ thể trở lại trạng thái khỏe mạnh. Điều này khiến bạn hài lòng khi đạt được thành công, dù nó nhỏ thôi.
Tuy nhiên trạng thái khỏe mạnh cũng chỉ là tạm thời, bởi cơ thể chúng ta sẽ tiếp tục thay đổi. Đó là điều không thể tránh khỏi dù nó tích cực hay tiêu cực. Bên cạnh đó việc khăng khăng đòi hỏi sự bất biến sẽ khiến chúng ta sợ đối mặt và kém thích nghi với thay đổi.
Thiền sư Việt Nam Thích Nhất Hạnh đã giải thích rằng:
“Vô thường không khiến ta đau khổ. Chính sự kỳ vọng mọi thứ tồn tại vĩnh viễn trong khi chúng vốn không phải như vậy mới khiến ta đau khổ”.
Khi chấp nhận sự vô thường, ta sẽ đạt được điều gì?
Ta biết cách trân trọng và tận hưởng những điều tuyệt vời của cuộc sống xảy ra trong hiện tại nhưng không bám vào những khoảnh khắc này, bởi vì chúng ta hiểu rằng chúng sẽ thay đổi.
Ta mong đợi những điều tốt đẹp sẽ kết thúc để biết cách phản ứng với những mất mát, thất vọng và sợ hãi.
Ta hy vọng rằng những khoảnh khắc tồi tệ sẽ không kéo dài mãi mãi, sự hoảng sợ và đau khổ theo thời gian cũng sẽ qua đi. Sự giác ngộ này giúp cơ thể tự phục hồi để ta tiếp tục cuộc sống của mình.
Ta học được rằng suy nghĩ chỉ là những hiện tượng tạm thời, chúng đến rồi sẽ đi. Vì vậy ta không cần phải kìm hãm bản thân bằng những suy nghĩ tiêu cực. Một khi còn tồn tại thì chúng vẫn còn kiểm soát cách chúng ta hành động.
Ta biết rằng cảm xúc tựa như một dòng chảy và sẽ không tồn tại mãi mãi, do đó không cần phải sợ chúng, thay vào đó hãy học cách thừa nhận khi chúng xuất hiện, ghi nhận thông điệp của những cảm xúc tốt đẹp, cố gắng chịu đựng những cảm xúc tiêu cực cho đến khi chúng qua đi.
Ta hiểu rằng cơ thể cũng như tâm trí của mình cần có được những khoảng “nghỉ ngơi”. Hãy kiên nhẫn khi gặp phải sự tiêu cực và cho phép bản thân cảm thấy thất vọng. Sau đó ta có thể vui vẻ trở lại khi cơ thể được tái tạo năng lượng, tâm trí của ta dần trở nên ổn định, tập trung và cân bằng.
Ta hiểu rằng các mối quan hệ không tồn tại mãi mãi, vì hoàn cảnh và môi trường xung quanh luôn thay đổi. Khi không còn cố níu kéo những mối quan hệ không cần thiết, ta thôi sợ hãi về những điều khác biệt, cởi mở hơn với những thay đổi tích cực lẫn tiêu cực. Điều này thực sự có lợi cho sự phát triển và kết nối các mối quan hệ của mỗi người.
Ta phát triển các mối quan hệ xã hội với tâm thế vô thường vì biết rằng điều đó nhất định xảy ra dù sớm hay muộn. Khi đó ta có thể đối mặt với thách thức một cách dễ dàng hơn. Dù vẫn không thích sự thay đổi là mấy, ta nhận ra rằng đôi khi chúng là lời cảnh tỉnh để ta sống một cuộc đời có ý nghĩa hơn.
MỘT VÀI SUY NGHĨ CUỐI CÙNG VỀ VÔ THƯỜNG
Chấp nhận rằng mọi thứ đều vô thường là điều khó khăn. Vô thường là thay đổi, mà mọi sự thay đổi đều đi kèm mất mát, ngay cả khi sự thay đổi đó là tốt. Điều này có thể gây tổn thương cho chúng ta và bạn không cần phải thích nó. Chỉ cần bạn có cái nhìn cởi mở hơn với sự vô thường, nó sẽ giúp ta sống trọn vẹn và linh hoạt hơn. Hãy tận hưởng tất cả những điều tốt đẹp đến với bạn và sẵn sàng đón nhận những thử thách như một điều tất yếu của cuộc sống này.
Nguồn: Angelica Attard/psychologytoday.com
Nguồn dịch: https://www.facebook.com/diengia.trandangkhoa/
Hãy đọc bài viết để biết bạn đang ở giai đoạn nào (hay đang mắc kẹt ở giai đoạn nào), nó định hình cuộc sống của bạn ra sao và suy ngẫm về chuyện liệu bạn muốn sống cuộc đời của mình như nào?
🌺 GIAI ĐOẠN 1: BẮT CHƯỚC NGƯỜI KHÁC
Từ khi sinh ra ta đã cần phụ thuộc vào người khác. Chúng ta không thể đi, không thể nói, không thể tự kiếm ăn, và chắc chắn là không thể tự kê khai thuế.
Khi còn nhỏ, cách học tập bẩm sinh của chúng là quan sát và bắt chước người khác. Đầu tiên chúng ta học các kỹ năng cơ bản như đi lại và nói chuyện. Sau đó chúng ta phát triển các kĩ năng xã hội bằng cách nhìn và làm theo những người xung quanh mình. Và cuối cùng, trong những năm tháng cuối cùng của thời thơ ấu, chúng ta học cách thích nghi với văn hóa xã hội bằng cách quan sát các luật lệ và phong tục xung quanh môi trường sống của mình và cố gắng cư xử theo cách mà thường được xã hội chấp nhận.
Mục tiêu của giai đoạn 1 là dạy chúng ta cách tồn tại trong xã hội này để ta có thể tự chủ và tự chăm sóc được bản thân mình. Những người lớn khác trong cộng đồng sẽ dìu dắt ta đạt tới giai đoạn này thông qua sự trợ giúp để ta có thể tự ra quyết định và thực hiện chúng về sau.
Nhưng sẽ luôn có một số người lớn không thể chấp nhận điều này. Họ trừng phạt chúng ta vì ta được độc lập. Họ không ủng hộ các quyết định của ta. Và vì vậy chúng ta không phát triển được sự tự chủ. Chúng ta bị kẹt trong giai đoạn 1, mãi mãi bắt chước những người xung quanh mình, mãi mãi cố gắng làm hài lòng tất cả những người khác để chúng ta không bị phán xét là kẻ lập dị.
Trong một cá nhân lành mạnh “bình thường”, Giai đoạn 1 sẽ kéo dài đến cuối tuổi vị thành niên và giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành. Đối với một số người, nó có thể kéo dài đến cả khi họ đã là người lớn. Một vài người từng thức dậy một ngày ở tuổi 45 mới bất giác nhận ra rằng họ chưa bao giờ thực sự sống cho chính mình và tự trách móc mình đã làm gì với bao năm tháng đã qua.
Đây là Giai đoạn 1. Giai đoạn bắt chước. Luôn luôn tìm kiếm sự chấp thuận và sự xác tín. Thiếu vắng tư duy độc lập và các giá trị của bản thân.
Chúng ta phải luôn ý thức được những tiêu chuẩn và kì vọng của những người xung quanh dành cho chúng ta. Nhưng chúng ta cũng phải đủ mạnh mẽ để hành động bất chấp những tiêu chuẩn và sự mong đợi của khác khi bản thân mình cảm thấy điều đó là cần thiết. Chúng ta cần phải phát triển khả năng hành động do mình và vì mình.
🌺 GIAI ĐOẠN 2: TỰ KHÁM PHÁ BẢN THÂN
Trong Giai đoạn 1, chúng ta học cách hòa nhập với con người và văn hóa xung quanh. Giai đoạn 2 sẽ là lúc học hỏi điều gì làm chúng ta khác biệt với đám đông. Điều này đòi hỏi chúng ta bắt đầu tự ra quyết định cho mình, tự thử thách mình, tự hiểu mình và khám phá ra điều gì khiến mình độc đáo.
Giai đoạn 2 bao gồm rất nhiều cuộc thử sai. Chúng ta thử nghiệm bằng cách sống ở những nơi mới lạ, giao lưu với những người mới, uống những đồ mới, và thử “quan hệ” với người lạ xem sao.
Trong Giai đoạn 2 của tôi, tôi rời quê hương và thăm thú khoảng 50 quốc gia gì đó. Giai đoạn 2 của anh trai tôi là đâm thẳng đầu vào hệ thống chính trị ở thủ đô Washington. Giai đoạn 2 của mỗi người sẽ khác nhau đôi chút bởi vì mỗi chúng ta đều có sự khác biệt.
Giai đoạn 2 là quá trình khám phá ra bản thân. Chúng ta thử nhiều thứ. Một số có thể thành công, 1 số có thể thất bại. Mục đích là để bạn chọn lấy cái nào đúng đắn và tiếp tục hành động.
Giai đoạn 2 kéo dài cho tới khi chúng ta bắt đầu chạm đến những giới hạn của mình. Điều này có thể làm nhiều người khó chịu. Nhưng bất kể mấy diễn giả thành công có nói gì với bạn, khám phá ra được những giới hạn của mình là một điều hoàn toàn tốt và lành mạnh.
Bạn chắc chắn sẽ kém ở khoản nào đó, bất kể bạn có cố gắng đến đâu. Và bạn cần biết chúng là gì. Tôi không được trời phú cho tài năng xuất sắc ở bất kì môn thể thao nào. Thật buồn khi học được điều này, nhưng quan trọng là tôi biết mình không giỏi mảng đó. Tôi cũng chỉ giỏi tự nấu ăn cho mình ngang với em bé làm văng món nước sốt táo khắp sàn nhà. Chúng ta đều cần phải học được rằng mình dốt thứ gì. Và biết được điều này càng sớm trong cuộc đời càng tốt.
Vậy nên, chúng ta không giỏi ở một vài món. Và rồi bạn cũng sẽ học được rằng có những thứ thật tuyệt trong ngắn hạn, nhưng rồi sẽ chán dần sau một vài năm. Du lịch thế giới là một ví dụ. Lăng nhăng với cơ số người khác là 1 ví dụ thứ hai. Uống rượu vào tối thứ 3 là ví dụ thứ ba. Còn rất nhiều nữa. Tin tôi đi.
Biết được những giới hạn của bạn rất quan trọng bởi vì cuối cùng bạn phải nhận ra chân lý rằng thời gian của bạn trên Trái Đất này không có nhiều và vì vậy bạn nên đầu tư nó vào những thứ có ý nghĩa nhất. Điều này có nghĩa là nhận ra rằng cho dù bạn có khả năng làm được điều gì đó, không có nghĩa là bạn nên làm nó. Nhận ra rằng bởi vì bạn thích kiểu người này không có nghĩa là bạn nên ở mãi với họ. Và nhận ra rằng mọi thứ đều có chi phí cơ hội và bạn không thể có tất cả.
Tôi biết một vài người không bao giờ cho phép mình cảm thấy giới hạn – hoặc là bởi vì họ từ chối thừa nhận lỗi lầm của mình hoặc bởi vì họ tự huyễn hoặc rằng mình không có giới hạn. Những người này sẽ bị kẹt lại trong Giai đoạn 2.
Có những người “cứ mãi khởi nghiệp” khi đã 38 tuổi, vẫn sống với mẹ và vẫn không kiếm ra được đồng nào sau 15 năm cố gắng. Có những “diễn viên đầy tham vọng” vẫn đang làm bồi bàn và đã không đi thử vai trong 2 năm. Có những người không thể an vị vào một mối quan hệ lâu dài bởi vì họ luôn luôn có cảm giác rằng sẽ luôn có một ai đó tốt hơn xuất hiện. Họ là những người cố “lau chùi” những sai lầm như thể “giải phóng” sự tiêu cực vào vũ trụ, hoặc “thanh trừng” tất cả những sai lầm khỏi cuộc đời mình.
Đến một lúc nào đó, chúng ta đều phải thừa nhận chân lý: cuộc đời này rất ngắn ngủi, mọi ước mơ của ta đều không thể thành hiện thực, và vì vậy chúng ta nên cẩn thận lựa và chọn thứ gì chúng ta làm tốt nhất và toàn tâm toàn ý với nó.
Nhưng những người mắc kẹt trong giai đoạn 2 dành phần lớn thời gian để tự thuyết phục mình điều ngược lại. Rằng họ như một siêu nhân. Rằng họ có thể vượt qua tất cả. Rằng cuộc đời họ là sự phát triển và đi lên không bao giờ ngừng, trong khi ai cũng thể nhìn thấy rõ ràng họ chỉ đang chạy tại chỗ.
Với những cá nhân lành mạnh, Giai đoạn 2 bắt đầu từ giữa – cuối tuổi vị thành niên và kéo dài cho đến giữa 20 hoặc giữa 30. Những ai vẫn mãi kẹt trong giai đoạn 2 thường được mọi người gọi là mắc “Hội chứng Peter Pan” – những kẻ lông bông cả đời, luôn luôn đi tìm bản thân mình, nhưng không tìm thấy thứ gì.
🌺 GIAI ĐOẠN 3: TOÀN TÂM TOÀN Ý
Một khi bạn đã đẩy mình đến những giới hạn và hoặc là biết được những gì mình kém (ví dụ: thể thao, nghệ thuật nấu ăn) hoặc là hiểu rằng các cuộc vui thì cũng chúng tàn (ví dụ: hội hè, chơi điện tử, thủ dâm) thì bạn sẽ còn lại những thứ a) thực sự quan trọng với bạn, và b) bạn không đến nỗi quá tồi. Bây giờ là lúc bạn cần ghi dấu lên thế giới này.
Giai đoạn 3 là thời điểm đẹp nhất cho bạn xây dựng lâu đài cuộc đời. Bạn đã chia tay những người bạn chỉ biết kìm kẹp mình. Bạn đã tạm biệt những trò chơi vô bổ, lãng phí thời gian. Bạn đã giã từ những giấc mơ ngày xưa mà chắc chắc không thể sớm thành hiện thực.
Vậy nên bạn cần tập trung hết sức vào thứ bạn giỏi nhất và tốt nhất cho bạn. Bạn cần tập trung vào những mối quan hệ quan trọng nhất trong đời. Bạn cần tập trung vào sứ mệnh duy nhất trong đời bạn, dù là giải quyết cuộc khủng hoảng năng lượng trên thế giới hay trở thành một nghệ sĩ vẽ kĩ thuật số hoặc trở thành một chuyên gia về não bộ, hay có những đứa con đáng yêu chảy đầy nước mũi. Dù nó là gì đi chăng nữa, đây là lúc bạn hoàn thành mọi thứ mình ao ước.
Giai đoạn thứ 3 là lúc bạn tối đa hóa khả năng của mình mình trong cuộc đời này. Nó là lúc xây dựng di sản của bạn. Bạn sẽ để lại gì cho cuộc đời khi bạn ra đi? Mọi người sẽ nhớ về bạn như nào? Dù đó là một nghiên cứu đột phá hoặc một phát kiến mới tuyệt vời hay một gia đình đáng yêu, Giai đoạn 3 là lúc bạn thay đổi thế giới này khác đi một chút nhờ sợ tồn tại của bạn trên đời.
Giai đoạn 3 sẽ kết thúc khi có sự hợp nhất của 2 thứ: 1) Bạn cảm thấy như thế mình không còn gì có thể phấn đấu được nữa, 2) Bạn đã già và đã mệt và thấy rằng mình nên uống martini và chơi trò giải ô chữ cả cuộc đời còn lại.
Đối với những người “bình thường”, Giai đoạn 3 thường kéo dài từ khoảng 30 tuổi tới tuổi nghỉ hưu.
Những người bị mắc kẹt ở Giai đoạn thứ 3 thường là do không biết buông bỏ đam mê của mình và luôn ham muốn nhiều hơn. Chính vì vậy họ sẽ luôn khao khát phấn đấu đến tận 70 hay 80 tuổi.
🌺 GIAI ĐOẠN 4: DI SẢN
Khi đến giai đoạn này, mọi người đã dành khoảng 50 năm để đầu tư vào những thứ họ tin rằng là có ý nghĩa và quan trọng. Họ đã làm được những điều tuyệt vời, làm việc chăm chỉ, đạt được mọi thứ mình có, có thể đã có một gia đình hay một quỹ từ thiện hay tạo ra 1 sự đổi thay to lớn trong chính trị hay văn hóa, và giờ họ đã toại nguyện. Họ đã đạt đến độ tuổi mà năng lượng và hoàn cảnh của họ không cho phép họ theo đuổi đam mê của mình xa hơn nữa.
Mục tiêu của giai đoạn này trở thành không chỉ tạo ra 1 di sản mà làm sao để đảm bảo nó vẫn tồn tại kể cả khi bạn đã ra đi.
Việc này có thể đơn giản là việc bạn hỗ trợ và răn dạy con cháu của mình và ngắm nhìn chúng tận hưởng cuộc sống. Bạn cũng có thể giao phó lại các dự án hay công việc của mình cho các học trò. Bạn cũng có thể là tham gia vào hoạt động chính trị nhiều hơn để khẳng định các giá trị của mình trong một xã hội đã đi qua quá nhiều xáo trộn.
Giai đoạn 4 rất quan trọng về mặt tâm lý bởi vì nó khiến chúng ta dễ chấp nhận sự thật rằng ta rồi sẽ phải chết. Bởi vì là con người, chúng ta có một nhu cầu sâu thẳm muốn cảm thấy rằng cuộc đời của mình có một ý nghĩa gì đấy. Thứ ý nghĩa chúng ta luôn luôn tìm kiếm về bản chất chính là cơ chế tâm lý phòng vệ chống lại sự khó hiểu của cuộc sống này và sự tuyệt đối cái chết. Đánh mất ý nghĩa đó, hoặc nhìn nó tuột khỏi tầm tay, hoặc từ từ cảm thấy như thể thế giới này đã rời bỏ bạn lại phía sau, không khác nào phải đối diện trực diện với sự lãng quên và để nó nuốt chửng bạn.
🌺 BÀI HỌC CẦN RÚT RA LÀ GÌ?
Đi qua mỗi giai đoạn cuộc đời giúp chúng ta có thể kiểm soát hạnh phúc và sự thịnh vượng của mình tốt hơn.
Trong Giai đoạn 1, một người sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào những hành động của người khác và cần được chấp thuận để có thể hạnh phúc. Đây là một chiến lược sống kinh khủng bởi vì con người thật khó đoán và bất định.
Trong Giai đoạn 2, người ta trở nên tự lực hơn, nhưng vẫn dựa vào thành công ngoại lai để có thể hạnh phúc – tiền, sự tán dương, chiến thắng, chiến công, vvv. Chúng có thể dễ kiểm soát hơn con người, nhưng về lâu dài chúng vẫn rất khó dự đoán.
Giai đoạn 3 sẽ phụ thuộc vào 1 số ít các mối quan hệ và những đam mê mà đã tự chứng tỏ chúng đáng để theo đuổi từ Giai đoạn 2. Những thứ này đã ổn định hơn qua thử thách. Và cuối cùng, Giai đoạn 4 đòi hỏi chúng ta chỉ bám giữ vào những gì mình đã hoàn thành được và nên ngừng kì vọng quá nhiều.
Trong mỗi giai đoạn, hạnh phúc trở nên phụ thuộc nhiều hơn vào các giá trị nội tại, có thể kiểm soát và bớt dựa vào các yếu tố bên ngoài của thế giới không ngừng xoay chuyển này.
🌺 XUNG ĐỘT GIỮA CÁC GIAI ĐOẠN
Các giai đoạn sau không thay thế các giai đoạn trước đó. Chúng vượt lên trên nó. Trong Giai đoạn 2 mọi người vẫn quan tâm đến việc được người khác chấp thuận. Họ chỉ quan tâm nhiều hơn đến thứ gì khác. Trong Giai đoạn 3, mọi người vẫn quan tâm tới việc thúc đẩy những giới hạn của chính mình. Chỉ là họ quan tâm nhiều hơn đến những cam kết mà mình đã đặt ra.
Mỗi giai đoạn đại diện cho sự xáo trộn các ưu tiên trong cuộc đời mỗi người. Chính vì lý do này, mà khi mọi người chuyển dịch từ 1 giai đoạn này sang giai đoạn khác, mọi người sẽ thường trải nghiệm sự mất mát các mối quan hệ. Nếu bạn đang ở Giai đoạn 2, và tất cả bạn bè của bạn vẫn đang ở đó, rồi đột nhiên bạn hạ quyết tâm, lao vào Giai đoạn 3 để xây dựng sự nghiệp, nhưng những người bạn của mình vẫn còn đang đi tìm kiếm bản thân, sự mất kết nối căn bản giữa các giá trị của bạn và bạn bè của bạn sẽ xuất hiện và lúc đó thật khó để vẫn còn có thể chơi với nhau.
Nói chung, mọi người sẽ phóng chiếu giai đoạn của họ lên mọi người xung quanh mình. Những người ở Giai đoạn 1 sẽ phán xét những người khác qua khả năng họ có được xã hội chấp nhận hay không. Những người ở Giai đoạn 2 sẽ phán xét những người khác bằng khả năng vượt qua các giới hạn của chính mình và thử những thứ mới. Những người ở Giai đoạn 3 sẽ phán xét những người khác dựa trên những cam kết cuộc đời của họ và những thành tựu họ có thể đạt được. Những người ở giai đoạn 4 sẽ phán xét người khác dựa về những giá trị mà họ bảo vệ và những thứ họ đã chọn sống vì nó.
🌺 GIÁ TRỊ CỦA CHẤN THƯƠNG TÂM LÝ
Phát triển bản thân thường được mô tả như một sự tiến bộ trải đầy hoa lệ, đi từ 1 kẻ ngu ngốc đến sự giác mộ, chứa đựng rất nhiều hoan lạc, bước đi tự hào trên thảm hoa, và đập tay với 2000 người tại một buổi hội thảo mà bạn phải trả rất nhiều tiền để tham dự.
Nhưng sự thật là những chuyển giao trong các giai đoạn của cuộc đời thường được kích hoạt bởi những dư chấn hay những sự kiện cực kì tiêu cực. Một lần suýt chết. Một cuộc li hôn. Một tình bạn đổ vỡ hay sự ra đi của người yêu.
Vết thương làm chúng ta lùi lại và đánh giá lại những động lực sâu thẳm nhất và các quyết định mà mình đã đưa ra. Nó cho phép chúng ta suy tư về việc liệu những chiến lược theo đuổi hạnh phúc của chúng ta có thực sự thành công hay không.
🌺 ĐIỀU GÌ LÀM CHÚNG TA MẮC KẸT
Có một thứ làm chúng ta mắc kẹt ở mỗi giai đoạn: cảm giác chưa bao giờ là đủ
Mọi người kẹt ở Giai đoạn 1 bởi vì họ luôn cảm thấy như thể họ là một phiên bản lỗi và khác biệt với những người khác, vì vậy họ sẽ đặt mọi nỗ lực của mình vào việc làm những thứ khiến người khác hài lòng. Nhưng bất kể họ có cố gắng tới đâu, họ sẽ cảm thấy chưa bao giờ là đủ.
Mọi người kẹt ở Giai đoạn 2 bởi vì họ cảm thấy như thế họ lẽ ra nên làm nhiều hơn, tốt hơn, mới hơn, hiệu quả hơn. Nhưng bất kể họ có cố gắng tới đâu, họ sẽ cảm thấy chưa bao giờ là đủ.
Mọi người kẹt ở Giai đoạn 3 bởi vì họ cảm thấy như thế họ chưa tạo ra đủ ảnh hưởng có ích lên thế giới này, rằng lẽ ra mình có thể tạo ra nhiều thay đổi tích cực hơn trong lĩnh vực mà mình đã cam kết. Nhưng bất kể họ có cố gắng tới đâu, họ sẽ cảm thấy chưa bao giờ là đủ.
Những người ở Giai đoạn 4 vẫn cảm thấy mắc kẹt bởi vì họ lo lắng rằng di sản của họ sẽ không bền vững hay không tạo ra thay đổi lớn lao nào cho thế hệ sau. Họ bám và níu giữ lấy nó và thúc đẩy nó tới những hơi thở cuối cùng. Nhưng họ vẫn thấy chưa đủ.
Giải pháp cho mỗi giai đoạn này là hãy nhìn lại. Để vượt lên Giai đoạn 1, bạn phải chấp nhận rằng mình sẽ không bao giờ có thể làm vui lòng mọi người, và vì vậy bạn phải đưa ra quyết định cho chính đời mình.
Để vượt lên Giai đoạn 2, bạn phải chấp nhận rằng bạn sẽ không bao giờ có thể đạt được mọi thứ bạn ước mơ hay khao khát và vì vậy phải tập trung vào thứ quan trọng nhất và toàn tâm toàn ý với nó.
Để vượt lên Giai đoạn 3, bạn phải nhận rằng thời gian và năng lượng là giới hạn và vì vậy bạn phải xác định lại mục tiêu của mình lúc này là giúp những người khác quản lý những dự án ý nghĩa mà bạn đã khởi sự.
Để vượt lên Giai đoạn 4, bạn phải nhận ra rằng thay đổi là điều tất yếu, và sự ảnh hưởng của một con người, cho dù họ có tài giỏi, quyền thế, có ích tới đâu, cuối cùng rồi sẽ tan biến.
Và cuộc đời vẫn sẽ tiếp diễn.
Trạm Đọc (Read Station) dịch
Theo Mark Manson
“Tất cả mọi người đều tìm kiếm sự tôn trọng từ những người khác bởi vì lý do đơn giản không một ai biết cách tự tôn trọng chính mình.”
Tôi dành nhiều sự tôn trọng cho tính người của mỗi người. Với tính người ấy thì tất cả đều bình đẳng như nhau từ vị vua cho tới kẻ ăn mày, từ tổng thống cho tới tên tội phạm, từ cô gái điếm cho đến người tu hành… Tất cả đều mang một bản tính người như nhau và tôi tôn trọng cũng như yêu quý tất cả.
Nhưng bắt tôi phải tôn trọng một người chỉ vì nghề nghiệp, chức danh của người đó thì tôi không làm được. Bắt tôi phải yêu quý một ông tướng hơn anh lính, tôi không làm được. Bắt tôi phải tôn kính một người vì anh ta làm nghề xã hội ưa thích như giáo viên, bác sĩ, học sĩ… tôi không làm được. Bắt tôi phải kính sợ người nào đó vì họ uy quyền, tôi không làm được. Lý do là vì tôi tôn trọng tính người chứ không phải tính nghề.
Thế giới này bắt người ta phải tôn trọng tính-nghề nhiều hơn tính-người và nó làm cho giá trị cuộc sống bị đảo lộn.
Tôn trọng là một từ rất mang tính bản ngã, tôi cho là như vậy. Tôn trọng ai đó là cho rằng người đó rất quan trọng, muốn ai đó tôn trọng mình là có ý rằng bản thân mình rất cao quý, rất đáng khen… Tôn trọng là nhu cầu sâu sắc của con người, nhu cầu đỉnh cao.
Tất cả mọi người dù chạy theo hướng nào thì mục tiêu sau cùng cũng là làm mọi thứ để bản thân mình được nhiều người tôn trọng nhiều nhất có thể.
Và sự tôn trọng: cái sợi xích bản ngã tinh vi ấy nhốt tất cả chúng ta vào trong một nhà tù vô hình, chúng ta tưởng mình tự do nhưng thứ tự do đó chỉ là giả tạo.
Sự tôn trọng là thứ công cụ vô hình khiến mọi người phân cấp bậc cho mọi người khác và vì vậy mà mọi người cứ liên tục đánh giá phán xét lẫn nhau.
Chúng ta là bình đẳng vì chúng ta cùng mang tính người như nhau và nếu sự tôn trọng được dành cho mọi người như nhau thì thế giới sẽ tốt đẹp hơn rất nhiều.
Xã hội chúng ta đang sống đề cao một người vì giá trị của người đó đối với xã hội, không phải vì giá trị đích thực của người đó. Giống như việc bạn xem trọng người đối xử tốt với bạn, bất kể anh ta đối xử với người khác ra sao. Giống như việc bạn rất tôn trọng những người nổi tiếng, xinh đẹp, giàu có hay quyền lực bất kể họ chẳng liên quan gì tới cuộc đời bạn. Thật là ngớ ngẩn. Bạn dễ dàng tôn trọng những người không liên quan tới cuộc đời bạn nhưng những người ngay bên cạnh thì bạn lại lãng quên dễ dàng.
Nếu cuộc sống này cũng như bạn hẳn nó sẽ ưu tiên cho hoa hồng mà làm lơ tất cả mọi loài hoa dại khác. Nếu cuộc sống này cũng như bạn hẳn nó sẽ chỉ để cho cổ thụ mọc lên còn tất cả cỏ dưới chân sẽ bị thiêu rụi. Nhưng này, nếu không có hoa dại thì làm sao người ta thấy được cái đẹp của hoa hồng; nếu không có cỏ non dưới đất thì làm sao cổ thụ có thể vươn lên cao? Cỏ tạo ra dưỡng chất, cỏ làm thức ăn cho động vật, động vật ăn cỏ và sống sót, động vật ăn thịt ăn động vật ăn cỏ và sống sót, tất cả động vật thải ra dưỡng chất và cả chính chúng bị phân hủy làm cho đất màu mỡ mà từ đó cổ thụ mới có thể bắt rễ mà vươn cao được. Không có cỏ làm sao cổ thụ có thể tồn tại?
Nhưng tất cả những gì xã hội này đang làm là chỉ nhìn vào cổ thụ, nó to thế, mát thế, cho nhiều gỗ thế – thế thì nó đáng được tôn trọng hơn đám cỏ vô dụng kia – đấy là cách nghĩ của xã hội và nếu bạn là một nạn nhân trong xã hội thì đấy cũng là cách nghĩ của bạn. Bạn cho rằng tổng thống Mỹ thì đáng tôn trọng hơn người đi thu dọn rác giúp nhà bạn sạch sẽ mỗi ngày; bạn nghĩ một cô người mẫu xinh đẹp thì đáng tôn trọng hơn một cô giúp việc đang lau chùi căn nhà của bạn; bạn nghĩ một ai đấy làm bác sĩ trong bệnh viện thì đáng tôn trọng hơn một người hàng xóm đang thu đồ giúp bạn khi trời mưa… Đấy là cách bạn luôn đánh giá thế giới, bạn tôn trọng cổ thụ, bạn xem thường cỏ.
Chẳng biết vì một lý do nào đấy mà tôi luôn khác biệt với số đông ngay từ khi còn rất nhỏ. Tôi không nhớ nổi tên của các giáo viên từng dạy mình, nếu người đó không đi sâu được vào tâm hồn tôi. Tôi cũng chẳng mấy khi hứng thú việc đi thăm hỏi họ trong các dịp lễ và cũng không cho rằng ngành nhà giáo hiện tại thì “đáng tôn kính” hơn các ngành khác… Tôi “phải” tôn kính giáo viên vì họ dạy mình ư? Tại sao? Họ dạy tôi là công việc họ được nhận lương để làm, họ không dạy tôi vì yêu thương tôi, họ chưa từng nghĩ đến việc họ làm điều đó vì họ muốn, họ làm nó vì nghĩa vụ. Và kiểu giáo viên nào mới có mong muốn người khác phải biết ơn mình? Tôi không tôn trọng những giáo viên có cái ý nghĩ rằng người khác phải tôn trọng họ, kính mến họ chỉ vì họ là giáo viên. Tất nhiên có rất nhiều người giáo viên tốt, tận tâm và yêu nghề, tôi tôn trọng những giáo viên đó rất nhiều vì họ làm mọi việc vì cái tâm, không phải vì muốn được người khác ghi ơn hay đáp lễ. Tôi tôn trọng mọi giáo viên cũng hệt cách tôi tôn trọng chị lao công dọn rác hay bác bảo vệ giữ xe hay bất cứ người nào tôi gặp. Tôi không thô lỗ hay bất kính với họ nhưng kêu tôi phải thể hiện sự biết ơn và tôn trọng họ chỉ vì họ là giáo viên ư? Tôi không làm được. Tôi cảm ơn họ nhưng không phải biết ơn.
Và theo cách nào đó tôi lại rất thân với những người bị xã hội ít tôn trọng nhất, những người làm những công việc bị cho là tầm thường. Tôi thường xuyên trò chuyện, thăm hỏi những người giữ xe, lao công, giúp việc, người từng bị án tù. Tôi nhiệt thành cảm ơn khi ai đó dắt xe giúp tôi, thu rác cho nhà tôi bằng một sự trân quý tôi chưa từng dành cho bất cứ giáo viên nào… Chẳng hiểu sao tôi cảm thấy yêu mến họ thế, có lẽ vì tôi thích cỏ. Cỏ thật êm đềm và khiêm nhường.
Tôi tôn trọng tất cả những ai làm những việc tốt đẹp mà không màng được người khác tôn trọng và tôi không tôn trọng những ai làm mọi thứ chỉ để bắt người khác phải tôn trọng mình.
Thế giới này được lập trình để tất cả mọi người chỉ nhìn lên cổ thụ và tìm cách trở thành cổ thụ, thế giới này quên béng những bụi cỏ lùm dưới chân.
Người ta mệt mỏi phần nhiều là vì cố trèo lên cao để chinh phục cổ thụ, không mấy ai nghĩ đến việc nằm dài trên bãi cỏ mà nghỉ ngơi, thư giãn.
Có một bí mật lớn cho những người tìm sự tự do đích thực đó là nếu họ có thể buông nhu cầu được mọi người tôn trọng thì họ sẽ trở nên tự do rất rất nhiều.
Vì vậy, thay vì làm mọi cách để người khác tôn trọng mình, hãy chuyển hướng, hãy làm mọi cách để tự mình tôn trọng mình nhiều hơn.
Và một khi bạn tôn trọng bản thân đủ nhiều thì việc thế giới ngoài kia có tôn trọng bạn hay không cũng không còn quá quan trọng nữa.
Có hai loại tôn trọng: tôn trọng của thế giới bên ngoài làm mạnh bản ngã của bạn. Tôn trọng của thế giới bên trong, tức thế giới tâm linh thì giết chết bản ngã của bạn, nhưng làm mạnh ý thức và trái tim của bạn. Lý do đơn giản thôi, khi bạn tôn trọng bản thân một cách vô điều kiện thì bạn cũng nhận ra tất cả mọi người xung quanh cũng đều đáng được tôn trọng, một cách vô điều kiện hệt như bạn. Bạn nhận ra mình chẳng là ai cả để mà phán xét ai, thay vào đó bạn học được cách trở nên là một với mọi người, bạn hành xử với mọi người theo đúng cách bạn đối xử với bản thân bạn. Cái này bạn phải thực hành thì mới có thể hiểu được rõ hơn.
Có một nhân vật mà tôi tôn trọng hơn tất cả mọi nhân vật tôi từng đọc qua: Giáo sư Severus Snape trong tiểu thuyết Harry Potter – Ông ấy làm tất cả mọi việc vì tình yêu vĩ đại ông dành cho Lily – không cần được ai biết đến, không cần được thấu hiểu, không cần được sẻ chia – lẳng lặng làm mọi việc cần làm dù cho bị cả thế giới hiểu lầm, xem thường và phỉ nhổ. Tôi yêu ông ấy hơn cả người tôi yêu mến nhất là Dumbledore. Snape là kiểu người đáng tôn trọng nhất vì ông ấy không màng đến việc cần được người khác tôn trọng một chút nào.
Tôi ước ao chúng ta có thể sống trong một thế giới nơi mà sự tôn trọng mọi người dành cho nhau được đặt trên nền tảng của tình yêu, sự công bằng và hồn nhiên không tính toán – chứ không phải một thế giới như hiện tại nơi mà sự tôn trọng được đặt trên nền tảng của áp đặt, của phán xét, của vật chất, của hơn thua nhau và tính toán với nhau rất nhiều.
Tất cả mọi người đều tìm kiếm sự tôn trọng từ bên ngoài, từ những người khác bởi vì lý do đơn giản không một ai biết cách tự tôn trọng chính mình.
Nguồn: Internet
Nhiều người không phân biệt được sự khác nhau của việc: “Ta yêu một người vì ta cần họ” và “Ta cần một người vì ta yêu họ”.
Có nghĩa là, nếu như bạn yêu một người chỉ vì nếu thiếu đi người đó, bạn có thể sẽ không có được thứ mà bạn cần, ví dụ như bạn yêu họ vì bạn cần hơi ấm, bạn cần cái ôm của họ; bạn yêu họ vì bạn cần sự bao bọc, chở che, những lời khuyên của họ; bạn yêu họ vì bạn tìm được sự bình yên ở bên họ – thứ mà thiếu đi họ bạn sẽ ko cảm nhận được dễ dàng; hoặc như, bạn yêu họ vì họ san sẻ kinh tế cho bạn, bạn yêu họ vì họ tặng bạn những thứ bạn không tự mua được hoặc không dễ dàng tự mình mua được; bạn yêu họ vì họ cho bạn những món ăn ngon mà bạn sẽ phải rất vất vả mới được nếm thử,..
Vậy, bạn yêu một người vì bạn CẦN họ.
1. Bạn cần họ để lấp đầy khoảng trống bên trong bạn, là bạn nương nhờ vào sự xuất hiện của họ để che đi cảm giác bất lực bên trong mình, cảm giác vùng vẫy mà bạn không tin rằng bạn có thể tự mình thoát ra được.
Còn khi bạn cần một người vì bạn yêu họ thì sao? Một nhà khoa học (Silva) diễn giải rằng, từ “tình yêu” (love) là một động từ, chứ không phải là một danh từ. Có nghĩa là tình yêu là một hành động, chứ không phải là một biểu tượng hay một danh từ tượng trưng. Nếu như bạn cần ai đó, cái bạn cần là sự chú ý của họ, bạn cần những thứ cảm xúc mà bạn nhận được từ họ. Thì khi yêu, bạn đem tình cảm, suy nghĩ và thời gian của bạn gửi gắm lên họ, như một cách bày tỏ sự quan tâm, chăm sóc của bạn đến người đó.
Là bạn chỉ yêu họ, bạn không cần gì khác ngoài cái cảm giác hạnh phúc khi mà bạn làm điều gì đó cho họ. Cái cảm giác đó khiến bạn vui vẻ, cái cảm giác hạnh phúc xuất phát từ những việc mà bạn làm, chứ không phải là việc mà họ làm. Bạn cần họ vì bạn yêu họ, nghĩa là không có họ cũng không sao cả. Nghĩa là không có họ, thể giới của bạn cũng sẽ không hoàn toàn sụp đổ.
Nhưng bạn chỉ đơn giản muốn có họ ở bên cạnh, bạn muốn tự mình chăm sóc và yêu thương người ấy, vì bạn tin rằng người ấy quá tốt để bị ai khác làm tổn thương. Bạn cần họ, vì bạn tin rằng bản thân bạn có đủ sự ấm áp mà người đó cần, thế thôi.
Và bạn biết rằng người đó xứng đáng với một người sẵn sàng làm tất cả vì họ. Cho nên yêu bản thân bạn thật nhiều thì mới không tự làm mình tổn thương, bản thân phải lành lặn nguyên vẹn thì mới có thể bảo vệ người mà chúng ta muốn bảo vệ. Việc bạn không yêu chính mình sẽ gián tiếp làm đau người ở bên cạnh bạn.
𝗟𝘂𝘀𝘁 𝘃𝗲𝗿𝘀𝘂𝘀 𝗟𝗼𝘃𝗲
Gần đây mình đọc được trong cuốn sách “We need to talk about LOVE” của Laura Mucha có nói đến sự khác biệt rõ ràng của ham muốn, thèm khát mãnh liệt một người trong tình yêu (lust) và tình yêu (love). Nếu so sánh, thì “lust” sự thèm khát sự chú ý của ai đó sẽ như một màn pháo hoa rực rỡ ánh sáng trên bầu trời – còn love thì lại như những đốm lửa lách tách cháy trong ngọn lửa đêm cắm trại. Ta phải châm củi liên tục, ta phải để ý đến ngọn lửa và giữ nó ấm cháy – nếu không nó sẽ tắt dần; trong khi cảm giác khao khát mãnh liệt một ai đó xuất hiện dữ dội và bùng cháy với những âm thanh tiếng nổ sét đánh đùng đùng trong tim, nhưng nó sẽ qua đi rất nhanh nếu ta vô tình gạt cảm giác ấy ra khỏi tâm trí.
Mong rằng mỗi chúng ta, ai cũng phân biệt được rằng tình cảm mà bạn dành cho một người là “lust” hay “love”.
2. Các nhà tâm lý học tình nhận định rằng tình yêu thường có những kiểu khác nhau, ví như tình yêu xuất phát từ cái tôi (Ego love) và tình yêu xuất phát từ tâm hồn (soul love).
Tình yêu xuất phát từ cái tôi là khi ai đó yêu một người và không ngừng mong muốn người đó (mong muốn cả thể chất lẫn tâm hồn), là khi ta muốn biết tất cả mọi thứ về họ: suy nghĩ, cảm xúc của họ; họ cần gì, họ muốn gì, quá khứ của họ như thế nào, muốn trở thành hiện tại của họ, và muốn cả 2 phải cùng mơ về một tương lai giống nhau. Và rồi, chúng ta cũng mong muốn họ phải làm điều tương tự với chúng ta. Tình yêu từ cái tôi được tạo ra từ những điều kiện và mong muốn cá nhân. Tình yêu này sẽ như là: “em yêu anh, nhưng anh phải thay đổi abc xyz”, “em muốn có hạnh phúc, nên hạnh phúc của anh cũng phải gắn liền với em”. Tình yêu từ cái tôi sẽ luôn có điều kiện, và luôn gắn liền với mong muốn nào đó.
Có nghĩa là, nếu như người đó không làm theo những điều mà trong lòng bạn muốn, hay phá vỡ cái mong muốn tươi đẹp trong lòng bạn, bạn sẵn sàng làm họ đau khổ, làm họ thấy tội lỗi, điều khiển cảm xúc của họ.
Tuy nhiên, loại còn lại – tình yêu xuất phát từ tâm hồn không có bất kì sự kiểm soát hay áp đặt mong muốn nào cả. Là chúng ta thực sự mong cầu họ hạnh phúc, thậm chí hạnh phúc đó không có chúng ta. Là “em yêu anh, cho dù anh không muốn có em. Em sẽ không làm tổn thương anh và cũng không gây ảnh hưởng gì tới anh nếu như anh quyết định không bước vào cuộc đời em/ không yêu em nữa.”
Có nghĩa là nếu bạn yêu họ từ tâm hồn, từ thực tâm mong họ hạnh phúc. Thì dù cho người đó có sai lầm, có phản bội bạn thì bạn cũng sẽ chọn cách rời đi mà không làm tổn thương họ. Bạn sẽ hy vọng rằng sự phản bội đó có thể khiến họ hạnh phúc, bạn sẽ nghĩ rằng nếu như người kia cho họ hạnh phúc hơn thứ mà bạn có thể làm. Nếu như ở bên người khác, người đó đối xử tốt với họ, tại sao lại ngăn cản? Điều khiến bạn đau khổ sẽ là là suy nghĩ ‘liệu người khác có làm họ hạnh phúc, có yêu họ thật lòng như bạn yêu hay không?”, “nếu người kia không trân trọng họ thì sao?” chứ không phải là cảm xúc căm ghét vì bạn mất đi “thứ mà bạn nghĩ là thuộc về bạn”.
Tình yêu từ tâm hồn cần sự kiên nhẫn, sự thấu hiểu bản thân mình. Nếu bạn thực sự muốn chuyển từ tình yêu xuất phát từ cái tôi sang tình yêu từ tâm hồn, bạn nên ngẫm nghĩ xem điều gì khiến bạn yêu người đó? Là những cái họ cho bạn, những thứ đó người khác có thể cho bạn hay không? Và nếu không có những thứ bạn thich ở họ, bạn có còn yêu họ nữa hay không?
Mình từng đọc ở đâu đó rằng, khi bạn để gai nhọn của thế giới này cắm đầy người, thì người bị tổn thương tiếp theo chính là người muốn ôm lấy bạn.
Sẽ không có ai đó xuất hiện và cứu rỗi cuộc đời của chúng ta. Sẽ không có chàng hoàng tử cưỡi ngựa trắng nào đến xoa dịu đi nỗi đau và sự cô đơn, trống vắng trong lòng chúng ta.
Chúng ta, có sứ mệnh phải tự cứu rỗi lấy cảm xúc và cuộc đời mình. Đừng tiếc nuối những thời gian cô đơn một mình, hay phải một mình ra ngoài vào dịp lễ. Nếu chúng ta không dám đối diện với bản thân, không biết mình là ai, thì làm sao người khác có thể yêu được con người thật của bạn?
Hãy trở thành một ngôi nhà ấm áp của bản thân, xây nó mỗi ngày, từng bước một.
3. Với những người đã và đang tự trách bản thân mình sau một cuộc tình rằng:” Mình đã làm gì sai?”, “Tại sao anh ấy lại không yêu mình nữa?”. Câu trả lời thực ra lại rất tích cực: Là vì chưa phù hợp. Là bạn và anh ấy đều chưa có điều mà đối phương tìm kiếm, hoặc chưa đủ. Không bao giờ là lỗi của ai cả, mà là điều bạn cần anh ta không có đủ, điều anh ấy cần có thể lại ở nơi khác. Không phù hợp, không phải là lỗi của bất kì ai!
Giống như không phải ai cũng làm việc ban ngày, không phải ai cũng dậy sớm. Nếu vào 6h sáng bạn đem một tô bún bò đến trước mặt một người hay dậy trễ, cho dù có ngon đến mấy họ cũng sẽ chỉ muốn ngủ tiep chứ không muốn ăn.
Cũng như, nếu bạn đưa một tô cơm trắng xì dầu trước mặt một người đang đói, họ sẽ ăn sạch.
Vậy đó, không phải là bạn không tốt, mà là họ chưa rung động nhiều đến mức phải giữ bạn lại mà bỏ qua thứ họ muốn mà thôi.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã từng nói: “Khi bạn yêu một điều gì đó, hãy để nó tự do.”
Cũng như khi bạn yêu một ai đó, hãy để họ tự do.
Tự do không có nghĩa là vô tâm vô phế vô trách nhiệm, mà là để họ được làm chính mình, để họ được sống theo ý họ muốn.
4. Lễ tình nhân – chúc mừng và cảm ơn tình yêu mà ta dành cho bản thân
Nếu như chúng ta chỉ yêu và hiểu bản thân mình có 20%, thì khi người khác đến và yêu bạn 30% – bạn sẽ nghĩ rằng họ yêu bạn quá nhiều, hơn hẳn 10% luôn. Nhưng thực ra, con số 30% nó còn chưa tới được 1 nửa của thang điểm. Có nghĩa là, nếu bạn không yêu bản thân đủ nhiều thì bạn sẽ dễ dàng chấp nhận tình yêu hời hợt của người khác và chấp nhận nó một cách tôn sùng. Nhưng nếu bạn yêu bản thân 100%, người khác sẽ phải yêu bạn hơn cả con số đó thì bạn mới chấp nhận họ, và họ sẽ phải trân trọng giá trị của bạn, tôn trọng và yêu thương bạn rất nhiều thì mới làm được điều đó.
Chăm sóc cơ thể như cách mà bạn muốn chăm sóc người khác, bắt đầu từ những việc nhỏ nhất, nếu bạn thấy mình vượt quá số cân nặng mà bạn muốn, thay vì nhịn ăn hoặc uống thuốc giảm cân, hãy tìm hiểu những cách ăn uống làm sao mà vừa có tác dụng, vừa không ảnh hưởng đến sức khoẻ. Nếu bạn thấy da bạn không được mịn như bạn muốn, hãy bắt đầu từ việc dưỡng ẩm, tẩy tế bào chết. Nếu bạn thấy bản thân mình không có khiếu ăn nói, hãy bắt đầu bằng cách thận trọng lời nói, nếu như không chắc chắn thì tốt nhất là không cần nói ra.
Cuộc sống này sẽ dễ dàng hơn rất nhiều nếu chúng ta luôn nhớ trong lòng rằng những người xung quanh, gia đình, bạn bè, người yêu – họ không phải là chúng ta. Đừng hi vọng họ sẽ nói những lời mà chúng ta sẽ nói, làm những việc mà chúng ta sẽ làm, hay cảm nhận được những điều mà chúng ta sẽ cảm nhận. Nếu như bạn muốn họ phải làm những điều mà bạn nghĩ là đúng, là nên làm thì bạn sẽ chỉ tìm thấy sự thất vọng, đổ vỡ và nhận lấy cảm giác như “cuộc sống này không công bằng”. Đừng đối xử với người khác theo cách mà bạn muốn được đối xử, hãy đối xử với họ theo cách mà họ muốn được đối xử. Tất cả chúng ta đều khác nhau, và đôi mắt của họ sẽ nhìn thấy những mảng màu cuộc sống khác với đôi măt của bạn. Sẽ thật kì cục nếu chúng ta hi vọng họ có thể nhìn thấy những điều mà chúng ta nhìn thấy, và ngược lại, nếu bạn không nhìn thấy thứ họ đã từng thấy, bạn lấy quyền gì mà nói rằng bạn hiểu và yêu họ hoàn toàn?
Link tiếng anh về ego love và authentic love https://thriveglobal.com/…/ego-love-or-authentic-love…/
Nguồn: Nguyễn Lê Hoài Thương – Psychology facts – Tâm lý học và xã hội học Việt Nam
Trong diễn văn trao cho các đại diện của Liên đoàn Bệnh hiếm Ý vào trưa ngày 13/2, Đức Thánh Cha khuyến khích họ tiếp tục dấn thân trong việc liên đới giúp đỡ nhau. Ngài cũng xin Đức Mẹ đồng hành với mỗi người và mỗi gia đình đang đối mặt với căn bệnh hiếm gặp.
Hồng Thủy – Vatican News
Liên đoàn Bệnh hiếm gặp của Ý là một liên minh phi lợi nhuận gồm hơn 150 hiệp hội cùng hợp tác để cải thiện cuộc sống của những người mắc bệnh hiếm gặp, hỗ trợ gia đình họ và bênh vực quyền lợi của họ bằng cách thiết lập mạng lưới với các bên liên quan chính, bao gồm cả các nhà hoạch định chính sách.
Chia sẻ
Khẩu hiệu của Liên đoàn Bệnh hiếm Ý là “Chia sẻ”. Theo Đức Thánh Cha, khẩu hiệu này có thể được tóm lại trong từ “Chúng ta hãy liên kết lại” và ngài kêu gọi họ hãy liên kết các kinh nghiệm, sức mạnh và hy vọng.
Sự cần thiết và chọn lựa
Đức Thánh Cha nhận định rằng giá trị đầu tiên của Liên đoàn Bệnh hiếm chính là sự chia sẻ; sự chia sẻ này ban đầu là một điều cần thiết và sau đó trở thành một chọn lựa. Ngài giải thích rằng khi cha mẹ phát hiện con mình mắc một căn bệnh hiếm gặp, họ cần làm quen với những cha mẹ cũng đã và đang có con cái như họ. Rồi họ cần đến một hiệp hội quy tụ những người hàng ngày đối phó với căn bệnh đó: họ biết các triệu chứng, phương pháp điều trị, trung tâm điều trị, v.v. Dần dần, cách chia sẻ này trở thành một sự lựa chọn, vì hai lý do.
Ích lợi và tình bạn
Đức Thánh Cha nói: “Đầu tiên là chúng ta nhận ra rằng nó hữu ích, nó giúp chúng ta, nó cung cấp cho chúng ta các giải pháp, ít nhất là tạm thời, nó giúp chúng ta định hướng một chút trong hoàn cảnh mù mờ này. Và động lực thứ hai đến từ niềm vui của các mối quan hệ con người, từ những điều tốt đẹp mà tình bạn mang lại cho chúng ta với những người mà thậm chí cho đến ngày hôm qua chúng ta còn chưa biết và những người bây giờ chia sẻ kinh nghiệm của họ với chúng ta để giúp chúng ta cùng nhau gánh vác một hoàn cảnh rất nặng nề.”
Đóng góp cho công ích
Kế đến, theo Đức Thánh Cha, các hiệp hội còn có một giá trị quan trọng khác ở mức độ xã hội và chính trị, đó là tiềm năng đóng góp cho công ích. Cụ thể trong trường hợp của Liên đoàn Bệnh hiếm, họ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ y tế của một quốc gia, một vùng, một lãnh thổ.
Bên cạnh đó, hiệp hội có thể gây áp lực để vượt qua các rào cản quốc gia và thương mại để chia sẻ kết quả nghiên cứu khoa học, để có thể đạt được những mục tiêu mà ngày nay dường như rất xa vời, cũng như là tiếng nói cho những người đơn độc, những người không được lắng nghe. (CSR_677_2023)
Nói bằng trái tim
“Sự thật trong tình yêu” (Ep 4,15)
Anh chị em thân mến,
Sau khi đã suy ngẫm trong những năm qua về các động từ “đến mà xem” và “lắng nghe” như những điều kiện để truyền thông tốt đẹp, với Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 57 này, tôi muốn tập trung vào việc “nói bằng trái tim”. Chính trái tim đã thôi thúc chúng ta đi, để nhìn và để lắng nghe, và chính trái tim đã đưa chúng ta đến với cung cách truyền thông cởi mở và niềm nở.
Một khi chúng ta đã thực hành lắng nghe, vốn đòi hỏi phải chờ đợi và kiên nhẫn, cũng như từ bỏ khẳng định quan điểm của mình một cách tiên quyết, thì chúng ta có thể bước vào động lực của đối thoại và chia sẻ, vốn chính là động lực của giao tiếp cách thân tình.
Sau khi lắng nghe người khác bằng con tim trong sáng, chúng ta cũng có thể nói theo sự thật trong tình yêu (x. Ep 4,15). Chúng ta đừng sợ phải công bố sự thật, cho dù có khi sự thật không dễ chịu, nhưng hãy sợ rằng chúng ta công bố sự thật mà không có bác ái, không có trái tim. Bởi vì như Đức Bênêđictô 16 đã viết, “chương trình của Kitô hữu là ‘một trái tim biết nhìn’”.[1] Một trái tim với nhịp đập của nó sẽ tỏ lộ sự thật về bản thân chúng ta và chính vì thế mà cần phải được lắng nghe.
Điều này khiến cho người nghe tự điều chỉnh tần số, để có thể nghe thấy nhịp tim của người khác trong chính trái tim của mình. Khi ấy, phép lạ của gặp gỡ có thể xảy ra, khiến chúng ta nhìn nhau với lòng thương cảm, đón nhận những yếu đuối của nhau với lòng tôn trọng thay vì phán xét qua tin đồn và gieo rắc bất hòa và chia rẽ.
Chúa Giêsu cảnh báo chúng ta rằng xem quả thì biết cây (x. Lc 6,44): “Người lành do lòng chứa điều thiện mà sinh ra điều thiện, còn kẻ dữ do lòng chứa điều ác mà phát ra điều ác; vì trong lòng có đầy, miệng mới nói ra” (c. 45). Đây là lý do tại sao, để có thể thông truyền chân lý trong yêu thương, cần phải thanh tẩy tâm hồn mình.
Chỉ khi biết lắng nghe và nói bằng một trái tim trong sáng, chúng ta mới có thể nhìn xa hơn những vẻ bề ngoài và vượt qua được những tiếng ồn ào hỗn độn, cả trong lĩnh vực truyền thông, khiến chúng ta khó phân định được trong một thế giới phức tạp mà chúng ta đang sống.
Lời kêu gọi nói bằng trái tim thách thức triệt để thời đại mà chúng ta đang sống, một thời đại rất dễ dẫn đến sự thờ ơ và phẫn nộ, thậm chí đôi khi còn dựa trên những thông tin sai lệch, bóp méo và lạm dụng sự thật.
Giao tiếp thân tình
Giao tiếp thân tình có nghĩa là những người đọc hoặc lắng nghe chúng ta đều hiểu được rằng chúng ta đang chia sẻ niềm vui, nỗi sợ, niềm hy vọng và nỗi đau của những con người trong thời đại chúng ta.
Những người nói chuyện theo cách thức này sẽ yêu thương tha nhân vì họ quan tâm và bảo vệ chứ không xâm phạm quyền tự do của người khác.
Chúng ta có thể thấy cung cách này nơi người lữ khách bí ẩn đối thoại với các môn đệ trên đường Emmaus, sau thảm kịch xảy ra tại Golgotha. Chúa Giêsu Phục Sinh nói với họ bằng trái tim, đồng hành với hành trình đau khổ của họ một cách tôn trọng, đề nghị chứ không áp đặt, âu yếm mở trí cho họ hiểu ý nghĩa sâu xa của những gì đã xảy ra. Thật vậy, họ có thể vui mừng thốt lên rằng tâm hồn họ bừng cháy khi Người nói chuyện với họ trên đường và giải thích Kinh Thánh cho họ (x. Lc 24,32).
Trong một giai đoạn lịch sử được đánh dấu bởi những phân cực và mâu thuẫn – mà tiếc thay, ngay cả cộng đoàn giáo hội cũng không được miễn nhiễm –, việc dấn thân truyền thông “với trái tim và vòng tay rộng mở” không chỉ dành riêng cho những người trong lĩnh vực truyền thông mà là trách nhiệm của mọi người. Tất cả chúng ta đều được mời gọi tìm kiếm và nói lên sự thật và làm như vậy với lòng bác ái. Đặc biệt, các Kitô hữu chúng ta luôn được khuyên bảo phải giữ gìn miệng lưỡi, đừng nói lời gian ác (x. Tv 34,14), bởi vì như Kinh thánh dạy, chúng ta có thể dùng lưỡi để vừa chúc tụng Chúa vừa nguyền rủa những con người được dựng nên giống Thiên Chúa (x. Gc 3,9). Miệng chúng ta không được phép thốt ra bất kỳ một lời xấu xa nào, mà “chỉ được nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và mang ích lợi cho người nghe.” (Ep 4,29).
Đôi khi những cuộc trò chuyện thân thiện có thể mở được lối vào trong những trái tim cứng cỏi nhất. Chúng ta thấy có những bằng chứng về điều này trong văn học. Tôi nghĩ đến một trang đáng nhớ trong chương 21 của cuốn tiểu thuyết ‘Những Kẻ Hứa Hôn’, trong đó Lucia nói bằng cả trái tim với Kẻ Giấu Tên cho đến khi anh này bị tước ‘vũ khí’, nội tâm chao đảo rồi đầu hàng trước sức mạnh dịu dàng của tình yêu. Chúng ta trải nghiệm điều này trong xã hội, nơi lòng tốt không chỉ là “phép xã giao” mà còn là liều thuốc giải độc thực sự cho sự tàn ác – là điều không may có thể đầu độc trái tim và khiến các mối quan hệ trở nên độc hại. Chúng ta cần lòng tốt trong lĩnh vực truyền thông, để việc giao tiếp không nuôi dưỡng sự oán giận gây phẫn nộ, không tạo ra sự tức giận dẫn đến đối đầu, nhưng giúp mọi người bình tĩnh suy nghĩ, giải mã thực tế họ đang sống, với tinh thần phê phán mà vẫn luôn tôn trọng nhau.
Giao tiếp từ trái tim đến trái tim: “Cứ thương yêu cho tốt đẹp thì sẽ biết diễn tả cách tốt đẹp”
Một trong những ví dụ sống động và hấp dẫn nhất về việc “nói bằng trái tim” là chính Thánh Phanxicô Salêsiô, Tiến sĩ Hội thánh, người mà tôi đã viết trong Tông thư Totum Amoris Est, 400 năm sau khi ngài qua đời. Ngoài ngày kỷ niệm quan trọng này, tôi muốn đề cập đến một ngày kỷ niệm khác diễn ra vào năm 2023: kỷ niệm 100 năm ngày Đức Piô XI công bố Thông điệp Rerum Omnium Perturbationem, đặt Thánh Phanxicô Salêsiô là đấng bảo trợ các nhà báo Công giáo.
Là một trí thức lỗi lạc, một nhà văn viết nhiều và một nhà thần học sâu sắc, Thánh Phanxicô Salêsiô là Giám mục của Geneva vào đầu thế kỷ 17 trong những năm khó khăn được đánh dấu bằng những cuộc tranh chấp gay gắt với những người theo thuyết Calvino. Thái độ hiền lành, nhân bản và sẵn sàng kiên nhẫn đối thoại với mọi người, đặc biệt với những người bất đồng với ngài, đã khiến ngài trở thành chứng nhân phi thường về tình yêu thương xót của Thiên Chúa.
Người ta có thể nói về ngài: “Ăn nói dịu dàng thì tăng thêm bạn hữu, phát biểu dễ thương thì tăng thêm tình thân ái” (Hc 6,5). Rốt cuộc, một trong những câu nói nổi tiếng nhất của ngài, “trái tim nói với trái tim”, đã truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ tín hữu, trong số đó có Thánh John Henry Newman, người đã chọn nó làm phương châm sống: Cor ad cor loquitur – Trái tim nói với trái tim. Một trong những xác tín của ngài là “Cứ yêu thương cho thật tốt đẹp thì sẽ nói hay, nói tốt”.
Điều này cho thấy rằng đối với thánh nhân, giao tiếp không bao giờ được giảm thiểu xuống thành một thứ gì đó giả tạo, thành một chiến lược tiếp thị, như chúng ta có thể nói ngày nay, mà đúng hơn là sự phản ánh của tâm hồn, là mặt thấy được của hạt nhân tình yêu mà mắt thường không thể nhìn thấy. Đối với Thánh Phanxicô Salêsiô, chính “trong trái tim và qua trái tim mà tiến trình hiệp nhất tinh tế và mạnh mẽ này được thực hiện, nhờ đó con người nhận biết Thiên Chúa”.[2] Bằng cách “yêu cho tốt đẹp”, Thánh Phanxicô đã thành công khi giao tiếp với người câm điếc Martin, bằng cách làm bạn với người ấy. Đây là lý do tại sao ngài còn được gọi là đấng bảo vệ những người bị khuyết tật trong giao tiếp.
Chính từ “tiêu chuẩn yêu thương” này, qua các bài viết và chứng tá đời sống của mình, vị thánh Giám mục thành Geneva đã nhắc nhở chúng ta rằng “chúng ta giao tiếp thế nào thì chúng ta là như thế”. Điều này đi ngược lại xu hướng ngày nay, là thời đại mà – như ta đặc biệt trải nghiệm trên mạng xã hội – truyền thông thường bị lợi dụng nhằm làm cho thế giới thấy chúng ta như chúng ta muốn, chứ không phải như chúng ta vốn là.
Thánh Phanxicô Salêsiô đã phổ biến nhiều bản sao các bài viết của mình trong cộng đồng Geneva. Trực giác “báo chí” này đã làm cho danh tiếng của ngài nhanh chóng vượt ra ngoài giáo phận và vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Thánh Phaolô VI đã nhận xét rằng đọc các bài viết của ngài thật là “thú vị, bổ ích và cảm động”.[3] Chẳng phải đây chính xác là những đặc điểm mà một bài báo, một phóng sự, một chương trình truyền hình hoặc truyền thanh hay một bài đăng trên mạng xã hội phải có hay sao, nếu chúng ta nhìn vào lĩnh vực truyền thông ngày nay? Ước gì những người làm việc trong lĩnh vực truyền thông cảm thấy được truyền cảm hứng từ vị thánh dịu dàng này, khi tìm kiếm và nói lên sự thật với lòng can đảm và tự do, đồng thời từ chối cơn cám dỗ sử dụng những cách diễn đạt giật gân và gây hấn.
Nói bằng trái tim trong tiến trình hiệp hành
Như tôi đã nhấn mạnh, trong Giáo hội cũng vậy, rất cần lắng nghe và nghe lẫn nhau. Đó là món quà trao tặng sự sống quý giá nhất mà chúng ta có thể dành cho nhau.[4] Lắng nghe không thành kiến, chăm chú và cởi mở, sẽ đưa đến cung cách nói của Thiên Chúa, được nuôi dưỡng bằng sự gần gũi, cảm thông và dịu dàng. Trong Giáo hội, chúng ta rất cần một nền truyền thông vỗ về các tâm hồn, đó là dầu xoa dịu những vết thương và soi sáng hành trình của anh chị em chúng ta.
Tôi mơ ước Hội Thánh có một nền truyền thông biết để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn, một nền truyền thông dịu dàng và đồng thời mang tính ngôn sứ, biết tìm ra những cách thức và phương tiện mới cho sứ mạng loan báo tuyệt vời mà Hội Thánh được mời gọi thi hành trong thiên niên kỷ thứ ba. Một nền truyền thông đặt trọng tâm vào mối tương quan với Thiên Chúa và tha nhân, đặc biệt là với những người túng thiếu nhất, và biết cách thắp lên ngọn lửa đức tin hơn là cứ giữ lấy đống tro tàn của một căn tính tự quy chiếu. Một hình thức giao tiếp dựa trên thái độ khiêm tốn lắng nghe và thẳng thắn trong lời nói, vốn không bao giờ tách rời sự thật khỏi lòng bác ái.
Giải giáp linh hồn bằng cách thúc đẩy một ngôn ngữ hòa bình
Sách Châm ngôn (25,15) nói: “Lưỡi mềm sẽ làm gãy xương”. Ngày nay hơn bao giờ hết, nói bằng trái tim là điều cần thiết để nuôi dưỡng một nền văn hóa hòa bình ở những nơi có chiến tranh, để mở ra những con đường cho phép đối thoại và hòa giải ở những nơi mà giận ghét và thù hận hoành hành.
Trong bối cảnh bi đát của cuộc xung đột toàn cầu mà chúng ta đang trải qua, điều cấp bách là phải duy trì một hình thức truyền thông không mang tính thù địch. Cần phải khắc phục khuynh hướng “phỉ báng và xúc phạm đối thủ ngay từ đầu [thay vì] mở ra một cuộc đối thoại tôn trọng”.[5] Chúng ta cần những nhà truyền thông biết đối thoại, tham gia vào việc thúc đẩy giải trừ quân bị toàn diện và cam kết loại bỏ chứng rối loạn tâm thần hiếu chiến đang ngự trị trong tâm hồn chúng ta, như Thánh Gioan 23 đã nói tiên tri khi thúc giục trong thông điệp ‘Pacem in Terris – Hòa Bình Trên Thế Giới’: “Hòa bình đích thực chỉ có thể được xây dựng trong sự tin tưởng lẫn nhau” (số 113). Một sự tin tưởng cần có những người giao tiếp không cố thủ hay khép kín, nhưng táo bạo và sáng tạo, sẵn sàng chấp nhận rủi ro hầu tìm ra điểm chung để gặp gỡ.
Giống như 60 năm trước đây, chúng ta hiện cũng đang sống trong giờ phút đen tối, khi mà nhân loại lo sợ chiến tranh leo thang. Cần phải chấm dứt càng sớm càng tốt sự leo thang của chiến tranh, kể cả ở cấp độ thông tin liên lạc. Thật đáng sợ khi nghe những lời kêu gọi hủy diệt con người và lãnh thổ được nói ra cách dễ dàng đến thế. Thật không may, những lời nói thường biến thành những hành động hiếu chiến của bạo lực ghê tởm. Đây là lý do tại sao phải bác bỏ mọi luận điệu hiếu chiến, cũng như mọi hình thức tuyên truyền xuyên tạc bóp méo sự thật vì mục đích ý thức hệ. Thay vào đó, điều phải được thúc đẩy là một hình thức truyền thông giúp tạo ra những điều kiện để giải quyết những xung đột giữa các dân tộc.
Là Kitô hữu, chúng ta biết rằng vận mệnh của hòa bình được định đoạt nhờ tâm hồn hoán cải, vì vi rút chiến tranh phát xuất từ trong tâm hồn con người.[6] Những lời đúng đắn từ trái tim sẽ xua tan bóng tối của một thế giới khép kín và chia rẽ và xây dựng một nền văn minh tốt đẹp hơn nền văn minh mà chúng ta đã nhận được. Đây là một nỗ lực đòi hỏi mỗi người chúng ta phải tham gia, nhưng đặc biệt kêu gọi tinh thần trách nhiệm của những người làm việc trong lĩnh vực truyền thông phải tác nghiệp như là thi hành một sứ mạng vậy.
Xin Chúa Giêsu – Lời tinh tuyền tuôn trào từ trái tim Chúa Cha – giúp chúng ta thực hiện việc truyền thông một cách rõ ràng, cởi mở và chân tình.
Xin Chúa Giêsu – Lời nhập thể – giúp chúng ta lắng nghe nhịp đập của con tim, để tái khám phá mình là anh chị em của nhau, và giải trừ sự thù địch gây chia rẽ.
Xin Chúa Giêsu – Lời của sự thật và tình yêu – giúp chúng ta nói lên sự thật trong bác ái, để chúng ta cảm thấy mình là những người bảo vệ lẫn nhau.
Rôma, Đền thờ Gioan Lateranô, ngày 24-1-2023, lễ nhớ Thánh Phanxicô Salêsiô.
Phanxicô
Vi Hữu & Minh Đức chuyển ngữ
WHĐ (12.02.2023)
[1] Thông điệp Deus Caritas Est (25 tháng 12 năm 2005), 31.
[2] Tông thư Totum Amoris Est (28 tháng 12 năm 2022).
[3] X. Tông thư Sabaudiae Gemma, nhân Kỷ niệm 400 năm ngày sinh của Thánh Phanxicô Salêsiô, Tiến sĩ Hội thánh (29 tháng 1 năm 1967).
[4] Sứ điệp nhân Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 56 (24 tháng 1 năm 2022).
[5] Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10 năm 2020), 201.
[6] X. Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới lần thứ 56 (01/01/2023).
Mặc dù Đức Thánh Cha và Tòa Thánh cảnh giác “Con đường Công nghị” về những sai trái, nhưng giới chủ trương và lãnh đạo Con đường này tỏ ra bất chấp và tiếp tục dẫn Giáo Hội Công giáo tại Đức tiến về một tương lai bấp bênh và sa sút. Họ đã không rút ra được bài học nào từ Công Đồng Mục vụ Hòa Lan.
Giuse Trần Đức Anh, O.P.
Hiện tượng đáng lo âu
Thống kê mới nhất về việc thực hành đạo tại Hòa Lan không lạc quan tí nào: công bố của các Giám Mục Hòa Lan trước cuộc hành hương về Roma thăm Tòa Thánh (Ad limina) hồi tháng 11 năm ngoái cho thấy số tín hữu Công Giáo thực hành đạo tại nước này chỉ có 2,7% trong năm 2022.
Tuy tại nhiều miền ở Âu Mỹ đều có hiện tượng xa lìa Kitô giáo, nhưng tại Hòa Lan tình trạng từ bỏ đức tin Công Giáo mạnh hơn so với các nước láng giềng. Một số chuyên gia nhận thấy sự sa sút trầm trọng này là hậu quả trực tiếp của Công đồng mục vụ toàn quốc Hòa Lan hồi thập niên 1960 sau Công đồng chung Vatican II do các giáo sĩ và thần học gia nhắm hiện đại hóa Giáo Hội bằng cách thay đổi đạo lý.
Theo phúc trình mới nhất của Hội Đồng Giám Mục Hòa Lan, quốc gia vốn có truyền thống theo Tin Lành Calvin, các tín hữu Công Giáo là nhóm Kitô hữu đông nhất tại nước này với 20,8% trong số hơn 17 triệu dân. Tuy nhiên số tín hữu Công Giáo thực hành đạo giảm hơn 1 phần 3, tức là 36% trong thời kỳ đại dịch Covid-19 từ 2019 đến 2022. Sự giảm sút hằng năm vào khoảng 6%.
Trong số những con số đáng báo động, số người chịu phép rửa tội giảm 2 phần 3 trong vòng 10 năm, tức là từ 19.680 trong năm 2012 xuống còn 6.300 trong năm 2021, và số hôn phối Công Giáo giảm gần 5 lần, từ 2.915 xuống còn 660 trong cùng thời gian đó.
Cách đây vài tháng, giáo phận Amsterdam thông báo hơn 60% nhà thờ trong giáo phận này sẽ bị đóng cửa trong vòng 5 năm tới đây vì số tín hữu đi nhà thờ giảm sút và giáo xứ không còn tài chánh do tín hữu đóng góp.
Nguyên nhân số tín hữu giảm sút
Nhận định về hiện tượng sa sút trên đây, Đức Hồng Y Willem Eijk, Tổng Giám Mục Utrecht, Giáo chủ Công Giáo, nói rằng tất cả 7 giáo phận toàn quốc đều bị tình trạng phải đóng cửa nhà thờ. Theo Đức Hồng Y, nguyên nhân sự giảm sút này bắt nguồn từ những biến cố trong thập niên 1960, với hậu quả là chỉ trong vòng 10 năm, từ 1965 đến 1975, số tín hữu đi nhà thờ giảm một nửa. Xu hướng này còn tiếp tục ngày nay tuy ở cường độ bớt thê thảm hơn so với 10 năm đầu. Tình trạng 60 năm đức tin liên tục bị hao mòn khiến Đức Hồng Y Eijk đi tới kết luận đau thương rằng: “Chúa Kitô đã trở nên một nhân vật kể như là xa lạ đối với hầu hết người Hòa Lan ngày nay”.
Trong phần thứ hai của thập niên 1960, một số đông người trẻ Công Giáo quyết định không đi nhà thờ Chúa Nhật nữa. Ngày nay họ trở thành ông bà nội ngoại. Họ rất ít thông truyền đức tin cho con cháu. Những tín hữu Công Giáo cao niên đang qua đi, và người trẻ Công Giáo, trong hầu hết các trường hợp, đều không xin rửa tội cho con cái nữa.”
Thêm vào đó, đời sống sung túc gia tăng mau lẹ tại Hòa Lan và các nước miền bắc Âu Châu láng giềng hồi đó cũng tạo điều kiện cho trào lưu cá nhân chủ nghĩa cao độ, và người dân tại các nước ấy có xu hướng không còn thấy sự siêu việt và thuộc về một cộng đoàn là điều cần thiết nữa.
Vai trò xúc tác của Công đồng mục vụ Hòa Lan
Nhiều học giả nhận định rằng không thể hiểu cuộc khủng hoảng đức tin sâu đậm tại Hòa Lan trong thế kỷ 20 nếu không để ý tới “Công đồng mục vụ”, một biến cố lớn của Công Giáo diễn ra từ năm 1966 đến 1970 tại thành phố Noordweijlerhout, ở miền tây Hòa Lan, sau Công đồng chung Vatican II.
Một trong các học giả vừa nói là Đức ông Paul Hamans, tác giả nhiều nghiên cứu về vấn đề này, trong đó có cuốn “Công đồng mục vụ của giáo tỉnh Hòa Lan 1966-1970”.
Đức ông Hamans kể lại rằng sau khi kết thúc Công đồng chung Vatican II, các Giám Mục Hòa Lan về nước và ủy thác cho Viện Mục Vụ của giáo tỉnh Hòa Lan (PINK) trách vụ phối hợp việc ứng dụng toàn quốc các quyết định của Công đồng. Viện Mục Vụ phát động sáng kiến gọi là “Công đồng mục vụ” gồm một loạt các cuộc họp công cộng, tham khảo ý kiến các nhà thần học và chuyên gia giáo dân thuộc các tầng lớp khác nhau, trong đó có những đề nghị “lạ thường” được đưa ra để đổi mới đức tin Công Giáo. Viện Mục vụ và một số thần học gia nghĩ rằng Công đồng chung Vatican II đã đoạn tuyệt Giáo Hội với quá khứ. “Họ cảm thấy được kêu gọi sáng chế Giáo Hội tương lai bằng cách giải thích các dấu chỉ thời đại, thay vì lấy Mặc Khải làm điểm khởi hành (…). Đề nghị hàng đầu của Công đồng mục vụ là bãi bỏ độc thân giáo sĩ, một đề nghị hoàn toàn trái ngược với Công đồng chung Vatican II vì Công đồng quyết định duy trì luật này”.
Đức ông Hamans kể rằng “Các Giám Mục bị sức ép. Đức Hồng Y Bernardus Johannes Alfrink [Tổng Giám Mục giáo phận Utrecht từ 1955 đến 1975] được gửi đến Roma để thu xếp với Tòa Thánh về việc bãi bỏ luật độc thân Linh Mục cho Hòa Lan”, nhưng Đức Giáo Hoàng Phaolô VI hai lần công khai bác bỏ yêu cầu này. “Đức Hồng Y Alfrink không được Đức Giáo Hoàng tiếp kiến cho đến tháng 7 năm 1970 và là người đầu tiên tuyên bố không còn yêu cầu bãi bỏ luật độc thân”.
Theo Đức ông Hamans, sáng kiến không thành công này của Hòa Lan là kết quả sự giải thích sai trái ý niệm đoàn thể tính của hàng Giám Mục do Công đồng Vatican II cổ võ. Họ giải thích đặc tính này như một hình thức dân chủ và tham gia mà không để ý đến chỗ đứng đặc biệt của Đức Giáo Hoàng như trung tâm sự hiệp nhất của Giáo Hội.
“Các Giáo Hội giao sứ mạng của mình cho những người muốn kiến tạo một Giáo Hội khác ở Hòa Lan và tự bắt đầu việc cải tổ đó mà không tham khảo trung tâm của Giáo Hội là Đức Giáo Hoàng và giáo triều Roma, mặc dù Tòa Thánh bắt đầu tham khảo hàng Giám Mục thế giới để tiến hành cải tổ Giáo Hội sau Vatican II”.
Những bài học cho thời đại chúng ta
Cha Elias Leyds, thành viên cộng đoàn thánh Gioan trong giáo phận Den Bosch, nói rằng sáng kiến Công đồng Mục Vụ được tiến hành song song với Sách Giáo Lý Hòa Lan – vốn bị Tòa Thánh công khai sửa sai – đã tạo nên hoang mang nơi các tín hữu, làm cho họ bất an trong đức tin và tạo nên hy vọng giả tạo nơi những người mong đợi có những thay đổi lớn trong đạo lý của Giáo Hội và họ bỏ đạo trong sự thất vọng.
Cha Leyds lấy làm tiếc vì Công đồng mục vụ, – mà cha coi là có can dự trực tiếp vào sự sụp đổ nặng để của đức tin tại Hòa Lan, – chính là một kiểu mẫu cho những sáng kiến về Giáo Hội gây tranh luận trên bình diện quốc gia và miền, kể cả “Con đường công nghị” tại Đức và Văn kiện mục vụ của các Giám Mục 5 giáo phận thuộc miền Flamand bên Bỉ về việc chúc lành cho các cặp đồng phái.
Theo cha Leyds, những người cổ võ các sáng kiến ấy, và một mức độ nào đó, những người tham gia con đường Công nghị, đang phạm những lỗi lầm vì không rút ra những bài học từ quá khứ. Cha nói: ”Những gì xảy ra tại Hòa Lan trong thập niên 1960 chứng tỏ có ước muốn được thoát ly khỏi Roma mà những vấn đề đạo lý có thể đưa tới… Ngày nay dường như có ”cuộc chiến cạnh tranh” giữa vài nước muốn đi tiên phong trong việc cải tổ Giáo Hội Công Giáo, nhưng chúng ta phải ý thức rằng điều này có thể dẫn tới thất bại ở các nơi, nhất là vì những người có đức tin không mạnh thì họ đã ra đi rồi, và họ sẽ không quay trở lại với Giáo Hội, vì họ đã được giới thiệu một thứ tôn giáo trống rỗng thực chất”.
Canh tân giữa khủng hoảng
Mặc dù nhìn nhận hậu quả xúc tác của Công Đồng mục vụ trong sự sa sút thê thảm của Giáo Hội Công Giáo tại Hòa Lan, Đức Hồng Y Eijk cũng nhận xét rằng tình trạng các Giáo Hội Tin Lành ở Hòa Lan cũng chẳng khá hơn và sự suy yếu đức tin là điều hiển hiện từ đầu thế kỷ 20 tại nước này.
Tuy vậy, Đức Hồng Y xác tín rằng một trong những hậu quả hữu ích của thập niên khủng hoảng là có sự nâng cao chất lượng đức tin của những người còn ở lại trong Giáo Hội: “Những người vẫn còn đi nhà thờ Chúa nhật, họ làm như vậy vì xác tín mạnh mẽ và có một tương quan bản thân với Chúa Kitô, và có đời sống cầu nguyện. Ngày nay càng ngày càng có nhiều sáng kiến tái loan báo Tin Mừng ở các giáo xứ địa phương ở Hòa Lan, quan tâm đến sự củng cố gia đình và thông truyền đức tin giữa các thế hệ. Chúng tôi nồng nhiệt hy vọng và cầu nguyện một ngày kia các thế hệ mới có thể là một thiểu số có khả năng tái Kitô hóa nền văn hóa Hòa Lan”.
Với lòng yêu mến đặc biệt dành cho Đức Mẹ, những người con của Giáo Hội Việt Nam luôn chạy đến với Mẹ Maria tại các địa điểm hành hương: Đức Mẹ La Vang, Đức Mẹ Bãi Dâu, Đức Mẹ Măng Đen…. Bên cạnh đó, những người con Đất Việt luôn mang trong mình ước mơ được một lần đặt chân tới nơi Mẹ hiện ra cùng nhân loại – linh địa Lộ Đức hay Fatima – để chiêm ngắm Đức Mẹ, nơi mà Mẹ hiện ra trao ban sứ điệp cho loài người. Với Linh Mục Giuse Nguyễn Hữu An, Ngài nói rằng: Hai nơi này là địa chỉ của tình thương, là điểm hẹn của bình an nội tâm. Còn Thánh Gioan Phaolô II thì nói rằng: Có sự gần gũi giữa Đức Mẹ Lộ Đức và thế giới những người đau khổ và yếu đau, chẳng biết tự bao giờ điểm Đức Mẹ Lộ Đức đã mang đến niềm hy vọng cho những bệnh nhân. Vậy, Lộ Đức là đâu? Và có sự kiện gì?
Lộ Đức là nơi Đức Me hiện ra cùng thiếu nữ Bernadette năm 1858. Nguồn gốc từ Lourdes (Lộ Đức) theo ngôn ngữ Gascon (tiếng địa phương miền nam nước Pháp) là Lorda, tiếng việt phiên âm là Lộ Đức. Lộ Đức thuộc tỉnh Hautes-Pyrenees, miền Tây Nam nước Pháp sát ranh giới với Bắc Tây Ban Nha. Nổi bật nhất là các cuộc hiện ra với Bernadette, Đức Trinh Nữ Maria hiện ra với Bernadette tất cả là 18 lần, từ ngày 11 tháng 2 đến ngày 16 tháng 7 năm 1858. Bernadette lúc đó 14 tuổi nhưng chưa biết đọc, chưa biết viết vì bệnh hen suyễn nặng và trí khôn chậm chạp nên không được đến trường lớp học hành như các bạn đồng lứa tuổi, nhà nghèo nên Bernadette chỉ ở nhà phụ việc gia đình.
Đức Mẹ hiện ra với Bernadette với sứ điệp được tóm lược trong 3 lời mời sau: Mời gọi cầu nguyện: “Con hãy cầu nguyện, hãy cầu nguyện cho kẻ có tội được ơn trở lại.” Mời gọi Sám hối: “Hãy sám hối! Hãy sám hối! Sám hối” và mời gọi rước kiệu và xây Nhà Nguyện: “Con hãy nói với các linh mục xây nhà nguyện ở đây, Mẹ muốn người ta đến đây rước kiệu.” Vì thế, Lộ Đức là trung tâm hành hương Đức Mẹ rất lớn, và nổi tiếng của Giáo Hội”. Nói đến Đức Mẹ Lộ Đức là nói đến phép lạ, bên cạnh những phép lạ chữa lành bệnh tật cho bệnh nhân, Mẹ còn giúp bệnh nhân khám phá ra giá trị của đau khổ dưới ánh sáng đức tin và giúp bệnh nhân hiểu hơn về mầu nhiệm đau khổ trong cuộc đời họ. Quả thật, chính nơi Đức Mẹ Lộ Đức làm sáng lên câu nói “Qua Đức Maria đến với Đức Kitô.”
Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội là Thánh Mẫu của Con Một Chúa, với tâm hồn hoàn toàn thanh sạch, thánh thiện, là gương mẫu cho mọi người nữ. Với lòng yêu thương con cái, Mẹ Maria luôn ân cần chăm sóc tất cả những ai cậy trông, chạy đến với Mẹ. Nhạc sĩ Nguyễn Sang đã thể hiện tâm tình đó nơi Mẹ qua bài hát Nguồn Cậy trông: “Mẹ, nguồn cậy trông, chưa thấy ai xin Mẹ về không. Hỡi Mẹ Thiên Chúa xin hãy lắng nghe con nài van. Mẹ nguồn an vui. Ôi! Nữ Trinh là nguồn an vui. Hết tình kêu khấn con tin chắc Mẹ thương nhậm lời”. Mang tấm lòng yêu mến Đức Mẹ, cách đặt biệt các bệnh nhân luôn chạy đến với Mẹ để xin được chữa lành cũng như xin được Mẹ nâng đỡ ủi an trong cuộc sống. Nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, nguyện xin Chúa thương đến các bệnh nhân đang đau khổ về thể xác cũng như tinh thần, xin ban cho họ thêm đức tin, tình yêu và niềm cậy trông vào Chúa, để ước gì mỗi bệnh nhân luôn nhận ra sự hiện diện của Chúa trong cuộc sống, nhờ đó giúp họ luôn sống an vui, hạnh phúc mỗi ngày.
Lời cầu nguyện sau đây được người Công giáo sử dụng nhằm tôn kính Đức Mẹ Lourdes:
“Lạy Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, Đấng Trinh nữ vô nhiễm nguyên tội. Mẹ đã hiện ra 18 lần với thánh Bernadette tại hang đá Lộ Đức để nhắc nhở các Kitô hữu về sự thật mà Tin Mừng đòi hỏi. Mẹ kêu gọi chúng con cầu nguyện, sám hối, tham dự Thánh Thể và sống đời sống của Hội thánh. Để đáp lại lời kêu cầu của Mẹ, con xin dâng hiến thân xác con cho con Mẹ là Đức Giêsu. Xin hãy làm cho con sẵn lòng thực hiện những gì Người dạy bảo. Nhiệt thành trong đức tin, thánh hóa trong việc làm, tận tâm với những người đau yếu, an ủi người đau khổ, giải hòa giữa mọi người và cho thế giới được hòa bình. Tất cả những điều con kêu cầu, con tin rằng sẽ được Mẹ nhận lời. Chúc tụng Maria, Mẹ Thiên Chúa, Đấng Đầu Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Mẹ Lộ Đức, cầu nguyện cho chúng con. Thánh Bernadette, cầu cho chúng con.“
Isave Ngọc Lời
Sáng thứ Năm, 09/02, Đức Thánh Cha tiếp Hiệp hội Thể thao Nghiệp dư Vatican, mời gọi họ làm chứng cho hoạt động của Giáo triều qua ba quy tắc cơ bản: tập luyện, kỷ luật, động lực.
Ngọc Yến – Vatican News
Hiệp hội Thể thao Nghiệp dư Vatican gồm các nhân viên của Vatican, khởi đầu từ năm 1521 với trận bóng đá Florentine đầu tiên, tại Sân Belvedere trước sự hiện diện của Đức Giáo Hoàng Lêô X. Sau đó vào năm 1972 với giải vô định bóng đá Vatican. Và từng bước những người làm việc trong Vatican yêu thích thể thao đã hình thành Hiệp hội Thể thao Nghiệp dư này.
Lên tiếng trong buổi gặp gỡ các vận động viên thể thao, Đức Thánh Cha nói rằng khi các nhân viên Vatican tham dự các cuộc thi đấu, họ được mời gọi làm chứng cho sự liên kết của họ với Toà Thánh. Vì thế Đức Thánh Cha trích lời của Thánh Phaolô để cho các nhân viên suy tư về việc làm chứng này. Trước hết Thánh Tông đồ nói với các tín hữu Côrintô: “Anh em chẳng biết sao: trong cuộc chạy đua trên thao trường, tất cả mọi người đều chạy, nhưng chỉ có một người đoạt giải. Anh em hãy chạy thế nào để chiếm cho được phần thưởng. Phàm là tay đua, thì phải kiêng kỵ đủ điều, song họ làm như vậy là để đoạt phần thưởng chóng hư; trái lại chúng ta nhằm phần thưởng không bao giờ hư nát”. (1Cr 9, 24-25). Và trong thư gửi tín hữu Philipphê: “Không phải là tôi đã đoạt giải, hay đã nên hoàn thiện đâu; nhưng tôi đang cố gắng chạy tới, mong chiếm đoạt, bởi lẽ chính tôi đã được Đức Kitô Giêsu chiếm đoạt”. (Pl 3, 12). Đức Thánh Cha nói: “Hai đoạn thư này cho phép chúng ta hiểu tinh thần cạnh tranh lành mạnh như một hoạt động có thể góp phần vào sự trưởng thành của tinh thần. Đặc biệt, phác thảo ba quy tắc cơ bản cho vận động viên: tập luyện, kỷ luật, động lực”. Và ngài giải thích từng quy tắc.
Tập luyện
Đầu tiên là tập luyện. Khi nói đến tập luyện người ta nghĩ ngay đến công sức, mồ hôi, hy sinh. Cơ sở cho điều này là niềm đam mê thể thao, niềm vui vì một hoạt động. Và nếu có thái độ này, cạnh tranh là lành mạnh; ngược lại, nếu lợi ích chiếm ưu thế, thì cạnh tranh bị hủy hoại.
Kỷ luật
Tiếp đến là kỷ luật, đó là một khía cạnh của giáo dục, rèn luyện. Một vận động viên kỷ luật không chỉ là người tuân theo các quy tắc. Tất nhiên, đây là điều quan trọng phải có. Nhưng kỷ luật gọi là “môn đệ”, tức là người muốn học, người không cảm thấy “mình đã đến đích” và có thể dạy cho mọi người. Một vận động viên thực sự luôn cố gắng học hỏi, trưởng thành và tiến bộ. Điều này đòi hỏi tính kỷ luật, tức là khả năng chế ngự bản thân, sửa chữa tính bốc đồng mà ít nhiều chúng ta đều có. Khi đó, kỷ luật cho phép mọi người thực hiện phần việc của mình và để nhóm thể hiện những gì tốt nhất của toàn thể.
Động lực
Cuối cùng là động lực. Thánh Phaolô viết: “Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin” (2Tm 4,7). Đó là sự xác nhận hoàn hảo để tuân theo lời mời gọi, ngay cả đối với một vận động viên. Trong một cuộc đua, điều tạo ra lực đẩy, dẫn đến kết quả tốt chính là động lực, là sức mạnh bên trong. Việc ghi nhận không được thực hiện dựa trên kết quả bằng số, nhưng dựa trên mức độ trung thực và nhất quán của chúng ta đối với lời kêu gọi.
Ở điểm này, Đức Thánh Cha nhấn mạnh, đối với các vận động viên của Vatican: cách tạo thành đội và hợp tác của họ có thể là một ví dụ cho hoạt động trong các Bộ và cơ quan của Giáo triều. (CSR_625_2023)
Vào cuối buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư ngày 8/2/2023, Đức Thánh Cha đã kêu gọi liên đới với Thổ Nhĩ Kỳ và Syria bị tàn phá bởi động đất và xin đừng quên Ucraina đang đau khổ trong chiến tranh.
Hồng Thủy – Vatican News
Trận đống đất tàn khốc xảy ra ở Thổ Nhĩ Kỳ và Syria hôm thứ Hai ngày 6/2/2023 khiến ít nhất 9.500 người thiệt mạng và riêng ở Thổ Nhĩ Kỳ, gần 400.000 người mất nhà cửa.
Kêu gọi liên đới
Đức Thánh Cha đã bày tỏ tình cảm, sự khích lệ an ủi và liên đới của ngài trước tai hoạ thảm khốc này.
Ngài nói: “Lúc này tôi nghĩ đến người dân Thổ Nhĩ Kỳ và Syria, bị ảnh hưởng nặng nề bởi trận động đất khiến hàng ngàn người chết và bị thương. Tôi xúc động cầu nguyện cho họ và tôi bày tỏ sự gần gũi của tôi với những dân tộc này, với gia đình của các nạn nhân và với tất cả những ai đang chịu đựng thảm họa tàn khốc này. “
Đức Thánh Cha cũng cảm ơn tất cả những người đang nỗ lực mang lại sự cứu trợ, khi đang đào bới các đống đổ nát để tìm các nạn nhân, giữa những khó khăn do thời tiết lạnh giá, đường xá hư hỏng và thiếu kế hoạch hành động khẩn cấp có hiệu quả. Đồng thời ngài cũng khuyến khích mọi người thể hiện tình liên đới với những vùng lãnh thổ, một phần đã bị tàn phá bởi một cuộc chiến lâu dài.
Phó thác cho Đức Mẹ
Ngài mời gọi các tín hữu cùng nhau cầu nguyện “để những anh chị em này của chúng ta có thể tiến bước trước thảm kịch này, và chúng ta hãy xin Đức Mẹ bảo vệ họ.” Đức Thánh Cha và các tín hữu cùng đọc kinh Kính mừng cầu nguyện cho họ.
Đừng quên Ucraina
Cuối cùng, như các buổi tiếp kiến chung vào thứ Tư và các buổi đọc Kinh Truyền Tin vào Chúa Nhật, Đức Thánh Cha luôn nghĩ đến Ucraina đang bị xâm lược và kêu gọi: “Chúng ta đừng quên nỗi đau của dân tộc Ucraina đang bị giày xéo với giá lạnh, không có điện, không có sưởi ấm và đang ở trong cảnh chiến tranh.”