ĐTC Phanxicô: “Tôi Sẽ Không Đánh Đổi Việc Trở Thành Linh Mục Để Lấy Bất Cứ Thứ Gì Khác”

Cuộc phỏng vấn Đức Thánh Cha Phanxicô tại nhà trọ Thánh Marta, do Cha Guillermo Marcó, người Argentina , cựu phát ngôn viên của Đức Bergoglio, thực hiện cho trang Infobae.

Guillermo Marcó – Infobae

Bước đi Quảng trường Thánh Phêrô, tôi nghĩ đến hàng triệu người muốn trò chuyện với Đức Thánh Cha Phanxicô. Tôi đã có được đặc ân hiếm có này trong nhiều năm. Ở Buenos Aires, tôi thường nói chuyện với ngài, đôi khi hơn một lần mỗi ngày. Ngày nay, các cuộc tiếp xúc ít thường xuyên hơn, nhưng ngài vẫn giữ được sự tươi mới của sự gần gũi và tình bạn đã có được trong nhiều năm; ngài đã không thay đổi về mặt này … Lắng nghe ngài đặc biệt thú vị…

** Điều đầu tiên con muốn hỏi Đức Thánh Cha là: điều gì thu hút ngài nhất khi theo Chúa Giêsu…

– Tôi không thể diễn đạt bằng lời. Điều tôi có thể nói là khi hòa hợp với Chúa, tôi cảm thấy bình an, tôi cảm thấy hạnh phúc. Khi tôi không theo Người, bởi vì tôi mệt mỏi, vì tôi đặt cho Người một thời gian cụ thể hoặc một thời hạn, tôi cảm thấy vô vị. Như thể cuộc sống của tôi đã tràn ngập… Có người đã từng nói với tôi rằng “Thiên Chúa ban cho bạn sự tự do, Người luôn cho bạn sự tự do, nhưng một khi bạn biết Chúa Giêsu thì bạn mất tự do”. Điều này khiến tôi rơi vào khủng hoảng. Tôi không biết bạn có mất nó hay không, nhưng cách mà Chúa kêu gọi bạn và thiết lập một cuộc đối thoại với bạn khiến bạn nói rằng “không, con không đi đâu nữa, với con thế này là đủ rồi”. Vì vậy, tôi cảm thấy sự cân bằng đó theo nghĩa tốt của thuật ngữ này, chứ không phải theo nghĩa tâm lý; đó là sự bình an, ngay cả trong những thời điểm mất cân bằng nghiêm trọng do phải đối mặt với những tình huống khó khăn.

** Ở đó, trong tòa giải tội của giáo xứ San José de Flores, Đức Thánh Cha đã có thể nhận ra ơn gọi của ngài: Đức Thánh Cha cảm thấy điều gì đặc biệt trong ơn gọi đó?

– Thật hiếu kỳ vì sau trải nghiệm đó vào ngày 21 tháng 9, tôi tiếp tục cuộc sống của mình mà không biết mình sẽ làm gì. Nhưng có một cái gì đó khác biệt đang dần hình thành. Tôi đã không ra khỏi đó để vào chủng viện… Ba năm trôi qua. Nó giống như một quá trình thay đổi những định hướng của bạn, những điểm tham chiếu của bạn. Chúa bước vào cuộc sống của bạn và sắp xếp lại nó. Và không lấy đi tự do của bạn. Tôi chưa bao giờ có cảm giác mình không được tự do.

** Đức Thánh Cha tiếp tục định nghĩa mình là một “linh mục”: ngài thích điều gì nhất về ơn gọi linh mục?

– Khi phục vụ. Có lần một linh mục nói với tôi – ngài sống trong một khu phố rất nghèo, không phải khu ổ chuột nhưng gần như vậy, và nhà xứ của ngài bên cạnh nhà thờ – và ngài nói với tôi rằng khi ngài phải đóng cửa thì người ta gõ cửa sổ. Sau đó, ngài nói với tôi: “Tôi muốn đóng cửa sổ đó lại vì họ sẽ không để bạn yên”. Dân chúng sẽ không để bạn yên. Và mặt khác, ngài nói với tôi rằng nếu tôi đóng cửa sổ thì sẽ không yên tĩnh mà còn tệ hơn nhiều. Bởi một khi đã hòa vào nhịp sống phục vụ, bạn sẽ thấy xấu hổ khi dành một phần ích kỷ cho mình. Ơn gọi phục vụ hơi giống thế này, bạn không thể tưởng tượng được cuộc sống nếu bạn không phục vụ. Tôi sẽ không đánh đổi việc làm linh mục để lấy bất cứ thứ gì sau kinh nghiệm là linh mục. Với những giới hạn, lỗi lầm, tội lỗi, nhưng là một linh mục.

** Thưa Đức Thánh Cha, ngài nói gì với các linh mục?

– Điều tôi nói với một linh mục là “hãy là một linh mục”. Và nếu điều này không hiệu quả với bạn, hãy tìm cách khác, Giáo hội mở ra những cánh cửa khác cho bạn. Nhưng đừng trở thành một quan chức. Tôi muốn nói điều này: hãy là một mục tử của người dân và đừng là một giáo sĩ công chức.

** Ngài cảm nhận thế nào về tình huynh đệ giữa các hồng y?

– Về lâu dài có sự gần gũi. Họ có thể có ý kiến ​​khác nhau, nhưng điều tốt là họ nói cho bạn biết suy nghĩ của họ. Tôi sợ các chương trình nghị sự bí mật. Khi người ta có điều gì đó và không nói ra. Tôi tạ ơn Chúa vì trong Hồng y đoàn có sự giao tiếp, cả những Hồng y mới và Hồng y cũ, và họ có quyền tự do phát biểu … Tôi không biết có phải tất cả họ không, nhưng nhiều người có. Đôi khi có vị nói, “Này, chú ý cái này”, “nhìn kìa…”. Ồ cảm ơn ngài. Tôi sẽ nghĩ về nó và rồi tôi sẽ giải quyết, … hoặc tôi không nghe theo vị đó, tôi nói: xem này, tôi không nghe ngài vì điều này, điều này và điều này. Nhưng cuộc đối thoại được tháo gỡ.

** Thưa Đức Thánh Cha, ngài có những lòng sùng kính. Đây là bức ảnh Đức Bà Tháo gỡ các nút thắt, lòng sùng kính ngài đã có được khi ở Đức. Ngài có thể cho chúng con biết lý do tại sao ngài luôn gửi bức ảnh này trong bì thư của ngài không?

– Tôi chưa bao giờ đi đến nơi có hình ảnh gốc. Tình cờ là một nữ tu người Đức đã gửi bức ảnh cho tôi, như một lời chào. Tôi thích bức ảnh. Tôi bắt đầu lòng sùng kính hình ảnh Đức Mẹ này ở Argentina. Lịch sử của bức ảnh rất hay. Một họa sĩ thời đó đã xua đuổi vợ ông ta. Họ là những người Công giáo sùng đạo nhưng lại cãi nhau hàng ngày. Và một ngày nọ, ông ta đọc bài viết của Thánh Irenê thành Lyon, theo đó những nút thắt mà mẹ Evà của chúng ta đã buộc chặt bằng tội lỗi của bà đã được mẹ Maria của chúng ta tháo gỡ bằng sự vâng lời của Mẹ. Tôi tin rằng Công đồng đã lấy điều này và đưa vào Tông hiến về Giáo hội. Ông ta thích câu chuyện này và vì vậy ông đã yêu cầu Đức Mẹ tháo nút thắt cho ông với vợ vì họ không hợp nhau. Và đây là lý do tại sao bên dưới ông vẽ tổng lãnh thiên thần Raphael với Tôbia, đấng dẫn ông Tôbia đi tìm vị hôn thê, vợ của ông, để gặp cô ấy. Đức Trinh Nữ đã thực hiện phép lạ và mọi chuyện bắt đầu từ đó. Tôi đã bắt đầu lòng sùng kính Đức Mẹ này. Augsburg là thành phố có bức ảnh đó. Trong nhà thờ Thánh Phêrô ở Perlach. Tôi chưa bao giờ đến đó; tôi ở Frankfurt, cách đó không xa. Nhưng điều này là đủ đối với tôi và sự sùng kính đã bắt đầu từ Argentina. Như thể Đức Mẹ có thể giúp bạn, như bản văn của Thánh Irênê nói, để giúp bạn mở mọi nút thắt.

** Để tháo gỡ những nút thắt của cuộc sống…

– Đó là “tình mẫu tử” của Đức Mẹ

** Còn Thánh Giuse thì sao, thưa Đức Thánh Cha?

– Chính bà của tôi đã đặt Thánh Giuse vào tâm trí tôi… Khi tôi còn nhỏ, bà dạy tôi cầu nguyện với Thánh Giuse. Lòng sùng kính này vẫn còn.

** Ngài cũng có một bức tượng nhỏ Thánh Giuse đang ngủ. Trên đó ngài phó thác những ý định đặc biệt …

– Khi người ta xin tôi cầu nguyện, tôi đặt những ý nguyện bên dưới bức tượng. Tôi nói: “Ngài đang ngủ, xin giải quyết các vấn đề.”

** Còn Thánh Têrêsa thì sao?

– Thánh Têrêsa nhỏ luôn thu hút tôi… Lòng dũng cảm của một người bình thường. Nếu bạn hỏi tôi Thánh Têrêsa nhỏ có những điều phi thường nào: không có. Ngài là một nữ tu nghèo và bình thường. Trong những ngày cuối cùng, ngài cũng phải chịu đựng bóng tối lớn nhất, những cám dỗ lớn nhất chống lại đức tin, ngài đã trải qua tất cả. Một người phụ nữ bình thường.

** Cuối cùng, con xin Đức Thánh Cha những thông điệp ngắn. Thông điệp đầu tiên nói với các trẻ em:

– Các con hãy chăm sóc ông bà. Hãy nói chuyện với ông bà. Hãy đi thăm ông bà của các con. Hãy để ông bà thăm các con.

** Với các bạn trẻ…

– Các con đừng sợ cuộc sống. Đừng đứng yên. Hãy tiến bước. Các con sẽ phạm sai lầm, nhưng sai lầm tồi tệ nhất là đứng yên, vì vậy hãy tiếp tục.

** Nói với các ông bố, bà mẹ…

– Các bạn đừng lãng phí tình yêu. Hãy quan tâm lẫn nhau, như thế các bạn có thể chăm sóc con cái tốt hơn.

** Nói với người bệnh…

– À, điều này khó vì khuyên nhẫn nhục thì dễ, nhưng tôi không có sự kiên nhẫn, nên tôi hiểu khi bạn nổi giận một chút. Hãy xin Chúa ơn kiên nhẫn và Người sẽ ban cho bạn ơn để chịu đựng tất cả những điều này.

** Cuối cùng, nói với những người cao niên mà ngài thường nói đến…

– Nói với người cao niên: xin đừng quên rằng quý vị là gốc rễ. Người già phải truyền điều này cho người trẻ, trẻ em và thanh thiếu niên. Câu đó trong Sách Giôen: đâu là ơn gọi của bạn, một người lớn tuổi, người già sẽ nhìn thấy viễn tượng và người trẻ sẽ nói tiên tri. Khi họ ở bên nhau, những người già mơ về tương lai và truyền lại nó, còn những người trẻ tuổi, được hỗ trợ bởi những người già, có thể nói tiên tri và làm việc cho tương lai. Cùng với những người trẻ tuổi, quý vị đừng sợ bất cứ điều gì. Một người già cay đắng thì rất buồn. Ông ta còn tệ hơn cả một thanh niên buồn bã. Vì vậy, hãy tiếp tục, hãy ở cùng với những người trẻ. 

Nguồn: Vatican news


Thầy Tôi

Trong hành trình bước theo Thầy Giêsu, tôi được nghe những câu chuyện Ngài kể những công việc Ngài làm. Tôi nghĩ hẳn sẽ có biết bao nhiêu người hâm mộ Thầy và chắc chắn không thể thiếu các cô gái ngưỡng mộ Thầy. Nhưng tôi chẳng thấy Thầy có biểu hiện gì đặc biệt với các cô gái. Nhưng hôm nay thì khác, tôi biết được câu chuyện của Thầy với cô gái người Sa-ma-ri, Ngài đã đến và chủ động nói chuyện với người phụ nữ ấy.

Trên con đường dài đến xứ Samari, Thầy đã thấm mệt và Thầy đã chọn giếng của ông Gia-cóp để nghỉ ngơi và chính nơi đây cũng là điểm hẹn để Thầy gặp gỡ và biến đổi người phụ nữ Samari. Thầy không thụ động để chờ người phụ nữ nhưng Thầy đã đi bước trước để giúp người phụ nữ mở lòng và tìm về mạch nước hằng sống – nơi mang lại cho chị no thỏa tình yêu đích thực.

Cuộc gặp gỡ nào cũng mang lại cho ta sự bất ngờ và người phụ nữ đó cũng không tránh khỏi tâm trạng ấy khi Thầy Giêsu đến ngỏ lời “Chị cho tôi xin chút nước !”(Ga 4, 7). Tôi mường tưởng ra cảnh Thầy trìu mến nhìn cô, còn cô nhìn Thầy thờ ơ, lãnh đạm. Cô bỗng sửng sốt: “ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ người Sa-ma-ri, cho ông uống nước sao?’(Ga 4, 9). Thầy chậm rãi: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với Chị: cho tôi chút nước uống, thì hẳn chị đã xin và người ấy ban cho chị nước hằng sống”(Ga 4, 10). Tôi ở cùng Thầy bao ngày tháng mà có những điều Thầy nói tôi cũng chẳng hiểu hết, huống chi là một người lạ Thầy mới gặp. Nghe cô gái đáp lời Thầy thì xem ra cô chẳng hiểu Thầy nói gì cả. “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu, vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống…”(Ga 4, 11-12).

Cuộc trò chuyện tưởng chừng dừng lại ở đây nhưng Thầy đã chuẩn bị sẵn cho cuộc gặp gỡ này rồi. Thầy kiên nhẫn giải thích cho cô thứ “nước” Thầy muốn nói ở đây là “Nước hằng sống”, mà chỉ cần uống một lần thì không bao giờ phải khát nữa. Thầy muốn hướng người phụ nữ đến mối tương quan mật thiết với Chúa để chị được sống trong sự tự do và bình an. Thầy Giêsu giúp chị mở lòng ra để tìm về chính mình nên Thầy gợi mở: “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây”. Chính giây phút này chị nhận ra Thầy Giêsu đã chạm vào thật sâu bên trong con người của chị và chị xác tín “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ…”(Ga 4,19). Chưa kịp để Thầy xác nhận thì dường như cô đã tin rằng Thầy là ngôn sứ, nên cô liền nói ra những thắc mắc của mình về Thiên Chúa mà từ trước tới nay chưa ai giải đáp cho cô: “Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này; còn các ông lại bảo: Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa”(Ga 4,20).

Lúc này thì Thầy không còn úp mở như lúc đầu nữa, mà Thầy bắt đầu giảng dạy cho cô hiểu những điều Thầy đang muốn nói với cô. Sau khi lắng nghe Thầy nói, có vẻ cô khá hiểu và đang mường tượng ra Thầy đang muốn nói về Đấng Mê-si-a. Nên cô cũng tự tin là mình biết Đấng Mê-si-a sẽ đến và Người sẽ nói cho cô và mọi người biết hết mọi sự. Nhưng cô thật sự bàng hoàng khi nghe Thầy nói: “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây”(Ga4, 26). Chắc cô không thể tưởng tưởng nổi tình huống này xảy ra. Đấng Mê-si-a đây sao? có thật là Đấng Mê-si-a mà mình hằng mong đợi? Chắc tâm trí cô lúc này xáo trộn nhưng giờ đây chắc chắn chị đã được biến đổi. Vì thế, điều đầu tiên chị làm là loan báo Tin Mừng đến cho tất cả mọi người.

Chắc hẳn cuộc gặp gỡ vừa rồi đã mang lại một kết quả tốt đẹp như lòng Thầy mong muốn. Và cô gái kia thật là may mắn, thật là diễm phúc vì đã được gặp Thầy trong đời mình. Hẳn sẽ có nhiều cuộc gặp gỡ như vậy nữa mà tôi không thể biết hết được. Nhưng thật diễm phúc cho những ai gặp được Thầy Giêsu.

                                                                                                        Têrêsa Thanh Tân


Trái Tim Người Cha – Tông Thư Patris Corde Của Đức Thánh Cha Phanxicô

NHÂN KỶ NIỆM 150 NĂM CÔNG BỐ THÁNH GIUSE LÀ BỔN MẠNG TOÀN THỂ HỘI THÁNH

VỚI TRÁI TIM CỦA MỘT NGƯỜI CHA, Thánh Giuse đã yêu Chúa Giêsu, Đấng mà cả bốn sách Tin Mừng đều gọi là “con của Giuse”. [1]

Mátthêu và Luca là hai tác giả Tin Mừng nói nhiều nhất về Giuse, song thực sự cũng chẳng kể cho ta nhiều thông tin lắm, dù sao vẫn đủ để giúp chúng ta ngưỡng mộ cung cách làm cha của ngài, và sứ mạng mà Thiên Chúa quan phòng ủy thác cho ngài.

Chúng ta biết rằng Giuse là một người thợ mộc khiêm hạ (x. Mt 13,35), đính hôn với Maria (x. Mt 1,18; Lc 1,27). Ngài là một “người công chính” (Mt 1,19), luôn sẵn sàng thi hành thánh ý Thiên Chúa như được mặc khải cho mình qua Lề Luật (x. Lc 2,22.27.39) và qua bốn giấc mơ (x. Mt 1,20; 2,13.19.22). Sau chuyến đi dài và mệt nhọc từ Nadarét đến Bêlem, ngài đã trải nghiệm biến cố chào đời của Đấng Mêsia trong một chuồng súc vật, vì “không tìm được chỗ ở nơi đâu khác” (x. Lc 2,7). Ngài chứng kiến các người chăn chiên (x. Lc 2,8-20) và các nhà chiêm tinh (x. Mt 2,1-12) đến thờ lạy, họ đại diện cho dân Israel và các dân ngoại.

Giuse đã can đảm nhận làm người cha theo pháp lý của Chúa Giêsu, Đấng được ngài đặt tên theo như thiên thần mách bảo: “Ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21). Chúng ta biết rằng đối với các dân tộc cổ xưa, việc đặt tên cho một người hay một vật – như Ađam đã làm trong trình thuật sách Sáng Thế (x. 2,19-20) – chính là việc thiết lập một mối tương quan.

Trong Đền Thờ, bốn mươi ngày sau khi sinh trẻ Giêsu, Giuse và Maria đã dâng con mình cho Chúa và đã sửng sốt lắng nghe lời tiên tri của cụ Simeon nói về con trẻ Giêsu và về Mẹ Người (x. Lc 2,22-35). Để bảo vệ Giêsu khỏi tay vua Hêrôđê, Giuse đã đến cư ngụ ở Ai Cập trong tư cách một ngoại kiều (x. Mt 2,13-18). Sau khi hồi hương, Giuse đã sống một đời âm thầm tại làng Nadarét nhỏ bé vô danh thuộc xứ Galilê, cách xa Bêlem là nguyên quán của mình, cũng cách xa Giêrusalem và Đền Thờ. Người ta nói về Nadarét rằng “Không có ngôn sứ nào xuất hiện ở đó cả” (x. Ga 7,52) và quả thực “Từ Nadarét có gì hay đâu?” (x. Ga 1,46). Khi đi hành hương Giêrusalem lần nọ, Giuse và Maria đã lạc mất cậu bé Giêsu mười hai tuổi, hai người đã lo lắng kiếm tìm con và gặp con trong Đền Thờ, thấy con đang đối đáp với các tiến sĩ luật (x. Lc 2,41-50).

Sau Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, không có vị thánh nào được các giáo huấn của các giáo hoàng đề cập thường xuyên hơn Thánh Giuse, bạn trăm năm của Mẹ. Các vị Tiền nhiệm của tôi đã suy tư về sứ điệp chứa đựng trong những thông tin ít ỏi nhận được từ các sách Tin Mừng, để trân trọng đúng mức hơn vai trò cốt yếu của ngài trong lịch sử cứu độ. Chân phước Giáo hoàng Piô IX đã tuyên bố ngài là “Thánh Bổn mạng của Hội Thánh Công giáo”, [2] Đấng Đáng kính Piô XII đặt ngài làm “Bổn mạng giới Lao động” [3] và Thánh Gioan Phaolô II gọi ngài là “Người Bảo hộ Đấng Cứu Chuộc”. [4] Khắp nơi người ta kêu cầu Thánh Giuse như “đấng bảo trợ ơn chết lành”. [5]

Giờ đây, 150 năm sau khi Chân phước Giáo hoàng Piô IX công bố Thánh Giuse là Quan Thầy của Hội Thánh Công giáo (8.12.1870), tôi muốn chia sẻ một vài suy tư của mình về khuôn mặt phi thường này, vốn rất gần gũi với kinh nghiệm phận người của chúng ta. Bởi vì, như Chúa Giêsu nói, “lòng có đầy miệng mới nói ra” (Mt 12,34). Ao ước của tôi càng tăng thêm trong những tháng của cơn đại dịch này, trong đó ngay giữa cơn khủng hoảng chúng ta kinh nghiệm rằng “đời sống chúng ta được đan kết với nhau và được nâng đỡ bởi những con người bình thường, những con người ít ai để ý. Những con người không xuất hiện trên mặt báo, hay trên chương trình truyền hình mới đây nhất, nhưng trong những ngày này rõ ràng họ đang làm nên những sự kiện quyết định cho lịch sử chúng ta. Đó là các bác sĩ, y tá, các chủ cửa hàng và các nhân viên siêu thị, những người quét dọn, các nhân viên tạp vụ, những người phục vụ trong ngành giao thông, những người đang làm việc để cung cấp các dịch vụ thiết yếu và bảo đảm trật tự công cộng, các tình nguyện viên, các linh mục, tu sĩ nam nữ, và rất nhiều người khác. Họ hiểu rằng không ai được cứu một mình…

Biết bao người đang hằng ngày thể hiện sự kiên nhẫn và đang cung ứng niềm hy vọng, đang quan tâm làm việc để cho thấy tinh thần cùng trách nhiệm, chứ không phải để gây hoảng loạn. Biết bao cha mẹ, ông bà, thầy cô đang cần mẫn giúp cho con cái chúng ta biết cách đón nhận và xử lý một cơn khủng hoảng qua việc điều chỉnh các thói quen của mình, biết nhìn về phía trước và thúc đẩy việc cầu nguyện. Biết bao người đang cầu nguyện, hy sinh và xin ơn cho mọi người”. [6] Giuse là con người chẳng ai chú ý đến, ngài vẫn hiện diện ở đó một cách âm thầm lặng lẽ; mỗi chúng ta có thể khám phá nơi ngài một đấng chuyển cầu, một vị đỡ nâng và dẫn dắt trong những thời khắc khó khăn. Thánh Giuse nhắc chúng ta rằng những con người có vẻ lẩn khuất trong bóng mờ có thể đóng một vai trò không thể so sánh được trong lịch sử cứu độ. Tất cả họ đáng được nhìn nhận và biết ơn.

1. Một người cha yêu dấu

Thánh Giuse cao cả ở chỗ ngài là bạn trăm năm của Đức Maria và là cha của Chúa Giêsu. Trong tư cách ấy – theo cách nói của Thánh Gioan Kim Khẩu – thì Thánh Giuse “tự hiến mình để phục vụ cho toàn thể công cuộc cứu độ”. [7]

Thánh Giáo hoàng Phaolô VI nêu rõ rằng Thánh Giuse đã diễn tả cụ thể vai trò làm cha “bằng cách hiến dâng đời sống mình để phục vụ cho mầu nhiệm nhập thể và mục đích cứu chuộc của mầu nhiệm ấy. Ngài sử dụng quyền pháp lý của mình trên Gia Đình Thánh để trao hiến trọn vẹn chính mình cho gia đình này qua đời sống và công việc của ngài. Ngài biến ơn gọi tự nhiên của mình là yêu thương gia đình thành một sự dâng hiến chính mình cách siêu nhiên, dâng hiến trái tim và tất cả khả năng của mình, một tình yêu hướng đến việc phục vụ Đấng Mêsia vốn đang lớn lên từng ngày trong mái nhà của ngài”. [8]

Do vai trò của ngài trong lịch sử cứu độ, Thánh Giuse vẫn luôn được các Kitô hữu tôn kính như một người cha. Điều này được thấy nơi vô số nhà thờ trên khắp thế giới được dâng kính ngài, rất nhiều Dòng tu, các Huynh đoàn và các nhóm trong Giáo hội nhận cảm hứng từ linh đạo của Thánh Giuse và mang tên của ngài, và rất nhiều việc đạo đức truyền thống diễn tả sự tôn vinh ngài. Vô số người nam và nữ đã sùng kính ngài cách say mê. Trong số đó có Thánh Têrêsa Avila, người đã chọn Thánh Giuse làm Đấng bàu chữa và Đấng chuyển cầu cho mình, đã thường xuyên kêu cầu Thánh Giuse và đã nhận được mọi ơn huệ mà mình kêu xin. Từ chính kinh nghiệm riêng của bản thân, Têrêsa đã thúc đẩy những người khác vun đắp lòng sùng mộ đối với Thánh Giuse. [9]

Các sách kinh nguyện đều có bao gồm những lời cầu nguyện với Thánh Giuse. Những lời cầu nguyện đặc biệt được dâng cho ngài mỗi ngày thứ Tư, nhất là trong tháng Ba, vốn được dâng kính ngài theo truyền thống. [10]

Niềm tín thác của dân chúng đối với Thánh Giuse được thấy rõ trong câu nói “Hãy đến cùng Giuse”, gợi lại nạn đói bên Ai Cập, trong đó người Ai Cập đến xin lương thực nơi vua Pharaon. Nhà vua trả lời: “Hãy đến với Giuse; và hãy làm những gì Giuse bảo các ngươi làm” (St 41,55). Pharaon đang nói đến Giuse con của Gia-cóp, người đã bị bán làm nô lệ do lòng ghen tức của các anh mình (x. St 37,11-28), và Thánh Kinh cho biết rằng sau đó Giuse đã trở thành phó vương của Ai Cập (x. St 41,41-44).

Trong tư cách là hậu duệ của nhà Đavít (x. Mt 1,16-20) – là gia tộc mà từ đó Đức Giêsu sẽ xuất hiện theo như lời đã hứa với Đavít qua ngôn sứ Nathan (x. 2Sm 7) – và trong tư cách là bạn trăm năm của Maria ở Nadarét, Thánh Giuse đứng ở vị trí giao nhau giữa Cựu Ước và Tân Ước.

2. Một người cha dịu dàng và trìu mến   

Giuse nhìn Giêsu lớn lên từng ngày “trong sự khôn ngoan và trong ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2,52). Như điều Chúa đã làm với Israel, Giuse cũng làm với Giêsu: “Ngài đã tập cho con trẻ bước đi, đã đỡ cánh tay nó; ngài như người cha nâng đứa con lên và áp vào má, cúi xuống gần nó mà đút cho nó ăn” (x. Hs 11,3-4).

Nơi Giuse, Giêsu gặp thấy tình yêu ân cần của Thiên Chúa: “Như người cha thương con cái mình, Chúa thương những kẻ kính sợ Ngài” (Tv 103,13).

Trong những giờ cầu nguyện bằng Thánh Vịnh ở hội đường, Giuse chắc hẳn đã nghe đi nghe lại rằng Thiên Chúa của Israel là một Thiên Chúa đầy tình yêu thương dịu dàng, [11] Ngài tốt lành với tất cả, “Ngài tỏ lòng nhân ái đối với mọi loài Ngài đã dựng nên” (Tv 145,9).

Lịch sử cứu độ diễn ra “trong lòng trông cậy dù không còn gì để trông cậy” (Rm 4,18), xuyên qua những yếu đuối của chúng ta. Chúng ta thường tưởng rằng Thiên Chúa chỉ hành động qua những điều hay ho của mình, song phần lớn các kế hoạch của Thiên Chúa được thực hiện trong sự yếu hèn của chúng ta và bất chấp sự yếu hèn ấy. Như Thánh Phaolô nói: “Để tôi khỏi tự đại, thân xác tôi như bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Satan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao. Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này, nhưng Người bảo tôi: ‘Ơn của Thầy đủ cho anh, vì sức mạnh được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối’” (2Cr 12,7-9).

Vì đó là một phần của toàn thể nhiệm cục cứu độ, nên chúng ta phải học biết nhìn những yếu đuối của con người chúng ta với lòng thương cảm. [12]

Ma quỉ xúi chúng ta nhìn và lên án sự yếu hèn của mình, trong khi Chúa Thánh Thần chiếu ánh sáng trên sự yếu hèn ấy với lòng thương cảm. Lòng thương cảm là cách tốt nhất để chạm đến sự mỏng dòn bên trong chúng ta.

Vung tay chỉ trỏ và lên án người khác, đó thường là dấu hiệu cho thấy ta thiếu khả năng chấp nhận sự yếu đuối và mòng dòn của mình. Chỉ tấm lòng dịu dàng thương cảm mới cứu chúng ta khỏi những con mãng xà của kẻ tố cáo (x. Kh 12,10). Vì thế thật quan trọng việc gặp gỡ lòng thương xót của Thiên Chúa, nhất là trong Bí tích Hòa giải, ở đó chúng ta kinh nghiệm sự thật và sự dịu dàng của Ngài. Điều nghịch lý là Ma quỉ cũng nói sự thật với chúng ta, nhưng nó làm thế chỉ nhằm để lên án chúng ta. Chúng ta biết rằng sự thật của Thiên Chúa không lên án ta, nhưng đón nhận, ôm lấy, nâng đỡ và tha thứ chúng ta. Sự thật ấy luôn luôn bộc lộ với chúng ta như người cha đầy lòng thương xót trong dụ ngôn của Đức Giêsu (x. Lc 15,11-32). Sự thật ấy bước ra đón gặp chúng ta, phục hồi phẩm giá cho chúng ta, đỡ chúng ta đứng dậy và ăn mừng chúng ta, như người cha trong dụ ngôn đã nói: “Con của ta đây đã chết nhưng nay sống lại; nó đã mất nhưng nay lại được tìm thấy” (c. 24).

Thánh ý của Thiên Chúa, lịch sử và kế hoạch của Thiên Chúa vận hành ngay cả qua những nỗi lo sợ của Giuse. Như vậy, Giuse dạy chúng ta rằng lòng tin vào Thiên Chúa bao gồm cả việc tin rằng Ngài có thể hành động ngay cả xuyên qua những sợ hãi, những mỏng dòn và yếu đuối của ta. Giuse cũng dạy chúng ta rằng ở giữa những giông bão của cuộc đời, chúng ta đừng bao giờ ngại cho phép Chúa dẫn dắt đường đi của mình. Có những lúc chúng ta muốn nắm toàn quyền kiểm soát, nhưng Thiên Chúa luôn luôn nhìn thấy bức tranh rộng lớn hơn.

3. Một người cha vâng phục

Như Thiên Chúa đã mặc khải với Maria, Ngài cũng mặc khải với Giuse kế hoạch cứu độ của Ngài. Thiên Chúa làm thế qua những giấc mơ. Trong Thánh Kinh và nơi các dân tộc cổ xưa, các giấc mơ được coi như một cách để Thiên Chúa cho biết thánh ý của Ngài. [13]

Giuse vô cùng hoang mang vì cái thai kỳ lạ của Maria. Giuse không muốn “tố giác bà”, [14] nên mới đinh tâm “bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1,19).

Trong giấc mơ đầu tiên, một thiên thần đã giúp Giuse giải quyết tình thế lưỡng nan rất hệ trọng của mình: “Đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng của Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,20-21). Giuse hưởng ứng ngay lập tức: “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy” (Mt 1,24). Sự vâng phục đã giúp Giuse có thể vượt qua những khó khăn của mình và cứu được Maria.

Trong giấc mơ thứ hai, thiên thần bảo Giuse: “Hãy chỗi dậy, hãy đem Hài nhi và Mẹ Người trốn sang Ai Cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại; vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài nhi đấy!” (Mt 2,13). Giuse đã vâng lời không chần chừ, dù phải bao gian nan vất vả: “Ông chỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài nhi và Mẹ Người trốn sang Ai Cập, và ở lại đó cho đến khi vua Hêrôđê băng hà” (Mt 2,14-15).

Ở Ai Cập, Giuse kiên nhẫn và tin tưởng đợi chờ thiên thần báo lại để có thể an toàn trở về quê hương. Trong giấc mơ thứ ba, thiên thần báo rằng những kẻ tìm giết con trẻ đã chết và Giuse hãy chỗi dậy, đưa con trẻ và Mẹ Người trở về Israel (x. Mt 2,19-20). Một lần nữa, Giuse mau mắn tuân hành. “Ông chỗi dậy, đưa Hài nhi và Mẹ Người trở về đất Israel” (Mt 2,21).

Trên hành trình về quê ấy, “Giuse được báo mộng và biết Ác-khê-lao đã kế vị vua cha là Hêrôđê, cai trị miền Giuđê, nên ông sợ không dám về đó” – đây là giấc mơ lần thứ tư – “ông lui về miền Galilê, đến ở tại một thành kia gọi là Nadarét” (Mt 2,22-23).

Thánh sử Luca thì kể cho chúng ta rằng Giuse đã đi một hành trình dài và khó khăn từ Nadarét đến Bêlem để khai sổ tại quê quán của mình trong cuộc điều tra dân số của Hoàng đế Xêdarê Augustô. Trẻ Giêsu được sinh ra ở đấy (x. Lc 2,7), và cuộc chào đời này đã được đăng ký vào sổ sách của Đế quốc giống như mọi đứa trẻ khác. Thánh Luca đặc biệt lưu ý chúng ta rằng cha mẹ của Giêsu đã tuân thủ mọi qui định của Lề Luật: việc cắt bì cho Giêsu, việc thanh tẩy Maria sau khi sinh con, việc dâng con trai đầu lòng cho Thiên Chúa (x. 2,21-24). [15]

Trong mọi hoàn cảnh, Giuse đã tuyên bố tiếng “fiat” của mình, giống như những tiếng “fiat” của Maria trong biến cố Truyền Tin và của Giêsu trong Vườn Cây Dầu.

Trong vai trò người đứng đầu gia đình, Giuse đã dạy cho Giêsu biết vâng lời cha mẹ (x. Lc 2,51), theo như điều răn Chúa dạy (x. Xh 20,12).

Suốt những năm ẩn dật của mình ở Nadarét, Giêsu đã học ở trường của Giuse để biết làm theo thánh ý Chúa Cha. Thánh ý của Chúa Cha là lương thực hằng ngày của Người (x. Ga 4,34). Ngay cả vào thời khắc khó khăn nhất trong cuộc đời, lúc ở Vườn Cây Dầu, Giêsu vẫn chọn thi hành thánh ý Chúa Cha hơn là theo ý riêng mình, [16] trở thành “vâng phục cho đến chết, chết trên thập giá” (Pl 2,8). Vì thế tác giả Thư Híp-ri kết luận rằng Đức Giêsu “đã trải qua đau khổ để học biết thế nào là vâng phục” (5,8).

Tất cả những điều này cho thấy rõ rằng “Thánh Giuse đã được Thiên Chúa kêu gọi phục vụ cho con người và sứ mạng của Chúa Giêsu cách trực tiếp, qua việc thi hành chức phận làm cha của mình”, và bằng cách ấy “khi thời gian viên mãn, ngài đã cộng tác vào mầu nhiệm cứu độ cao cả, và thực sự trở thành một thừa tác viên của ơn cứu độ.” [17]

4. Một người cha biết đón nhận

Giuse đã đón nhận Maria cách vô điều kiện. Ngài tin vào lời của thiên thần. “Điều cao quí nơi trái tim của Giuse, đó là ngài đặt luật lệ phụ thuộc vào đức ái. Ngày nay, trong thế giới chúng ta với những bạo lực thể lý, ngôn ngữ và tâm lý đối với phụ nữ thật quá rõ ràng, Giuse hiển hiện như hình tượng một người đàn ông nhạy cảm và biết kính trọng. Ngay cả dù ngài không hiểu toàn thể câu chuyện lớn hơn, ngài vẫn quyết định bảo vệ thanh danh, phẩm giá và sự sống của Maria. Trong khi ngài do dự chưa biết hành động thế nào tốt nhất, thì Thiên Chúa đã giúp soi sáng cho sự phán đoán của ngài”. [18]

Rất thường trong đời sống, nhiều sự việc xảy ra mà chúng ta không hiểu ý nghĩa của chúng. Phản ứng đầu tiên của chúng ta thường là thất vọng và phản kháng. Giuse đã đặt các ý nghĩ của mình qua một bên để chấp nhận các biến cố, đảm nhận chúng dù chúng xem ra khó hiểu, lãnh trách nhiệm về chúng và hội nhập chúng vào câu chuyện cuộc đời mình. Nếu chúng ta không hòa giải với câu chuyện cuộc đời mình, chúng ta sẽ không thể nhấc bước tiến về phía trước, vì chúng ta sẽ luôn vẫn còn là con tin của các điều mình kỳ vọng và của những thất vọng xảy đến sau đó.

Nẻo đường linh đạo mà Giuse vạch ra cho chúng ta không phải là nẻo đường giải thích, mà là nẻo đường đón nhận. Chỉ nhờ sự đón nhận và sự hòa giải ấy chúng ta mới có thể bắt đầu thoáng nhìn được một câu chuyện rộng lớn hơn, một ý nghĩa thâm sâu hơn. Hầu như chúng ta có thể nghe vang âm câu trả lời đầy tâm huyết của ông Gióp cho vợ mình, người đã thôi thúc ông phản kháng lại những sự dữ mà ông phải chịu đựng: “Chúng ta đón nhận điều lành từ Thiên Chúa, còn điều dữ, lại không biết đón nhận sao?” (G 2,10).

Chắc chắn Giuse không phải là người bạc nhược thụ động, mà là người tác động cách mạnh mẽ và can đảm. Trong đời sống của chúng ta, thái độ đón nhận có thể là một biểu hiện của ơn dũng cảm do Chúa Thánh Thần. Chỉ Chúa mới có thể ban cho chúng ta sức mạnh cần thiết để đón nhận đời sống như sự thật của nó, với tất cả những mâu thuẫn, mệt mỏi và chán chường của nó.

Sự có mặt của Chúa Giêsu giữa chúng ta là một món quà của Chúa Cha, giúp cho mỗi chúng ta có thể hòa giải với câu chuyện cuộc đời cụ thể của mình, ngay cả dù chúng ta không hiểu được hết câu chuyện ấy.

Như Thiên Chúa đã bảo Giuse: “Này con của Đavít, đừng sợ!” (Mt 1,20), thì Ngài cũng nói với chúng ta: “Đừng sợ!” Chúng ta cần gạt qua một bên mọi giận dữ và thất vọng, để đảm nhận lấy mọi sự như thực tế của chúng, cho dù chúng không trở nên như điều mình ước mong. Không phải với thái độ bạc nhược cam chịu, nhưng là với hy vọng và can đảm! Bằng cách này, chúng ta sẽ mở ra để nhận hiểu một ý nghĩa sâu xa hơn. Cuộc sống của chúng ta có thể được tái sinh cách kỳ diệu nếu chúng ta có được sự can đảm để sống phù hợp với Tin Mừng. Không hề chi nếu mọi sự xem chừng bất ổn, hay một số điều nào đó không còn có thể sửa chữa được nữa. Thiên Chúa có thể làm cho sỏi đá nở hoa. Ngay cả dù lòng chúng ta cáo tội chúng ta, thì “Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Ngài biết hết mọi sự” (1Ga 3,20).

Một lần nữa, ở đây chúng ta gặp thấy tính hiện thực Kitô giáo, trong đó không phủ nhận bất cứ gì hiện hữu. Thực tế – trong tính phức tạp kỳ lạ và bất khả chế giảm của nó – là cái chứa đựng ý nghĩa hiện sinh, với tất cả ánh sáng và bóng tối của nó. Vì thế Thánh Phaolô có thể tuyên bố: “Chúng ta biết rằng Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Ngài” (Rm 8,28). Thánh Augustinô còn nói thêm: “ngay cả điều được gọi là sự dữ (etiam illud quod malum dicitur)”. [19] Trong viễn tượng rộng lớn này, đức tin sẽ trao ý nghĩa cho mọi biến cố, dù vui hay buồn.

Chúng ta cũng đâu có nghĩ rằng tin là tìm kiếm những giải pháp dễ dàng và dễ chịu. Đức tin mà Đức Kitô dạy chúng ta là đức tin được thấy nơi Thánh Giuse. Ngài không tìm những con đường tắt, nhưng nhìn thẳng thực tế và đương đầu với nó, nhận trách nhiệm của mình đối với nó.

Thái độ của Thánh Giuse khích lệ chúng ta đón nhận người khác như chính sự thật của họ, một cách vô điều kiện, và đặc biệt quan tâm những người yếu, vì Thiên Chúa chọn những gì yếu kém (x. 1Cr 1,27). Thiên Chúa là “Cha của các cô nhi và là người bảo vệ các quả phụ” (Tv 68,6), Ngài truyền cho chúng ta phải yêu thương những người ngoại kiều đang ở giữa chúng ta. [20] Tôi có cảm nghĩ rằng chính từ Thánh Giuse mà Chúa Giêsu rút ra cảm hứng cho dụ ngôn về người con đi hoang và người cha nhân từ (x. Lc 15,11-32).

5. Một người cha can đảm một cách sáng tạo

Nếu bước đầu tiên của mọi cuộc chữa lành nội tâm đích thực là chấp nhận câu chuyện lịch sử riêng của mình và đảm nhận ngay cả những điều mà mình không chọn lựa trong cuộc sống, thì ở đây chúng ta phải thêm một yếu tố quan trọng khác: sự can đảm có sức sáng tạo. Điều này đặc biệt được thấy trong cách thức chúng ta giải quyết những khó khăn. Đối diện với khó khăn, chúng ta hoặc đầu hàng và lẩn tránh, hoặc đương đầu với nó cách nào đó. Nhiều khi, những khó khăn sẽ khui ra các nguồn lực mà chúng ta thậm chí không nghĩ rằng mình có.

Khi đọc các trình thuật về thời thơ ấu của Chúa Giêsu, chúng ta có thể thường tự hỏi tại sao Thiên Chúa đã không hành động một cách trực tiếp và rõ rệt hơn. Nhưng Thiên Chúa hành động qua các biến cố và những con người. Giuse là người được Thiên Chúa chọn để lèo lái buổi ban đầu của lịch sử cứu chuộc. Ngài là “phép lạ” thực sự qua đó Thiên Chúa cứu Hài Nhi và Mẹ Người. Thiên Chúa đã hành động bằng cách tin tưởng vào sự can đảm có sức sáng tạo của Giuse. Khi đi tới Bêlem và không tìm được chỗ nào cho Maria có thể sinh con, Giuse đã chọn một chuồng súc vật và cố gắng hết sức có thể để biến nó thành một mái nhà tiếp đón Con Thiên Chúa đến trần gian (x. Lc 2,6-7). Đối diện với mối nguy hiểm rất lớn từ Hêrôđê, kẻ muốn sát hại con trẻ, Giuse được cảnh báo lần nữa trong giấc mơ rằng phải bảo vệ Hài Nhi, và ngài chỗi dậy lúc nửa đêm để thu xếp đi lánh nạn bên Ai Cập (x. Mt 2,13-14).

Nếu chỉ đọc cách hời hợt những câu chuyện này, người ta thường có ấn tượng rằng thế giới hoàn toàn lụy thuộc những kẻ mạnh và nắm quyền lực, nhưng “Tin Mừng” luôn cho thấy rằng đứng trước tất cả những hung hăng và bạo lực của các quyền lực thế gian, Thiên Chúa luôn luôn tìm ra cách để thực hiện kế hoạch cứu độ của Ngài. Cũng vậy, cuộc sống của chúng ta nhiều khi dường như lụy thuộc vào những kẻ cầm quyền, nhưng Tin Mừng cho ta thấy điều gì mới thật sự quan trọng. Thiên Chúa luôn luôn tìm ra cách để cứu chúng ta, miễn là chúng ta thể hiện cùng sự can đảm có sức sáng tạo như người thợ mộc ở Nadarét, người thợ mộc ấy đã có thể biến một thách đố thành một cơ hội bằng cách luôn luôn tin tưởng vào Chúa Quan Phòng.

Nếu có những lúc dường như Thiên Chúa không giúp đỡ chúng ta, thì điều đó chắc chắn không có nghĩa rằng chúng ta bị bỏ mặc, nhưng trái lại nó có nghĩa rằng chúng ta đang được Thiên Chúa tín nhiệm trao cho việc hoạch định, phát huy sáng tạo, và chính mình tìm ra các giải pháp.

Loại can đảm có sức sáng tạo này đã được thể hiện bởi những người bạn của bệnh nhân bại liệt kia, họ đã thả anh xuống từ mái nhà để anh tiếp cận Đức Giêsu (x. Lc 5,17-26). Những khó khăn đã không ngăn cản được sự táo bạo và kiên quyết của những người bạn ấy. Họ xác tín rằng Đức Giêsu có thể chữa lành cho bệnh nhân ấy, và “vì không tìm được lối đem người ấy vào, nên họ mới lên mái nhà, dỡ ngói ra, thả người ấy cùng với cái giường xuống ngay chính giữa, trước mặt Đức Giêsu. Thấy họ có lòng tin như vậy, Người bảo: ‘Này anh, anh đã được tha tội rồi’” (c. 19-20). Chúa Giêsu đã nhận ra đức tin đầy sức sáng tạo nơi những người cố tìm cách đưa người bạn mắc bệnh của họ đến với Người.

Tin Mừng không cho ta biết Maria, Giuse và con trẻ đã lưu lại Ai Cập bao lâu. Nhưng chắc chắn cả gia đình cần cái ăn, chỗ ở, và công việc làm. Không cần nhiều trí tưởng tượng lắm để hình dung những chi tiết ấy. Thánh Gia đã phải đối diện với những vấn đề cụ thể như mọi gia đình khác, như rất nhiều anh chị em di dân của chúng ta hôm nay, những người phải liều mạng để chạy tránh thảm cảnh cùng cực và đói kém. Về phương diện này, tôi xem Thánh Giuse như vị thánh bổn mạng đặc biệt của tất cả những ai bị bắt buộc phải rời bỏ quê hương xứ sở của mình vì chiến tranh, vì bị thù ghét, bị bách hại và vì nghèo đói.

Ở cuối mỗi trình thuật liên quan đến vai trò của Giuse, Tin Mừng cho ta biết rằng ngài chỗi dậy, thu xếp cho Hài Nhi và Mẹ Người, và thi hành điều Thiên Chúa truyền dạy (x. Mt 1,24; 2,14.21). Quả thật, Chúa Giêsu và Đức Maria, Mẹ Người, là kho tàng quí giá nhất của đức tin chúng ta. [21]

Trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, Chúa Con không tách rời khỏi Mẹ Người là Đức Maria, người “đã bước tới trong cuộc hành hương của đức tin, và trung thành kiên thủ trong sự kết hiệp với Con mình cho đến khi đứng dưới chân thập giá”. [22]

Chúng ta luôn cần biết xem thử liệu mình có đang bảo vệ Chúa Giêsu và Mẹ Maria không, vì một cách mầu nhiệm các ngài cũng được ủy thác cho trách nhiệm của chúng ta, để chúng ta chăm sóc và gìn giữ. Con của Đấng Toàn Năng đã đến thế giới này trong một tình trạng rất chênh vênh. Ngài cần được Giuse bênh vực, bảo vệ, chăm sóc và nuôi dưỡng. Thiên Chúa tín nhiệm Giuse, như đã tín nhiệm Maria, và Maria đã tìm thấy nơi Giuse một người không chỉ cứu sống mình mà còn luôn luôn là chỗ cậy dựa cho mình và cho con trẻ. Theo nghĩa này, Thánh Giuse quả đúng là Đấng Bảo Vệ của Hội Thánh, vì Hội Thánh là sự tiếp tục của Thân Mình Đức Kitô trong lịch sử, cũng như vai trò làm mẹ của Đức Maria được phản ảnh trong vai trò làm mẹ của Hội Thánh. [23] Trong khi không ngừng bảo vệ Hội Thánh, Thánh Giuse tiếp tục bảo vệ con trẻ và Mẹ Người, và với lòng yêu mến Hội Thánh, chúng ta cũng tiếp tục yêu mến con trẻ và Mẹ Người.

Người Con ấy tiếp tục tuyên bố: “Những gì các ngươi làm cho một trong những anh em bé mọn nhất của Ta đây, đó là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt 25,40). Vì thế, mọi người nghèo, người túng quẫn, đau khổ, hấp hối, mọi người khách lạ, mọi tù nhân, mọi người ốm đau đều là người “con trẻ” mà Giuse vẫn tiếp tục bảo vệ. Do đó, Thánh Giuse được kêu cầu như Đấng bảo vệ những người bất hạnh, những kẻ túng quẫn, những người lưu đày, khốn khó, nghèo khổ, và hấp hối. Vì thế, Giáo hội không thể không biểu hiện một tình yêu đặc biệt đối với những người bé mọn nhất trong các anh chị em của chúng ta, vì Chúa Giêsu đã dành sự quan tâm cách riêng cho những người ấy, và Người đã tự đồng hóa chính Người với họ. Chúng ta phải học từ Thánh Giuse cùng sự quan tâm và trách nhiệm ấy. Chúng ta phải học để biết yêu con trẻ và Mẹ Người, biết yêu quí các bí tích và đức ái, biết yêu mến Hội Thánh và người nghèo. Mỗi trong những thực tại ấy luôn luôn là con trẻ và Mẹ Người.

6. Một người cha lao động

Một khía cạnh của Thánh Giuse vẫn được nhấn mạnh từ thời của Thông điệp xã hội đầu tiên là Rerum Novarum do Đức giáo hoàng Lêô XIII công bố, đó là mối liên hệ giữa Thánh Giuse với lao động. Thánh Giuse là một người thợ mộc kiếm sống cách lương thiện cho gia đình mình. Chính từ ngài mà Chúa Giêsu đã học biết giá trị, phẩm giá và niềm vui của việc sống bằng công sức lao động của mình.

Trong thời đại chúng ta, khi công việc sinh kế lại trở thành một vấn đề xã hội nhức nhối, và nạn thất nghiệp có khi leo tới những mức kỷ lục ngay tại những quốc gia đã từng thịnh vượng trong nhiều thập niên, thì chúng ta lại cần phải biết lưu tâm tới tầm quan trọng của lao động chân chính, mà Thánh Giuse là một vị Quan Thầy mẫu mực.

Lao động là một phương cách để tham dự vào công cuộc cứu độ, một cơ hội để thúc đẩy sự hiện thực hóa Nước Trời, để phát triển các khả năng của chúng ta, và dùng các khả năng ấy để phục vụ cho xã hội và cho sự hiệp thông huynh đệ. Lao động trở thành một cơ hội để hoàn thành không chỉ bản thân mình, mà còn để chăm sóc tế bào đầu tiên của xã hội là gia đình nữa. Một gia đình mà không có công ăn việc làm thì sẽ rất dễ rơi vào các khó khăn, căng thẳng, phân hóa và đổ vỡ. Làm sao chúng ta có thể nói về phẩm giá con người nếu chúng ta không làm việc để bảo đảm rằng mọi người đều có thể kiếm sống một cách xứng đáng?

Những người lao động trong bất luận nghề nghiệp nào đều đang cộng tác với chính Thiên Chúa, và cách nào đó họ trở thành những người sáng tạo nên thế giới xung quanh chúng ta. Cơn khủng hoảng trong thời đại chúng ta – về kinh tế, xã hội, văn hóa và tâm linh – có thể là những tiếng thúc giục chúng ta khám phá lại giá trị, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc cố gắng đem lại một tình trạng “bình thường” mới, trong đó không có ai bị loại trừ. Việc lao động mưu sinh của Thánh Giuse nhắc ta nhớ rằng chính Thiên Chúa, khi làm người, đã không xem thường lao động. Tình trạng mất việc làm đang ảnh hưởng đến rất nhiều anh chị em của chúng ta, và đang gia tăng do đại dịch Covid-19, là dịp để ta phải biết xem xét lại các mối ưu tiên của mình. Chúng ta hãy khẩn cầu Thánh Giuse Lao Công giúp chúng ta tìm ra những cách thế để diễn tả niềm xác tín mạnh mẽ của mình rằng không được để bất cứ người trẻ nào, bất cứ người nào, bất cứ gia đình nào không có công việc mưu sinh!

7. Một người cha là chiếc bóng

Nhà văn Ba Lan Jan Dobraczyński, trong quyển The Shadow of the Father (Bóng của người Cha), [24] kể câu chuyện về cuộc đời Thánh Giuse qua hình thức tiểu thuyết. Tác giả khéo léo dùng hình ảnh một chiếc bóng để nói về Giuse. Trong mối tương quan với Giêsu, Giuse là chiếc bóng trên mặt đất này của Cha trên trời: Giuse coi sóc và bảo vệ Giêsu, không bao giờ bỏ mặc Giêsu. Chúng ta có thể liên tưởng đến những lời của Môsê nói với dân Israel: “Trong sa mạc… các ngươi đã thấy Chúa là Thiên Chúa các ngươi đã mang các ngươi đi, như người ta bồng bế một đứa trẻ, trên suốt con đường các ngươi đã đi qua” (Đnl 1,31). Một cách tương tự, Giuse đã hành động như một người cha trong cả đời ngài. [25]

Người ta không bẩm sinh là cha, mà phải làm cha. Một người không trở thành cha duy chỉ bởi việc sinh một đứa con cho đời, mà bằng việc đảm nhận trách nhiệm chăm sóc đứa con ấy. Bất cứ khi nào một người nhận trách nhiệm trên đời sống của một người khác, thì có thể nói đã trở thành cha của người ấy.

Ngày nay con cái xem chừng thường mồ côi, thiếu vắng những người cha. Giáo hội cũng cần những người cha. Điều Thánh Phaolô nói với các tín hữu ở Côrinthô vẫn còn đầy tính thời sự: “Dù anh em có vô số người hướng dẫn trong Đức Kitô, anh em cũng không có nhiều cha đâu” (1Cr 4,15). Mọi linh mục hay giám mục phải có thể nói thêm, cùng với vị Thánh Tông đồ, rằng: “Tôi đã trở thành cha của anh em trong Đức Giêsu Kitô và nhờ Tin Mừng” (ibid.). Phaolô cũng nói với các tín hữu Galát: “Hỡi những người con bé nhỏ của tôi, mà tôi phải quặn đau sinh ra một lần nữa cho đến khi Đức Kitô được thành hình nơi anh em” (4,19).

Việc làm cha bao hàm việc đưa con cái vào đời và vào thực tế. Không phải níu giữ chúng lại, che chắn chúng kín mít hay chiếm hữu chúng, mà đúng hơn giúp chúng có khả năng tự quyết định, hành động cách tự do và khám phá những khả năng mới. Có lẽ vì lý do này mà xưa nay Thánh Giuse được gọi là một người cha “cực thanh cực tịnh”. Tước hiệu ấy không đơn thuần là một diễn tả về tình cảm, nhưng là sự đúc kết một thái độ đối lập với xu hướng chiếm hữu. Khiết tịnh là tự do khỏi xu hướng chiếm hữu trong mọi phương diện của đời sống mình. Tình yêu chỉ chân thực khi nó khiết tịnh. Một tình yêu chiếm hữu rốt cục sẽ trở thành nguy hiểm: nó giam hãm, kiểm soát và dẫn tới thảm cảnh khốn nạn. Thiên Chúa yêu thương con người với một tình yêu khiết tịnh; Ngài để cho chúng ta tự do ngay cả đi lạc và quay lại chống Ngài. Luận lý của tình yêu luôn luôn là luận lý của tự do, và Giuse biết cách yêu thương với sự tự do phi thường. Ngài không bao giờ đặt mình làm trung tâm. Ngài không nghĩ về bản thân mình, nhưng tập trung quan tâm đến đời sống của Maria và Giêsu.

Giuse tìm thấy hạnh phúc không duy chỉ trong sự quên mình mà còn trong sự trao hiến chính mình. Nơi ngài, chúng ta không bao giờ nhìn thấy sự chán nản mà chỉ thấy thái độ tín thác. Tính cách trầm lặng của ngài là dấu chỉ cho thấy những biểu hiện cụ thể của lòng tín thác. Thế giới của chúng ta ngày nay cần những người cha. Thế giới không cần những nhà độc tài thống trị người khác nhằm thỏa mãn các nhu cầu của mình. Thế giới chúng ta tẩy chay những kẻ nhập nhằng lẫn lộn giữa quyền bính và cường quyền, giữa phục vụ và nô dịch, giữa thảo luận và áp chế, giữa từ thiện và não trạng ỷ lại, giữa sức mạnh và sức hủy diệt. Mọi ơn gọi đích thực đều phát xuất từ việc trao hiến chính mình, đó là hoa trái của sự hy sinh chín chắn. Chức linh mục và đời sống thánh hiến đòi phải có sự chín chắn này. Dù ơn gọi của chúng ta là gì đi nữa, dù ta kết hôn, độc thân hay trinh khiết, việc ta trao hiến chính mình sẽ không đạt mức trọn vẹn nếu chỉ dừng lại ở việc hy sinh; vì nếu vậy, thay vì trở thành một dấu hiệu của vẻ đẹp và của niềm vui yêu thương, sự hiến mình của ta sẽ có nguy cơ thể hiện sự bất hạnh, buồn phiền và chán nản.

Khi những người cha từ chối sống cuộc đời của con cái mình thay cho chúng, thì những viễn ảnh mới mẻ và bất ngờ sẽ mở ra. Mọi đứa trẻ đều là người mang trong mình một mầu nhiệm độc đáo, có thể được đưa ra ánh sáng nhờ sự giúp đỡ của một người cha biết tôn trọng sự tự do của đứa con. Đó là một người cha nhận hiểu rằng mình là một người cha và nhà giáo dục đúng nghĩa nhất khi mình trở thành “vô dụng”, khi mình nhìn thấy đứa con của mình trở nên độc lập và có thể bước đi trên những nẻo đường đời mà không cần ai đi kèm bên. Đó là khi người cha ấy trở nên giống như Thánh Giuse, đấng luôn hiểu rằng đứa con của mình không thuộc về riêng mình, mà chỉ là được ủy thác cho sự săn sóc của mình. Rốt cục, đó chính là điều Chúa Giêsu muốn ta hiểu khi Người nói: “Đừng gọi ai dưới đất này là cha, vì anh em chỉ có một Cha, Đấng ngự trên trời” (Mt 23,9).

Khi thi hành chức phận làm cha, chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ rằng chức phận ấy không liên quan gì với sự chiếm hữu, nhưng đúng hơn đó là một “dấu” hướng chỉ đến một người Cha lớn hơn. Cách nào đó, tất cả chúng ta đều giống như Giuse: là một chiếc bóng của Cha trên trời, Đấng “cho mặt trời của Ngài mọc lên trên người lành lẫn kẻ dữ, và cho mưa xuống trên người công chính lẫn kẻ bất chính” (Mt 5,45). Và đó là một chiếc bóng đi theo người Con của Chúa Cha.

* * *

Thiên Chúa nói với Thánh Giuse: “Hãy chỗi dậy, đem con trẻ và Mẹ Người đi” (Mt 2,13).

Mục đích của Tông Thư này là vun xới hơn nữa tình yêu của chúng ta đối với vị Thánh Cả, khích lệ chúng ta kêu xin sự chuyển cầu của ngài, và bắt chước các nhân đức và nhiệt tâm của ngài.

Thật vậy, sứ mạng riêng của các thánh không chỉ là đạt được các phép lạ và các ân phúc, nhưng là chuyển cầu cho chúng ta trước mặt Thiên Chúa, như Abraham [26] và Môsê [27], và như Chúa Giêsu, Đấng là “trung gian duy nhất” (1Tm 2,5), là “trạng sư” của chúng ta trước Chúa Cha (1Ga 2,1), và là Đấng “hằng sống để chuyển cầu [cho chúng ta]” (Dt 7,25; x. Rm 8,34).

Các thánh giúp các tín hữu “phấn đấu nên thánh và nên hoàn thiện theo bậc sống riêng của mình”. [28] Cuộc đời của các thánh là bằng chứng cụ thể rằng người ta hoàn toàn có thể sống theo Tin Mừng.

Chúa Giêsu bảo chúng ta: “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29). Đời sống của các thánh cũng là những tấm gương cho ta bắt chước. Thánh Phaolô nói rõ điều này: “Anh em hãy bắt chước tôi!” (1Cr 4,16). [29] Bằng sự thinh lặng ‘hùng hồn’ của mình, Thánh Giuse cũng nói tương tự.

Đứng trước gương sáng của rất nhiều người nam nữ thánh thiện, Thánh Augustinô tự hỏi: “Những điều các thánh làm được, sao mình không thể làm được?” Và ngài đã tiến gần hơn tới cuộc hoán cải dứt khoát của mình, trong đó ngài có thể thốt lên: “Lạy Chúa là vẻ Đẹp mãi mãi cổ kính và mãi mãi mới mẻ, con đã yêu Chúa muộn màng!” [30]

Chúng ta chỉ cần cầu xin Thánh Giuse ơn khẩn thiết nhất, đó là ơn hoán cải.

Giờ đây chúng ta hãy cầu nguyện với ngài:

Lạy Đấng Bảo hộ Chúa Cứu Chuộc,

là Bạn Trăm Năm của Đức Trinh Nữ Maria.

Thiên Chúa đã trao phó Con Một cho ngài;

Mẹ Maria đã tín thác vào ngài;

và với ngài, Chúa Kitô đã làm người.

Lạy Thánh Giuse, cả đối với chúng con nữa,

xin ngài hãy làm một người cha

và hướng dẫn chúng con trên đường đời.

Xin giúp chúng con có được từ tâm, lòng thương xót, và can đảm,

và bảo vệ chúng con khỏi mọi sự dữ. Amen.

Ban hành tại Rôma, Đền thờ Thánh Gioan Latêranô, ngày 8 tháng 12, Lễ Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, năm 2020, năm thứ tám triều Giáo hoàng của tôi.

PHANXICO

(Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS, dịch)

[1] Lk 4:22; Jn 6:42; cf. Mt 13:55; Mk 6:3.

[2] S. RITUUM CONGREGATIO, Quemadmodum Deus (8 December 1870): ASS 6 (1870-71), 194. [3] Cf. Address to ACLI on the Solemnity of Saint Joseph the Worker (1 May 1955): AAS 47 (1955), 406.

[4] Cf. Apostolic Exhortation Redemptoris Custos (15 August 1989): AAS 82 (1990), 5-34.

[5] Catechism of the Catholic Church, 1014.

[6] Meditation in the Time of Pandemic (27 March 2020): L’Osservatore Romano, 29 March 2020, p. 10. [7] In Matthaeum Homiliae, V, 3: PG 57, 58. [8] Homily (19 March 1966): Insegnamenti di Paolo VI, IV (1966), 110.

[9] Cf. Autobiography, 6, 6-8.

[10] Trong 40 năm qua, hằng ngày sau giờ Kinh Sáng, tôi vẫn đọc lời cầu nguyện với Thánh Giuse lấy từ một sách nguyện ở Pháp hồi thế kỷ 19 của Dòng các Nữ tu Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Lời nguyện ấy diễn tả lòng sùng mộ và tín thác, và ngay cả thách đố Thánh Giuse nữa: “Lạy Cha Thánh Giuse vinh hiển, quyền lực của ngài làm cho những gì không thể trở thành có thể, xin đến cứu giúp con trong thời khắc khốn khó này. Xin đặt trong sự che chở của ngài những tình hình rối ren nghiêm trọng mà con xin phó dâng, ước gì mọi sự sẽ vãn hồi tốt đẹp. Lạy Cha rất yêu mến, con đặt trọn niềm tín thác nơi ngài. Xin đừng để ai có thể nói rằng con đã kêu cầu ngài cách uổng công, và vì ngài có thể làm mọi sự với Chúa Giêsu và Mẹ Maria, xin tỏ cho con thấy lòng tốt nơi ngài cũng lớn lao như uy quyền của ngài vậy. Amen”

[11] Cf. Deut 4:31; Ps 69:16; 78:38; 86:5; 111:4; 116:5; Jer 31:20.

[12] Cf. Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 88, 288: AAS 105 (2013), 1057, 1136-1137.

[13] Cf. Gen 20:3; 28:12; 31:11.24; 40:8; 41:1-32; Num 12:6; 1 Sam 3:3-10; Dan 2, 4; Job 33:15.

[14] Trong những trường hợp như thế, luật qui định ngay cả biện pháp ném đá (x. Đnl 22,20-21). [15] Cf. Lev 12:1-8; Ex 13:2.

[16] Cf. Mt 26:39; Mk 14:36; Lk 22:42.

[17] SAINT JOHN PAUL II, Apostolic Exhortation Redemptoris Custos (15 August 1989), 8: AAS 82 (1990), 14.

[18] Homily at Mass and Beatifications, Villavicencio, Colombia (8 September 2017): AAS 109 (2017), 1061.

[19] Enchiridion de fide, spe et caritate, 3.11: PL 40, 236. [20] Cf. Deut 10:19; Ex 22:20-22; Lk 10:29-37.

[21] Cf. S. RITUUM CONGREGATIO, Quemadmodum Deus (8 December 1870): ASS 6 (1870-1871), 193; BLESSED PIUS IX, Apostolic Letter Inclytum Patriarcham (7 July 1871): l.c., 324-327.

[22] SECOND VATICAN ECUMENICAL COUNCIL, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 58.

[23] Catechism of the Catholic Church, 963-970.

[24] Original edition: Cień Ojca, Warsaw, 1977.

[25] Cf. SAINT JOHN PAUL II, Apostolic Exhortation Redemptoris Custos, 7-8: AAS 82 (1990), 12-16.

[26] Cf. Gen 18:23-32.

[27] Cf. Ex 17:8-13; 32:30-35.

[28] SECOND VATICAN ECUMENICAL COUNCIL, Dogmatic Constitution Lumen Gentium, 42.

[29] Cf. 1 Cor 11:1; Phil 3:17; 1 Thess 1:6.

[30] Confessions, VIII, 11, 27: PL 32, 761; X, 27, 38: PL 32, 795.

________________________________________


ĐTC Phanxicô: Làm Giáo Hoàng Không Phải Là Một Việc Dễ àng

Trong một cuộc phỏng vấn được thực hiện bởi nhật báo Il Fatto Quotidiano của Ý nhân dịp 10 năm giáo hoàng, Đức Thánh Cha nói rằng làm Giáo hoàng không phải là một việc dễ dàng. Không ai đã học hỏi trước khi làm việc này. Ngài xin mọi người cầu nguyện khi nói về tương lai của Giáo hội và triều đại Giáo hoàng của ngài cho đến nay.

Hồng Thủy – Vatican News

Đức Thánh Cha nhắc lại Thánh Phêrô đã “vấp ngã” thế nào khi chối bỏ Chúa Kitô. Nhưng sau khi phục sinh, Chúa Giêsu đã chọn Phêrô một lần nữa. Đức Thánh Cha giải thích: “Đó là lòng thương xót của Chúa đối với chúng ta. Cũng với Giáo hoàng. ‘Servus inutilis sum – Tôi là một đầy tớ vô dụng’, như Thánh Phaolô VI đã viết trong tác phẩm ‘Những suy nghĩ về sự chết.’”

Chúa phán xét dự trên việc thực hành lòng thương xót

Về những hy vọng đối với tương lai của Giáo hội, thế giới và cuộc sống của chính ngài, Đức Thánh Cha cho biết “chương trình điều hành” trong triều đại giáo hoàng của ngài là thực hiện các yêu cầu của Hồng y đoàn, các cuộc họp diễn ra trước mật nghị bầu chọn ngài. Ngài cũng nói rằng vào năm 2013, ngài thường suy tư về một đoạn trích từ bài giảng Thánh lễ đầu tiên của Đức Biển Đức XVI. Ngài từ chối đánh giá triều đại Giáo hoàng của ngài cho đến nay. Ngài nói rằng, một ngày nào đó, Chúa sẽ phán xét cuộc đời của ngài dựa trên việc ngài có thực hành các công việc Thương xót Thể lý như Chúa Giêsu đã dạy hay không.

Hoà bình cho thế giới; Giáo hội không có chủ nghĩa giáo sĩ

Đối với thế giới, ngài cầu chúc hoà bình. Ngài cũng chỉ trích điều mà ngài gọi là “sự toàn cầu hóa của thái độ dửng dưng” trước những thảm kịch như chiến tranh.

Đức Thánh Cha mơ về tương lai của Giáo hội là một Giáo hội dấn thân đi ra thế giới và ở giữa mọi người, một Giáo hội không có chủ nghĩa giáo sĩ. Ngài trích lời Đức Hồng y Henrie de Lubac, đối với một linh mục, chủ nghĩa giáo sĩ “sẽ vô cùng tai hại hơn bất kỳ tính thế tục đạo đức.”

Xin cầu nguyện

Nói với độc giả của tờ báo, Đức Thánh Cha xin những lời cầu nguyện từ những người cầu nguyện và “những tình cảm tốt” từ những người không cầu nguyện. Ngài nói: “Giáo hoàng yêu quý các bạn và đang cầu nguyện cho các bạn.” Ngài nói thêm: “Ngay cả khi những điều tồi tệ xảy ra, ngay cả khi các bạn có kinh nghiệm tồi tệ về một người nào đó của Giáo hội, đừng để điều đó ảnh hưởng đến các bạn. Chúa luôn mở rộng vòng tay chờ đợi các bạn.”

Nguồn: Vatican news


MỆT…! HÃY NGHỈ

Chắc hẳn đã là người đến một lúc nào đó sẽ cảm thấy thấm mệt. Cái mệt làm cho ta luôn chùn bước, rã rời, muốn bước đi nhưng lại khựng giữa khoảng không gian rộng lớn như một giọt nước đang chơi vơi giữa lòng đại dương. Ta gắng dốc từng hơi thở để tìm lại sức sống. Mệt cũng là nỗi khổ riêng của mỗi người. Chẳng thế mà Trịnh Công Sơn đã viết: “Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”

Có nhiều cái mệt: mệt óc, mệt lòng, mệt trí. Mệt làm suy sụp tiêu hao, tiều tụy rồi chán chường bỏ ngỏ, để lại sau lưng tất cả những hoài bão, dự định, lý tưởng, chẳng buồn nghĩ tới tương lai. Đôi khi ta mệt là chuyện rất bình thường. Tệ hơn, ta biết mình mệt mà không dám dừng, cứ lao về phía trước như con thiêu thân mà chẳng có một kế hoạch rõ ràng, khoa học. Ta cứ phải đi tìm cho mình những mặt nạ phù hợp với từng công việc và tương quan, để trốn tránh thực tại, không dám đối diện với bản thân. Ta phải cố gắng tìm những lý lẽ riêng để che đậy sự giả dối bằng tất cả năng lực của mình.

Mệt vì ta luôn sống theo suy nghĩ và cuộc sống của người khác mà chẳng có lập trường của mình. Ta xây dựng hình tượng của mình trên những dư luận, những đòi hỏi nhất thời của cuộc sống mà quên đi đó là bóng mờ ảo ảnh. Ta chẳng lắng nghe được chính mình, im lặng trước tiếng nói của con tim. Đã biết bao lần ta thấy lòng mình tăm tối và hoang lạnh như một gã khờ bước đi trong đêm. Ta mệt khi lòng mình quá nhiều bóng tối mà không biết làm sao để thoát khỏi.

Ta mệt mỏi vì không làm chủ được cảm xúc, cứ canh cánh trong lòng một nỗi lo âu như sợi dây vô hình nào đó. Bởi thế, khi bệnh tật tới, ta không đủ tinh thần để đón nhận, khó khăn một chút ta không đủ dũng cảm để vượt qua. Ta đi trong vòng luẩn quẩn của suy nghĩ, từ khước những lời động viên hay bất kể sự giúp đỡ nào. Điều ấy chứng thực rằng ta mang nơi mình một sự giới hạn, bị khuôn định bởi không gian và thời gian. Ta chọn cho mình một lối đi riêng, mặc kệ đời, mặc kệ vật. Ta tự cho mình là đúng với đủ lý lẽ riêng để bảo vệ quan điểm hiếu thắng.

Ta mệt khi không sống giây phút hiện tại, thân xác ở đây mà tâm trí lang thang phiêu bạt nơi nào. Phải chăng ta đang mơ mộng tìm kiếm một điều gì mong manh mà niềm tin thì yếu đuối. Cái cảm giác chờ đợi mong manh làm xao xuyến cả con tim ở một nơi nào xa xăm nào đó. Ta cứ cắm đầu vào một tương lai vô định mà quên đi hiện tại ở đây và lúc này. Ta kiệt quệ về tinh thần, thể lý và cả con tim biết rung cảm. Quả vậy, mọi thứ sẽ tan biến đi nếu ta không thương lấy chính mình.

Ta mệt khi sống thái độ bi quan. Ta chỉ tập trung vào những mệt mỏi của thân xác mà quên rằng sau ta là cả bầu trời sức mạnh. Bởi ta luôn nhìn mọi sự dưới phông nền màu đen, khi những vệt sáng lại là chủ đạo của gam màu tối. Ta nạp thêm những suy nghĩ, lời nói tiêu cực, và cái nhìn bóp méo để tô thêm màu đen cho cuộc đời. Ta đâu biết rằng còn bao điều tốt đẹp vẫn đang chờ khám phá, còn nhiều cơ hội mời ta làm lại cuộc đời. Dẫu khi cuộc đời cho ta cả trăm lý do để khóc, thì hãy cho đời thấy mình có ngàn lý do để cười. Bởi chính lúc ta yếu đuối nhất là lúc sức mạnh trong ta chỗi dậy.

Nếu mệt…hãy nghỉ ngơi!

Chẳng phải ngẫu nhiên mà Thiên Chúa ban tặng cho ta một ngày để lấy lại sức, đó là “ngày Sabbath”.

Nghỉ ngơi không chỉ để ta được bồi bổ tâm hồn, gia tăng sức mạnh sau một ngày làm việc. Nghỉ ngơi còn là thời gian để ta sắp xếp lại kế hoạch cho ngày mới, định hướng cho tương lai và sống quân bình. Nghỉ ngơi cũng là khoảng lặng để ta nhìn lại chính mình, nhìn lại những giới hạn, yếu đuối mong manh của phận người, đồng thời biết tạ ơn trời, cám ơn đời, cho ta thêm một dấu lặng.

Sống là một tiến trình thay đổi bất tận luôn có điểm tới và điểm dừng. Ngay giữa dòng chảy của cuộc đời luôn có bao điều đang vùn vụt qua đi. Qua đi là vĩnh viễn. Sống là bước từng ngày và dừng đúng thời điểm. Ta có dám phung phí đặt vào cuộc đời mình một khoảng lặng khi bị cuốn đi bởi dòng chảy ấy. Dám sống là chính mình với tất cả hoài bão và lý tưởng để cống hiến cho cuộc đời này thêm nhiều giá trị.

Maria Vũ Khánh


5 Chủ Đề Nổi Bật Trong 10 Năm Triều Đại Giáo Hoàng Phanxicô

Ngày 13/3/2023 là tròn 10 năm Đức Thánh Cha Phanxicô được bầu chọn làm Giáo hoàng, kế vị thánh Phêrô lãnh đạo Giáo hội. Ký giả Elise Ann Allen của báo Crux Now đã chọn 5 chủ đề có thể được xem là quan trọng nhất trong giáo huấn của Đức Thánh Cha trong 10 năm hướng dẫn Giáo hội.

Hồng Thủy – Vatican News

Trong 10 năm qua, qua các tài liệu huấn quyền, bằng các bài diễn văn trong các chuyến tông du hay gặp gỡ, hoặc trong các bài giảng Thánh lễ, các bài giáo lý tại các buổi tiếp kiến chung, … Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh đến nhiều chủ đề khác nhau như lòng thương xót, gặp gỡ, người nghèo, kinh tế, hoà bình, hiệp hành, bảo vệ thiên nhiên…  Trong số những chủ đề này, có một số chủ đề nổi bật, bao quát hơn, được Đức Thánh Cha nhấn mạnh hơn.

1. Một Giáo hội nghèo vì người nghèo

Câu chuyện Đức Thánh Cha Phanxicô chọn tên hiệu Giáo hoàng của ngài đã được nhiều người biết đến. Nói chuyện với các nhà báo vài ngày sau khi được bầu làm Giáo hoàng vào ngày 13/3/2013, ngài nói rằng chính người bạn của ngài, cố Hồng y người Brazil Claudio Hummes, là người đã truyền cảm hứng cho ngài chọn tên hiệu Phanxicô.

Như Đức Thánh Cha đã kể lại, khi chắc chắn rằng ngài được bầu chọn làm Giáo hoàng, Đức Hồng y Hummes, khi đó ngồi bên cạnh ngài, đã nói nhỏ với ngài: “Xin đừng quên người nghèo.” Điều này đã gợi ý cho ngài chọn tên hiệu là Phanxicô, theo tên Thánh Phanxicô thành Assisi, người được mệnh danh là “người nghèo thành Assisi.”

Vào dịp đó ngài đã nói: “Ồ, tôi muốn có một Giáo hội nghèo vì người nghèo biết bao.” Và kể từ đó, đây không chỉ trở thành một trong những khẩu hiệu nổi tiếng nhất của ngài trong 10 năm qua, mà còn trở thành xương sống cho phong cách Giáo hoàng và tầm nhìn của ngài về Giáo hội.

Từ bộ trang phục màu trắng đơn giản đến chiếc xe Fiat khiêm tốn mà ngài dùng để di chuyển, từ quyết định thanh toán hóa đơn khách sạn khi được bầu làm Giáo hoàng và việc ngài chọn ai để rửa chân vào mỗi Thứ Năm Tuần Thánh, ưu tiên quan tâm đến phụ nữ, người di cư, người thiểu năng trí tuệ, và tù nhân, một tinh thần khó nghèo đã nhấn mạnh tất cả.

Như là một người, khi còn là Tổng Giám mục Buenos Aires, Đức Thánh Cha thường di chuyển bằng tàu điện ngầm và đi bộ trên những con đường của những khu ổ chuột, Đức Thánh Cha đã luôn ưu tiên những người sống bên lề xã hội, nổi bật nhất là qua việc bênh vực người di cư và người tị nạn, và trong các chuyến tông du nước ngoài của ngài.

Ngay từ đầu, Đức Phanxicô đã cam kết đến thăm các quốc gia mà chưa có vị Giáo hoàng nào khác đến thăm, hoặc những quốc gia có vẻ nhỏ bé và không xứng đáng với một chuyến thăm của Giáo hoàng, với đoàn chiên Công giáo nhỏ bé, chẳng hạn như Bosnia và Herzegovina, Albania, Maxêđônia và Bungari; Gruzia và Adécbaigian; và Myanmar và Bangladesh.

Trong các chuyến tông du quốc tế, ngài luôn quan tâm đến việc gặp gỡ những thành phần dễ bị tổn thương nhất trong xã hội, bao gồm cả các tù nhân, người di cư và người tị nạn, nạn nhân bị lạm dụng, trẻ em đường phố ở Philippines, Kitô hữu bị đàn áp và các nhóm thiểu số khác ở Iraq, hay các nạn nhân chiến tranh ở Cộng hòa Dân chủ Congo và Nam Sudan.

Ngài luôn chào đón những người nghèo đến Vatican để tham quan bảo tàng hoặc những ngày đi biển, và thường ủng hộ những người khuyết tật về thể chất và chậm phát triển, yêu cầu cho họ được lãnh nhận các bí tích. Trong Năm Thánh Lòng Thương Xót 2015-2016, vào mỗi Thứ Sáu, ngài đến thăm những người bị gạt ra ngoài lề xã hội, bệnh tật và nghèo khó.

2. Khí hậu và môi trường

Song song với việc quan tâm và chăm sóc người nghèo và những người bị gạt ra ngoài lề xã hội, Đức Thánh Cha ủng hộ bảo vệ môi trường. Theo ngài,sự ngược đãi môi trường là yếu tố góp phần vào một loạt vấn đề, bao gồm cả vấn đề di cư.

Vấn đề môi trường là mối quan tâm nổi bật của Đức Phanxicô ngay từ đầu triều đại Giáo hoàng của ngài, nổi bật nhất là với việc ban hành Thông điệp sinh thái Laudato Sì vào năm 2015, trong đó ngài lên án mạnh mẽ chủ nghĩa tiêu dùng và những điều ngài gọi là các mô hình phát triển vô trách nhiệm, đồng thời cảnh báo về những nguy cơ về biến đổi khí hậu và sự nóng lên toàn cầu, đồng thời kêu gọi thế giới hành động ngay lập tức. Ngài đã nhiều lần lên tiếng ủng hộ các hội nghị thượng đỉnh về khí hậu toàn cầu nổi tiếng, như các hội nghị COP, và thậm chí dự kiến ​​sẽ tham dự hội nghị thượng đỉnh về khí hậu của Liên Hiệp quốc COP26 tại Glasgow vào tháng 11/2021, nhưng đã không thể vì đã phải phẫu thuật đại tràng vài tháng trước.

Thượng Hội đồng Giám mục năm 2019 của Đức Phanxicô về Amazon chủ yếu tập trung vào các vấn đề môi trường và nhu cầu bảo vệ sự đa dạng sinh học của rừng nhiệt đới Amazon và cứu nó khỏi nạn đốt nương làm rẫy và các kỹ thuật khai thác xói mòn lấn chiếm đất bản địa, buộc nhiều người phải rời bỏ nhà cửa của họ khi các công ty khai thác sâu hơn vào khu rừng giàu khoáng sản.

Đức Thánh Cha cũng đã liên tục kêu gọi chấm dứt việc khai thác lục địa châu Phi – gần đây nhất là trong chuyến thăm Cộng hòa Dân chủ Congo và Nam Sudan – cáo buộc các ngành công nghiệp khai khoáng và các tập đoàn giàu có đã “cưỡng đoạt” đất đai đến độ không thể phục hồi và thu hoạch tất cả của cải cho họ, khiến người giàu càng giàu và người nghèo càng nghèo.

3. Tính hiệp hành

Một khái niệm quan trọng khác trong 10 năm lãnh đạo Giáo hội của Đức Thánh Cha Phanxicô là “Tính hiệp hành”, một từ thông dụng trong triều đại giáo hoàng của ngài, trong khi nhiều người vẫn khó định nghĩa, nó bao hàm tầm nhìn của ngài về Giáo hội toàn cầu và đã trở thành một trong những khía cạnh hiện thời nổi bật nhất của Giáo hội dưới triều Giáo hoàng Phanxicô.

Đức Thánh Cha luôn sử dụng từ “hiệp hành”, để diễn tả một kiểu đối thoại tập thể và thẳng thắn trong đó các quyết định được đưa ra cùng nhau. Theo thời gian, “hiệp hành” thường được hiểu là một phong cách quản lý hợp tác và tư vấn, trong đó tất cả các thành viên, giáo sĩ và giáo dân, tham gia vào việc đưa ra các quyết định về sinh hoạt và sứ mạng của Giáo hội.

Từ này bắt đầu nổi lên trong Thượng Hội đồng Giám mục năm 2018 của Đức Thánh Cha về giới trẻ và đã trở nên nổi bật đến mức nó trở thành chủ đề suy tư chính cho quá trình tham vấn nhiều giai đoạn kéo dài 4 năm trong Giáo hội toàn cầu đang diễn ra như một phần của Thượng Hội đồng Giám mục về tính hiệp hành.

Được đặc trưng bởi các giai đoạn khác nhau, bắt đầu bằng các cuộc tham vấn cấp giáo phận, địa phương với giáo dân trong các giáo xứ, và chuyển sang giai đoạn châu lục, trong đó các bản tóm tắt của các cuộc tham vấn đó đang được thảo luận ở cấp độ rộng hơn, quá trình này đã bắt đầu vào năm 2021 và sẽ kết thúc với hai cuộc họp của các Giám mục ở Rôma , vào tháng 10 năm nay và vào tháng 10 năm 2024.

Mục tiêu chính đã nêu của Thượng hội đồng về tính hiệp hành là làm cho Giáo hội trở thành một nơi cởi mở, chào đón và hòa nhập hơn, nơi mọi người đều có tiếng nói được lắng nghe và không ai cảm thấy bị bỏ rơi, và nơi các quyết định không được đưa ra từ trên cao bằng các nghị định, mà đúng hơn là được thực hiện với sự tham khảo ý kiến của người dân.

Trên thực tế, tính hiệp hành bao gồm một số ưu tiên chính của Đức Thánh Cha, từ việc xóa bỏ chủ nghĩa giáo sĩ đến việc trao quyền cho giáo dân và giới trẻ, đồng thời đảm bảo rằng phụ nữ có vai trò lớn hơn trong Giáo hội, đặc biệt là khi nói đến vai trò lãnh đạo và ra quyết định.

4. Kinh tế

Trong 10 năm qua, Đức Thánh Cha thường chỉ trích công khai chủ nghĩa tư bản thị trường tự do và ủng hộ một hệ thống toàn cầu công bằng hơn, tập trung ít hơn vào lợi nhuận và tập trung nhiều hơn vào sự phân phối công bằng các nguồn lực để phục vụ lợi ích chung và có lợi cho người nghèo.

Đức Thánh Cha tin rằng nhiều cải cách xã hội mà ngài đang kêu gọi bắt đầu ở cấp độ kinh tế, và đã kêu gọi những thay đổi lớn đối với hệ thống toàn cầu trong gần như tất cả các bài phát biểu và tài liệu quan trọng trong suốt triều đại giáo hoàng, từ việc thúc giục các mô hình phát triển bền vững hơn trong Laudato Sì, đến các lời kêu gọi của ngài cho một nền kinh tế châu Âu được đổi mới đã dựa trên sự hội nhập và phẩm giá con người khi nhận Giải thưởng Charlemagne danh giá năm 2016.

Trong bài phát biểu đó, Đức Thánh Cha đã đặt ra cụm từ nổi tiếng, “bà ngoại châu Âu”, nói rằng lục địa này đã quên đi những lý tưởng sáng lập của mình và đã trở nên mệt mỏi và đang rất cần sức sống mới, đồng thời kêu gọi các nhà lãnh đạo chuyển “từ một nền kinh tế thiếu chắc chắn sang một nền kinh tế xã hội hướng ít hơn vào doanh thu và đầu tư nhiều hơn vào con người, và chống tham nhũng.

Trong Thông điệp Fratelli tutti về tình bạn xã hội, Đức Thánh Cha cũng chỉ trích chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa tư bản thị trường tự do, đồng thời ủng hộ mạnh mẽ các nỗ lực và chính sách đa phương ưu tiên những người dễ bị tổn thương nhất, bao gồm cả người di cư và người tị nạn.

Đức Thánh Cha cũng đã tìm cách thu hút những người trẻ thông qua sự kiện “Nền kinh tế Phanxicô”, được tổ chức tại Assisi năm ngoái, một sự kiện đã thu hút các nhà kinh tế trẻ và những người tạo ra sự thay đổi từ khắp nơi trên thế giới để thảo luận về quá trình chuyển đổi sang một nền kinh tế hòa bình và công bằng hơn, ưu tiên người nghèo và môi trường. Khoảng 1.000 bạn trẻ tham dự cuộc gặp trực tiếp đã ký một hiệp ước với Đức Thánh Cha, trong đó họ vạch ra tầm nhìn về một nền kinh tế “hòa bình chứ không phải chiến tranh,” và được hướng dẫn bởi nền luân lý đạo đức ưu tiên phẩm giá con người và người nghèo.

Mặc dù tính hiệp hành đã đóng một vai trò quan trọng hơn trong triều đại giáo hoàng của Đức Phanxicô trong khoảng một năm qua, nhưng việc thúc đẩy chuyển đổi hệ thống kinh tế toàn cầu của ngài vẫn là ưu tiên hàng đầu.

5. Hoán cải Mục vụ

Có lẽ chủ đề quan trọng nhất trong suốt 10 năm trị vì của Đức Phanxicô cho đến nay, là việc ngài thúc đẩy việc hoán cải mục vụ.

Từ những bài phát biểu dài hàng năm của mình trước Giáo triều Rôma, đến các tài liệu quan trọng, các buổi tiếp kiến và phát biểu trước công chúng, Đức Thánh Cha đã liên tục kêu gọi các tín hữu hoán cải cá nhân, đồng thời thúc giục Giáo hội và các mục tử cũng làm như vậy.

Kể từ khi bắt đầu triều đại Giáo hoàng, Đức Thánh Cha đã thúc đẩy việc hoán cải này bằng cách chỉ trích Giáo hội “đóng kín” trong chính mình và bày tỏ mong muốn về “một Giáo hội đi ra ngoài,” và tiếp xúc với người dân và nhu cầu của họ, thay vì bị ám ảnh bởi những cuộc tranh luận nội bộ tầm thường. Toàn bộ chiến lược mục vụ của ngài nhằm mục đích giúp Giáo hội trở thành “bệnh viện dã chiến dành cho người bệnh” mà ngài thường ủng hộ, thay vì là một câu lạc bộ dành riêng cho giới thượng lưu được nhận thức là những người tuân theo mọi quy tắc và chấp nhận mọi học thuyết.

Mong muốn hoán cải mục vụ này của Đức Thánh Cha có thể thấy trong các bài phát biểu hàng năm trước Giáo triều Rôma, mà trong thập kỷ qua, ngài đã sử dụng như cơ hội để tiến hành một cuộc xét mình tập thể về ý thức, chẩn đoán một số “căn bệnh” tâm linh mà ngài nói rằng Giáo hội đang mắc phải và đưa ra các biện pháp khắc phục, luôn nhấn mạnh đến nhu cầu hoán cải.

Đức Thánh Cha muốn cơ quan quản lý trung tâm của Giáo hội và Hồng y đoàn mang tính quốc tế và đa dạng hơn, đồng thời tập trung hơn vào việc truyền giáo. Mong muốn này được chứng minh không chỉ bởi những người được ngài thăng làm Hồng y trong những năm qua, mà còn qua những tài liệu quan trọng như Tông huấn đầu tiên của ngài vào năm 2013, Evangelii Gaudium – Niềm Vui Tin Mừng,” trong đó ngài kêu gọi các tín hữu trở thành “các môn đệ truyền giáo” yêu mến Tin Mừng, và tài liệu của ngài về cải cách Giáo triều Rôma, Praedicate evangelium – Hãy rao giảng Tin Mừng, trong đó ngài đưa ra những thay đổi sâu rộng đối với giáo triều, tạo ra một bộ phận đặc biệt dành riêng cho việc truyền giáo và cho phép giáo dân nắm giữ những vai trò nổi bật hơn trong vai trò lãnh đạo.

Đức Thánh Cha đã liên tục kêu gọi Giáo hội trở nên nhân từ hơn và bớt thời gian trong các cuộc tranh luận thần học và dành nhiều thời gian hơn để tiếp cận những người bị thương và đau khổ. Ngài xem nhiệm vụ của ngài là canh tân Giáo hội, để Giáo hội mở ra với thế giới và biến lòng thương xót và truyền giáo trở thành động lực đằng sau mọi hành động của Giáo hội, một cách cơ bản là thực hiện tầm nhìn của Công đồng Vatican II.

Sự hoán cải mục vụ là chìa khóa cho tất cả, nó là điều cần thiết để thực hiện tầm nhìn của ngài, và điều này có thể sẽ vẫn là một trong những ưu tiên hàng đầu của ngài trong phần còn lại của triều đại Giáo hoàng. (Crux 03/04/2023)

Nguồn: Vatican news


ĐTC Phanxicô: Giáo Hội Là Nhà Cho Tất Cả Mọi Người

Trả lời phỏng vấn của chương trình tiếng Ý của Đài Phát thanh và Truyền hình Thụy Sĩ, Đức Thánh Cha khẳng định Giáo hội là nhà của mọi người, không ai bị loại trừ. Ngài cũng nói rằng ngài có thể từ chức khi sự mệt mỏi khiến ngài không nhận rõ mọi việc.

Vatican News

Cuộc phỏng vấn được thực hiện bởi Paolo Rodari và được dự kiến phát sóng vào chiều 12/3, trước ngày kỷ niệm 10 năm triều giáo hoàng Phanxicô, trên trang web của Đài Phát thanh và Truyền hình Thụy Sĩ (www.rsi.ch).

Đức Thánh Cha cũng trả lời các câu hỏi về nhiều chủ đề như chiến tranh ở Ucraina và các cuộc xung đột khác, mối quan hệ với người tiền nhiệm, cuộc sống sau cái chết. Ngài cho biết điều ngài nhớ nhất trong cuộc sống ở Buenos Aires là “đi bộ trên những con đường”.

Giáo hội là nhà cho tất cả mọi người

Trước hết, Đức Thánh Cha xác nhận điều nhiều người mô tả về ngài: Giáo hoàng của những người rốt cùng. Nhưng ngài cũng khẳng định rằng ưu ái những người bị loại bỏ không có nghĩa là ngài loại bỏ những người khác. “Người nghèo là đối tượng ưu ái của Chúa Giêsu. Nhưng Chúa Giêsu không xua đuổi người giàu đi.”

Giải thích lời Chúa Giêsu mời mọi người vào bàn tiệc của Người, Đức Thánh Cha nói rằng không ai bị loại trừ và chúng ta không được quên điều này: “Giáo hội không phải là ngôi nhà của một vài người, Giáo hội không có tính chọn lọc. Dân thánh trung thành của Thiên Chúa là: tất cả mọi người.”

Tương quan với Đức Biển Đức XVI

Chia sẻ về vị tiền nhiệm, Đức cố Giáo hoàng Biển Đức XVI, Đức Thánh Cha nói rằng ngài rất kính mến Đức Biển Đức. Ngài kể lại: “Lần cuối cùng tôi nhìn thấy ngài là vào dịp Giáng sinh. Ngài hầu như không thể nói được. Ngài nói bằng một giọng rất trầm. Lời nói của ngài phải được “phiên dịch”. Ngài vẫn minh mẫn. Ngài đặt những câu hỏi: chuyện này diễn ra như thế nào? Và vấn đề đó thế nào? Ngài đã cập nhật về mọi thứ. Thật vui khi được nói chuyện với ngài. Tôi đã hỏi ý kiến của ngài. Ngài đã nói với tôi những gì ngài nghĩ, ngài luôn cân bằng, tích cực, một con người khôn ngoan. Tuy nhiên, lần cuối cùng, bạn có thể thấy là lúc ấy ngài đang đi đến chặng đường.”

Vấn đề từ chức

Được hỏi điều gì khiến ngài có thể từ chức trong tương lai, Đức Thánh Cha trả lời: “Một sự mệt mỏi khiến bạn không nhìn rõ mọi thứ. Sự thiếu sáng suốt để biết cách đánh giá các tình huống. Có lẽ cũng là một vấn đề thể lý.” Đức Thánh Cha cho biết thêm: “Tôi luôn hỏi về điều này và lắng nghe lời khuyên. ‘Mọi việc thế nào rồi? Bạn có nghĩ rằng tôi nên…’ Tôi hỏi những người biết tôi và thậm chí cả một số Hồng y khôn ngoan. Và họ nói với tôi sự thật: “Cứ tiếp tục, mọi việc tốt đẹp.’” Nhưng Đức Thánh Cha xin họ vui lòng báo cho ngài đúng lúc.

Nguồn: Vatican news


Suy Niệm Chúa Nhật III Mùa Chay, Năm A (Ga 4,5-42)

THIÊN CHÚA MUỐN GẶP GỠ CON NGƯỜI

Bài Tin Mừng Chúa Nhật III Mùa Chay hôm nay cho thấy Đức Giêsu chọn dừng chân bên cái giếng để nghỉ ngơi. Ngài chợt nhìn thấy hình bóng một người phụ nữ đang tiến về phía Ngài. Hình ảnh người phụ nữ ấy làm cho độc giả không khỏi thắc mắc: Tại sao chị ta không đi vào buổi sáng hay ban chiều mà lại phải lấy nước lúc giờ hoàng đạo? Chị đang tránh né mọi người chăng? Hay chị đang mang nỗi đau vì cuộc đời không mấy sáng sủa và mặc cảm với chính mình?… Chính Đức Giêsu chủ động bắt chuyện với người phụ nữ ấy bằng cách xin nước uống: “Chị cho tôi xin chút nước uống” (Ga 4,7). Người phụ nữ đáp: “Ông là người Do Thái mà lại xin tôi, một người phụ nữ Samari, cho ông nước uống sao? (Ga 4,9) 

Gặp gỡ – hành trình thiết lập tình bạn

Khởi đầu cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và người phụ nữ Samari, Ngài đã dạy cho chúng ta cách gợi mở thiết lập mối tương quan. Tuy lời đáp trả của người phụ nữ làm cho ta thấy rõ sự khác biệt về văn hóa, chủng tộc, tôn giáo, tư tưởng…cản trở mối tương quan giữa hai con người. Nhưng chính Chúa đã đến và nối kết con người với con người vượt lên trên những rào cản văn hóa, chính trị và tôn giáo. Ngài muốn làm cầu nối hàn gắn tương quan, chữa lành vết thương đã rạn nứt giữa các dân tộc. Bởi sự khác biệt văn hóa nhằm bổ túc, mang lại sự đa dạng, phong phú cho nhau chứ không phải để chia rẽ và kỳ thị. Vì thế, Ngài dùng chính thái độ hiếu hòa, cung cách từ tốn bằng sự đối thoại chân thành giúp người phụ nữ Samari nhận thức rõ hơn về sự liên đới cũng như sự sống đời đời. Đó là phương thế không thể thiếu trong tương quan tình bạn.

Chúa Giêsu cũng muốn gia tăng tình bạn giữa Ngài với chúng ta cách sâu xa hơn trong mọi biến cố. Đôi khi ta không đủ kiên nhẫn đợi chờ câu trả lời của Thiên Chúa, nên cho rằng Ngài xa vắng và không tồn tại. Trong khi đó Thiên Chúa vẫn hiện diện, thấu rõ ước vọng của mỗi người và sẵn lòng ban ơn cần thiết cho ta. Ngài dùng chính sự hiện diện nhỏ bé mong manh nơi bí tích Thánh Thể để mời gọi ta bước vào tương quan mật thiết ấy. Ta có mở cửa tâm hồn và nhận ra sự hiện diện của Chúa hay không? Chúa vẫn ở đó, vẫn đợi chờ và muốn được ở với con người. Ngài là tình yêu, một tình yêu liên vị muốn kết hợp với con người. Bởi thế, chúng ta hạnh phúc để tin yêu một Thiên Chúa không bao giờ từ bỏ con người. Như thế, cuộc gặp gỡ phải đến từ hai phía: Thiên Chúa luôn sẵn sàng gặp, còn tôi và bạn thì sao? 

Gặp gỡ – hành trình xây dựng niềm tin

Càng đi vào tương quan mật thiết bao nhiêu ta càng cảm nhận được chính sự hiện hữu của nhau trong mọi khoảnh khắc của ngày sống. Chúa Giêsu thấu hiểu và nhìn ra khát khao nơi người phụ nữ. Từ sâu thẳm, chị còn khát một tình yêu, một mái ấm hạnh phúc, một tâm hồn bình an. Khát nước thể lý chỉ là tạm thời và dễ dàng đáp ứng, nhưng khát hạnh phúc với chị là cơn khát dai dẳng không dễ thỏa lòng. Vì thế, Chúa Giêsu đã xây dựng niềm tin giúp chị hoàn toàn tin tưởng và phó thác vào Chúa. Ngài gợi ý trao tặng nước hằng sống, thứ nước mang lại sự sống đời đời cho những ai đang khát. Ngài muốn chị tin và nhận ra mạch nước phát xuất từ Thiên Chúa là chính sự hiện diện của Ngài. Quả thật, Chúa Giêsu xây dựng niềm tin bằng sự thấu hiểu trong cuộc gặp gỡ giữa ta với Ngài. Niềm tin đó giúp ta trở nên can đảm sống bác ái, quảng đại và tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa. Tin vào Chúa là sức mạnh tưới mát cho vùng đất khô hạn cằn cỗi trong tâm hồn chúng ta. Ta có đủ lòng tin tưởng để bước vào hành trình gặp gỡ như Chúa đã âm thầm bước vào cuộc đời ta hay không?

Gặp gỡ- hành trình thực thi sứ mạng

Từ cuộc gặp gỡ này, người phụ nữ đã nhận ra sứ mạng cao cả mà Đức Giêsu dành cho chị. Bỏ lại vò nước, là bằng chứng cho một tinh thần sẵn sàng ra đi, thực thi sứ mạng chị được trao ban. Nếu bên bờ giếng Giacop năm xưa chị ra đi rao giảng Tin Mừng về Đức Giêsu bằng kinh nghiệm cá vị của mình. Vậy bên bờ giếng hôm nay là những giờ tham dự thánh lễ, giờ cầu nguyện chung với cộng đoàn… ta đã có trải nghiệm thiêng liêng với Chúa Giêsu như thế nào, ta có hăng hái ra đi rao giảng Tin Mừng mà ta đã được nhận lãnh một cách nhưng không?

Lạy Chúa! Trong cuộc đời mỗi người, Chúa vẫn đi qua, vẫn hiện diện và đợi chờ chúng con bên giếng qua bí tích thánh thể, qua những người chúng con gặp gỡ. Xin cho mỗi người chúng con luôn nhận ra và mở lòng bước vào tương quan thẳm sâu với Ngài, để cảm nhận giá trị đích thực của cuộc sống này và để can đảm thực thi sứ mạng “ra đi”, chia sẻ niềm vui, chân lý mà mình đã được hạnh phúc đón nhận. Amen.

Maria Vũ Khánh


ĐTC Gặp Hai Thiếu Nữ Nigeria Từng Bị Quân Khủng Bố Hồi Giáo Boko Bắt Cóc

Hôm thứ Tư ngày 8/3/2023, vào cuối buổi Tiếp kiến chung, Đức Thánh Cha đã gặp hai thiếu nữ người Nigeria, Maryamu Joseph, 16 tuổi, và Janada Marcus, 22 tuổi, là những nạn nhân của các vụ bắt cóc do quân khủng bố Hồi giáo Boko Haram ở Nigeria gây ra.

Hồng Thủy – Vatican News

Tổ chức Trợ giúp các Giáo hội Đau khổ, một tổ chức bác ái của Toà Thánh đã sắp xếp cho hai thiếu nữ này gặp Đức Thánh Cha vào Ngày Quốc tế Phụ nữ.

Cả hai thiếu nữ này đều chứng kiến các thành viên trong gia đình mình bị Boko Haram sát hại. Cha của Janada bị chặt đầu bằng dao rựa trước mặt cô vào năm 2018. Maryamu chứng kiến anh trai cô bị giết và phân thành nhiều mảnh vào năm 2019.

Sau khi thoát khỏi Boko Haram, cả Janada và Maryamu đều được điều trị tại Trung tâm chấn thương Maiduguri ở đông bắc Nigeria, một trung tâm được xây dựng với sự hỗ trợ của Tổ chức Trợ giúp các Giáo hội Đau khổ.

Những câu chuyện của họ được trình bày chi tiết trong báo cáo “Nigeria: Vết thương chảy máu” của tổ chức Trợ giúp các Giáo hội Đau khổ, trong đó chia sẻ những lời chứng trực tiếp của những người Công giáo đã sống sót sau khi bị bắt cóc, tra tấn và tàn sát dưới bàn tay của những kẻ khủng bố ở Nigeria.

Chứng từ của Maryamu Joseph

Năm 7 tuổi, Maryamu cùng với 21 người khác bị bắt cóc khi Boko Haram tấn công ngôi làng của cô. Cô kể: “Họ nhốt các Kitô hữu vào lồng, giống như nhốt súc vật. Điều đầu tiên họ làm là bắt chúng tôi cải sang đạo Hồi. Họ đổi tên tôi thành Aisha, một tên Hồi giáo, và cảnh báo chúng tôi không được cầu nguyện như các Kitô hữu, nếu không chúng tôi sẽ bị giết.” Về thời gian bị giam cầm, Maryamu kể: “Chín năm sống trong cảnh nô lệ! Chín năm chịu tra tấn! Chín năm thống khổ! Chúng tôi đã phải chịu quá nhiều đau khổ dưới bàn tay của những con người nhẫn tâm, tàn nhẫn này. Trong chín năm, chúng tôi đã chứng kiến sự đổ máu vô tội của những Kitô hữu đồng đạo của tôi, bị giết bởi những người không coi trọng mạng sống. Họ giết người không thương tiếc, như thể đó là một việc bình thường.”

Chứng từ của Janada Marcus

Janada, 22 tuổi, đã phải chạy trốn Boko Haram cùng gia đình hai lần trước khi những kẻ khủng bố tấn công họ một lần nữa ở thành phố Maiduguri. Trong cuộc tấn công này, những kẻ khủng bố buộc cha của Janada cưỡng hiếp cô hoặc bị giết, nhưng ông đã chọn cái chết và đã bị chặt đầu. Còn Janada thì bị chúng tra tấn dã man cả về tinh thần và thể lý trong 6 ngày. Cô nói: “Tôi đã phải chịu đựng rất nhiều kinh nghiệm tồi tệ và khủng khiếp – không thể giải thích được – khiến sáu ngày đó tưởng chừng như sáu năm.”

Janada chia sẻ rằng sáu tháng ở trung tâm chấn thương là những tháng “chữa lành, cầu nguyện và tư vấn. Sau đó cô đăng ký vào đại học. Cô cho biết mình rất hạnh phúc và sẽ cố gắng hết sức để hoàn thành việc học và trở thành một người tốt trong xã hội.” 

Janada chia sẻ thêm: “Về mặt cảm xúc, tôi đã học cách buông bỏ quá khứ của mình; tôi đã học được nghệ thuật chữa lành bằng cách buông bỏ nỗi đau của mình. Đức tin của tôi đã được củng cố. Thật khó để tha thứ và quên đi, và với tất cả những gì tôi đã trải qua dưới bàn tay của Boko Haram, tôi thậm chí không thể tin rằng mình là người nói ra điều này, nhưng lòng tôi đã tha thứ cho họ và tôi cầu nguyện cho họ.”

Nguồn: Vatican news


Đức Thánh Cha: Thế Giới Sẽ Tốt Đẹp Hơn Nếu Có Sự Bình Đẳng Giới

Viết phần giới thiệu cho tập sách “Nhiều nữ lãnh đạo hơn vì một thế giới tốt đẹp hơn: quan tâm như một động lực cho ngôi nhà chung của chúng ta”, Đức Thánh Cha nhấn mạnh “vai trò của phụ nữ vượt xa chức năng”, và “không thể đạt đến một thế giới tốt đẹp, công bằng, toàn diện và bền vững hơn nếu không có sự đóng góp của phụ nữ”.

Ngọc Yến – Vatican News

Tập sách là kết quả nghiên cứu được thúc đẩy bởi Tổ chức Centesimus Annus Pro Pontifice – Bách Chu niên vì Giáo hoàng, và Liên minh Chiến lược của các trường Đại học Nghiên cứu Công giáo, và được nhà xuất bản “Vita e Pensiero” thực hiện.

Phần mở đầu, đề cập đến nội dung tập sách, Đức Thánh Cha viết: “Sách nói về phụ nữ, tài năng, khả năng và kỹ năng của họ cũng như sự bất bình đẳng, bạo lực và định kiến, vốn vẫn là đặc điểm của thế giới phụ nữ. Các vấn đề liên quan đến thế giới phụ nữ đặc biệt gần gũi với tâm hồn tôi. Trong nhiều lần, tôi đã đề cập đến điều này, nhấn mạnh rằng vẫn còn rất nhiều việc phải làm cho sự phát triển toàn diện của phụ nữ”.

Điều Đức Thánh Cha thích trong tập sách này là chủ đề phụ nữ được tiếp cận từ những cái nhìn, phân tích khác nhau, đem lại tầm nhìn bao quát giúp tìm các giải pháp tốt hơn. Nghiên cứu nêu rõ những khó khăn mà phụ nữ vẫn gặp phải khi đạt được những vai trò hàng đầu trong thế giới việc làm, đồng thời, những lợi thế liên quan đến sự hiện diện nhiều hơn và phát triển toàn diện của họ trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội.

Đối với Giáo hội, Đức Thánh Cha nói rằng trước đây Giáo hội không nhận ra ý nghĩa của phụ nữ trong Giáo hội và giới hạn họ ở chức năng. Nhưng vai trò của phụ nữ trong Giáo hội vượt xa chức năng. Chính vì điều này mà chúng ta phải tiếp tục làm việc. Không thể đạt đến một thế giới tốt đẹp, công bằng, toàn diện và bền vững hơn nếu không có sự đóng góp của phụ nữ.

Vì thế, theo Đức Thánh Cha cần phải cùng nhau làm việc để mở ra cơ hội bình đẳng cho tất cả. Ngài lý giải: “Tư tưởng của phụ nữ khác nam giới, họ quan tâm hơn đến hoạt động bảo vệ môi trường, cái nhìn của họ không hướng về quá khứ nhưng hướng đến tương lai. Phụ nữ biết việc trao ban sự sống diễn ra trong đau đớn để có được niềm vui lớn lao, đó là sự sống và mở ra những chân trời mới bao la. Đây là lý do tại sao phụ nữ luôn muốn hòa bình.”

Đức Thánh Cha viết tiếp: “Phụ nữ có thể thể hiện khả năng trong mọi lĩnh vực chứ không chỉ trong gia đình và được đền đáp ngang bằng với nam giới đối với các vai trò, dấn thân và trách nhiệm ngang nhau. Những khoảng trống vẫn đang tồn tại là một bất công nghiêm trọng. Những khoảng trống này và định kiến đối với phụ nữ là nguồn gốc của bạo lực đối với phụ nữ”.

Đề cập đến hoàn cảnh thế giới hiện nay với khát vọng hoà bình, Đức Thánh Cha khẳng định hòa bình được sinh ra từ phụ nữ và được thắp lên bởi sự dịu dàng của các bà mẹ. Vì vậy, giấc mơ hòa bình trở thành sự thật khi người ta biết quan tâm đến phụ nữ.

Đức Thánh Cha ước mong, khả năng quan tâm, một đặc điểm nữ tính phải được thể hiện không chỉ trong bối cảnh gia đình, nhưng còn phải đạt được kết quả xuất sắc trong chính trị, kinh tế, học thuật và công việc. Tất cả mọi người phải thể hiện khả năng quan tâm, nam giới và phụ nữ. Nam giới cũng có thể trau dồi khả năng này trong việc nuôi dạy con cái. Một gia đình hạnh phúc là một gia đình khi có cả bố và mẹ cùng nhau chăm sóc con cái, giúp chúng lớn lên khỏe mạnh và giáo dục chúng biết tôn trọng mọi người và thụ tạo.

Nguồn: Vatican news