(Charles Conroy, MSC – Nguyễn Quí Khôi dịch, Lê Công Đức biên tập)
Chủ đề bài nói chuyện này của tôi là “(Những) người tôi tớ của Chúa trong Sách Isaia”, với chữ “những” đặt trong dấu ngoặc đơn, vì đó là một trong những điểm chính yếu tôi muốn tập chú vào.
I. GIỚI THIỆU
1. Nhận hiểu sứ mạng của Chúa Giêsu
Tôi xin giới thiệu ba điểm. Thứ nhất là tầm quan trọng của chủ đề hay phạm trù “(những) người tôi tớ của Chúa” trong việc nhận hiểu sứ mạng của Chúa Giêsu. Điểm này không cần phải khai triển nhiều. Tất cả những gì chúng ta cần làm là mở Tin Mừng theo Thánh Máccô, ngay chương đầu tiên chúng ta có trình thuật Chúa Giêsu chịu phép rửa, với tiếng phán từ trời “Đây là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” (Mc 1,11). Chúng ta không thấy có từ “tôi tớ” nhưng cụm từ “Cha hài lòng về Con” gợi nhắc lại Is 42,1 – đoạn nói về người tôi tớ của Chúa. Nói cách khác, vào giờ phút long trọng của biến cố Chúa chịu phép rửa, Tin Mừng Máccô trình bày Chúa Giêsu như người tôi tớ của Thiên Chúa.
Rồi, trong Mc 10,45, ta đọc thấy: “Con Người đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc cho muôn người”. Cụm từ “cho muôn người” ám chỉ đến Is 53, chương nổi tiếng trình bày người Tôi Tớ Đau Khổ. Cuối cùng, trong trình thuật Thánh Thể, Chúa Giêsu tuyên bố “Đây là máu giao ước đổ ra cho muôn người” (Mc 14,24). Đây cũng là một ám chỉ về Chúa Giêsu như người Tôi Tớ Đau Khổ vào lúc lập Bí Tích Thánh Thể trước cuộc khổ nạn. Như vậy, chỉ trong Tin Mừng Máccô thôi ta đã có những điểm mấu chốt nối kết Chúa Giêsu với hình ảnh người tôi tớ của Thiên Chúa. Còn nhiều đoạn văn khác nữa trong Tân Ước mà ta thấy Chúa Giêsu được nối kết, cách này hay cách khác, với nhân vật người tôi tớ của Thiên Chúa trong Sách Isaia. Tuy nhiên, điều mà tôi muốn chỉ ra ở cuối bài nói chuyện này, đó là Tân Ước còn sử dụng chủ đề người tôi tớ của Thiên Chúa theo cách khác nữa.
2. Thống kê và ngữ nghĩa
Điểm thứ hai là chủ đề “người tôi tớ” trong Sách Isaia xét về mặt thống kê và ngữ nghĩa. Nói “thống kê”, tôi muốn nói đến những đoạn văn mà trong đó ta gặp thấy chủ đề hay cụm từ “(những) người tôi tớ của Chúa”, “tôi tớ Chúa”, “tôi tớ Ngài”, tức việc sử dụng mang tính thần học của từ “tôi tớ”. Những ai đã nghiên cứu sơ qua về các ngôn sứ, về Isaia, sẽ nói ngay rằng “Ồ, có bốn bài ca người tôi tớ trong Sách Isaia”, và dĩ nhiên là họ đúng. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây là không chỉ trong bốn bài ca này của Sách Isaia chúng ta mới tìm thấy chủ đề “(những) người tôi tớ của Chúa”. Nếu kiểm tra tất cả các lần xuất hiện cụm từ “(những) người tôi tớ”, chúng ta ghi nhận rằng có ba lần sử dụng mang tính thần học chủ đề “người tôi tớ” trong ba mươi chín chương đầu của Sách Isaia. Có mười tám lần sử dụng chủ đề đó trong Is 40-55 – được gọi là Isaia Đệ Nhị, và tám lần trong phần thứ ba của sách, tức Is 55-66. Như vậy là có hai mươi chín lần sử dụng cả thảy, nhưng chỉ có bảy lần được dùng trong bốn bài ca người tôi tớ. Điều này cho thấy rằng muốn có cái nhìn đầy đủ hơn về chủ đề “người tôi tớ”, chúng ta không thể và không nên tự giới hạn ở bốn bài ca người tôi tớ mà thôi. Việc tìm hiểu khái lược các con số thống kê giúp chúng ta có một định hướng cho đề tài của tôi trong bài nói chuyện này.
Còn về “ngữ nghĩa”, tôi muốn nói đến từ tôi tớ trong tiếng Hípri là ebed. Tôi muốn đề cập đến nó vì ngữ nghĩa của từ ebed trong tiếng Hípri không hoàn toàn giống với từ “servant” trong tiếng Anh. Trong Anh ngữ, “servant” hầu như luôn chỉ về một địa vị thấp trong bậc thang xã hội. Trong tiếng Hípri, từ ngữ này không nhất thiết mang sắc thái ý nghĩa như vậy, dù vẫn có những lúc nó mang sắc thái đó. Ebed là một nô lệ theo nghĩa đầy đủ, hoặc một đầy tớ trong nhà. Nhưng ebed cũng có thể là một vị quan cấp cao trong triều đình, hay một sĩ quan cấp cao trong quân đội, vì trong tiếng Hípri, ngữ nghĩa của từ ebed nói lên mối quan hệ phụ thuộc. Một vị quan cấp cao hay một tướng lãnh thì phụ thuộc vào nhà vua ở Ítraen; những người này có thể được gọi là ebed. Vì thế, từ ebed không nhất thiết chỉ về địa vị hèn mọn hay sự thấp kém. Ta cần phải xem có đúng vậy không qua từng bản văn.
3. Chọn một cách tiếp cận
Cuối cùng, việc chọn một cách tiếp cận đối với bản văn trong Sách Isaia đặt chúng ta vào lĩnh vực phương pháp chú giải, một lĩnh vực rất phức tạp và rất dễ gây tranh cãi. Tôi đang đối chiếu phương pháp phê bình truyền thống với một cách tiếp cận gần đây hơn. Trong cách tiếp cận phê bình truyền thống, phương pháp chủ đạo mang tính lịch sử, hay hầu như thuần túy lịch sử. Sách Isaia được chia thành ba phần như tôi đã đề cập: Is 1-39 – trong đó chúng ta tìm thấy tiếng nói của Isaia không phải trong tất cả nhưng trong một số đoạn; Is 40-55 – xuất hiện vào giai đoạn nhiều người Do thái lưu đày ở Babilon; và Is 55-66 – ra đời khi một số người Do thái hồi hương từ Babilonvà tái thiết cộng đồng của họ ở Giêrusalem giữa trăm chiều thử thách.
Trong ba phần này, nhiều học giả tách bốn bài ca người tôi tớ ra riêng. Ta tìm thấy chúng trong Is 42, 49-50, và 52-53. Việc tách bốn bài ca người tôi tớ dựa trên giả thuyết là trước đây các bài ca này đã tồn tại tách biệt trong một quyển riêng. Vì vậy, nên xem xét ý nghĩa của bốn bài ca này bằng cách tìm hiểu các đoạn văn của chúng mà thôi. Đó là lý do tại sao rất nhiều bài trình bày về chủ đề “người tôi tớ” trong Sách Isaia, nhất là vào thời kỳ trước, chỉ khảo sát bốn bài ca người tôi tớ. Như đã đề cập, cách làm này dựa trên luận đề lịch sử là chúng tồn tại tách biệt trong một quyển sách riêng. Điều này có thể đúng nhưng không phải là tất cả câu chuyện. Và trong những năm gần đây người ta ngày càng ý thức hơn như thế.
Cách tiếp cận gần đầy hơn – không chỉ trong việc nghiên cứu chủ đề này hay quyển sách này mà là trong nghiên cứu Thánh Kinh nói chung – là tiên vàn hãy đánh giá cao dạng đang tồn tại của bản văn, hay còn gọi là dạng cuối cùng của bản văn. Trong ngôn ngữ chuyên môn hơn, nó được gọi là nghiên cứu đồng đại (synchronic). Áp dụng vào Sách Isaia, điều này có nghĩa là chúng ta nghiên cứu tất cả các đoạn văn về người tôi tớ như chúng ta có trước mắt bây giờ. Khi nghiên cứu một đoạn văn về người tôi tớ, chúng ta không làm cách riêng biệt hay chỉ trong liên hệ với ba bài ca khác. Chúng ta tìm hiểu nó trong nối kết với tất cả các bản văn về “người tôi tớ” trong sách, vì đây là một quyển sách. Đó chỉ là một dữ kiện thường nghiệm.
Ở Qumran, có một cuộn Sách Isaia với nội dung đúng như nội dung sách Isaia mà ta đang có; vậy sách Isaia đúng là một quyển sách. Vì thế, trong cách tiếp cận mới mẻ hơn này, chúng ta bắt đầu nghiên cứu bằng việc xem xét hình thức cuối cùng của bản văn, tức là toàn bộ Sách Isaia, và bằng việc tìm hiểu bất kỳ đoạn văn nào đó trong liên hệ với phần còn lại của sách. Đó là giai đoạn đầu tiên của công việc chú giải. Sau khi nghiên cứu kỹ hình thức cuối cùng của bản văn, chúng ta tự hỏi nó xuất phát từ đâu. Nói cách khác, chúng ta đi vào việc nghiên cứu phê bình lịch sử, hay dùng một thuật ngữ có tính chuyên môn hơn: nghiên cứu lịch đại (diachronic). Chúng ta muốn biết những đoạn văn này xuất phát từ đâu. Vì không phải tất cả chúng đều được viết bởi cùng một tác giả, nên chúng ta cố hết sức để chỉ rõ bối cảnh mà những bản văn khác nhau này xuất hiện, chỉ rõ những vấn đề mà chúng nhằm giải quyết lúc ban đầu… Nói khác đi, phương pháp tiếp cận mới hơn này phân biệt hai giai đoạn trong việc chú giải: nghiên cứu dạng cuối cùng của bản văn (nghiên cứu đồng đại) và nghiên cứu phê bình lịch sử (nghiên cứu lịch đại). Đó là trình tự tôi sẽ theo trong bài trình bày này.
II. CHỦ ĐỀ “NGƯỜI TÔI TỚ” TRONG Is 40 – 55
Ở đây, một số người có thể lập tức muốn phản bác rằng “Cha đã nói là có ba đoạn văn về người tôi tớ trong Is 1-39 kia mà. Tại sao Cha không xem xét chúng trước tiên? Nếu Cha đang làm việc với hình thức cuối cùng của bản văn thì thiết tưởng cần phải xem xét chúng chứ!” Lời phản đối này hoàn toàn đúng. Nhưng lý do tôi không làm như vậy là vì thời gian quá ngắn và ba đoạn văn trong Is 1-39 nói về ba nhân vật cụ thể ở Giu-đa: hai viên quan ở vương quốc Giuđa và Đavít. Những nhân vật này thực sự không có liên hệ nhiều với các bản văn trong phần còn lại của sách; vì vậy tôi sẽ không đề cập chi tiết. Chúng ta xúc tiến với phần thứ hai của sách.
1. Ba đoạn văn trong Is 41-42
Chúng ta bắt đầu với Is 41-42, tức ba đoạn văn đầu tiên trong phần thứ hai của sách đề cập đến người tôi tớ của Chúa. Những kết luận mà tôi cố gắng rút ra từ ba đoạn văn này sẽ vô cùng quan trọng đối với các đoạn văn về người tôi tớ còn lại. Tại sao? Bởi vì chúng ta sẽ đọc lần lượt từng đoạn. Nghĩa là đoạn văn được đọc trước sẽ qui định việc đọc các đoạn tiếp theo. Chúng ta sẽ không tìm hiểu các đoạn văn một cách tách biệt.
Đoạn văn đầu tiên nằm trong Is 41,8-13. Tôi muốn chú ý đến ai là người tôi tớ của Chúa trong đoạn này. Thật rõ:
Phần ngươi, hỡi Ítraen, tôi tớ của Ta, hỡi Giacóp, kẻ Ta tuyển chọn, dòng dõi Abraham, bạn của Ta, Ta đã đưa ngươi về từ tận cùng cõi đất, kêu gọi ngươi từ những miền xa thẳm. Ta đã nói với ngươi: “Ngươi là tôi tớ Ta, Ta đã chọn ngươi… Ta lại còn trợ giúp người với tay hữu toàn thắng của Ta”.
Hoàn toàn rõ: người tôi tớ của Chúa là Ítraen. Dân Ítraen được mô tả như người tôi tớ của Chúa. Trong ngôn ngữ nhân hóa này, đó là một cá nhân ở dạng số ít. “Ngươi là tôi tớ Ta” – không phải dạng số nhiều “các ngươi”, nhưng là “ngươi” dạng số ít. Nói cách khác, đây là biện pháp nhân hóa một dân tộc như là một cá nhân. Nhưng đó là dân tộc được CHỌN bởi Thiên Chúa, được KÊU GỌI từ tận cùng cõi đất, được BẢO đừng sợ hãi, được HỨA ban sức mạnh và sự giúp đỡ của Thiên Chúa, và được HỨA rằng Thiên Chúa sẽ TRỢ GIÚP họ.
Chúng ta sang đoạn văn thứ hai. Việc đọc đoạn này sẽ được chế định bởi việc đọc đoạn đầu tiên. Đoạn văn thứ hai – Is 42,1-9 – không chỉ rõ người tôi tớ là ai. Tiếng nói của Chúa giới thiệu người tôi tớ: “Đây là người tôi tớ Ta nâng đỡ, là người Ta tuyển chọn và quý mến hết lòng. Ta cho thần khí Ta ngự trên nó; nó sẽ làm sáng tỏ công lý trước muôn dân… ngươi sẽ là giao ước với dân, là ánh sáng chiếu soi muôn nước, để mở mắt cho những ai mù lòa…” Đoạn văn nói về một người tôi tớ mông lung, không xác định. Trong cách đọc bản văn ở dạng cuối cùng, khuynh hướng tự nhiên của chúng ta là đồng nhất người tôi tớ không được xác định này với người tôi tớ mà chúng ta đã nhận biết từ đoạn văn trước – đó là dân Itraen. “Dân” cũng được nhắc đến ở trong đoạn văn thứ hai. Cách đọc này là khả dĩ vì căn cứ trên đoạn văn trước vốn cũng thuộc hình thức cuối cùng của sách. Để khẳng định điều này, ta thấy Is 42 có “những liên hệ về ngôn ngữ” với đoạn trước đó. Người tôi tớ trong Is 42,1 được Thiên Chúa TRỢ GIÚP; cũng vậy, người tôi tớ Ítraen trong Is 41,10 được Thiên Chúa TRỢ GIÚP. Người tôi tớ trong Is 42,1 được CHỌN bởi Thiên Chúa; còn người tôi tớ Ítraen trong Is 41,8 là Giacóp, “kẻ ta TUYỂN CHỌN”. Đây không chỉ là vấn đề đoạn này đi theo đoạn kia, mà còn là đoạn này vọng lại đoạn kia ở bình diện từ vựng, điều này dường như xác nhận rằng hầu chắc Is 42 nói về dân tộc Ítraen.
Nhưng đây là dân tộc Ítraen theo nghĩa lý tưởng. Đoạn văn trong Is 42 phác họa dân tộc này phải nên như thế nào, họ được gọi để: mang công lý đến cho muôn dân, và làm điều này một cách phi bạo lực và không áp đặt, không trở nên yếu nhược hay bị nghiền nát bởi khó khăn, nhưng là bền đỗ can trường trong sức mạnh của Thiên Chúa cho đến khi thiết lập được nền công lý trên địa cầu, và dân các hải đảo sẽ mong được họ chỉ bảo. Ơn gọi của dân Itraen là trở nên ánh sáng cho muôn dân. Đây là lý tưởng của họ, là điều họ phải trở thành. Nhưng thực tế họ có được như vậy không? Chúng ta hãy xem đoạn thứ ba.
Đoạn thứ ba là Is 42,18-25. “Ai mù, nếu không phải là tôi tớ Ta? Ai điếc như người được Ta sai đi là sứ giả?” (Is 42,19). Đây là một hình ảnh rất khác. Cả trong đoạn văn này, người tôi tớ không được xác định. Nhưng như chúng ta thấy, hầu chắc người tôi tớ mù và điếc ở đây chính là Ítraen, theo một nghĩa hiện thực hơn. Người tôi tớ ở đây biểu trưng nhiều người trong dân Ítraen vẫn chưa nhận ra ơn gọi của mình là gì, vẫn còn bưng tai trước lời Chúa, vẫn chưa nội tâm hóa và chấp nhận ơn gọi và sứ mạng của mình. Họ được gọi là người tôi tớ, nhưng vẫn đui và điếc.
Tóm lại, điều tôi đề nghị là chúng ta có thể đọc cả ba đoạn văn trên trong quy chiếu đến dân tộc Ítraen từ những khía cạnh và quan điểm khác nhau, từ tiếng gọi lý tưởng dành cho họ (họ phải trở thành gì), và cuối cùng là: trong thực tế họ đang thế nào (họ vẫn còn mù và điếc trước ơn kêu gọi của mình). Dù nhìn từ góc nào, thì “người tôi tớ” ấy vẫn là dân Itraen. Xin lưu ý rằng một trong những đoạn văn này (đoạn ở phần đầu Is 42) theo truyền thống được gọi là Bài Ca Thứ Nhất về Người Tôi Tớ. Ở đây, tôi đã không xét nó cách tách biệt, nhưng như là một trong ba đoạn được nêu trên.
2. Các đoạn văn trong Is 43 – 49
Có một số đoạn văn về người tôi tớ trong Is 43-49. Tôi sẽ không liệt kê chi tiết ngoại trừ đoạn văn cuối cùng. Chúng hoàn toàn không có vấn đề – trừ khi chúng ta đọc đến Is 49 – vì mỗi đoạn đều rõ ràng nói về dân Ítraen. Điều này dường như xác nhận cách đọc tôi đã đề nghị cho các đoạn văn trước đó. Trong tất cả các đoạn văn này, người tôi tớ của Chúa chính là Ítraen. Chúng ta thấy ở gần cuối, trong Is 48,20: “Đức Chúa đã chuộc Giacóp, tôi tớ Ngài”. Đây không phải là tổ phụ Giacóp, mà là Giacóp hiểu như một tên gọi gán cho Ítraen.
Sau đó chúng ta có Is 49,1-13, theo truyền thống được gọi là Bài Ca Thứ Hai về Người Tôi Tớ. “Đức Chúa đã phán cùng tôi (ngôi thứ nhất số ít trong đoạn này là người tôi tớ): ‘Hỡi Ítraen là tôi tớ Ta. Nơi ngươi Ta sẽ biểu lộ vinh quang’” (Is 49,3). Như vậy, một lần nữa, người tôi tớ ở đây là Ítraen. Tuy nhiên, ta phải nói rằng đó không thể là toàn bộ dân Ítraen, nhưng là chỉ một phần của dân này. Tại sao? Vì trong Is 49,5 ta đọc thấy: “Ngài là Đấng nhào nặn ra tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ để tôi trở thành tôi tớ Ngài, đem nhà Giacóp về cho Ngài, và quy tụ dân Ítraen chung quanh Ngài”. Mà này, nếu Ítraen là người tôi tớ, thì hóa ra đoạn văn đang nói rằng Ítraen có một sứ mạng đối với Ítraen! Có thể như vậy được chăng?
Tôi nghĩ có khả năng rằng giữa lòng dân tộc Ítraen có những người đã nhận thức được ơn gọi của mình, họ đã nội tâm hóa tiếng gọi của Chúa. Những người Ítraen này đang được sai đến với chính đồng bào Itraen – những người đang bị mù và điếc theo một nghĩa nào đó – để cố thuyết phục họ chấp nhận lời của Chúa, chấp nhận tiếng gọi dành cho mình và thoát khỏi tình trạng mù điếc nơi mình. Nghĩa là điều ta thấy nổi lên ở đoạn này là một nhóm người Ítraen trung thành đang thực thi sứ mạng trước hết đối với đồng bào của mình. Trong khi thực hiện sứ mạng này, họ đã gặp phải sự thất vọng. Vì thế ta đọc thấy trong Is 49,4: “Tôi vất vả luống công, phí sức mà chẳng được gì”. Nói cách khác, họ than thở rằng “Tất cả những công việc tôi làm để cố thuyết phục đồng bào Ítraen tin rằng Thiên Chúa kêu gọi họ trở thành ánh sáng cho muôn dân dường như không sinh được kết quả nào”. Điều này cũng xảy ra với tất cả chúng ta trong sứ vụ của mình. Nếu chúng ta đảm nhận nhiều công việc và quảng đại dấn thân phục vụ tha nhân nhưng chẳng đạt được kết quả, thì chúng ta có xu hướng thất vọng, rồi hầu như muốn bỏ cuộc. Nhưng nhóm người tôi tớ ở đây không bỏ cuộc, vì họ nói “Sự nghiệp của tôi là với Chúa, phần thưởng của tôi là với Ngài”. Và họ vẫn tiếp tục sứ mạng mặc dù không thấy nhiều kết quả. Vì thế, chúng ta ghi nhận rằng cho tới đây – gồm cả đoạn văn này trong Is 49, được gọi là Bài Ca Thứ Hai về Người Tôi Tớ – chúng ta có thể đọc tất cả các đoạn văn trên trong quy chiếu về dân Ítraen, dĩ nhiên theo những ý nghĩa khác nhau.
3. Các đoạn văn trong Is 50 – 55
Is 50-55 có ba đoạn nói về người tôi tớ. Trong Is 50,4-11, chúng ta có cái mà truyền thống vẫn gọi là Bài Ca Thứ Ba về Người Tôi Tớ, và chủ đề về những khó khăn, đau khổ, chống đối mà người tôi tớ phải chịu được thấy một cách ấn tượng hơn: “Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ” (Is 50,6). Điều này có lẽ muốn nói đến ngay cả những chống đối về thể lý, những đau đớn trong thân xác mà người tôi tớ là nhóm người Ítraen trung thành phải hứng chịu. Nhưng một lần nữa, nhóm tôi tớ này tin tưởng vào sự trợ giúp của Chúa, và vì thế họ có can đảm để bước tới: “Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, vì thế, tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt ra như đá. Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng” (Is 50,7).
Chúng ta chuyển sang bản văn nổi tiếng về Người Tôi Tớ Đau Khổ trong Is 52,13-53,12. Đoạn văn này mở đầu và kết thúc với một đề cập về những đau khổ của người tôi tớ. Còn trong phần giữa, chúng ta có những mô tả về các đau khổ đó. Những điều này được tường thuật bởi một nhóm người, với đại từ số nhiều “chúng tôi”. Is 53,1 viết: “Điều chúng tôi đã nghe, ai mà tin được? Cánh tay uy quyền của Đức Chúa đã được tỏ cho ai?” Chúng tôi ở đây là ai? Ai là nhóm người đang kể về những đau khổ của người tôi tớ và nhận biết ý nghĩa của những đau khổ ấy? Rõ ràng là những kẻ đang nghe nhóm người này nói không nhận ra ý nghĩa sự đau khổ của người tôi tớ. Phải chăng, một lần nữa, đây là một nhóm người Ítraen trung thành, những người nhận biết ý nghĩa của mọi đau khổ mà dân Itraen đã trải qua do cuộc chinh phạt của người Babilonkhi xứ sở của họ bị xâm lăng, thành Giêrusalem bị thất thủ, đền thờ bị tiêu hủy, tường thành bị phá đổ, vương triều Đavít bị xóa bỏ, khi tất cả nền tảng cơ chế của niềm hy vọng nơi họ xét như một dân tộc dường như không còn? Một nhóm người Ítraen đã nhận hiểu điều này. Họ hiểu rằng đau khổ của họ là một thứ đau khổ cho người khác, và họ muốn làm cho đồng bào Ítraen của mình cũng hiểu điều này. Họ muốn làm cho đồng bào mình trở thành miêu duệ của Itraen người tôi tớ đau khổ: “Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn” (Is 53,10).
Tuy nhiên, cần phải bổ sung thêm: là độc giả Kitô giáo, chúng ta rất sẵn lòng đọc bản văn này trong Sách Isaia như là sự báo trước về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Trong tư cách là độc giả Kitô giáo, chúng ta có mọi cơ sở để đọc như thế. Nhưng có lẽ vào giai đoạn tiền Kitô giáo, những đoạn văn này có một ý nghĩa khác. Đó không đơn thuần hay không duy chỉ là lời tiên báo về Đấng Mêsia trong tương lai; nó có một tầng ý nghĩa ban sơ của nó qui chiếu về dân Ítraen. Nó nói về những đau khổ của dân tộc Itraen. Và rồi, qua thời gian, khi thực tế về những đau khổ của Đức Kitô xảy ra, người Kitô hữu suy tư về những đoạn văn này nhận thấy có nhiều điều nhắc họ nhớ đến những đau khổ của Đức Kitô và giúp họ nhận hiểu những đau khổ ấy. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng bản văn không hề có một tầng ý nghĩa ban sơ của nó. Và đấy là điều mà tôi muốn nêu ra: Người Tôi Tớ Đau Khổ ở đây, trong ý nghĩa ban sơ, chính là dân Ítraen.
Cuối cùng, đoạn văn sau rốt về người tôi tớ trong phần này của quyển sách là Is 54,17. Nó là một bản văn rất khác. Đây là “phần sản nghiệp của ‘những người tôi tớ’ Đức Chúa và sự công chính Ta dành sẵn cho những người này”. Chúng ta thấy dạng số nhiều, “những người tôi tớ” của Chúa, xuất hiện lần đầu tiên ở đây. Những người tôi tớ của Chúa này là ai? Phải chăng họ là con cháu của người tôi tớ đau khổ như đã đề cập trong Is 50,3? Chắc chắn đó là một khả năng.
Tại điểm này, hầu chắc là có thể giữ quan điểm rằng chúng ta có thể đọc tất cả các đoạn văn về người tôi tớ trong Is 40-55 trong quy chiếu đến dân tộc Ítraen, theo nghĩa này hay nghĩa khác: đôi khi đó là một nhóm người trong dân hay một nhóm trung thành, đôi khi đó là toàn dân, đôi khi đó là những người bất tín trong dân, mù và điếc, nhưng luôn luôn các đoạn văn này qui hướng về dân.
III. “NHỮNG NGƯỜI TÔI TỚ CỦA CHÚA”
TRONG Is 56 – 66
Ở đây tôi sẽ đi nhanh hơn nhiều, và không đề cập chi tiết bất cứ đoạn văn cụ thể nào. Người tôi tớ của Chúa được đề cập trong phần đầu, tức Is 56-59, và nhất là trong Is 66, tức chương kết thúc của sách. Mọi bản văn ở đây đều nói về người tôi tớ ở dạng số nhiều: “những người tôi tớ” của Chúa. Như vậy, điều được chuẩn bị trong đoạn văn cuối của phần hai (Is 54,17) giờ đây được gặp thấy trong tất cả các đoạn văn của phần ba – nói về những người tôi tớ của Chúa.
Một điểm then chốt trong đoạn văn đầu tiên ở đây (Is 56,6) là giờ đây “những người tôi tớ của Chúa” bao gồm cả dân ngoại nữa. Đây là một đoạn văn mở thoáng một cách lạ thường đối với cách viết của người Ítraen: “Người ngoại bang nào gắn bó cùng Đức Chúa để phụng sự Ngài và yêu mến Thánh Danh, cùng trở nên tôi tớ của Ngài”. Những người ngoại bang cũng là những tôi tớ của Chúa! Một lần nữa, hiển nhiên là trong tư cách độc giả Kitô giáo, chúng ta có thể có nhiều điều để đào sâu đoạn văn này. Nhưng điều thú vị là ngay ở đây chúng ta đã tìm thấy nó. Tuy nhiên, đây là một trường hợp ngoại lệ; quả thực, đây là lần duy nhất trong phần này của quyển sách nói rõ rằng những người ngoại quốc cũng có thể là những người tôi tớ của Chúa.
Đa số các trường hợp khác được chúng ta tìm thấy trong Is 65-66. Ta đang ở giai đoạn sau thời lưu đày, ở Giêrusalem sau khi trở về từ Babilon, lúc mà người Ba-tư cai trị đất nước nhưng cho phép cộng đồng Giêrusalem được tái thiết. Thời kỳ này có nhiều khó khăn, nhiều thất vọng. Chúng ta đọc thấy nhiều căng thẳng trong cộng đồng, thậm chí có những xung đột kịch liệt. Một đàng, chúng ta có một nhóm người Do thái nắm giữ quyền lực trong cộng đồng; đàng khác, chúng ta có một nhóm tôi tớ, nhóm người này minh nhiên tự nhận mình là “những người tôi tớ của Chúa”. Và sự căm ghét hướng đến những người tôi tớ này đi xa đến mức các nhà lãnh đạo muốn trục xuất họ ra khỏi cộng đồng: “Anh em các ngươi … ghét bỏ và trục xuất các ngươi vì danh Ta” (Is 66,5). Ở đây, chúng ta thấy những người tôi tớ là một nhóm nhỏ người Ítraen trung thành, họ bị bách hại và xua đuổi bởi chính đồng bào Itraen của mình. Rõ ràng họ là một nhóm người Ítraen.
IV. NHỮNG SUY TƯ ĐÚC KẾT
Đọc bản văn ở dạng cuối cùng (khía cạnh đồng đại)
Để tổng kết cách đọc bản văn ở hình thức cuối cùng – hay cách đọc đồng đại – mà tôi vừa mới lướt nhanh qua, chúng ta có thể đọc mỗi đoạn văn về người tôi tớ của Chúa kể từ Is 40 trở đi trong qui chiếu đến dân Ítraen. Cũng như nhiều học giả đương thời, tôi nghĩ rằng “sự chú giải qui về tập thể” (collective interpretation) dường như là cách đọc mà hình thức cuối cùng của Sách Isaia muốn chúng ta áp dụng, nghĩa là đồng hóa (những) người tôi tớ của Chúa với dân tộc Ítraen theo nhiều cách khác nhau như đã ghi nhận.
Nguồn gốc của các đoạn văn (khía cạnh lịch đại)
Tôi muốn bắt đầu với một lưu ý ngắn gọn về giai đoạn khác của quá trình chú giải, tức việc nghiên cứu lịch đại hay nghiên cứu lịch sử. Bằng cách nào chúng ta chuyển từ chặng này sang chặng khác, từ nghiên cứu bản văn ở dạng cuối cùng sang nghiên cứu lịch sử / lịch đại? Đối tượng tiếp cận duy nhất của chúng ta là bản văn. Trong cách đọc bản văn ở dạng cuối cùng, chúng ta cố gắng làm cho bản văn mạch lạc chặt chẽ hết sức có thể, cố gắng tìm ra càng nhiều càng tốt các mối nối kết khả niệm giữa đoạn văn này và đoạn văn khác, và cố gắng đọc nó một cách mạch lạc hết sức có thể. Khi chuyển sang chặng thứ hai của việc chú giải, tức việc nghiên cứu lịch sử / lịch đại, chúng ta thay đổi cách làm. Chúng ta xem lại chính những bản văn đó, nhưng lần này xem xét với con mắt hoài nghi. Chúng ta nhìn vào những dấu hiệu cho thấy sự căng thẳng nào đó giữa đoạn văn này với đoạn văn kia, hay một mâu thuẫn lớn giữa hai đoạn văn, hay những khác biệt lạ thường về từ ngữ trong cùng một đoạn văn. Đó là những manh mối, và hầu như phần lớn các trường hợp ta phải làm công việc này trong ngôn ngữ gốc. Đây là những manh mối làm chúng ta ngờ vực rằng không phải tất cả sáu mươi sáu chương sách này được viết bởi một người và được viết một lần không gián đoạn. Những điểm khác biệt, căng thẳng, mâu thuẫn, thiếu mạch lạc, và những sự thiếu nhất quán trong từ vựng là dấu hiệu cho thấy đã có những tác giả khác nhau. Đó là cách mà chúng ta bước vào loại nghiên cứu phê bình lịch sử / lịch đại.
Bây giờ, nếu nhìn lại các bản văn về người tôi tớ, thậm chí không cần phải đi vào bản gốc tiếng Hípri, chúng ta có thể thấy hoặc cảm nhận một số căng thẳng. Dù tôi đã cố gắng trình bày cách đọc một số đoạn văn về người tôi tớ, nhất là các Bài Ca Thứ Hai và Thứ Ba về Người Tôi Tớ, theo hướng qui chiếu đến dân Ítraen hay một nhóm người trong dân này, nhưng một số hay thậm chí nhiều người trong các bạn sẽ cảm thấy không hoàn toàn thỏa mãn. Nếu đọc những đoạn văn này một cách hoàn toàn tách rời, và cứ hiểu như chúng nói đến một cá nhân, thì há không dễ hơn, rõ hơn, và ít mất công hơn sao? Tôi nghĩ nhiều người sẽ trả lời: “Đúng thế”. Đây là một trong những lý do tại sao luận đề cổ xưa về bốn bài ca người tôi tớ – ít nhất theo quan điểm của tôi – vẫn còn nhiều trọng lượng. Điều này có nghĩa là chúng ta nhìn phía sau dạng hiện tại của bản văn và thấy rằng bộ sưu tập bốn bài ca người tôi tớ qui chiếu đến một cá nhân.
Cá nhân đó là ai vậy? Một lần nữa, độc giả Kitô giáo sẽ trả lời là Chúa Giêsu. Quả không sai! Nhưng độc giả Do thái thời trước hiểu như thế nào về điều này? Đó hẳn là một tiên tri, hẳn là tiên tri Isaia Đệ Nhị. Những đau khổ, sự bách hại, có lẽ cái chết nữa của người tôi tớ Đức Chúa – phải chăng đó là sự đọa đày mà Isaia Đệ Nhị gánh chịu? Những đau khổ ấy có lẽ do giới cầm quyền Babilongây ra; cái chết ấy có lẽ là cuộc hành hình dưới tay những người Babilon. Nhưng như vậy có nghĩa là đọc các bản văn một cách tách biệt, và điều này vẫn ổn. Ý nghĩa đó nằm ở đằng sau hình thức cuối cùng của bản văn, nhưng nó có giá trị trong tư cách là một ý nghĩa.
Tôi muốn nói rằng trong cuộc tranh luận trước đây (về vấn đề các đoạn văn về người tôi tớ phải được chú giải qui chiếu đến cá nhân hay tập thể), các học giả hoặc chọn bên này hoặc chọn bên kia, đưa ra các lập luận để ủng hộ bên này và phản đối bên kia – thật ra, cả hai khuynh hướng đều đúng cả. Người tôi tớ trong Isaia Đệ Nhị vừa là cá nhân vừa là tập thể. Cách đọc bản văn ở dạng cuối cùng muốn chúng ta hiểu người tôi tớ ấy là một tập thể: đó là dân Ítraen hay một nhóm người Ítraen trung thành. Tuy nhiên, vào thời ban đầu, các đoạn văn này có thể nói về một cá nhân, có lẽ đó là tiên tri Isaia Đệ Nhị. Vì vậy, đây không phải là vấn đề “hoặc cái này hoặc cái kia” (tức là hoặc chú giải qui về tập thể hoặc chú giải qui về cá nhân), nhưng đây là trường hợp “cả cái này lẫn cái kia”, theo những thời điểm khác nhau trong quá trình hình thành quyển sách.
Một hướng nhìn khác vào Tân Ước
Tôi đã nêu ngay ở đầu bài nói chuyện này rằng trong khi Tân Ước – không chỉ trong Tin Mừng Máccô mà còn trong rất nhiều trường hợp – sử dụng hình ảnh Người Tôi Tớ Đau Khổ để nhận hiểu sứ mạng, cuộc khổ nạn và sự cứu độ của Chúa Giêsu, thì vẫn còn có nhiều điều nữa cần được nói đến.
Điều nói trên được thấy rất rõ nơi đoạn văn Cv 13,47. Đây là một đoạn văn không được nhắc đến nhiều trong cuộc thảo luận này, nhưng tôi nghĩ nó rất quan trọng. Chúng ta đang ở vào giai đoạn sứ mạng đầu tiên của Phaolô và Banaba tại thành Antiôkia miền Pixiđia. Một tuần trước thời điểm của sự kiện được thuật trong câu này, hai vị đã có một bài giảng dài tại hội đường, trình bày Chúa Giêsu trong bối cảnh toàn thể lịch sử cứu độ của dân Do thái, khởi từ biến cố Xuất hành. Lời giảng của hai vị có tác động lớn nên ngày sabát tiếp theo họ đã trở lại, và nhiều người đã qui tụ: “Ngày sabát sau, gần như cả thành tụ họp nghe lời Thiên Chúa” (Cv 13,44). Nhưng một nhóm người Do thái có tầm ảnh hưởng hơn trong thành đã phản đối Phaolô, và sự việc này xảy ra khá thường xuyên kể từ đó:
Thấy những đám đông như vậy, người Do thái sinh lòng ghen tức, họ phản đối những lời ông Phaolô nói và nhục mạ ông. Bấy giờ ông Phaolô và Banaba mạnh dạn lên tiếng: “Anh em phải là những người đầu tiên được nghe lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em khước từ lời ấy [từ ‘anh em’ không quy chiếu đến tất cả người Do thái nhưng ít ra là giới lãnh đạo Do thái tại Antiôkia], thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại” (Cv 13,45-46).
Câu then chốt xảy ra ở đây, và đó là câu mà Phaolô và Banaba dùng để biện minh cho việc các vị hướng đến dân ngoại. Chúng ta hãy lắng nghe thật kỹ ngôn ngữ được dùng ở đây: “Vì Thiên Chúa đã truyền lệnh cho chúng tôi” – từ “chúng tôi” qui chiếu đến Phaolô và Banaba. Thiên Chúa đã truyền lệnh gì cho hai vị? Bản văn Thánh Kinh cho ta biết: “Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân để ngươi đem ơn cứu độ đến tận cùng cõi đất”. Đây là một trích dẫn từ Is 49,6 nói về người tôi tớ của Chúa. Trong cụm từ “Ta sẽ đặt ngươi”, từ “ngươi” ở dạng số ít. Điều gì đang xảy ra ở đây vậy? Phaolô và Banaba nói rằng họ đang chu toàn vai trò người tôi tớ của Chúa trong tư cách là những nhà giảng thuyết Kitô giáo. Và những gì hai vị nói về chính mình, hai vị cũng muốn nói về tất cả các nhà giảng thuyết Kitô giáo khác. Vậy ta ghi nhận điều gì ở đây? Chúng ta thấy rằng trong Tân Ước có sự áp dụng hình ảnh người tôi tớ của Chúa hay sứ mạng của người tôi tớ ấy cho cộng đoàn Kitô hữu. Có nhiều đoạn văn khác, nhất là trong các thư của Thánh Phaolô, trong đó “ngôn ngữ người tôi tớ” được áp dụng cho các thành viên của cộng đoàn Kitô hữu.
Như vậy, trong Tân Ước, người tôi tớ của Chúa cũng vừa là cá nhân vừa là cộng đoàn. Nói theo ngôn ngữ chuyên môn hơn, có một sự sử dụng mang tính Kitô học hình ảnh người tôi tớ của Chúa, và cũng có một sự sử dụng hình ảnh ấy mang tính Giáo hội học. Người tôi tớ của Chúa là Chúa Giêsu, nhưng cũng là cộng đoàn của Chúa Giêsu, nghĩa là chính chúng ta. Thật vậy, Tân Ước cũng có khía cạnh kép như được tìm thấy trong Sách Isaia liên quan đến hai cách đọc: đồng đại và lịch đại. Ở đây chúng ta thấy có một sự tương tự giữa Cựu Ước và Tân Ước.
Những gợi ý cho cách đọc của người Kitô hữu
Là Kitô hữu, chúng ta có thể đọc Sách Isaia và áp dụng tất cả các đoạn văn về người tôi tớ cho Chúa Giêsu. Nhưng Tân Ước cũng cung ứng cơ sở để chúng ta biết rằng các đoạn văn về người tôi tớ trong Sách Isaia có thể được đọc trong qui chiếu về chính chúng ta, về Giáo hội xét như là người tôi tớ của Chúa. Ở đây chúng ta có một nền tảng cho một Giáo hội học về một Giáo hội tôi tớ theo một ý nghĩa sát chữ, tức áp dụng chính từ “tôi tớ” của Thánh Kinh. Chúng ta có thể đọc lại tất cả các đoạn văn về người tôi tớ trong Sách Isaia trong qui chiếu đến ơn gọi của người tôi tớ, những khó khăn trong sứ mạng, sự tuyệt vọng, những khổ đau thể xác và cả cái chết của người tôi tớ. Và chúng ta có thể bồi dưỡng đức tin Kitô giáo từ những đoạn văn này. Chúng không chỉ là một hình ảnh biểu tượng hay sự báo trước về Chúa Giêsu; mà chúng còn là một hình ảnh biểu tượng và một sự báo trước về ơn gọi Kitô hữu của chúng ta – đó là trở thành một Giáo hội tôi tớ. Hy vọng rằng tôi đã làm sáng tỏ những chứng cứ để đi đến khẳng định này. Và tôi nghĩ rằng bạn có thể khám phá nhiều hàm ý thú vị hơn nữa của khẳng định này cho chính mình.
(Charles Conroy, MSC – Nguyễn Quí Khôi dịch, Lê Công Đức biên tập, 2015)
Câu hỏi này có lẽ xưa ngang thời … Abel! Và nó vẫn còn nguyên, thậm chí càng trêu ngươi hơn nhiều, trong thời hiện đại này. Biết bao người tốt, người tử tế, người vô tội phải chịu muôn nỗi khổ đau, hoạn nạn… trong khi những ác nhân, những kẻ vô tâm, hư hỏng thì nhiều khi xem chừng rất … vô sự, ngay cả rất thành đạt với đủ thứ phúc lộc trong đời!
Chúng ta không hiểu, vì chúng ta dường như được ‘lập trình’ để nghĩ rằng ở hiền thì phải gặp lành, rằng ác giả thì phải ác báo, rằng ông trời thì phải có mắt! Thế mà thực tế không luôn như vậy, hay nhiều khi trái ngược như vậy!
Trong bối cảnh Cựu Ước, chuyện ông Gióp là một câu trả lời cho câu hỏi tại sao người tốt (mà vẫn) gặp khổ luỵ. Gần đây, Cha Cao Gia An có bài trình bày câu chuyện này, là kết quả nghiên cứu của ngài trong nhiều năm. Ngài gợi ý mọi người chất vấn lại thuyết thưởng phạt (retributivism) vốn lập trình cách nghĩ thông thường, và tiếp cận câu trả lời theo hướng ‘thân phận người’ hữu hạn trong đối chiếu với Thiên Chúa vô hạn.
Vâng, sự khôn ngoan, quyền năng, tình yêu, công lý của Thiên Chúa vượt quá chúng ta cách vô hạn, và chứa đựng chúng ta, chứ không bao giờ bị chứa đựng hết trong nhận thức và kinh nghiệm của chúng ta. Đây là hàm ý trong những câu hỏi vĩ mô mà Thiên Chúa đặt ra dồn dập cho ông Gióp: “Ngươi ở đâu khi Ta đặt nền trái đất… vạch giới hạn cho biển cả?… Có khi nào ngươi ra lệnh cho bình minh xuất hiện?”
Cũng trong Cựu Ước, những mô tả về Người Tôi Tớ Đau Khổ của Đức Chúa trong Isaia (nhất là các đoạn ở chương 50-55, xem stt. trước) cũng giúp trả lời cách hùng hồn cho chúng ta về những gian nan khốn khó của người công chính. Người Tôi Tớ được Chúa kêu gọi, chọn, trao sứ mạng, và hứa trợ giúp… Người Tôi Tớ gặp khổ nạn, bị ngược đãi, chà đạp, sỉ nhục (xem Bài đọc Isaia thứ Tư tuần Thánh)… Nhưng Người Tôi Tớ vẫn luôn là Người Tôi Trung, trung tín, trung thành của Chúa, không chút nghi ngờ, chất vấn Đức Chúa!
Với Chúa Giêsu của Tân Ước, nhất là với cuộc Khổ nạn và cái chết của Người (mà Giáo hội sắp cử hành trong Tam nhật thánh), chúng ta có câu trả lời trọn vẹn và dứt khoát cho vấn đề tại sao người tốt gặp khổ luỵ.
Chúa Giêsu không loại bỏ ý niệm về thưởng phạt, nhưng Người cảnh báo về lối nghĩ thưởng phạt một cách đơn giản hoá. “Không phải tại anh ta hay tại cha mẹ anh ta đã phạm tội…. nhưng là để cho vinh quang của Thiên Chúa được tỏ hiện” – Chúa Giêsu đã nói về người mù từ lúc mới sinh như thế. Người cũng nói tương tự về những người Galile bị sát hại hay những người bị tháp Siloe đổ xuống đè chết, rằng không phải do họ tội lỗi hơn những người khác. Trước đó, Người từng khẳng định “Cha trên trời cho mưa xuống trên cả người lành kẻ dữ”, và cỏ lùng không được nhổ và đem đi đốt cho đến ngày gặt lúa!…
Nhưng chính cuộc Khổ nạn và cái chết bi thảm của Chúa Giêsu mới là ánh sáng đầy đủ nhất soi chiếu cho nỗi băn khoăn của chúng ta ở đây. Người đáp lại sự hung hăng ngùn ngụt của bạo lực bằng thái độ hoàn toàn phi bạo lực. Không một chút oán hận, cay đắng với con người, cũng không một chút oán trách Thiên Chúa, ngay cả dù trong xao xuyến bàng hoàng cực độ Người đã thốt lên sao Cha bỏ con… Người ý thức rõ Ý NGHĨA những cực hình Người đang chịu và cái chết của Người, qua lời kêu xin “Cha tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”.
Mỗi khi chúng ta đứng trước đau khổ và cả cái chết của người vô tội, mỗi khi chúng ta thấy mình bị cư xử bất công và phải chịu gánh nặng của oan khiên mà không giải gỡ được, hãy nhìn Chúa Giêsu trong cuộc Khổ nạn và cái chết của Người – và hãy làm theo lời khuyên ‘kinh điển’ và không bao giờ lỗi thời này: Hãy kết hợp những khổ luỵ của mình với đau khổ của Chúa Giêsu! Và đau khổ của chúng ta sẽ có năng lực cứu độ.
Ki tô giáo không phải là thuốc phiện ru người ta quên cơn đau, Ki tô giáo quan tâm mưu cầu công lý trên trái đất này, vâng, nhưng Ki tô giáo cũng có ‘bí quyết’ của mình để hiểu và để đảm nhận những đau khổ không tránh được hoặc không nên tránh! Bí quyết ấy tên là ‘Giêsu’.
Lm. Giuse Lê Công Đức
Giu đa Iscariot xuất hiện và lên tiếng trong trình thuật về cô Maria ở Bêtania xức dầu thơm vào chân Chúa Giêsu. Anh được bản dịch tiếng Việt gọi bằng đại từ “y”, một đại từ thường dùng cho những nhân vật phản diện.
Giu đa là quản lý của nhóm, giữ túi tiền, và thường ăn cắp tiền từ quỹ chung… Nhưng tính ‘phản diện’ của anh không chỉ ở chuyện mặc tình tham nhũng mà không có ai ‘đốt lò’, cũng không chỉ ở chuyện mượn danh nghĩa từ thiện, giúp đỡ người nghèo để lập dự án, quyên góp, rồi … ‘thụt két’, phù phép biến hoá tiền chung thành tiền riêng!
Tính ‘phản diện’ của Giu đa phơi bày rõ nhất ở chỗ anh bán đứng Thầy mình – một cú bán đứng vì vỡ mộng hơn là vì ba mươi đồng bạc nhận được ấy, cho dù anh rất ham tiền…
Các sách Tin Mừng nói Satan nhập vào Giu đa! Điều này cho chúng ta tia sáng để hiểu về hành động phản bội của Giu đa. Hiểu gì? Hiểu rằng ta … không thể hiểu và lý giải được hết đâu! Hai mươi trang sách của Thầy Trần Duy Nhiên, và hai mươi phút ‘sách nói’ của Cha Tiến Lộc, cũng chỉ dàn trải các dữ kiện liên quan đến câu chuyện Giu đa, chứ không hề trả lời được đến cùng câu hỏi tại sao Giu đa đã trở nên như thế.
Ta không hiểu một người bị Satan khống chế thì có thể ‘đi xa’ đến mức nào. Cũng như ta không hiểu nhiều tội lỗi của chính chúng ta, ngoại trừ nói rằng “quỷ tha ma bắt”, hay “ma đưa lối, quỷ dẫn đường”!
Dù sao, xung quanh nhân vật Giu đa, ta được nhắc để nhớ vài điều:
-Satan không toàn năng để tuỳ tiện tông cửa vào nhà bất cứ ai nó muốn. Cửa phải mở toang, ít là mở hé, nó mới xâm nhập và thao túng được. Sự phản bội của Giu đa, cũng như của bất cứ ai trong chúng ta, đều có một lịch sử, một tiến trình…
-“Con Người phải ra đi… nhưng khốn cho kẻ nộp Con Người; thà nó đừng sinh ra thì hơn”. Sự phản bội của Giu đa, cũng như tất cả tội lỗi của chúng ta, không bao giờ tất yếu! Chúng bất tất. Thiên Chúa không ‘quan phòng’ theo kiểu lên kịch bản rồi xếp đặt mọi sự, mọi người… như đánh cờ! Chúng ta, và cả Giu đa, không phải là những quân cờ hoàn toàn vô tri và bị động trên một bàn cờ. Thiên Chúa có quan phòng, vâng, nhưng chúng ta cũng có tự do và… trách nhiệm!
-Giu đa tội lỗi, vâng, nhưng cũng như bất cứ người tội lỗi nào, Giu đa được Chúa nhìn thấy ‘phẩm giá con người’ nơi anh, chứ không chỉ thấy tội lỗi và sự hư hỏng nơi anh.
-Giu đa đã kết thúc câu chuyện cuộc đời của mình như thế… Chúng ta không biết gì nhiều hơn thế. Điều quan trọng đối với chúng ta là tự hỏi thông điệp nào Chúa gửi cho mình từ câu chuyện Giu đa, hơn là chỉ thắc mắc số phận anh ấy rốt cục thế nào.
Trong quyển A Portrait of Jesus, tác giả Joseph Girzone đã chèn một đề cập đến Giu đa trong lời cầu nguyện của Chúa Giêsu với Chúa Cha, như sau: “Cha ơi, con biết Giu đa không quá tệ đâu, chỉ tiếc là cái tôi của anh ta quá lớn!”
Xin Chúa cho chúng ta biết bóp cái tôi của mình lại, đừng thổi nó lên quá lớn!
Lm. Giuse Lê Công Đức
Những ngày Chay Thánh đang dần khép lại, ta hãy tận dụng thời gian quý báu còn lại để đón nhận nguồn ơn cứu độ Chúa ban cho mỗi người chúng ta qua từng nhịp sống. Bầu không khí của Tuần Thánh dường như làm cho lòng người se lại với những cảm xúc thật trầm buồn và tĩnh lặng. Mọi thứ muốn dừng lại để nhường cho cuộc gặp gỡ cá vị thân tình, cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và lòng người.
Theo Chúa trong ơn gọi Mến Thánh Giá, ta được mời gọi bước đi với Chúa Kitô trên đường Thánh Giá, cách đặc biệt hơn trong những ngày Tuần Thánh này. Chúa mời ta bước đi không phải với một thái độ hững hờ mà thẳm sâu bên trong là một tâm hồn đồng điệu, một tâm hồn khát khao được ở lại với Chúa, cảm nghiệm tình yêu Thập Giá của Người. Tuy con đường Thập giá đó chẳng ai muốn bước qua nhưng chính trong cái tột cùng của đau thương ấy là một tình yêu nhưng không mà Thiên Chúa dành cho mỗi người. Ta hãy buông bỏ tất cả tham sân si của đời để bước vào một cuộc gặp gỡ thực sự trọn vẹn và thánh thiêng.
Bước đi với Ngài, ta cùng vào vườn cây Dầu, ở đó ta được chia sẻ nỗi cô đơn và sự phản bội mà Chúa đã chịu, nhưng sau tất cả ta vẫn trở về với Ngài trong niềm vâng theo ý Chúa Cha.
Bước đi với Ngài, ta cùng vào thành Giêrusalem để thông phần vào Cuộc Khổ Nạn, ở nơi đó ta sẽ gặp được tình yêu trong sự hy sinh.
Bước đi với Ngài, ta cùng lên đồi Canvê xưa, cùng vác Thập giá của Chúa cũng như gánh lấy thập giá của ta với những thử thách lớn – nhỏ, với những hy sinh thầm lặng hiệp thông với Chúa trong cuộc Thương Khó, để cuộc đời ta trở nên lời kinh chuyển cầu cho lương dân và người tội lỗi được ơn hoán cải.
Bước đi với Ngài, ta phó thác đời mình, sự sống và sự chết của ta trong tay Chúa nhân từ. Và hơn hết, dù trong hoàn cảnh nào, dù phải đối diện với nghịch cảnh như thế nào thì ta vẫn tin vào Lời Chúa “Người yêu thương ta đến cùng” (Ga 13, 1b)
Ngài dõi nhìn theo ta, cầu nguyện cho ta: “Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần” (Ga 17,15). “Lạy Cha, Con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha ban cho con cũng ở đó với con” (Ga 17,24). Hạnh phúc dường nào, tình Chúa dành cho ta. Ước mong sao, ta hiểu được tâm tình của Ngài và quảng đại bước đi với Ngài trọn tình mến.
Bước đi với Ngài, xin cho chúng con có đức tin sống động và lòng mến thiết tha để tình yêu Chúa thấm nhập và biến đổi cuộc đời chúng con nên những chứng nhân của Lòng Thương Xót trong cộng đoàn và nơi môi trường chúng con đang sống.
Têrêsa Ngọc Thủy
1. Chúa Giêsu bị xử án
-“Toàn thể Thượng Hội đồng tìm chứng gian buộc tội Đức Giêsu” (Mt 26,59).
-Chúa bị xét xử bất công ở cả toà đạo lẫn toà đời… Xin giúp con biết nghĩ tốt, nói tốt, làm tốt cho người khác, và đừng bao giờ đối xử bất công với bất cứ ai.
2. Chúa Giêsu vác thánh giá
-“Họ điệu Đức Giêsu đi. Chính Người vác lấy thập giá” (Ga 19,16b-17).
-Thập giá trên vai, Chúa bước tới pháp trường trong thân phận một tử tội… Xin ban cho con sức mạnh, để vác những thập giá trong đời mình mà đi theo Chúa.
3. Chúa Giêsu ngã lần thứ nhất
-“Mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất” (Lc 22,44).
-Chúa hấp hối từ tối qua khi đối diện với ‘chén’ phải uống. Giờ đây, ‘chén’ ấy là thập giá đang xô Chúa ngã… Xin giúp con biết đứng lên mỗi khi ngã xuống.
4. Chúa Giêsu gặp Đức Mẹ
-“Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,35).
-Chúa gặp Mẹ trên đường thập giá, Mẹ đau vì Con đau, và Con đau vì Mẹ đau… Xin dạy con biết yêu mến Đức Mẹ và nương ẩn trong trái tim từ mẫu của ngài.
5. Ông Si-mon vác thập giá đỡ Chúa Giêsu
-“Chúng gặp ông Si-mon… chúng bắt ông vác thập giá của Người” (Mt 27,32).
-Trên đường, Chúa được ông Si-mon giúp đỡ, và ông thật diễm phúc được liên luỵ với Chúa… Xin giúp con sẵn sàng liên luỵ với Chúa nơi bao người cần được con nâng đỡ.
6. Bà Vê-rô-ni-ca trao khăn cho Chúa lau mặt
-“Người chẳng còn dáng vẻ oai phong đáng ta ngắm nhìn” (Is 53,2).
-Người phụ nữ ấy đã thương cảm trước khuôn mặt nhem nhuốc của Chúa… Xin cho con biết chạnh lòng ra tay giúp đỡ những người khốn khổ xung quanh mình.
7. Chúa Giêsu ngã lần thứ hai
-“Vị Thượng Tế của ta … biết cảm thương những yếu hèn của ta” (Hr 4,15).
-Chúa lại ngã xuống, và đứng lên, tiếp tục bước đi… Xin nâng đỡ phận yếu hèn của con bằng sức mạnh tình yêu của Chúa.
8. Chúa Giêsu an ủi các phụ nữ Giêrusalem
-“Đừng khóc thương ta, hãy khóc cho phận mình” (Lc 23,28).
-Chúa là cây tươi mà còn bị bạc đãi, huống chi con là gỗ mục!… Chúa đã chịu đau khổ chính là vì tội lỗi con, xin giúp con chân thành sám hối tội lỗi mình.
9. Chúa Giêsu ngã lần thứ ba
-“Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể” (1Pr 2,24).
-Chúa ngã xuống dưới sức nặng của tội lỗi nhân trần. Chúa không hề biết tội, nhưng đã trở thành hiện thân của tội lỗi vì con… Xin làm cho con nên công chính.
10. Chúa Giêsu bị lột áo
-“Chúng đem áo Người ra bắt thăm mà chia nhau” (Mt 27,35).
-Chúa bị sỉ nhục, bị lột trần trụi, cả áo ngoài và áo trong. Một hình ảnh của nhân phẩm bị chà đạp!… Xin giúp con biết tôn trọng nhân phẩm của mình và người khác.
11. Chúa Giêsu bị đóng đinh
-“Chúng đóng đinh Người vào thập giá”(Mc 15,24).
-Chúa bị đóng đinh và treo lên, như một tử tội nhục nhã thảm hại… Xin cho con biết mang lấy vào thân cho đủ mức những gian nan thử thách mà Chúa còn phải chịu.
12. Chúa Giêsu chết trên thánh giá
-“Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống…” (Ga 15,13).
-Chúa đã chết vì yêu thương con đến cùng… Xin cho con từ nay biết dùng cuộc sống mình để làm chứng rằng Chúa đã chết vì con.
13. Thi thể Chúa Giêsu được đưa xuống, trao cho Đức Mẹ
-“Ông [Giôxep] đến gặp quan Philato để xin thi hài Đức Giêsu” (Lc 23,52).
-Ôm xác Con trong tay mình, đó là giây phút ‘lưỡi gươm đâm thâu lòng Mẹ’ khủng khiếp nhất!… Xin giúp con biết đồng cảm với Mẹ trong nỗi đau này.
14. Thi thể Chúa Giêsu được mai táng trong mồ
-“Có một ngôi mộ còn mới… các ông mai táng Đức Giêsu ở đó” (Ga 19,41-42).
-Được mai táng, vì Chúa đã chết thật, như hạt lúa gieo vào lòng đất. Mọi sự hoàn tất! Chúa đã đi trọn con đường vâng phục thánh ý Cha… Xin Chúa cứu độ con! Amen.
Lm. Giuse Lê Công Đức
40 ngày chay thánh – 40 ngày hồng phúc đã gần đến thời điểm kết thúc. Chúa nhật lễ Lá hôm nay được cử hành với nghi thức kiệu lá như một cử chỉ quan trọng để bước vào Tuần Thánh. Hôm nay, Chúa Giêsu vào thành thánh Giêrusalem với sự hoan hô, mừng rỡ của dân thành họ đang sấp mình bái lạy Chúa, miệng không ngớt tung hô, tay cầm những nhành lá tươi thơm ngát. Trong nghi thức kiệu lá, chúng ta được chiêm ngắm Chúa Giêsu tiến vào thành thánh Giê-ru-sa-lem với tư cách là Đấng Mesia (Mt 21, 1-11), sau khi Chúa thực hiện phép lạ mở mắt cho hai người mù ở Giê-ri-khô. Với phép lạ ngay trước mắt, đám đông dân chúng vô cùng ngỡ ngàng và họ thấy Chúa Giêsu đích thực là Đấng Cứu Thế – Đấng mà họ hằng mong đợi, vì thế họ đồng thanh chúc tụng Chúa rằng: “Hoan hô con Vua Đa-vít”.
Hình ảnh Chúa Giêsu ngồi trên lưng lừa còn có một ý nghĩa. Con lừa hiền lành làm nổi bật nơi Ngài là một Thiên Chúa hiền hậu và khiêm nhường, và ý nghĩa việc Chúa ngồi lên lưng lừa con chưa ai cỡi này cũng muốn nhấn mạnh: công trình cứu độ con người là việc chỉ duy một mình Chúa Giêsu mới có thể hoàn tất và việc này là chưa từng xảy ra. Chính Chúa Giêsu biết rõ sứ mạng của Ngài, nên Ngài đã để cho dân chúng chúc tụng. Hơn nữa, sự kiện Chúa vào thành trong sự hoan hô của dân chúng cũng là lời tiên báo cho lần sau cùng Chúa tiến vào Giê-ru-sa-lem, không phải để được ca tụng nhưng là để chịu chết, hầu thực hiện kế hoạch của Ba Ngôi Thiên Chúa đã dự định từ ngàn xưa.
Trong bài đọc một, tiên tri Isaia mô tả Người Tôi Trung đau khổ của Thiên Chúa. Hình ảnh Người Tôi Trung là hình ảnh loan báo về chính Chúa Giêsu là Tôi Trung của Thiên Chúa, đó là một người có lòng tin tưởng, cậy trông vào Thiên Chúa, không từ chối những bắt bớ xảy đến cho dù có khốc liệt đến đâu hoặc phải chịu sỉ nhục đến mức nào. Đồng thời tiên tri Isaia cũng muốn rao giảng và loan truyền cho dân Chúa trong chốn lưu đày, biết đón nhận những thử thách và hết lòng lắng nghe tiếng Chúa, lắng nghe như một người môn đệ, ấp ủ Lời Chúa trong lòng và suy gẫm để nhận ra ý nghĩa của những gì đang xảy ra.
Trong bài đọc về Cuộc Thương Khó Chúa Giêsu, Giáo Hội muốn cho chúng ta được cùng đi với Chúa trên hành trình vác thập giá và chịu đóng đinh, chúng ta hãy chiêm ngắm từng khuôn mặt đã hiện diện và theo Chúa trong suốt cuộc khổ nạn của Người. Có thể chúng ta bắt gặp, thấp thoáng đâu đó trong những khuôn mặt đó là hình ảnh của chính chúng ta.
Đối với Chúa, có lúc ta rất xa lạ và lạnh lùng, chỉ đứng nhìn một người đau khổ bước từng bước thật nhọc nhằn; có lúc ta cảm thương và day dứt trước những đau đớn từ những lằn roi vụt trút lên Người; có lúc ta hôn Người nhưng lòng ta thì trống rỗng và hơn thế, ta đang ôm ấp một ước vọng nào đó, có lúc ta tuyên xưng đức tin cách xác tín, rồi sau đó, ta nhìn Chúa như người không quen! Hoặc ta không vô cảm như đám đông đồng lòng nhất ý gào thét “Đóng đinh nó đi!”, hay khiêu khích Chúa làm một dấu lạ, thì đâu đó trong tận đáy lòng ta vẫn thấy nhói đau khi đứng dưới thánh giá.
Hãy đi với Chúa trên hành trình thập giá thật chậm, cùng Chúa bước lên đồi Canve để cảm nhận những bi kịch cuộc đời, để thấy Chúa Giêsu đã bước vào những bi kịch của con người như thế nào. Qua đau đớn trong bi kịch của một tông đồ trưởng, chúng ta phần nào hiểu được sự yếu hèn của con người trong cơn khốn quẫn, chúng ta không đủ can đảm để làm điều ta tuyên xưng, không đủ bản lĩnh để chống chọi với sự dữ. Chúng ta cần ơn Chúa, ơn tin tưởng vào Lòng thương xót, tha thứ của Chúa bởi vì “Tội các ngươi, dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết, có thẫm tựa vải điều, cũng hóa trắng như bông” (Is 1,18). Qua sự tuyệt vọng trong bi kịch của một Giu-đa, chúng ta được mời gọi hãy hướng nhìn lên Chúa, Chúa Giêsu không đến thế gian để ta phải chết trong tuyệt vọng. Mỗi khi ta cảm thấy có thể sẽ rơi vào bẫy tuyệt vọng, khi đó ta phải tìm đến Chúa và nhìn lên Chúa, để Chúa kéo ta lên, vì: “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10b).
Lạy Chúa, chúng con tạ ơn Chúa đã dùng thánh giá mà cứu chuộc chúng con. Xin cho chúng con biết tĩnh lòng và đi vào cuộc khổ nạn với Chúa trong những ngày Tuần Thánh này để chúng con cảm nhận được tình yêu vô biên mà Chúa đã dành cho chúng con.
Kinh lạy hồn Chúa Kitô
(Anima Christi)
Lạy hồn Chúa Kitô, xin thánh hóa con.
Lạy xác thánh Chúa Kitô, xin cứu độ con.
Lạy Máu Thánh Chúa Kitô, xin làm cho con say mến.
Lạy nước bởi nương long Chúa Kitô, xin tẩy rửa con.
Lạy sự thương khó Chúa KiTô, xin thêm sức cho con.
Lạy Chúa Giêsu nhân ái, xin nhận lời con.
Xin giấu ẩn con trong các vết thương Chúa.
Xin cho con đừng bao giờ lìa xa Chúa.
Xin gìn giữ con khỏi kẻ thù tinh quái.
Đến giờ lâm tử, xin Chúa gọi con, và cho con đến cùng Chúa,
để con được cùng các thánh ca tụng Chúa muôn đời. Amen
Bích Trúc
Cuộc sống của chúng ta là một hành trình. Cuộc hành trình được đan kết bởi những bước chân của vị khách lữ hành. Có những bước chân thao thức đi tìm chân lý và người ta đã gặp được sau bao gian nan vất vả. Có những bước chân khao khát đi tìm hạnh phúc và họ đã gặp được niềm hạnh phúc vỡ òa. Có những bước chân vững giúp người ta đến chính lộ. Nhưng cũng không thiếu những bước chân trật khiến người lữ khách bị lạc đường!
Sách Samuel quyển thứ 2 chương 11 kể rằng: Lúc xuân về khi các vua ra quân, vua Đavít sai các bề tôi của mình ra trận còn vua thì ở nhà. Vào một buổi chiều, vua từ trên giường trỗi dậy và đi bách bộ trên sân thượng đền vua. Bước chân xuống khỏi giường của vua có thể nói là bước lỡ đầu tiên. Đáng lẽ ra, một người có lòng kính sợ Đức Chúa như vua Đavít thì bước chân đầu tiên khi xuống khỏi giường phải là bước chân hướng về Chúa. Nếu như thế thì đã không có chuyện. Nhưng bước chân xuống khỏi giường của Đavít lại dẫn vua tới sân thượng. Vua đi bách bộ trên đó và từ trên cao vua thấy một người phụ nữ nhan sắc tuyệt vời. Nàng đang tắm. Samuel kể tiếp câu chuyện và ta thấy cái lỡ tiếp theo của Đavít. Đã đành bước chân sau khi xuống khỏi giường không dẫn vua tới Đức Chúa, thì việc đi dạo cũng có thể giúp vua gặp Đức Chúa. Vua sẽ gặp Chúa nếu lòng vua hướng về Chúa với bước chân nhẹ nhàng dạo trên sân thượng và đôi mắt nhìn sâu vào trong lòng mình. Nhưng vua đã không làm thế. Vua đi dạo và vua bắt đầu nhìn. Vua nhìn ra và đã thấy. Cái lỡ của ánh mắt khiến vua không thể làm chủ con mắt của mình và xa hơn nữa là không thể làm chủ con người xác thịt của mình. Sau khi điều tra, Đavít có được thông tin về người đẹp kia. Những thông tin có được không cho phép vua tiếp tục chiều theo ý muốn riêng của con người xác thịt của mình. Nhưng vua đã bỏ qua tất cả mọi điều lề luật đã dạy, bất chấp tình trạng hôn nhân của người đẹp kia. Vua dùng quyền của mình, sai lính biệt phái đến đón nàng. Sách Samuel kể tiếp rằng: “Nàng đến với vua và vua nằm với nàng; khi ấy nàng mới thanh tẩy sau thời kỳ ô uế. Rồi nàng trở về nhà. Người đàn bà thụ thai. Nàng sai người đến báo tin cho vua Đa-vít rằng: “Tôi có thai.” (2 Sm 11, 4-5).
Đường đường là quốc vương, Đavít không thể để chuyện vô luân này bôi xấu danh dự của mình và phương hại tới người đẹp kia. Vua tìm phương án giải quyết để không xấu mình và cũng không hại người đẹp. Phương án vua đưa ra là triệu tập chồng của người phụ nữ kia từ mặt trận về để có thể xóa sạch dấu vết tội lỗi vua đã gây ra. Vua mời Urigia chồng Bathseva vào cung, vua thiết đãi vị trung thần của mình, và gợi ý cho chàng chiến binh về gia đình hưởng niềm vui đoàn tụ sau những ngày xa nhà. Urigia quả là một người chính trực. Ông không nỡ về nhà hưởng niềm vui với vợ khi các anh em chiến sĩ của mình đang lăn lộn ngoài mặt trận. đúng là có những khi cuộc đời cho phép dễ dãi nhưng một con người chính trực thì không cho phép mình được ngả theo. Đavít thất bại trong phương án số một, ông tìm cách giải quyết hậu quả theo một phương án mới để an toàn cho cả hai. Vua lập kế hoạch đẩy Urigia, vị trung thần của mình vào chỗ chết. Một khi Urigia đã chết thì cái bụng của người đẹp to lên sẽ không còn là một vấn đề đáng lo ngại. Vua thành công trong kế hoạch thứ hai của mình. Urigia hân hoan ra mặt trận với tờ án tử trên tay. Ông đã bị đẩy vào chỗ mặt trận khốc liệt nhất và ông đã tử thương tại mặt trận. Ở nhà, vua bình an đón nàng về dinh.
Mùa Chay đã dần khép lại, chúng ta đã có những ngày hồng phúc để nhìn lại đời sống của mình. Có lẽ tôi đã nhận ra đâu đó trong cuộc đời, có những lúc tôi cũng nhẹ lòng chiều theo cái lỡ nhỏ trong cuộc đời mình. Tôi lỡ vì tôi là con người mà! Tôi lỡ vì tôi còn yếu đuối mà! Tôi lỡ và tôi lặng lẽ sống trong cái lỡ của mình để từ cái lỡ nhỏ như bước chân lạc hướng của Đavít, cuộc đời của thánh vương mang một vết đen. Từ cái lỡ nhỏ đến những mưu mô để che giấu, lấp liếm cái lỡ đó. Từ cái lỡ nhỏ trong cuộc đời, tôi hủy hoại đời tôi và cuộc đời người khác. Hơn bao giờ hết, những ngày này là thời gian thuận tiện để chúng ta trở về với Chúa, với chính mình và với anh chị em. Trở về để hàn gắn những thương tích đã hằn sâu trong cuộc đời tôi, trong cuộc đời anh chị em. Trở về để tôi sống thân tình với Chúa và xứng đáng với Chúa hơn. Tuy nhiên, trở về là một điều không dễ dàng nếu như tôi chưa cảm nghiệm được tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúng ta hãy cùng bước tiếp cuộc lữ hành của thánh vương Đavít để học được bài học hoán cải trong cuộc đời của vua.
Hành Trình Hoán Cải Của Đavít
Thánh vương Đavít là kiểu mẫu cho các vua sau này soi chiếu. Thánh Kinh thường viết về các vua sau Đavít: “không được như Đavít phụ vương…”. Tuy nhiên, cuộc đời Đavít cũng để lại một điểm đen khó có thể xóa nhòa. Đó là hành động ngoại tình và để che giấu lầm lỗi của mình Đavít đã thủ tiêu vị trung thần. Sẽ không có gì để nói tiếp nếu Đavít ở yên trong tội lỗi đó. Nhưng vua xứng đáng là người được mọi đời ca tụng vì vua đã biết lắng nghe, biết nhìn lại và hoán cải theo đường lối Chúa mời gọi.
Cuộc hoán cải của Đavít khởi đi từ lời tuyên cáo của ngôn sứ Nathan. Nathan đến cung điện nhà vua và kể một câu chuyện tưởng chừng như vô thưởng vô phạt với vua. Chuyện rằng có gã nhà giàu chiên dê ê hề nhưng khi nhà có khách lão tiếc của đi bắt con dê cái duy nhất của người nghèo để làm thịt đãi khách. Trường hợp bất công mà ngôn sứ Nathan trình bày khiến Đavít nổi máu quân vương chính trực. Được đánh động về mặt đạo đức, nhà vua bắt đầu suy nghĩ lại về sự thật và công lý, ông nổi giận tuyên cáo: hắn phải đền gấp bốn con dê cái. Lời tuyên bố dành cho tội nhân trong câu chuyện của Nathan lại chính là lời tố cáo và kết án chính mình. Nathan không ngần ngại chỉ thẳng vào David: Kẻ đó chính là ngài! Đavít không thể che giấu tội lỗi của mình, ông lắng nghe và hối lỗi. Samuel kể lại rằng Đavít đã ăn chay, mặc áo nhặm cho đến khi đứa bé chết. Nhìn sâu vào hành động ăn chay hối lỗi của Đavít ta nhận ra rằng ông hối lỗi không phải vì đã phạm tội mất lòng Chúa nhưng là sự sám hối quy về mình. Đavít ăn chay hầu mong Đức Chúa thương tha thứ cho ông và đứa trẻ của cuộc ngoại tình được sống. Điều này được sáng tỏ khi chúng ta tiếp tục theo bước Đavít, ông đã hành động thế nào khi hay tin đứa trẻ chết. Vua không còn ăn chay nữa nhưng đã ăn uống bình thường trở lại. Hành động ấy khiến cho quần thần phải kinh ngạc. Nhưng chính hành động đó là minh chứng cho một sự ăn năn vì lề luật, một sự sám hối với mong muốn lợi ích cho bản thân mình.
Thiên Chúa mời gọi Đavít cũng như mỗi người chúng ta ngày hôm nay một sự ăn năn xa hơn thế nữa: không phải là vì luật nhưng ăn năn sám hối trong tương quan tình yêu. Bởi lẽ, không phải lề luật nhưng chính tình yêu là động lực thôi thúc chúng ta trở về. Nhìn lại cuộc đời Đavít, ta thấy ông đã đạt được điều này vào khúc cuối của cuộc đời mình. Đavít sau những ngày chiến thắng vẻ vang thì ông cũng phải đau khổ. Đau khổ vì chứng kiến cảnh huynh đệ tương tàn giữa những con cái mình, đau khổ vì những hành động người con mình đứt ruột đẻ ra đã làm cho mình. Người con đó là Absalom. Absalom không chỉ nổi loạn, chiếm ngôi cha khiến cha phải chạy trốn, tìm cách đâm sau lưng cha mỗi khi có dịp, anh ta còn làm nhục cha bằng cách dựng chướng giữa trời rồi ăn nằm với các tỳ thiếp của cha mình. Biết bao đau khổ Absalom gây ra cho thân phụ. Nhưng khi cờ trở về tay mình, Đavít đã không hành xử với con theo lẽ công bằng nhưng với tình phụ tử. Đavít những mong ngóng con mình hối cải về những hành vi của anh và trở lại vòng tay cha. Khi quân mình ra trận, Đavít dặn: hãy nhẹ tay với Absalom con ta. Khi có người từ mặt trận trở về, Đavít không hỏi thăm tình hình quân binh, không hỏi thăm thời thế chiến sự nhưng hỏi thăm người con phản loạn của vua. “Cậu Absalom có được bình an không?” Nỗi đau thắt lòng khi hay tin đứa con phản loạn không còn nữa. Đavít thét gào trong đau đớn: “Absalom con ơi! Absalom con ơi! Phải chi cha chết thay cho con”. Chỉ khi được ngụp lặn trong tình phụ tử ta mới cảm nhận hết được nỗi lòng của Đavít khi vua thốt lên những lời này. Động lực nào đã thôi thúc Đavít dành tình thương cho người con phản loạn như vậy? Chính là tình thương của Đức Chúa dành cho ông. Bảo rằng Đavít đã hối cải sau lời khiển trách của Nathan quả là không sai. Nhưng bảo rằng đến khi Absalom chết, sự hoán cải của David mới trọn vẹn thì hoàn toàn đầy đủ ý nghĩa. Đó là cả một hành trình dài Đavít cảm nghiệm được tình thương của Đức Chúa trên cuộc đời vua. Dù vua lỗi tội phản nghịch cùng Đức Chúa nhưng Đức Chúa vẫn thương vua. Vua trở về với Đức Chúa không phải chỉ vì vua sai chệch lề luật nhưng lớn lao hơn là vì tình thương bao la Đức Chúa dành cho vua, khiến vua không thể làm gì khác ngoài việc thật lòng hối cải để trở nên xứng đáng với Thiên Chúa tình yêu. Như vậy, sự hoán cải của Đavít không dừng lại ngày một ngày hai nhưng là một sự hoán cải kéo dài suốt cuộc lữ hành của vua, qua từng biến cố lớn nhỏ của cuộc đời nhờ cảm nghiệm được tình thương của Đức Chúa. Chính nhờ cảm nghiệm được tình Chúa phủ lấp mọi lỗi lầm trong cuộc đời, Đavít hoán cải thực lòng: quay lưng với lỗi tội và sống như Đức Chúa dạy.
Hành trình Mùa Chay đang dần khép lại nhưng mở ra một hành trình mới, hành trình vượt qua lỗi tội để đến với ánh sáng Phục Sinh. Nguyện xin Chúa ban ơn thêm sức cho mỗi người chúng ta để trong những ngày qua, ta đã nhận ra được con người thật của mình với những điểm cần thay đổi thì ta cũng đủ can đảm để trở về với Chúa qua bí tích Hòa Giải. Ước mong nhờ việc lãnh nhận bí tích Hòa Giải ta được tự do là con cái Chúa, được nối lại mối dây thân tình với Chúa, được hàn gắn những vết thương, những rạn nứt với anh chị em, để tất cả chúng ta cùng bắt đầu một nhịp sống mới, một nhịp sống được thông phần với Đấng Phục Sinh tràn đầy tình yêu thương. Amen.
Maria Nguyễn Hường
1. Từ một tài liệu của Bộ Truyền thông
Cách đây ít tháng, tôi đi họp Bộ Truyền thông của Tòa thánh. Một trong những việc của Hội nghị là thảo luận về một Tài liệu hướng dẫn của Bộ Truyền thông về mạng xã hội. Điều làm tôi thắc mắc là tài liệu nói về mạng xã hội nhưng khung dẫn dắt suy tư lại là dụ ngôn Người Samari nhân hậu (Lc 10,29-37). Dụ ngôn này có liên quan gì đến mạng xã hội? Khi đọc kỹ, tôi khám phá hai điều quan trọng:
Thứ nhất, ngày nay, mạng xã hội đã trở nên thành phần không thể thiếu vắng trong cuộc sống con người, nhất là người trẻ: “Thế giới kỹ thuật số là thành phần quan trọng trong căn tính và lối sống của người trẻ ngày nay”; “Mạng xã hội ngày nay là môi trường ở đó con người tương tác với nhau, chia sẻ kinh nghiệm và vun đắp những mối tương quan”; “Mạng xã hội có vai trò quyết định vì là bối cảnh trong đó những giá trị, niềm tin, ngôn ngữ, những giả định của chúng ta được chia sẻ”. Hãy thử nhìn lại xem nhận định của Bộ Truyền Thông có đúng không? Một ngày giới trẻ dành bao nhiêu giờ cho mạng xã hội?
Thứ hai, Lời Chúa dù được viết ra cách đây 20 thế kỷ vẫn rất hợp thời, có thể soi sáng cho cuộc sống của ta và cả trên mạng xã hội. Cụ thể, hãy đọc dụ ngôn Người Samari nhân hậu và đối chiếu với những gì diễn ra trên mạng xã hội:
– Dụ ngôn kể chuyện một nạn nhân bị đánh nhừ tử rồi bị bỏ bên vệ đường. Trên mạng xã hội ngày nay có tình trạng như thế chăng? có những người bị đánh nhừ tử vả bị bỏ rơi trên đường, nằm đó nửa sống nửa chết không?
Mới đây CDC Mỹ công bố tài liệu về tình trạng khủng hoảng sức khỏe tâm thần nơi giới trẻ Mỹ, cách riêng là nữ (nam bị ít hơn, khoảng một nửa của nữ): 57% cho biết thường xuyên buồn bã; 30% có ý định tự tử và 13% đã tự tử nhưng cứu được. Nguyên nhân lớn là mạng xã hội, nhất là những nền tảng Instagram và TikTok, qua đó (những hình ảnh, bài viết, comments) người ta đưa ra những chuẩn mực về hình ảnh bản thân và hình thể, lại là những hình ảnh quá lý tưởng, khiến trẻ nữ thấy mặc cảm thua kém, không bằng người ta, sinh ra trầm cảm, không muốn sống!
Cũng mới đây, trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình của Việt Nam về tình hình tội phạm gia tăng trong giới thiếu niên 14-16 tuổi, tăng về số lượng và cả về mức độ độc ác, người được phỏng vấn là một tiến sĩ, ông cho biết một trong những nguyên nhân lớn là mạng xã hội với những thông tin và hình ảnh xấu độc, đã gây tác động nơi các em thiếu niên.
– Rồi trong dụ ngôn Người Samari nhân hậu, Chúa Giêsu nói đến những cách ứng xử khác nhau của nhiều người khi nhìn thấy nạn nhân nằm bên vệ đường: thầy tư tế, thầy Levi, người Samari… Trên mạng xã hội ngày nay, chúng ta cũng có thể thấy những phản ứng như các nhân vật trong dụ ngôn chăng, và bản thân chúng ta ứng xử thế nào? chúng ta có giống thầy tư tế, thầy Lêvi giỏi lề luật và chăm lo việc đền thờ nhưng đi qua mà không ngó ngàng gì tới nạn nhân? Hay chúng ta giống người Samari ngoại đạo nhưng lại lo chăm sóc cho người khác tôn giáo, lập trường với mình, và chăm sóc đến nơi đến chốn?
Vì mạng xã hội đã trở thành thế giới của người trẻ ngày nay và Lời Chúa vẫn luôn là ánh sáng soi đường, nên hôm nay khi chiêm ngắm Chúa Giêsu đứng trước mộ Lazaro (Ga 11,1-45), tôi cũng muốn nói đến những nấm mồ trên mạng xã hội.
2. Đến những nấm mồ trên mạng xã hội
Không thể phủ nhận điều này là mạng xã hội có rất nhiều nét tích cực: loan truyền tin tức rất nhanh; giúp chúng ta gia tăng sự hiểu biết; kết nối chúng ta trong những hành động đầy tình liên đới: chẳng hạn thời Covid-19, khi bị cô lập, mạng xã hội là khí cụ kết nối tuyệt vời, đồng thời giúp đỡ nhau vượt qua những khó khăn. Nhưng mạng xã hội cũng có nhiều điều tiêu cực đến độ có người gọi nó là quái vật frankenstein của thời đại! Hãy thử nói đến một vài nấm mồ trên mạng xã hội.
(1) Nấm mồ của thế giới ảo
Plato, một triết gia thời thượng cổ, kể câu chuyện ngụ ngôn nổi tiếng: Đám người bị nhốt trong hang đá, khóa chân tay, trước mắt là bức tường trắng, xa xa sau họ là những ngọn lửa. Họ nhìn trên tường, thấy những hình dạng đi lại, hoạt động trên tường và nghĩ đó là thực tại. Có người thoát khỏi hang và thấy rõ vẻ đẹp rực rỡ của các thực tại dưới ánh mặt trời, nhưng khi quay lại kể cho mọi người nghe thì không ai tin, lại còn mắng mỏ và muốn hủy diệt.
Plato dùng ngụ ngôn này để trình bày quan điểm triết học của ông nhưng ở đây chúng ta không nói tới chuyện đó, chỉ muốn mượn để nói về thế giới thực và thế giới ảo. Những người trong ngụ ngôn của Plato sống trong hang đá, chỉ nhìn thấy những hình bóng trên tường và nghĩ đó là thật, đến nỗi phủ nhận thế giới thực! Liệu chúng ta có rơi vào tình trạn đó chăng, suốt ngày lăn lộn torng thế giới ảo đến nỗi phủ nhận, quên thế giới thực:
Quên tương quan thật trong nhà: cả nhà cùng ngồi bàn cơm, mỗi người một điện thoại! Kết nối (connect) ở đâu chứ không kết nối với người trước mặt.
Quên trách nhiệm giáo dục con cái: quăng cho cái điện thoại là xong! Riết rồi đứa trẻ sống trong thế giới ảo chứ không có khả năng sống trong thế giới thực. Khi đó than phiền mà không biết chính mình góp phần tạo ra.
Vì thế, Đức Giáo hoàng Phanxicô nói với chúng ta: “Mạng xã hội là sự bổ túc – chứ không thay thế – cho sự gặp gỡ cụ thể sống động qua ánh mắt, cái nhìn và hơi thở con người. Nếu một gia đình sử dụng mạng để nối kết với nhau hơn, thì rồi hãy gặp nhau ở bàn ăn và nhìn vào mắt nhau, đó sẽ là nguồn phong phú”.
Trong đời sống thiêng liêng cũng thế, nhất là khi có bạn trẻ lập luận rằng đi lễ online là đủ rồi: “Thánh Thể không phải là điều gì đó chúng ta có thể chỉ “nhìn”, nhưng là để được nuôi dưỡng” (Ibid).
(2) Nấm mồ của sự gian dối
Fake News, tin giả, chẳng phải là điều gì mới mẻ. Ngay ở những trang đầu của Kinh Thánh đã xuất hiện ông vua tin giả là con rắn dụ dỗ bà Eva: “Ăn trái cấm chẳng sao đâu, chỉ là Chúa sợ ông bà nên như các vị thần thôi”. Con rắn ấy là hình ảnh của ma quỷ nên Kinh Thánh gọi ma quỷ là “cha sự gian dối”.
Tin giả không phải là chuyện mới mẻ, nhưng vấn đề là trong thời đại thông tin ngày nay, cách riêng trên mạng xã hội, tin giả loan truyền rất nhanh với tốc độ chóng mặt và vì thế gây ra hậu quả khủng khiếp! Có những fake news chỉ để vui đùa, giải trí (kiểu nói dối ngày cá tháng tư), nhưng lại có những tin giả có chủ đích kinh tế, chính trị, văn hóa… Cả trong Giáo Hội cũng có không ít tin giả, những tin tức giật gân từ trung ương, kể cả tin về ĐGH bị bắt cóc, ĐGH Phanxicô là Giáo hoàng giả) đến địa phương (chuyện Giáo phận này, linh mục kia…). Có khi lại còn núp bóng dưới những tâm tình hết sức đạo đức: xin các bạn cầu nguyện cho!!! Và có khi chính các nguồn mang danh Công giáo nhưng lại loan truyền tin giả về Giáo Hội.
Có thể chúng ta không phải là người tung tin giả nhưng nguy cơ là ở chỗ ta có thể trở thành kẻ đồng lõa trong việc loan truyền tin giả: (1) không suy nghĩ cho thấu đáo, không kiểm chứng thông tin, chỉ hành động theo cảm tính; (2) hoặc có khi vì muốn tỏ ra mình là người nhanh nhạy, biết nhiều tin tức: nhấn nút like và share! ĐGH Phanxico nói là loan truyền tin giả là vô tình đồng lõa với cái ác! (x. Sứ điệp Truyền Thông 2018).
Vì sự nguy hại của tin giả nên đã có một giám mục đề nghị phải có mandatum (bài sai) như việc giảng dạy thần học trong các đại học công giáo đòi phải có; Bộ Truyền thông cũng từng bàn đến chuyện phải có tên miền mở rộng .catholic vì ngay cả các trang mạng lấy danh nghĩa công giáo nhưng lại chống đối Giáo Hội.
Để không trở thành kẻ đồng lõa với cái ác, hãy chịu khó kiểm chứng thông tin qua những nguồn chính thức; đồng thời không vội vã like và share khi chưa hiểu rõ vấn đề.
(3) Nấm mồ của hận thù và chia rẽ
Lý tưởng của mạng xã hội là kết nối nhưng thực tế lại là gây chia rẽ! Kết nối là một từ trung tính, câu hỏi phải đặt ra là kết nối để làm gì? Những tên khủng bố và những kẻ lừa đảo cũng kết nối vậy, và giỏi hơn chúng ta nhiều ! Cho nên phải đặt câu hỏi kết nối để làm gì? Để xây dựng hay phá hủy, chữa lành hay hủy diệt, cổ võ yêu thương hay gieo rắc hận thù…?
Trong thực tế, người ta thấy mạng xã hội đang làm cho sự hận thù loan truyền nhanh hơn nhiều. Giám mục R. Baron dùng hình ảnh so sánh: ngày xưa giận ai thì viết thư chửi bới rồi gửi, người nhận đọc thư, tức quá, ném vào xọt rác. Ngày nay giận ai thì lên mạng xã hội chửi bới, chỉ một nút nhấn, cả thế giới biết, rồi like và share! Đổ dầu vào lửa!
Những thuật toán được áp dụng cho các nền tảng mạng xã hội cũng góp phần tạo hận thù và chia rẽ, vì cung cấp cho người dùng những thông tin, hình ảnh, bài viết, suy nghĩ giống như những gì ta vừa đọc và xem. Điều đó khiến ta ngày càng thu mình trong quan điểm quen thuộc của mình và từ chối tiếp nhận những góc nhìn khác để có thể có sự gặp gỡ và đối thoại chân thành, mang tính xây dựng. Ngoài ra những thuật toán ấy còn thúc đẩy các nội dung và đề tài gây tranh cãi…nhờ đó thu hút người tham gia và họ có lời!
Có thể thấy những hận thù và chia rẽ ấy cũng đang diễn ra ngay trong lòng Giáo Hội. Cùng là con cái Chúa và là anh chị em với nhau nhưng sẵn sàng dành cho nhau những lời lẽ nặng nề và thậm tệ nhất thay vì sự đối thoại chân thành.
Vì thế cần lắng nghe lời khuyên của Vị Cha chung: Hãy vứt bỏ những gì gây chia rẽ và hận thù; hãy cổ võ những điều tốt đẹp, những gì thúc đẩy sự hiệp thông và liên đới (ĐGH Phanxicô, Sứ điệp Truyền Thông 2018).
3. Lắng nghe tiếng gọi: Hãy ra khỏi mồ
Nói đến những nấm mồ trên mạng xã hội làm cho chúng ta dễ có cảm giác Giáo Hội không có thiện cảm với mạng xã hội, và khuyến khích chúng ta tẩy chay mạng xã hội.
Không! Không phải thế. Giáo Hội không tẩy chay mạng xã hội vì mạng xã hội có thể mang lại rất nhiều lợi ích và làm cho đời sống chúng ta phong phú hơn. Hơn nữa đây còn là sứ mạng của Giáo Hội: loan báo Tin Mừng bằng các phương tiện truyền thông, hiện diện ở nơi con người đang hiện diện: “Người trẻ – cũng như các thế hệ lớn hơn – xin Giáo Hội gặp gỡ họ nơi họ đang hiện diện, gồm cả mạng xã hội”. Vấn đề là hiện diện như thế nào? Chúa muốn chúng ta hiện diện như thế nào trên mạng xã hội?
Suy nghĩ về mạng xã hội trong ánh sáng Tin Mừng hôm nay, chúng ta hãy hình dung Chúa Giêsu đang đứng trước cánh cửa tâm hồn mỗi người giống như Ngài đứng trước mồ của Lazaro, và Ngài cũng kêu lên “Hãy ra khỏi mồ”.
(1) Hãy ra khỏi nấm mồ của thế giới ảo; hãy ra khỏi nấm mồ của gian dối; hãy ra khỏi nấm mồ của hận thù và chia rẽ!
(2) Hãy bước vào mạng xã hội trong tư cách môn đệ của Chúa, nghĩa là trở thành người loan báo sự thật và gieo rắc tình yêu trong thế giới mạng xã hội.
Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Để có được cộng đoàn Thanh Bình thuộc Hội dòng Mến Thánh Giá Tân Lập như ngày hôm nay với cơ sở khang trang và đủ tiện ích phục vụ cho sứ vụ giáo dục, cụ thể là các cháu Mần Non, cộng đoàn đã trải những thăng trầm nhưng đầy sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa. Cách đây hơn 50 năm – ngày các chị em đặt bước chân đầu tiên lên miền đất này với khá đông chị em, khoảng hai mươi chị em. Với vùng đất còn hoang sơ và nhiều khó khăn về kinh tế, các chị em trong cộng đoàn đã trải qua những công việc làm nông, nuôi heo, nuôi tằm để có thể tự kiếm sống và phục vụ nhà thờ.
Ngoài ra, với nhu cầu các em học sinh cần có chỗ ở thuận tiện cho việc đến, được chuẩn bị bài vở tốt hơn cũng như với mong muốn giúp cho các em có đời sống đạo tốt hơn, cộng đoàn đã mở cơ sở nội trú. Tuy vất vả, nhưng niềm vui được thánh hiến cho Thiên Chúa qua việc phục sự Chúa đã giúp chị em vượt qua mọi trở ngại. Chị em không quản ngại mỗi ngày phải dậy rất sớm để quét dọn, mở cổng, cửa nhà thờ và đánh chuông để đánh thức dân làng. Qua nhiều năm, giáo xứ cũng dần dần phát triển, giáo dân cũng biết cộng tác với chị em một số công việc mục vụ. Đến nay mọi thành phần dân Chúa có thể tham gia vào công việc mục vụ.
Cùng với những thăng trầm của đất nước, những biến cố lịch sử, khó khăn về kinh tế… Cộng đoàn Thanh Bình cũng không loại trừ. Khoảng 18 năm đổ lại, cộng đoàn Thanh Bình chỉ còn lại ba đến bốn chị em ở lại để tiếp tục dạy giáo lý, cắm hoa, tập dâng hoa và tập hát cho Giáo xứ. Cho đến năm 2005, vì nhu cầu các cháu ở lứa tuổi mầm non nhiều, cộng đoàn Thanh Bình bắt đầu với sứ vụ giáo dục mầm non cho đến hôm nay. Để phục vụ cho công việc giáo dục, cộng đoàn lúc đó được xây khá đẹp và khang trang, nhưng qua nhiều năm, theo thời gian cơ sở này đã xuống cấp trầm trọng, mưa xuống thì ngập lụt, gió mạnh thì cửa tôn lung lay… Vào 12/06/2022, cộng đoàn đã được Hội dòng cho tu sửa lại, để có thể phục vụ tốt cho sứ vụ cũng như cho chị em có nơi ở an tâm mà hiến thân phụng sự Chúa.


Dù hình thức bên ngoài có đổi thay hoàn toàn, đẹp hơn, khang trang hơn nhưng tên gọi “Thanh Bình” vẫn không thay đổi. Tên gọi Thanh Bình có một ý nghĩa mà chị em muốn hướng đến. “Thanh” là thanh khiết, thanh sạch, thanh minh và thanh liêm,… “Bình” là bình an, bình yên, sự công chính, sứ giả hoà bình… Chị em khao khát sống sự thanh bình nơi Giáo xứ, nơi cộng đoàn…Có như thế thì mục tiêu của chị em mới thăng tiến trong đời sống Thánh Hiến cho Thiên Chúa.
Thiên Chúa muốn cho mọi người, cho chị em trong cộng đoàn sống “Thanh Bình”. Nếu mỗi chị em sống thanh bình, thì đã đủ làm chứng cho Ngài, lan toả Tình Ngài đến cho mọi người.
Sau gần một năm tu sửa, tạ ơn Chúa, vào ngày 18/02/2023, cộng đoàn Thanh Bình đã làm phép nhà với cơ sở khang trang, đẹp, rộng rãi và mát mẻ. Đặc biệt là ngôi Nguyện Đường nhỏ, xinh đẹp và có bầu khí cầu nguyện để chị em dễ dàng đến bên Chúa mỗi ngày.






Chúng con xin tạ ơn Chúa vì muôn ơn lành Ngài đã ban và giữ gìn chị em chúng con trong vòng tay yêu thương của Ngài. Xin Chúa tiếp tục ở với chúng con, giúp chúng con biết sống tình hiệp nhất và yêu thương nhau như tên “Thanh Bình” nhờ đó chúng con cũng mang lại sự thanh bình cho những người chúng con phục vụ và gặp gỡ.
Cộng đoàn Thanh Bình
Một số hình ảnh của cộng đoàn




“Hãy Ra Khỏi Mồ”
“Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng.”
Người ta vẫn nói: “sinh ly tử biệt, xin hãy thương nhau khi còn có thể”. Vậy chúng ta thương mến ai, hay ai là người thương mến chúng ta? Câu trả lời có thể là người thân trong gia đình, bạn bè, xóm làng, đồng nghiệp, những người chúng ta gặp gỡ.
Mỗi người có một tính cách, một sở thích, một nền văn hóa khác nhau…và cùng bước đi với nhau trên một hành trình dương thế, mỗi người lại có hướng đi khác nhau. Thế nên, để hoà nhập vào cuộc sống sẽ có nhiều ngăn trở, khó khăn. Làm sao chúng ta có thể biến sự khác biệt thành mắt xích nối kết tình thân với nhau? Chúng ta hãy học nơi Chúa Giêsu, Ngài thương mến anh Lazaro không vì bất cứ điều kiện hay chuẩn mực nào, Ngài chấp nhận tất cả con người của anh. Ngài chỉ cần nơi anh “tình yêu thương chân thành”. Như thế, tình yêu chỉ hiện diện khi chúng ta đón nhận nhau với tất cả con người của họ, hãy chắp cho tình yêu một đôi cánh tự do, không ràng buộc cũng như không đặt điều kiện.
“Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết... Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết.”
Chúng ta thấy xuất hiện một lời trách móc nhẹ nhàng của Mátta nhưng đủ để nói lên niềm xác tín của cô vào Chúa Giêsu. Mátta tin tưởng rằng nếu có Chúa hiện diện, em của cô sẽ không chết nghĩa là Chúa Giêsu là hiện thân của sự sống chứ không phải là sự chết.
Nếu niềm tin của Mátta chỉ dựa vào câu điều kiện “Nếu-thì”, có lẽ phép lạ sẽ không xảy ra, Lazarô sẽ không sống lại nhưng niềm tin của Mátta còn sâu sắc và mạnh mẽ hơn khi Chúa Giêsu hỏi “Chị có tin là Thầy làm được không?”, không chần chừ Mátta đã tuyên xưng đức tin của mình “Thưa Thầy con tin”. Nhờ niềm tin tưởng tuyệt đối vào Chúa, cô đã được chứng kiến phép lạ nhãn tiền mà Chúa đã làm trước mắt cô.
Khi đối diện với đau thương của cuộc sống, chúng ta thường có tâm trạng giống như Mátta: thất vọng, chán chường…chúng ta khó chấp nhận với thực tại. Chúng ta cũng luôn trông chờ một phép lạ sẽ đến để giải thoát chúng ta khỏi đau khổ nhưng chúng ta quên mất rằng phép lạ chỉ xảy ra với những tâm hồn tin tưởng và phó thác tuyệt đối vào kế hoạch yêu thương của Chúa.
Chúng ta hãy đặt câu hỏi: Đã bao lần tôi xin Chúa điều này hay điều kia nhưng tôi đã đủ kiên nhẫn chưa? Tôi có xin những điều đẹp ý Chúa không? Mỗi lần tôi xin thay vì lắng nghe tiếng Chúa, tôi lại đưa ra hết kiện này, điều kiện kia với Chúa và trái tim tôi có đủ nhạy bén để nhận ra những phép lạ nho nhỏ vẫn xảy đến trong cuộc sống thường ngày của tôi không?
“Anh Ladarô, hãy ra khỏi mồ!”
Chúa đã đánh thức và gọi anh Ladarô ra khỏi mồ. Ngôi mồ của sự chết, lạnh lẽo, cô đơn mà anh đang cư trú. Dường như Chúa cũng gọi tên từng người chúng ta ra khỏi “nấm mồ” tâm hồn mình: nơi đang chôn vùi chúng ta bởi tội lỗi, đam mê,… gây nên sự cô đơn, lẻ loi, khép lòng… Xin Chúa giúp chúng ta nghe được tiếng Chúa gọi ngang qua anh chị em và can đảm “ra khỏi mồ” để hoà nhập vào sự sống mới.
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con luôn cảm nghiệm được tình yêu của Chúa. Xin ban cho chúng con trái tim biết yêu thương là hành trang mang theo trong cuộc đời. Nhờ đó, trên chuyến đi dòng đời, chúng con mang đến cho nhau niềm vui và bình an. Amen.
Maria Thanh Hằng