Nguồn Mạch Bí Tích Thánh Thể

Bí Tích Thánh Thể là trung tâm và chóp đỉnh của đời sống người Kitô hữu. Nơi Thánh Thể chúng ta được sống mầu nhiệm sự hiệp nhất với Thiên Chúa và với tha nhân.

Quả thật, Thánh Thể là chóp đỉnh của đời sống Kitô hữu, vì qua bánh và rượu, Thiên Chúa cho ta trông thấy và được chạm vào mầu nhiệm cao cả, Thiên Chúa đi vào trong con người để con người được đi vào trong Thiên Chúa. Như thức ăn được tiêu hóa trong con nguời và trở thành máu thịt chúng ta như thế nào, thì chính Thánh Thể mà chúng ta lãnh nhận sẽ làm cho chúng ta tan biến trong Chúa, như thánh Âutinh nói rằng: “Ta trở nên Đấng mà ta chịu lấy”.

Thánh Thể cũng chính là bí tích tình yêu khơi nguồn mọi ân sủng. Thánh Thể là lời xin vâng của Đức Giêsu với Thiên Chúa Cha là Cha, và với con người là anh em của Ngài. Lời xin vâng tuân phục thánh ý Chúa Cha, chấp nhận hiến mình là chứng từ cao cả của tình yêu tự hiến, là sự ký kết của hiến tế Giao Ước Mới giao hòa giữa Thiên Chúa và con người. Thánh Thể là Bánh ban sự sống cánh chung và ban tặng phúc lành cho những ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa. Chính Đức Giêsu, Người đã hy sinh mạng sống và hiến thân mình vì tình yêu, biểu lộ cho chúng ta thấy rằng, việc trao ban sự sống cho chúng ta đạt tới một tầm mức cao cả nhất, cường độ sâu xa nhất và vô cùng lớn lao, vì “Thiên Chúa biểu lộ tình yêu của Ngài cho chúng ta bởi vì, chính chúng ta còn là những người tội lỗi, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta” (Rm 5, 8).

Khi chúng ta rước Mình Máu Chúa hàng ngày, chính Mình Máu Thánh Chúa thêm sức mạnh và nghị lực cho chúng ta, cho ta thêm nguồn năng lượng dồi dào. Như lương thực nhằm giúp thân xác phục hồi sức lực đã mất, thì Thánh Thể nhằm củng cố lòng mến có xu hướng suy giảm trong cuộc sống thường nhật, lòng mến được sinh động như thế có sức xóa bỏ các tội nhẹ như Công Đồng Trento đã khẳng định: “Khi hiến mình cho chúng ta, Chúa Kitô khơi dậy lòng mến của chúng ta và làm cho chúng ta có thể từ bỏ lòng quyến luyến sai trái với thụ tạo”. Vì thế, Thánh Thể không chỉ là một món quà vô giá cho chúng ta hưởng dùng, mà còn hơn thế nữa, Thánh Thể còn là lương thực hàng ngày nuôi dưỡng ta và ban cho ta ơn cứu độ.

Tham dự Thánh lễ là tham dự trước vào phụng vụ trên trời cách mầu nhiệm. Tương quan và hiệp thông cùng Thánh Thể luôn mời gọi con người quan tâm chia cơm sẻ bánh cho người khác, vì anh chị em mình chính là hiện thân của Đức Kitô. Chia sẻ cho anh chị em chính là trao tặng trong tình yêu mà mình đã lãnh nhận. Người nữ tu Mến Thánh Giá khi tôn kính, mến yêu và thờ lạy Thánh Thể Chúa cũng được Chúa tiếp thêm nguồn năng lượng mới, sức sống mới để dấn thân trên con đường phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân. Noi gương Chúa, người nữ tu Mến Thánh Giá cũng trở nên tấm bánh bẻ ra, trao ban cho những người bất hạnh, những người cùng đinh đói rách, những người nghèo về vật chất và tinh thần nơi môi trường các chị em phục vụ. Như cánh tay nối dài của Chúa, chị em Mến Thánh Giá mang Chúa đến cho mọi người trong tinh thần vui tươi dấn thân vì tình yêu Đức Kitô, không ngần ngại xả thân quên mình trong sứ mạng mà Hội Dòng trao phó, để thấy rằng: “Từ nguồn sung mãn của Đức Kitô, chúng ta được nhận lãnh hết ơn này đến ơn khác” (Ga1,16). Chính Thánh Thể là nguồn sức mạnh, nguồn năng lượng dồi dào, là nguồn tình yêu không bao giờ vơi cạn cho chị em múc lấy và đem chia sẻ đến cho hết thảy mọi người.

Như vậy, Thánh Thể chính là trung tâm, là nguồn mạch của sự hiệp thông trong tình yêu Thiên Chúa. Thánh Thể nối kết và hiệp thông mọi thành phần con cái Chúa. Chính trong Thánh Thể, con người cùng muôn vàn thần thánh trên trời và muôn loài muôn vật cùng hoà chung một vũ khúc tạ ơn, cùng tạo nên bản giao hưởng tình yêu phong phú dâng lên Thiên Chúa.

Maria Phạm Nhan


Suy Niệm Chúa Nhật II Phục sinh, Năm A

Chúa Nhật thứ 2 Phục sinh hay còn gọi là Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót. Dưới ánh sáng Lời Chúa qua các bài đọc và đặc biệt là bài Tin Mừng, Chúa hiện ra với các tông đồ cách riêng là ông Tôma đã cho chúng ta nhiều cảm nghiệm sâu sắc về Lòng Chúa Thương Xót.

Các tông đồ sau khi từ bỏ mọi sự: gia đình, vợ con, nghề nghiệp… để đi theo Thầy vẫn hy vọng sẽ có một tương lai tốt đẹp, nào ngờ niềm hy vọng ấy tiêu tan khi Thầy chịu chết. Lúc này họ trở nên chán nản, thất vọng và rất sợ người Do Thái. Họ đã tụ họp trong một căn phòng mà tất cả các cửa đều đóng kín. Chúa Giêsu biết rõ các điều ấy nên Ngài đã hiện ra, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em”. Cửa đóng kín mà Chúa vẫn hiện đến giữa các ông. Điều đó chứng tỏ sau khi Phục sinh thì thời gian và không gian không còn là vật cản trở để Chúa có thể đến với mỗi người. Ngài có thể hiện diện ở mọi lúc, mọi nơi, Ngài đã đi vào trong cộng đoàn các tông đồ để củng cố đức tin và ban bình an cho các ông. Ngài còn cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Người thấu hiểu nỗi lòng của các ông nên đã hiện ra để an ủi và nâng đỡ. Lòng thương xót của Thiên Chúa còn được thể hiện cụ thể tới từng cá nhân qua việc Ngài hiện ra với ông Tôma để củng cố niềm tin cho ông. Tuy không ai nói với Chúa về sự nghi ngờ của ông Tôma nhưng Ngài đã đọc được nỗi lòng ấy và đã hiện ra một lần nữa, cho ông Tôma cơ hội để ông có thể xác tín về niềm tin của mình.

Nhìn vào thế giới hôm nay, chúng ta thấy lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn tiếp tục được thể hiện, nhất là qua những khó khăn mà chúng ta đã và đang phải đối diện là dịch bệnh, thiên tai, nghèo đói… Dưới cái nhìn của đức tin, khi chúng ta đối diện với khó khăn ấy là lúc chúng ta cảm nhận được sự hiện diện của Chúa một cách thiết thực, ngang qua sự chăm sóc tận tình ngày đêm của các y bác sỹ. Sự quan phòng của Chúa cũng được thể hiện qua những cuộc từ thiện lớn nhỏ từ khắp mọi nơi đổ về để cứu trợ các nạn nhân trong những vùng bị thiên tai, nghèo đói…

Bài học về Lòng thương xót của Chúa giúp tôi nhận ra điều gì cho cuộc sống của mình? Tôi tự hỏi bản thân, tôi đã có thái độ nào trước những mầu nhiệm cao cả, những khó khăn tưởng chừng như không thể giải quyết? Tôi có đủ nhạy bén để nhận ra sự hiên diện của Chúa ngang qua những trung gian hay những dấu chỉ mà Chúa gửi đến cho tôi không? Hay tôi đã đánh mất niềm hy vọng vào Chúa như các tông đồ?

Đời sống cộng đoàn là một mầu nhiệm bởi có những tổn thương do sự va chạm của nhiều thế hệ khác nhau, suy nghĩ khác nhau, văn hóa khác nhau… Nhiều lúc chúng ta chưa thực sự đủ khiêm tốn để có thể hóa giải sự khác biệt đó thành một cộng đoàn đa dạng và phong phú mà chúng ta còn để những tổn thương ấy đè nặng khiến cho bầu khí cộng đoàn trở nên tối tăm, nặng nề. Qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa mời gọi chúng ta hãy cố gắng biến những tổn thương ấy trở nên những dấu chỉ của tình thương, bình an, chứ đừng giữ nó làm dấu chỉ của thù hận, ghen tức. Như khi hiện ra với các môn đệ, Chúa Giêsu đã nói “bình an cho các con’ và trong khi ấy Ngài cho họ xem tay và cạnh sườn Ngài. Chúng ta được mời gọi hãy biến đổi những tổn thương nơi tâm hồn thành dấu chỉ của sự bình an cho chính mình và cho tha nhân. Sự tha thứ cho người khác chính là cách thực thi lòng thương xót của Chúa cụ thể trong cuộc sống gia đình nhất là đời sống cộng đoàn thánh hiến.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh! Ngài đã và đang đi vào cuộc đời của chúng con và chỉ có Ngài mới hiểu được “những điều thầm kín” nhất trong lòng chúng con. Xin Chúa Giêsu Phục sinh tháo gỡ những “khúc mắc” nơi chúng con, hầu chúng con đón nhận sự bình an thực sự trong tâm hồn. Amen

Maria Thu Thủy


Lòng Thương Xót

Cùng bước đi với Chúa Giêsu qua những ngày tưởng niệm cuộc khổ nạn và Phục sinh của Ngài, chúng ta dễ nhận ra lòng thương xót của Chúa Giêsu luôn biểu lộ nơi lựa chọn của Ngài để cứu độ chúng ta.

Khởi đi từ Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã muốn ăn bữa tiệc cuối cùng với các môn đệ của Ngài. Ngài biết chính các môn đệ mà Ngài hằng chăm lo, yêu thương hết mình, lại là những người đầu tiên làm cho Ngài phải đau xót nhất. Vì chính một người trong họ sẽ nộp Ngài và những người khác sẽ bỏ Ngài khi Ngài đi vào cuộc khổ nạn. Còn nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau mà chính những người mình yêu thương nhất lại gây ra cho mình. Lẽ ra biết những yếu đuối của các môn đệ, Ngài phải thất vọng và trách móc họ, thế nhưng Ngài không ghét bỏ họ mà còn lấy chính thịt và máu mình để nuôi dưỡng họ. Lòng thương xót đã biểu lộ, chỉ có lòng thương xót Ngài mới đón nhận, cảm thông, yêu thương nhiều hơn nữa cho thân phận yếu đuối của các môn đệ.

Trong khi các môn đệ đang còn mê ngủ trong những yếu đuối của mình, Chúa Giêsu đã cố thức tỉnh họ trong vườn cây dầu. Ngài biết giờ của Ngài sắp đến, Ngài cũng là một con người, nên đầy lo lắng sợ hãi trước những cực hình Ngài sắp phải chịu. Nhưng Ngài luôn phó mình cho Thánh Ý Chúa Cha. Ngài cũng hằng muốn các môn đệ của Ngài cũng tỉnh thức để khỏi sa chước cám dỗ. Ngài đã cố gọi họ, nhắc nhở họ, nhưng đến lần thứ ba Ngài đành bất lực đứng nhìn các môn đệ đắm chìm trong mê ngủ. Ngài đã thực lòng xót thương họ biết bao trước những yếu đuối của họ và Ngài biết họ không thể tự cứu lấy mình. Ngài lựa chọn con đường khổ nạn để vâng theo Thánh Ý Cha và cũng là để Ngài cứu lấy những con người yếu đuối mê muội này.

Ngài đã thật xót thương khi nhìn thấy các môn đệ bỏ chạy toán loạn trong lúc Ngài bị bắt. Còn đâu những người từng nói “Thầy đi đâu chúng con theo đó”; “chúng con cũng sẽ thí mạng vì Thầy”… Chỉ còn lại tấm lòng xót thương của Ngài dõi theo các môn đệ thân tín. Giuđa đã lấy cái hôn mà chỉ điểm bắt Đức Giêsu, Ngài không oán trách Giuđa, mà Ngài xót thương cho thân phận của ông, thà đừng sinh ra thì hơn. Ngài cũng đã dùng ánh mắt xót thương dành cho Phêrô khi ông sợ hãi mà chối Ngài. Ánh mắt xót thương của Ngài đã đi sâu vào lòng Phêrô, để rồi ông đã hối hận mà khóc lóc thảm thiết.

Lòng xót thương của Đức Giêsu cũng dành cho những người tham dự vào cuộc khổ nạn Ngài. Những nhà lãnh đạo, những người dân, những kẻ tội lỗi,… Lòng thương xót được biểu lộ rõ nét khi trên cây thập giá Ngài đã cầu xin Chúa Cha tha cho họ. Đến lúc đau đớn nhất Ngài vẫn nghĩ cho người khác, lòng thương xót của Ngài thật quá lớn lao. Ngài chẳng còn bận tâm đến hoàn cảnh của mình, bận tâm đến nhưng đau đớn khổ nhục mà Ngài đang phải chịu. Ngài vẫn tiếp tục xót thương nhân loại đang sống trong bóng đêm mù tối.

Lòng thương xót đạt tới đỉnh cao khi Ngài Phục Sinh vinh hiển. Để xóa tan bóng tối tội lỗi, để cứu con người khỏi bóng đêm của cuộc tử nạn. Chính ánh sáng Phục sinh soi chiếu, mở lối đưa con người vượt qua mọi khổ cực trần gian để hướng tới niềm hy vọng vĩnh cửu. Nếu Ngài không sống lại, thì Ngài biết nhân loại vẫn mãi chìm trong u tối, dễ quen với những khốn khó trong cuộc đời như một lẽ dĩ nhiên mà không tìm ra con đường giải thoát. Nên khi Ngài Phục sinh, Ngài đã mở ra cho nhân loại một hướng đi, một niềm hy vọng đạt tới hạnh phúc vĩnh cửu. Lòng thương xót lớn lao đã được bộc lộ trong chính mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Giêsu. Một mầu nhiệm quá lớn lao mà chúng ta cần thực sự đi sâu vào chiêm ngắm thì mới có thể cảm nghiệm được.

Chiêm ngắm lòng thương xót của Đức Giêsu chúng ta cũng bắt chước Ngài mang trong lòng một nỗi xót thương dành cho mọi người. Nhờ đó chúng ta mới có thể đón nhận tha nhận, cảm thông, tha thứ và sẵn sang hy sinh chính mình để đem niềm vui, hạnh phúc cho mọi người.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con có được lòng xót thương nhau như chính Chúa đã thương xót chúng con. Amen.

          Têrêsa Thanh Tân


Tại Sao Chúa Phục Sinh Nhẫn Nại Đến…

Kinh thiên động địa! Có thể mô tả như thế về khoảnh khắc thiên thần lăn tảng đá khỏi cửa mồ, và các phụ nữ được loan tin Chúa đã sống lại và không còn ở đó nữa… Tin Mừng Mátthêu nói những người lính canh sợ đến chết ngất!

Những cuộc hiện ra của Chúa Phục sinh cho thấy thân xác Phục sinh của Người ‘vẫn là thân xác ấy, nhưng đã biến đổi’. Người đi ra đi vào những nơi đóng kín cửa một cách ung dung tự nhiên. Người dường như hiện ra cùng một lúc ở nhiều nơi mà không có vấn đề gì. Người vẫn ở trong thân xác ấy, với cả những vết thương của cuộc khổ hình, nhưng chất giọng và nét dạng của Người không được nhận ra ngay lập tức bởi những người từng quen biết… Không ai tò mò hỏi khi Thầy không hiện ra với chúng con thì Thầy ở đâu, cũng không ai hỏi mỗi lần Thầy hiện ra chỉ trong chốc lát rồi Thầy biến đi đâu. Mọi người đều cảm nhận được năng lực huyền nhiệm nơi thân xác Chúa Phục sinh. Thời gian và không gian không còn cầm buộc thân xác ấy như trước nữa!

Chưa hết, quyền năng của Chúa Phục sinh còn lan toả sang các tông đồ một cách ngoạn mục, như sự kiện Phê rô và Gioan chữa lành anh què ở Cửa Đẹp của Đền thờ, chính bởi chuyện này mà các ông phải gặp bao nhiêu rắc rối với Thượng Hội đồng…

Quyền năng như thế, nhưng thật lạ, Chúa Phục sinh không phô diễn sức mạnh và trấn áp mọi người, nhất là trấn áp các ‘đối thủ’, để gây ấn tượng và làm cho họ thần phục Người. Người không tổ chức những cuộc hiện ra hoành tráng, chẳng hạn hiện ra ngay tại sân Đền thờ, với đông đảo người chứng kiến, với phông bạt sân khấu rình rang, với những phương tiện truyền thông mạnh nhất, nhanh nhất và xa nhất… kiểu như ngày nay ta có loa kẹo kéo, livestream, truyền hình trực tuyến vậy!

Quyền năng như thế, nhưng Chúa Phục sinh chỉ hiện ra chủ yếu một cách kín đáo, chủ yếu trong vòng riêng tư mà thôi, và không hề tạo drama ồn ào… Người hiện ra trong vườn, chỗ gần mộ, với Maria Magdala… Người hiện ra với hai môn đệ đang rảo bước trên con đường khá vắng vẻ… Người hiện ra với Nhóm Mười Một trong phòng kín cửa… Người hiện ra với một số trong các ông trên bờ biển vắng vào lúc sáng sớm… ăn sáng hồn nhiên và đơn giản với các ông… rồi tâm sự rất riêng tư với Phê rô, kiểu “Anh có yêu mến Thầy không?” (hic, trò chuyện như thế này thì làm sao mà ‘livestream’ cho được chứ!)…

Tại sao vậy? Tại sao Chúa Phục sinh không chọn một cách nào đó để ĐƯỢC VIỆC THẬT NHANH, theo tâm thức thực dụng vốn rất phổ biến trong chúng ta ngày nay? Tại sao dù với quyền năng vô hạn, mà Người vẫn nhẫn nại tranh thủ từng trái tim để người ta tin vào Người, và thúc đẩy các môn đệ thừa sai của Người đi vào sứ mạng làm chứng vốn không hề dễ dàng, thậm chí gắn liền với kinh nghiệm thập giá vô cùng bi tráng mà chính Người đã từng trải qua?

Tại vì đức tin không thể có được do bị áp lực, dù là những dạng áp lực tinh tế nhất! Tin vào Chúa Giêsu Phục sinh, đó không phải là học thuộc một số bài giáo lý, cũng không phải là chấp nhận Người trên bình diện trí năng thuần tuý, mà là hoàn toàn tâm phục khẩu phục đón nhận Người vào cuộc đời và hiện hữu của mình.

Tin vào Chúa Giêsu Phục sinh, đó là nói như Phê rô trên bờ Biển Hồ sáng hôm ấy: “Thầy ơi, Thầy biết rõ mọi sự, Thầy biết con yêu mến Thầy”…

Tin là yêu, là dấn thân trọn vẹn. Mà ‘yêu’ thì không thể cưỡng chế được, dù bằng bom nguyên tử, hay ngay cả cưỡng chế bằng quyền lực thần thiêng!

 Lm. Giuse Lê Công Đức


Phục Vụ Hiệp Thông

Chúa làm đảo lộn lẽ đời

Dạy ta phục vụ tuyệt vời rửa chân

Dạy ta bài học thiết thân

Thầy mà lại rửa chan con: môn đồ

Rửa chân là việc lệ nô

Giêsu Thầy dạy, Kitô hạ mình

Rửa chân phục vụ môn sinh

Cho ta bài học phận mình hôm nay

Ta nên vâng giữ lời Thầy

Trở thành mục tử đủ đầy dấn thân

Cái tâm hơn hẳn cái tầm

Điều gì cũng tốt lạc lầm thì không

Luôn luôn có sự hiệp thông

Cái tâm quan trọng người: lòng nâng cao

Ân ban sẽ có dồi dào

Cái tầm có thể bồi cao sau này

Chúng ta có mẫu của Thầy

Cần lòng phục vụ của ngày hôm nay

Yêu thương hiệp thông mỗi ngày

Dựng xây cộng thể đẹp thay hài hòa

Sao cho tập thể thăng hoa

Vai trò mục tử cam go thiện toàn

Đời tu quan trọng cái tâm

Niềm vui tu sĩ là tầm tin yêu

Tim ta sẽ đẹp mỹ miều

Là tim đã khắc chữ yêu đậm mầu

Là tim đón nhận cơ cầu

Là tim khắc chữ tình yêu thập hình

Là tim đón nhận hy sinh

Sẵn sàng phục vụ dấu mình ẩn danh.

Anna Đào


Đi Theo Chúa

Con đi theo Chúa

Những bước cuối cùng

Hy vọng tín trung

Tình thương cứu độ

Thầy trò gặp gỡ

Tại nhà Tiệc Ly

To nhỏ thầm thì

Thân tình thắm thiết

Nào ai có biết

Chỉ lát nữa thôi

Sự việc đổi dời

Giu-đa bán Chúa

Rầm rộ vây bủa

Gậy gộc mang theo

Xông xác tiến vào

Một đoàn đông đảo

Giu-đa thông thạo

Đến gần Thầy hơn

Hắn dùng cái hôn

Để làm ám hiệu

Quân lính liền hiểu

Tiến vô bắt Thầy

Té ngã thảm thay

Thầy cho đứng dậy

Phê-rô thấy vậy

Cơn giận tỏa ra

Tuốt gươm sáng lòa

Chém tai tên lính

Chúa liền ra lệnh

Cất gươm vào bao

Thầy truyền thế nào

Phê-rô làm vậy

Đoạn quân vây lấy

Điệu Chúa giải đi

Gươm giáo thị uy

Môn đồ trốn hết

Lếch tha lếch thếch

Trò đến công đường

Tình Thầy vấn vương

Từ xa theo dõi

Thầy bị tra hỏi

Xỉ nhục, đánh đòn

Thân xác mỏi mòn

Thầy sao chịu thấu

Dân chúng ác khẩu

Cáo nhiều tội danh

Tổng trấn cũng đành

Theo đà lên án

Cứ lời tuyên phán

Thầy chịu tử hình

Phê-rô khiếp kinh

Chen vào gần cửa

Một đầy tơ nữ

Chỉ mặt Phê-rô

Cả bác nữa cơ

Cùng là một nhóm

Phê-rô thấp thỏm

Cãi lại rất máu

Chẳng phải tôi đâu

Tôi thật không biết

Công đường Thầy liếc

Về phía Phê-rô

Thất vọng vô bờ

Trò đang phản bội

Phê-rô hối lỗi

Khóc lóc tội mình

Ăn năn thật tình

Được Thầy tha thứ

Giu-đa tự xử

Không biết ăn năn

Tức giận cọc cằn

Liền đi thắt cổ

Thật là kinh sợ

Thầy nát thịt da

Máu tuôn chan hòa

Bắn ra tung tóe

Họ còn hoạnh họe

Nhục mạ cười chê

Giống ông vua hề

Khoác cho áo đỏ

Trăm ngàn thống khổ

Vòng gai trên đầu

Sắc nhọn đâm thâu

Máu đào chảy xuống

Tổng trấn thương lượng

Hỏi chúng tha ai

Đồng loạt một hai

Đòi đóng đinh Chúa

Đám đông hả dạ

Áp giải Chúa đi

Giá nặng cực kỳ

Bắt Ngài mang vác

Thân tàn xơ xác

Xiêu vẹo lên đồi

Tím ngắt lưng trời

Họ đóng đinh Chúa

Vung bao nhát búa

Còn kéo chân tay

Giãn cả ngực Thầy

Đau thương cùng cực

Hô hào đoàn sức

Dựng Thánh Giá Lên

Ôi Chúa nhân hiền

Tình thương muôn thuở

Thầy thoi tóp thở

Rồi trút linh hồn

Tắt nắng hoàng hôn

Thầy trao Thần Khí

Môn đồ chuẩn bị

Xin tháo xác Thầy

Mai táng Thầy ngay

Trong ngôi mộ mới

Tình yêu mong mỏi

Mờ sáng tinh mơ

Thao thức đợi chờ

Vội vàng thăm mộ

Tim hồng bỡ ngỡ

Thầy đâu mất rồi

Thiên sứ sáng ngời

Bên ngôi mộ trống

Bầu trời lồng lộng

Thầy đã Phục Sinh

Đi trọn hành trình

Lên trời vinh sáng

Niềm vui tỏa rạng

Chiếu soi muôn dân

Nhân thế hưởng phần

Nguồn ơn cứu rỗi

Anna Đào


Những Khoảng Lặng….

Bầu khí tĩnh lặng của Tam Nhật thánh đưa con vào sự thinh lặng của nội tâm, tạo nên “chất liệu” giúp con xem lại cuộn phim về cuộc đời mình. Khi tua lại thước phim ấy, con bắt gặp những giây phút yếu đuối của bản thân như cách những môn đệ ngày xưa đã “vấp ngã” trên bước đường theo Chúa. Hòn đá mang tên tiền bạc, danh vọng và sự sợ hãi… đã chắn đường các tông đồ trong đêm Ngài bị trao nộp.

Chiêm ngắm lại bức tranh về bữa Tiệc ly, đây không chỉ đơn giản là một tác phẩm nghệ thuật, mà là một kiệt tác của tình yêu – Con Thiên Chúa nay lại rửa chân cho các môn đệ. Chưa dừng lại ở đó, ý nghĩa sâu xa của bức tranh ấy còn là Bí tích huyền nhiệm của chính Mình và Máu Thánh mà Chúa đã để lại để nuôi dưỡng tâm hồn nhân loại. Một khoảng lặng như được tạo ra để không chỉ các môn đệ ngày xưa mà cả nhân loại chúng con hôm nay đều được chiêm ngắm tình thương của Chúa.

Cũng trong đêm ấy, con bắt gặp “một khoảng lặng” trong ánh mắt Chúa dành cho kẻ nộp Ngài. Khoảng lặng thay cho tiếng lòng đau xót của con tim rướm máu Chúa dành cho kẻ phản bội. Trong khoảng lặng ấy, Ngài vẫn thắp lên một tia hy vọng khi “Người chấm một miếng bánh, trao cho Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt” (Ga 13,26), với ước mong kẻ ấy nhận ra tội lỗi của bản thân và “ở lại” trong ánh sáng của nơi có “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Nhưng có lẽ tiền của chiếm hữu tâm hôn Giuđa, 30 đồng bạc đã che mờ lương tri của Giu-đa, để rồi  như lời Kinh Thánh: “Sau khi ăn miếng bánh, Giu-đa liền đi ra. Lúc đó, trời đã tối.” (Ga 13,30). Đáng buồn thay, Giuđa đã dùng tự do của mình để chọn bóng tối và rời bỏ ánh sáng. Con nghĩ về mình, cũng đã bao lần con làm Chúa buồn khi nại đến tự do để chọn lựa những điều không thuộc về Chúa !

Sau khi chứng kiến hành động đáng thất vọng của người môn đệ đã vài năm song hành với mình, Thầy Giêsu đã tìm một khoảng lặng để giãi bày nỗi lòng với Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha.” (Mt 26,43). Từ vườn Gethsemani vọng lại, con nghe thấy tiếng Ngài gọi các môn đệ thức tỉnh để cầu nguyện, và con cũng nghe thấy hơi thở mang theo những lo âu muộn phiền của Ngài. Giữa màn sương đêm lạnh giá, con thắc mắc tại sao Chúa lại đổ mồ hôi và máu? Ngài phải đổ Máu mình ra để tẩy rửa chúng con! Ước mong giữa những bộn bề của cuộc sống con biết thưa với Chúa rằng “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Chúa” (Mc 14,36); ước mong con đủ tỉnh thức để “bóng tối” cuộc đời không có cơ hội đưa con chìm vào giấc ngủ “u mê” như cách mà các môn đệ năm xưa, để rồi chính Thầy Giêsu phải thốt lên: “Lúc này còn ngủ, còn nghỉ sao?” (Mt 26,45).  Lạy Chúa, đôi khi con hay than trách: tại sao Chúa lại để chuyện này xảy ra với con, tại sao không ai lắng nghe và thông cảm cho hoàn cảnh của con? Nhưng con cần phải dò xét lại bản thân mình đã bao giờ con hiểu cho nỗi lòng của Chúa? Nỗi lòng chất chứa cái “bạc bẽo” của thế gian và chất chứa cả sự cô độc khi những môn đệ Chúa vẫn tin tưởng nay lại chối từ; dù vài tiếng trước vẫn còn khăng khăng “sẽ không bao giờ bỏ Thầy”! Và rồi tiếng gà gáy vang lên như phá tan tâm trí lu mờ của người môn đệ, tiếng gà ấy đã dẫn ông đến một khoảng lặng khi nhìn vào ánh mắt của Chúa, khoảng lặng của sự thống hối. Ông đã khóc, và cũng nhờ tiếng khóc ấy ông tìm lại được tình yêu và sự an ủi của Chúa. Chúa cũng đang lắng nghe tiếng khóc của con, nhưng hầu như những tiếng khóc ấy là than thân trách phận, khóc vì mình không có được như ý muốn. Chúa ơi, xin giúp con biết khóc cho tội lỗi của mình, cho con nghe thấy Lời Chúa nhắc nhở, để con biết đón nhận “Chúa giữa đời thường”, được Chúa chạm đến và đỡ nâng trên những chặng đường Thánh Giá con đang đi.                                       

          Con cũng muốn theo bước Mẹ Maria để sống mầu nhiệm hiệp thông cứu độ; từ khi Mẹ cất tiếng “Xin vâng” đến khi chứng kiến giây phút “Con Thiên Chúa gục đầu xuống và trao Thần Khí” (Ga 19,30). Đứng dưới chân Thập Giá, Mẹ như chìm đắm trong khoảng lặng của sự đau đớn tột cùng mà đã được tiên báo “Một mũi gươm sẽ đâm thâu qua lòng Bà” (Lc 2,35). Tâm hồn Mẹ dường như cùng chết đi với Chúa trong nỗi buồn sâu thẳm. Giờ đây con quỳ dưới chân Thánh Giá để xin Chúa mang đi những ý riêng của bản thân con – những ý riêng con muốn được chết đi cùng với Ngài, để rồi tâm hồn con được tái sinh nhờ “ánh sáng Phục Sinh”, ánh sáng đem đến cho con niềm hy vọng, niềm vui về một cuộc sống mới đã được dành sẵn trong Tình Yêu Vô Tận. Ước chi con cảm nghiệm được lời Chúa nói:

   “Ta yêu con bằng tình yêu muôn thuở,

nên ta vẫn dành cho con lòng xót thương”

                                                (Gr 31,3)

Tam Nhật Thánh 2023 – Anna Thúy Hằng


ALLELUIA! Chúa Đã Sống Lại!

“Nếu Đức Kitô đã không chỗi dậy thì lời rao giảng của chúng tôi thành trống rỗng và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1Cr15,14) Lời khẳng định của Thánh Phaolô cho thấy tầm quan trọng của biến cố Phục Sinh trong đời sống đức tin của người Kitô hữu. Đó vừa là một biến cố siêu việt nhưng cũng là một biến cố mang đậm chất lịch sử. Là biến cố lịch sử vì được khởi đi từ ngôi mộ trống và những lần hiện ra của Chúa Giêsu sau khi Ngài phục sinh. Trong ngày đại lễ hôm nay, chúng ta được nghe thánh sử Gioan kể lại câu chuyện ngôi mộ trống. Điều tưởng chừng như trống rỗng, hư không lại trở thành dấu chỉ mở ra một thực tại tràn đầy niềm vui và hy vọng. Niềm vui và hy vọng của những con người đầu tiên ấy đã trải qua những bước thăng trầm từ hoảng sợ đến tin tưởng và từ tin tưởng đến hăng say ra đi loan báo Tin Mừng Phục Sinh.

  1. Sự sợ hãi của người môn đệ

Gioan mở đầu câu chuyện ngôi mộ trống bằng việc mô tả hình ảnh một người môn đệ theo chân Chúa Giêsu từ ngày được chữa lành tới nay, đó là Maria Madalena, người đã đi ra mộ khi trời còn tối. Chị là người yêu mến nhiều nên được tha thứ nhiều. Chính tình yêu dành cho Chúa thôi thúc chị đi ra mộ từ rất sớm, khi trời còn đang tối. Trời tối ở đây là bóng tối do thiếu ánh sáng mặt trời hay là đêm tối của lòng người vì còn đang chìm ngập trong u sầu buồn chán, mê muội vì chưa hiểu được điều đang xảy ra trước mắt mình. Tảng đá đã lăn ra khỏi mộ khiến chị sợ hãi (Mt 28, 5.8) vì chị phán đoán: “có lẽ người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ” (Ga 20, 2). Điều này đồng nghĩa với xác Thầy đã bị mất cắp. Sợ hãi trước cảnh tượng ấy, chị vội vã chạy về báo tin cho các môn đệ của Thầy. Chị báo tin và kéo các ông ra mộ để chứng kiến cảnh tượng ấy với niềm hy vọng mong manh sẽ tìm lại được xác Thầy. Trong cuộc sống, chúng ta cũng phải trải qua nhiều cảnh huống khiến ta sợ hãi, lầm lũi trong đêm tối của đức tin. Học theo chị  Madalena, chúng ta được mời gọi mở ra để chia sẻ nỗi sợ hãi, sự xao động, những khúc mắc về đức tin đó để được anh chị em nâng đỡ.

  • Từ sợ hãi đến tin tưởng

Dù đã nhiều lần được Thầy báo trước nhưng đứng trước tâm trạng sợ hãi và những lời kể kinh hoàng của Madalena, các môn đệ không khỏi ngạc nhiên, bàng hoàng và lo lắng. Mang trong mình tâm trạng đó, họ cùng nhau chạy ra mộ. Nếu những phút trước, qua cặp mắt của Madalena, thánh Gioan vẽ ra cho chúng ta một bức tranh đơn sơ về ngôi mộ trống thì giờ đây, qua con mắt của hai môn đệ thân tín, bức tranh ngôi mộ trống trở nên chi tiết và cụ thể hơn nhiều. “Những băng vải, khăn che đầu: không để lẫn nhưng cuộn lại và xếp riêng ra (Ga 20, 5-7). Trong cuộc chạy đua tới mộ, Gioan tới trước nhưng không vào. Phêrô tới sau và ông vào thẳng trong mộ. Ông vào và thấy cảnh tượng đó. “Bấy giờ, người môn đệ kia, kẻ tới mộ trước cũng đi vào, ông đã thấy và đã tin” (Ga 20, 8). Lời này của thánh Gioan cho thấy ngôi mộ trống trở thành dấu chỉ của niềm tin. Trống không còn xác Thầy, những băng vải đã được xếp lại ngay ngắn không để lẫn lộn là dấu chỉ tràn đầy của một sự phục sinh. Một sự phục sinh khác hẳn với sự sống lại của Lazaro, một sự phục sinh không còn bị sự chết trói buộc và thân xác không bao giờ bị thối rữa! Nhìn những khăn niệm, người môn đệ thấy rằng không có kẻ trộm nào lại có đủ thời gian để làm gọn gàng sau khi trộm nhưng là chính Thầy đã đã sống lại, đã xếp lại gọn gàng trước khi ra khỏi mộ. Nhờ trực giác của tình yêu mà người môn đệ đã nhận ra: Thầy đã phục sinh.

  • Từ tin đến ra đi loan báo Tin Mừng Phục Sinh

Sau khi chứng kiến cảnh tượng mồ trống và đọc được ý nghĩa của dấu chỉ này, các môn đệ trở về nhà. Không phải trở về trong tâm trạng sợ hãi, lo âu nhưng lòng các ông tràn đầy niềm vui và hy vọng. Niềm vui phục sinh đổ đầy lòng môn đệ thôi thúc các ông mở toang cửa để chia sẻ niềm vui trào tràn trong tâm hồn mình. Phêrô đại diện cho nhóm Mười Một lên tiếng rao giảng về biến cố quan trọng này. Trong bài đọc thứ nhất hôm nay, chúng ta được nghe lời chứng của Phêrô về cuộc đời của Thầy mình. Thầy được Thiên Chúa dùng Thánh Thần và quyền năng xức dầu. Thầy đã đi khắp nơi ban bố ơn lành và chữa mọi người bị quỷ ám. Thầy đã bị giết treo trên thập giá nhưng ngày thứ ba Thiên Chúa đã cho Người sống lại. Những ai tin vào Người thì nhờ danh Người mà được tha tội.

  • Sống niềm vui Phục sinh

Chúa đã phục sinh và ra khỏi mồ; Chúa cũng mời chúng ta bước ra khỏi ngôi mồ của mình để gặp Chúa. Bởi vì, nhờ sự chết và phục sinh Chúa đã giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và mở lối cho chúng ta bước vào một cuộc sống mới. Một cuộc sống trở lại trong ân nghĩa với Thiên Chúa. Một cuộc sống chiến thắng tội lỗi, dục vọng, đam mê để được làm nghĩa tử. Để được như vậy, mỗi người chúng ta phải can đảm trút bỏ những băng vải đang trói buộc ta. Đó là điều thánh Phaolo gợi ý cho chúng ta trong bài đọc thứ hai: một cuộc sống tìm kiếm những sự trên trời. Một cuộc sống hướng thượng sẽ lôi con người ta ra khỏi những tham sân si của trần thế. Một cuộc sống hướng thượng hướng con người chúng ta sống hiền hòa, yêu thương, quảng đại, hy sinh bản thân để lo lắng cho hạnh phúc của người khác. Một cuộc sống hướng thượng giúp cho người ta không quá nặng lòng với vật chất nhưng biết mở rộng vòng tay chia sẻ và trao ban cho người khác. Có như thế chúng ta mới có thể đón nhận được ơn Phục Sinh Chúa ban cho chúng ta.

Lạy Chúa, các tông đồ tin nhờ đọc được ý nghĩa dấu chỉ trước mắt. Cuộc sống chúng con cũng có vô vàn các dấu chỉ cho thấy sự hiện diện của Chúa, vô vàn các dấu chỉ Chúa ban để củng cố và nâng dậy đời sống đức tin của chúng con. Xin cho chúng con yêu mến Chúa hơn để đủ nhạy trước các dấu chỉ Chúa gửi đến. Xin cho niềm vui phục sinh nâng dậy cuộc sống chúng con để chúng con biết sống yêu thương như Chúa mời gọi ngõ hầu chúng con được hưởng ơn Phục Sinh Chúa ban cho chúng con. Amen.

Maria Nguyễn Hường


Tưởng Niệm Cuộc Thương Khó Của Chúa Giêsu

(Thứ Sáu Tuần Thánh)

Cuộc thương khó và cái chết của Chúa Giêsu là sự ứng nghiệm những gì được nói về Người Tôi Trung Đau Khổ trong Isaia (52,13-53,12). Hãy để ý điểm cốt yếu của đoạn văn này, đó là, tất cả những khổ nhục và đau đớn mà Người Tôi Trung đảm nhận đều VÌ CHÚNG TA! Thật vậy, những diễn ngữ “vì chúng ta”, “cho chúng ta” lặp đi lặp lại trùng trùng. Câu tổng kết nằm gọn trong luận đề ấy: “Người đã hiến thân chịu chết, bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra Người đã mang lấy tội muôn người, và can thiệp cho những kẻ tội lỗi”.

Đáp ca, trích từ Thánh vịnh 30, là lời cầu nguyện đồng thời là lời chứng về niềm tin tưởng tín thác vào Thiên Chúa ngay giữa kinh nghiệm bị nhận chìm trong tình trạng bị vứt bỏ và tủi nhục. Một lần nữa, đây là niềm tín thác của Chúa Giêsu trong chính kinh nghiệm bị vứt bỏ và tủi nhục của Người: “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha”.

Sự phó thác ấy của Chúa Giêsu không có được một cách dễ dàng, tự nhiên, mà là kết quả của một cuộc chiến đấu nội tâm, như Thư Do thái ghi nhận: “Đức Giêsu, dầu là Con Thiên Chúa, đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục”.

Tất cả các yếu tố trên đều được chứa đựng trong trình thuật Thương Khó. Tưởng cần lưu ý, cả bốn trình thuật Thương Khó của bốn sách Phúc Âm đều có đề cập đến đòn roi và những hành hạ trên thân xác Chúa Giêsu phải chịu, dĩ nhiên, nhưng cả bốn trình thuật đều không lấy đó làm trọng tâm và không dừng lại để soi vào chi tiết nhằm cường điệu khía cạnh bạo lực thể lý. Đọc kỹ cả bốn trình thuật, ta có thể thấy trọng tâm nằm ở những nỗi khổ nhục tâm can của Chúa Giêsu hơn là những đau đớn thể xác. Ta cũng thấy các trình thuật đều khắc hoạ rõ phong cách chủ động, tác động vốn đặc trưng sứ mạng của Chúa Giêsu ngay trong tình cảnh tưởng chừng bị động và bất lực nhất.

Điều vừa nói trên đặc biệt được thấy nổi bật trong trình thuật Thương Khó theo thánh Gioan. Chúa Giêsu vừa khổ sở đủ cách trong cuộc Thương Khó, vừa luôn điềm tĩnh và tác động. Người truyền cho Phê rô xỏ gươm vào vỏ, vì dứt khoát đi con đường phi bạo lực. Người buồn vì Phê rô chối Thầy quá dễ dàng. Người nuốt lấy tủi nhục khi bị vả vào mặt, khi bị Phi la tô thí bỏ để chọn tha Baraba, khi đám đông gào thét đòi đóng đinh Người, khi bị chế nhạo bằng mão gai và những sỉ vả… Người lủi thủi vác thập giá, bị đóng đinh và treo lên…

Những câu nói của Người trong các cảnh huống ấy đều nhằm rao giảng và khai sáng cái gì đó cho người ta, và tuyệt nhiên không gợn tí xót xa cay đắng nào. “Các anh tìm ai?… Chính tôi đây” / “Nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để những người này đi” / “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem tôi sai chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh đánh tôi?” / “Nước tôi không thuộc về thế gian này… Chính ngài nói rằng tôi là vua”… Hai tiếng “Ta khát” trên thập giá chắc hẳn gợi cho chúng ta không chỉ cơn khát nước, mà còn là ẩn dụ về một nỗi khát khao thâm sâu của Người. Việc trao Mẹ cho Gioan và trao Gioan cho Mẹ là một biểu hiện tuyệt vời về tính tác động và bản chất sứ mạng trong cái chết của Chúa Giêsu.

Và đỉnh điểm của phong thái ấy là tuyên bố “Mọi sự đã hoàn tất” và hành động tác động cuối cùng: “Người gục đầu xuống và TRAO THẦN KHÍ”. Chúa Giêsu chết, nhưng Gioan không nói Người chết, mà nói Người TRAO THẦN KHÍ! Người trao Thần Khí VÌ CHÚNG TA, CHO CHÚNG TA đó!

Vậy chúng ta làm gì để tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu? Người trao Thần Khí, thì việc tốt nhất và thích hợp nhất của chúng ta là NHẬN THẦN KHÍ của Người, chứ còn làm gì nữa! Thái độ sầu thảm, rên rỉ, khóc lóc, các hình thức tang chế, những diễn xuất kịch nghệ ồn ào (phần lớn xuất hiện từ thời Trung Cổ) xem chừng không còn phù hợp mấy đâu. Nó có thể đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá lễ hội nào đó, song nó có thể làm nhiễu, làm nhoà chính tâm tình cầu nguyện, vốn cần một bầu khí thinh lặng cao độ.

Trình thuật của Gioan còn có cảnh Chúa Giêsu bị đâm thâu cạnh sườn, máu cùng nước chảy ra, với tham chiếu lời Kinh Thánh rằng “Họ sẽ NHÌN LÊN Đấng họ đã đâm thâu”. Nhìn lên! Hình ảnh rất quen trong câu chuyện con rắn đồng, mà chính Chúa Giêsu giải thích với Nicodemo rằng NHÌN LÊN như vậy có nghĩa là TIN VÀO CON NGƯỜI đó!

Tưởng niệm cuộc Thương Khó và cái chết của Chúa Giêsu, điều chúng ta cần làm là thinh lặng nhìn lên Người, tin vào Người, và đón nhận Thần Khí sự sống mà Người trao ban cho chúng ta.

Lm. Giuse Lê Công Đức


Nếu Chỉ Còn Một Ngày Để Sống

Thế giới ngày nay đang nhìn về cuộc sống như một cuộc chạy đua. Có những người chạy mà không thấy mệt, lại có người dù mệt nhưng vẫn phải cố gắng chạy, thậm chí có người chạy cho đến hơi thở cuối cùng. Đó thường là những  cuộc chạy đua về tiền tài, danh vọng, địa vị… Đáng buồn hơn, còn có những người không biết mình chạy đi đâu, đang hướng về điều gì. Từ đó làm cho bản thân mất dần đi ý nghĩa cuộc đời. Có mấy ai biết dừng lại để đặt ra cho mình câu hỏi: Ta sẽ làm gì nếu chỉ còn một ngày để sống ?

Thực tế cho thấy, thế giới càng phát triển thì đời sống của con người càng được nâng cao, có đầy đủ mọi thứ tiện nghi. Con người cứ sống và tận hưởng một cách vô thức; đã bỏ qua và bỏ lỡ rất nhiều thứ. Vì nghĩ rằng mình có nhiều thời gian, ngày hôm nay không làm thì ngày mai làm, và cứ như thế người ta bỏ qua những buổi gặp mặt, những cuộc nói chuyện, những lời cảm ơn và xin lỗi. Nếu thực sự chỉ còn một ngày để sống trên trần gian này thì điều đầu tiên chúng ta muốn làm là gì? Thời gian một ngày liệu có đủ để chúng ta thực hiện hết những gì mà ta muốn không?

Có lẽ điều quan trọng đầu tiên mà chúng ta cần làm đó là dành thời gian để suy nghĩ đâu là cội nguồn và cùng đích của cuộc đời? Bởi lẽ ngay cả sự sống và tương lai của mình ta cũng không thể biết trước. Thế nên ta cần biết ơn và cậy trông vào Đấng cho ta những điều ta cần. Lặng và lắng trong suy nghĩ sẽ giúp ta phần nào ý thức và trân trọng hơn về những gì mình đang có. Cụ thể nhất chính là cha mẹ, là người mà cả một đời này chúng ta mắc nợ công ơn sinh thành, sự hy sinh, quan tâm, lo lắng của cha mẹ. Có lẽ con cái chẳng bao giờ hiểu thấu tình yêu cha mẹ dành cho mình. Càng đi xa ta càng hướng về nhà; mong có thể ôm lấy cha mẹ thật chặt để cảm nhận từng hơi thở của cha mẹ và để hiểu mỗi người chúng ta quan trọng với cha mẹ như thế nào!

Bên cạnh mẹ cha, còn có những người đi ngang qua và ảnh hưởng trên cuộc đời chúng ta  cách này cách khác, thầm lặng hay công khai. Dù chỉ còn một ngày hay rất nhiều ngày để sống thì điều cần thiết vẫn là: hãy gửi lời cám ơn và xin lỗi tới những ai đã giúp ta có được một cuộc sống ý nghĩa và trưởng thành, cho ta nhiều bài học quý giá. Nếu mỗi ngày ta sống với lòng biết ơn và phản tỉnh như thế thì dù đó là ngày cuối cùng chúng ta cũng sẽ không hối hận. Vì chẳng ai muốn ngày cuối cùng của mình trôi qua cách vô ích.

Trong những ngày cuối cùng của Mùa Chay, nhìn lên Thánh Giá, Đấng Chịu đóng đinh dạy ta biết sống một cuộc đời ý nghĩa thể hiện bằng hai chữ Tình Yêu (Ga 15:13).

Ngước nhìn Thánh Giá trên cao

Giêsu mời gọi ta vào yêu thương

Như xưa Chúa đã nêu gương

Nay ta cần sống mến thương như Ngài.

Biết rằng gian khó trần ai

Một chút buông bỏ để Ngài gặp ta.

– Maria Kim Duyên –