Mọi nỗ lực áp bức của con người – chính trị – xã hội (đế quốc và triều đại) và tôn giáo (đền thờ) – sẽ không tồn tại lâu dài.
Trong thị kiến, Đa-ni-en thấy bốn vương quốc bị hủy diệt (Đn 2:31-45). Về đền thờ Giêrusalem, Chúa Giêsu nói: “Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn táng đá nào; Tất cả sẽ bị ném xuống” (Lc 21:5-11).
Một vương quốc mới đến để tiêu diệt những vương quốc áp bức. Vương quốc sẽ tồn tại mãi mãi. Chúng ta đang chuẩn bị cho vương quốc đến. Chúng ta có thể phải trải qua nhiều thử thách khủng khiếp trước khi cuối cùng mọi việc sẽ ổn thỏa, khi Con Người đến trong vinh quang.
Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm
Một số yếu tố trong văn hóa thì tốt, một số khác lại xấu. Chúng ta kết hợp nhiều cách diễn đạt văn hóa để làm phong phú thêm sự hiểu biết và thực hành Phúc Âm (ví dụ: ngôn ngữ địa phương). Chúng ta phản đối các hệ tư tưởng và thực hành văn hóa đi ngược với Phúc Âm (ví dụ: chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và gia đình trị).
Tại triều đình ở Babylon, những đứa trẻ Do Thái được trao cơ hội thăng tiến trong cuộc sống, được vào cung điện của nhà vua. Họ sẵn sàng thích nghi với nền văn hóa nước ngoài và học ngôn ngữ mới, nhưng từ chối tuân theo những thực hành có thể làm tổn hại đến lòng trung thành của họ với Thiên Chúa. Lòng trung thành của họ đã làm cho họ trở thành hình mẫu trong cuộc sống. (Đn 1:1-6, 8-20)
Chúa Giêsu (Lc 21:1-4) chỉ trích người bỏ tiền dâng cúng để phô trương, và khen ngợi bà góa nghèo vì sự hy sinh cao cả của bà.
Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm
Tầm nhìn của chúng ta về thế giới sắp tới là gì? Sứ mạng của chúng ta là gì, nghĩa là chúng ta phải làm gì để đạt đến tầm nhìn?
Vào thời sau hết, Thiên Chúa là Mục Tử sẽ phán xét giữa chiên này với chiên khác, giữa cừu với dê (Ed 34:11-12-15-17). Vào ngày tận thế, Chúa Giêsu sẽ thống trị tất cả và làm cho tất cả sống lại. Tất cả những gì chống lại Người, kể cả sự chết, sẽ bị tiêu diệt. Chúa Giêsu sẽ trao lại vương quyền cho Thiên Chúa Cha. (1Cr 15:20,26, 28)
Sứ mạng cơ bản của chúng ta là bước theo Chúa Giêsu, Mục Tử Nhân Lành. Chúng ta phải cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho kẻ vô gia cư chỗ ở, thăm viếng kẻ bị tù đày và chăm sóc kẻ đau yếu. (Mt 25:31-46)
Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm
Chúa Nhật lễ Chúa Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ cũng là Chúa Nhật cuối cùng của năm Phụng vụ mời gọi mỗi người, hãy hướng lòng lên Chúa – vị Vua tối cao, đồng thời hãy nhìn lại cuộc sống của mình trong năm qua: Tôi đã sống những giá trị Tin Mừng và sinh lời từ những “nén bạc” Chúa trao như thế nào?
Lời Chúa trong Tin Mừng Matthêu nói về cuộc phán xét chung, ngày Con Người ngự đến trong vinh quang của Người. Người không hỏi chúng ta đã làm được những điều gì vĩ đại… Không! Điều Người chất vấn chính là tình yêu cho đi của chúng ta: “Vì xưa Ta đói… Ta khát… Ta là khách lạ… Ta trần truồng… Ta đau yếu… Ta ngồi tù… các ngươi có đến giúp hay không?” (Mt 25, 35-36). Giữa một thế giới cổ vũ sự hưởng thụ và nhu cầu cá nhân thì việc sống các giá trị Tin Mừng ngày càng trở nên khó khăn hơn. Lời mời gọi của Chúa: “Hãy ở lại trong tình thương của Người” giúp chúng ta biết mở rộng cõi lòng, tình yêu thương và vượt qua những rào cản của ích kỷ, nhỏ nhen để sống giá trị tinh thần Nước Trời.
Quả thật, chúng ta liên đới với nhau vì chúng ta có một Thiên Chúa là Cha. Vì vậy, sứ mệnh đầu tiên của chúng ta là hãy sống tình yêu vì vị Vua của chúng ta là vị Vua tình yêu. Sứ mệnh thứ hai là chúng ta có nhiệm vụ góp phần xây dựng Nước Chúa bằng chính đời sống của mình.
Chúa là Vua – Vua cao cả nhất trên thế gian này nhưng đã bỏ tất cả để sống kiếp người như chúng ta, chung chia mọi buồn vui sướng khổ. Người hiện diện nơi những gì là nhỏ bé, âm thầm nhất: Đó là những người nghèo, người đau yếu, bệnh tật, những người đáng thương đang cần sự giúp đỡ. Như thế, chúng ta có rất nhiều cơ hội để làm giàu kho tàng, nén bạc Chúa trao khi sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ người khác. Điều quan trọng, chúng ta cần có một tấm lòng để thấy Chúa hiện diện nơi những con người cụ thể trong cuộc sống này.
Chúng ta hãy hướng lòng lên vị Vua cao cả, từ bỏ những điều làm cản bước tiến của chúng ta trên hành trình tiến về vương quốc của Người: Bằng cách dùng chính đôi tay của chúng ta để làm những việc tốt giúp đỡ người kém may mắn hơn chúng ta; dùng miệng lưỡi của chúng ta để nói những điều yêu thương, an ủi, nâng đỡ mọi người; dùng đôi mắt của chúng ta, để chúng ta thấy được nỗi khó khăn tận sâu bên trong cõi lòng mỗi người mà sống lòng thương cảm và hy vọng.
Xin Chúa cho chúng con cảm nếm được niềm hạnh phúc của Vương quốc tình yêu ngay trong chính cuộc sống hôm nay. Hạnh phúc không ở đâu xa, chính lúc chúng ta biết cho đi, làm cho người khác hạnh phúc là lúc chúng ta hạnh phúc. Nguyện xin tình yêu của Đức Giêsu Kitô là Vua, ngự trị trong tâm hồn chúng con, để chúng con đem hạnh phúc Nước Chúa đến với mọi người.
Têrêsa Kim Yến
Trong cuộc phỏng vấn mới đây của trang thông tin ACI Stampa, Đức Tổng Giám mục trưởng Sviatoslav Shevchuk, lãnh đạo Giáo hội Công giáo Đông phương Ucraina đã nói về cuộc chiến này. Ngài cũng khẳng định rằng chiến tranh không ngăn cản được đức tin của các tín hữu nhưng còn khiến nó tăng lên gấp bội, bất chấp nỗi sợ hãi.
Từ một tháng rưỡi nay, khi cuộc xung đột Israel-Hamas bùng nổ, thế giới gần như quên đi cuộc chiến giữa Nga và Ucraina. Nhưng cuộc chiến bảo vệ đất nước của người dân Ucraina chống lại cuộc xâm lược của Nga kéo dài từ gần 21 tháng vẫn đang diễn ra rất căng thẳng và dữ dội.
Trong cuộc phỏng vấn mới đây của trang thông tin ACI Stampa, Đức Tổng Giám mục trưởng Sviatoslav Shevchuk, lãnh đạo Giáo hội Công giáo Đông phương Ucraina đã nói về cuộc chiến này. Ngài cũng khẳng định rằng chiến tranh không ngăn cản được đức tin của các tín hữu nhưng còn khiến nó tăng lên gấp bội, bất chấp nỗi sợ hãi. Người dân sẵn sàng đón nhận cái chết mỗi ngày. Và vì lý do này họ đi xưng tội nhiều hơn, họ cảm thấy cần có một linh mục để chuẩn bị tâm hồn họ. Đó là việc chăm sóc mục vụ trong thời chiến mà Thánh Hội đồng cuối cùng của Giáo hội Công giáo Đông phương Ucraina, được tổ chức tại Roma, đã nói đến. Đó là hoạt động chăm sóc mục vụ đi kèm với việc giảng dạy học thuyết xã hội được áp dụng cho cuộc chiến mới này.
Trong hai tháng qua, Đức Tổng Giám mục Shevchuk đã tham gia nhiều hoạt động. Ngoài Thánh Hội đồng của Giáo hội Công giáo Đông phương Ucraina, ngài còn tham dự Thượng hội đồng về “Hiệp thông, Tham gia và Sứ vụ”. Ngài đã mang tiếng nói của Ucraina tới Brussels, theo lời mời của Ủy ban các Hội đồng Giám mục Châu Âu. Ngài đã có cuộc gặp với Thủ tướng Ý Giorgia Meloni. Nhưng trên hết, ngài đã có thể nói chuyện với Đức Thánh Cha, làm sáng tỏ các câu và khái niệm và trở về với nhận thức rằng “Đức Thánh Cha ở bên Ucraina”.
** Thưa Đức Tổng Giám mục, vào tháng 9, Thánh Hội đồng Giáo hội Công giáo Đông phương Ucraina đã diễn ra tại Roma, và Giáo hội này đã có cuộc gặp gỡ với Đức Thánh Cha. Các kết luận chính rút ra từ cuộc gặp gỡ này là gì?
– Đối với Thánh Hội đồng thường niên, chúng tôi có 45 giám mục người Ucraina từ khắp nơi trên thế giới. Đây là Thánh Hội đồng có nhiều người tham dự nhất trong những năm gần đây. Giáo hội Công giáo Đông phương Ucraina hiện có 56 giám mục, và trong lịch sử gần đây chưa bao giờ có nhiều đến thế. Hai Giám mục mới đã được tấn phong ngay trước Thánh Hội đồng. Chủ đề chính của Thánh Hội đồng là cuộc chiến ở Ucraina và những tổn thương mà cuộc chiến này gây ra cho xã hội Ucraina và người dân Ucraina.
** Chấn thương lớn nhất là gì?
– Chúng tôi đã tiến hành một nghiên cứu xã hội học về làn sóng di cư mới, bởi vì tổn thương không chỉ ảnh hưởng đến những người ở lại mà còn ảnh hưởng đến những người ra đi và những người tham gia cộng đồng hải ngoại. Những con số thật đáng sợ. Ít nhất 14 triệu người đã buộc phải rời bỏ nhà cửa. Phần lớn trong số này là những người di tản trong nước, vẫn ở Ucraina, nhưng đã mất hết mọi sự, những người cần được Giáo hội chúng ta tiếp nhận, tiếp đón, hội nhập và giúp đỡ. Ngược lại, có 6 triệu người trong số họ đã rời Ucraina và được tiếp nhận ở các quốc gia Trung và Tây Âu. Đó là 6 triệu phụ nữ và trẻ em, bởi vì nam giới không thể rời khỏi đất nước. Đặc biệt, phụ nữ có độ tuổi trung bình từ 42 đến 43, 62% trong số họ đã tốt nghiệp đại học. Một nửa số trẻ em dưới 16 tuổi. Đây là thành phần khá nhất của xã hội Ucraina đang ra đi, nhưng cũng là bộ phận dễ bị tổn thương nhất.
** Giáo Hội nên làm gì trong hoàn cảnh này?
– Chúng tôi phải tổ chức lại việc chăm sóc mục vụ của mình, cả ở Ucraina và Tây Âu. Chúng ta phải học cách giúp đối phó với tổn thương chiến tranh, bởi vì 80% dân số hiện đang trong tình trạng đau thương. Chúng ta, với tư cách là Giáo hội, bây giờ phải sống nỗi đau của những người đau khổ và đầy vết thương. Trong Thánh Hội đồng của chúng tôi, chúng tôi đã nhận ra rằng những gì người dân chúng tôi trải qua là những vết thương của Chúa Giêsu.
** Ở Roma các ngài cũng đã có cuộc gặp gỡ với Đức Thánh Cha Phanxicô. Nó diễn ra thế nào?
– Cuộc gặp gỡ xảy ra ở Roma vào lúc cao điểm của cuộc khủng hoảng truyền thông gây nên bởi một số lời của Đức Thánh Cha nói với giới trẻ Nga. Đức Thánh Cha Phanxicô không muốn ủng hộ sự xâm lược của Nga, nhưng đã nói những điều tốt đẹp về Peter Đại đế và nữ hoàng Catarina, những người muốn tiêu diệt người dân Ucraina; đây là một chủ đề nhạy cảm đối với chúng tôi, đặc biệt là trong bối cảnh cuộc xâm lược của Nga trên quy mô lớn. Tôi có thể nói rằng việc được gặp Đức Thánh Cha trong hoàn cảnh đó là một điều may mắn. Đức Thánh Cha Phanxicô đã cư xử như một người Cha đích thực. Ngài đã xúc tiến cuộc gặp với các Giám mục của chúng tôi trước một giờ, muốn lắng nghe từng ấn tượng của họ – chúng tôi nói bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, từ tiếng Ý đến tiếng Ucraina, qua tiếng Tây Ban Nha và tiếng Bồ Đào Nha – và do đó có thể có một cái nhìn tổng quan về Giáo hội Công giáo Đông phương Ucraina từ góc độ toàn cầu. Chúng tôi đã nhận được sự nâng đỡ rất lớn từ ngài.
** Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói gì với quý vị?
– Ngài giải thích ý nghĩa những lời phát biểu của ngài, nói rõ ý định của ngài. Sau đó, ngài nói một câu rất hay mà theo ý của tôi nên được ghi vào sách ngoại giao: “Tôi biết rằng đôi khi anh chị em tự hỏi Giáo hoàng đứng về phía nào. Nhưng tôi đảm bảo với anh em rằng tôi ở bên anh chị em”. Chúng tôi đã nói chuyện với ngài về hiện tượng văn hóa Nga, điều sau đó được hòa nhập vào hệ tư tưởng của Russkiy Mir, của thế giới Nga. Đức Thánh Cha trả lời rằng đây là một thảm kịch thực sự, và nó gây ra nỗi đau buồn sâu sắc khi nền văn hóa vĩ đại của một quốc gia bị chắt lọc qua sự thao túng của các chính trị gia thành một hệ tư tưởng giết người. Ngài nói thêm rằng thật là một thảm kịch nếu một Giáo hội tán thành loại hệ tư tưởng này và thay thế cho Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô. Và ngài kêu gọi chúng tôi đừng rơi vào bất kỳ loại ý thức hệ nào, và hãy lắng nghe người dân. Ngài sử dụng một giai thoại đầy màu sắc từ Công đồng Êphêsô: trong khi các giám mục đang thảo luận về Đức Maria Mẹ Thiên Chúa thì những người bên ngoài đã hét lên “Theotokos, Theotokos” (Mẹ của Thiên Chúa). Tôi đã nhìn thấy lại hình ảnh người dân Ucraina đã gửi chúng tôi đến Roma để dự Thượng Hội đồng”.
** Và người dân Ucraina đã nói gì?
– Họ đã hỏi: Đức Thánh Cha ở bên ai? Sau Thánh Hội đồng đó, sau cuộc gặp với Đức Thánh Cha, các giám mục của chúng tôi cuối cùng đã có thể trả lời những người đang đặt câu hỏi này. Và họ đã có thể trả lời: “Đúng, Đức Thánh Cha ở bên chúng ta. Ngài hiểu rằng Ucraina đang bị giày xéo và người dân Ucraina đang phải chịu đựng một cuộc chiến tranh vô nghĩa, bất công cần phải chấm dứt”.
** Chúng ta đang đi đến một cuộc khủng hoảng nhân đạo mới?
– Mùa đông đang đến gần và sẽ còn khó khăn hơn năm ngoái. 60% cơ sở hạ tầng điện năng tại các thành phố của chúng tôi đã bị phá hủy, người Nga cũng đang chuẩn bị phá hủy 40% còn lại, và điều này không chỉ có thể dẫn đến một cuộc khủng hoảng lương thực mà còn cả một cuộc khủng hoảng năng lượng. Hàng triệu người không biết sống như thế nào. Đó là một thách thức nhân đạo ở quy mô chưa từng thấy kể từ Thế chiến thứ hai.
** Trong hoàn cảnh này, những người có thể rời bỏ đất nước, và trên hết là tầng lớp điều hành, những người có học thức, là những người cần phải tái thiết đất nước. Giáo hội làm gì để giúp mọi người ở lại?
– Chúng tôi đã học được nhiều điều kể từ mùa đông năm ngoái, bao gồm cả việc hỗ trợ người dân ở các vùng lãnh thổ mới được quân đội Ucraina giải phóng. Chúng tôi đã đạt được một kết quả tuyệt vời vì cuộc khủng hoảng nhân đạo chưa biến thành một thảm kịch nhân đạo. Không ai ở Ucraina chết vì đói khát hay lạnh giá. Năm ngoái, chúng tôi đã có thể quan sát hiện tượng được gọi là những người di tản nội địa vì khí hậu, những người rời bỏ thành phố vì không có điện, không nước, và họ không thể tự sưởi ấm hoặc chuẩn bị thức ăn. Chúng tôi thấy rằng nhiều người đã chuẩn bị trải qua mùa đông ở phía bên kia của Ucraina. Nhưng cuộc khủng hoảng năng lượng cũng có thể ảnh hưởng tới miền Tây Ucraina, bởi không có nơi nào mà tên lửa Nga không vươn tới. Toàn bộ lãnh thổ Ucraina nằm dưới tầm nguy hiểm. Nhiều người đã mua máy phát điện nhưng điều này có thể dẫn đến tình trạng thiếu nhiên liệu và tăng giá trên thị trường. Chúng tôi sẽ xem tình hình sẽ được xử lý như thế nào.
** Giáo hội giúp đỡ mọi người. Nhưng tình trạng đức tin thế nào? Người dân Ucraina có còn cần đến Chúa nữa không?
– Thảm họa này đã khiến mọi người đặt ra những câu hỏi mang tính hiện sinh. Chúng tôi tự hỏi tại sao điều này lại xảy ra, liệu nó có đáng để chịu đựng hay không, liệu có hy vọng hay không. Không có câu trả lời của con người cho những câu hỏi này. Giờ đây mọi người đang hoán cải. Có một sự hoán cải rất lớn. Một mặt, sự căm ghét, giận dữ và hoài nghi ngày càng gia tăng. Mặt khác, người ta tìm kiếm sự chào đón và an ủi chỉ có thể tìm thấy trong Giáo hội. Tại một số giáo xứ ở những vùng bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi chiến tranh, đã có sự thay thế hoàn toàn của các giáo dân: không có những giáo dân ra đi, không có cộng đoàn trước chiến tranh, nhưng có cộng đoàn mới của những người trở về hoặc ở lại. Các nhà thờ của chúng tôi rất đông đúc, cũng bởi vì mỗi nhà thờ là một trung tâm đón tiếp.
** Họ không sợ bị thả bom sao?
– Có, nhưng nỗi sợ hãi liên tục về việc bị đánh bom và giết chết đã tạo ra một nền linh đạo mới. Chúng tôi đã học cách sống thường xuyên trong nguy cơ tử vong – dân chúng, cũng như các giáo sĩ, các giám mục – và do đó chúng tôi thường xuyên xưng tội. Có ý muốn thoát khỏi tội lỗi để sẵn sàng bất cứ lúc nào đi đến cuộc gặp gỡ cá nhân với Chúa Giêsu. Người dân đi xưng tội, cần Thánh Thể hàng ngày. Tuyên úy trong quân đội, bệnh viện cũng như ở các trường đại học rất được chào đón. Ngày nay chúng tôi thực sự là một Giáo hội đi ra. Chúng tôi phải mang Chúa Giêsu Thánh Thể đến nơi người dân đang hiện diện và đang cần giúp đỡ. Việc xưng tội thường trở thành công cụ mục vụ hiệu quả nhất, ngay cả trong các cộng đồng di cư. Đó thực sự là khoảnh khắc mà vết thương của con người thực sự được chữa lành.
** Đó là một sự dấn thân khó khăn đối với các linh mục của quý vị…
– Chúng tôi đã cung cấp cho các linh mục một khóa học đặc biệt về việc chăm sóc mục vụ chữa lành vết thương, để các linh mục có thể trở thành người cha tinh thần tốt lành của những người đau khổ, nhận ra nhu cầu của những người này, thậm chí – nếu cần – khuyên họ nên đến gặp một nhà trị liệu tâm lý. Trên thực tế, chúng tôi biết rằng chứng rối loạn hậu chấn thương có thể giết chết nhiều người hơn đạn hoặc tên lửa của Nga. Theo nghĩa này, bí tích hòa giải cũng là bí tích xức dầu các vết thương, một sự đồng hành cá nhân của mỗi người, một khoảnh khắc đích thực của lòng thương xót Chúa. Những gì chúng ta không thể làm được thì Chúa, Đấng hiện diện trong các Bí tích trong Giáo hội, có thể hoàn thành.
Đức Thánh Cha gửi sứ điệp đến Lễ hội Học thuyết Xã hội ở Verona, bắc Ý, nhắc nhở các các tham dự viên “Giáo hội là một mạng lưới được dệt nên bởi sự hiệp thông Thánh Thể, trong đó sự kết nối không dựa trên những ‘like-thích’, nhưng dựa trên sự thật, trên ‘amen’, qua đó mỗi người gắn bó với Thân Mình Chúa Kitô, chào đón người khác”.
Trong sứ điệp, Đức Thánh Cha đề cập đến chủ đề được chọn cho năm nay (“#soci@mente liberi”) gợi lại một số vấn đề rất thời sự, đặc biệt đối với văn hóa kỹ thuật số, ảnh hưởng đến quan hệ giữa con người và xã hội. Biểu tượng @ (at) đi kèm với từ “xã hội”, vào thời xưa chỉ đơn vị đo lường và sau đó là giá trị tính toán, rồi đến việc dùng phổ biến trong e-mail với nghĩa là “ở tại”. Do đó, từ lịch sử đã đi đến dấu chỉ cho việc sống sự tự do trên mạng xã hội ngày nay. Điều này được biểu thị nơi biểu tượng “ở tại” (@), chỉ sự gần gũi, tiếp xúc, biểu hiện thân mật của sự tự do, được “giữ gìn” trong trái tim mỗi người.
Đức Thánh Cha nhắc nhở các tham dự viên rằng mạng lưới mà chúng ta mong muốn không được tạo ra để gài bẫy nhưng để giải phóng, để bảo vệ sự hiệp thông của những người tự do. Chính Giáo hội là một mạng lưới được dệt nên bởi sự hiệp thông Thánh Thể, trong đó sự kết hợp không dựa trên những “like-thích”, nhưng dựa trên sự thật, trên “amen”, qua đó mỗi người gắn bó với Thân Mình Chúa Kitô, chào đón người khác. Truyền thông đạt đến sự trọn vẹn trong việc trao ban hoàn toàn chính mình cho người khác. Mạng lưới tự do phát triển trong mối quan hệ qua lại này.
Đức Thánh Cha cho thấy trình thuật hoá bánh ra nhiều trong Tin Mừng Máccô (Mc 6, 34-44) nhấn mạnh đến cách thức Chúa Giêsu nuôi đám đông trên biển hồ Tiberia: “Đức Giêsu thấy một đám đông rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt” (Mc 6, 34). Phép lạ hoá bánh ra nhiều cho thấy lòng trắc ẩn của Chúa dành cho mọi người không phải với cái nhìn từ trên xuống nhưng hoà mình và chăm sóc đám đông.
“Chính anh em hãy cho họ ăn” (Mc 6, 37), điều này cho thấy Chúa Giêsu không phải là một nhà lãnh đạo đơn độc. Người muốn sự cộng tác của các môn đệ. Chính các ông được mời tham gia vào sứ vụ của Chúa một cách tự do.
Đức Thánh Cha kết luận: “Trong một thế giới đầy xung đột, việc trở thành nhân chứng cho tự do là điều quan trọng. Tôi mong anh chị em có thể làm cho người khác hiểu được thẻ mạng xã hội ‘soci@mente’, ngang qua việc thúc đẩy các hành động và sáng kiến một cách thông minh vì công ích. Dấn thân vào việc giáo dục về văn hóa cho đi”.
Giọt máu đào rơi xuống lòng Đất Mẹ
Cùng niềm tin với nặng nghĩa trung kiên,
Dâng lên Cha những người con ngoan hiền
Quyết hiếu trung vì lòng yêu mến đạo.
Rời cố hương, quê nhà để kiến tạo
Cây đức tin cho thế hệ gần xa
Để từ đây hương thơm tỏa bao la
Vườn Tin-Kính trổ sinh nhiều bông hạt.
Giáo Hội Việt Nam nay mừng kính hát
Bậc tiền nhân mang ánh sáng Tin Mừng,
Dẫu đầu rơi máu đổ vẫn kiên trung
Vững một lòng “Tôi quyết không bỏ đạo”.
Cha ơi! Sao họ quá tàn bạo
Đã xử giảo mười sáu vị anh hùng,
Nhưng các ngài vẫn quyết mực kiên trung
Vẫn lạc quan dẫu biết giờ phải chết.
Thật đau lòng bảy chín vị trảm quyết
Cũng vì lòng kính mến Thánh Giá cao
Bao cùm gông không trối từ Thánh Giá
Cảm phục thay vì niềm tin sắt đá!
Vẫn một lòng trung kiên cùng Thánh Giá
Quá xót xa tám vị chết rũ tù,
Nhưng các ngài vẫn một mực khiêm nhu
Theo gương Chúa và một lòng trung tín.
Lại còn thêm sáu vị bị thiêu chín
Chặt tay chân bốn vị bị lăng trì,
Đánh tử thương một vị trên đường đi
Mang thương tích còn lóc da trảm thịt.
Các ngài tin khi đến giờ hành quyết
Đầu có rơi hồn được rước lên trời,
Nơi thượng giới có một Chúa Ba Ngôi
Đón các ngài hưởng Thiên Đàng ân phúc.
Xin tri ân và hết lòng ca tụng
Máu các ngài là hạt giống sinh ra,
Người Công Giáo và hạt giống nở hoa
Cả Giáo Hội luôn ghi ơn đền đáp.
Mừng Các Thánh Tử Đạo con nguyện hát
Khúc tri ân mừng kính các anh hùng
Công đức dầy và gương sáng tôi trung
Là gương sáng cho chúng con dõi bước.
Têrêsa Nguyễn Mai
Tháng 11 được người Công giáo gọi là Tháng Các Linh Hồn, là tháng dành riêng để cầu nguyện cho các linh hồn, đặc biệt là ông bà tổ tiên, cha mẹ, người thân đã ra đi trước chúng ta bằng lời cầu nguyện và các việc bác ái của chúng ta để xin Chúa cho các ngài sớm hưởng tôn nhan Chúa.
Như mọi năm, tôi đi viếng nghĩa trang và cầu nguyện cho các linh hồn. Trong tâm trí tôi xuất hiện hình ảnh “sự chết”. Như sách Giảng viên đã nói: “Ở dưới bầu trời này, mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời: một thời để chào đời, một thời để lìa thế.” (Gv 3, 1-2). Quả thật, chết là một quy luật tự nhiên, có sinh thì sẽ có tử, có phát triển cũng sẽ có lụi tàn. Thế nhưng cuộc sống ngày hôm nay, con người thường có xu hướng tích trữ những thứ chóng qua ở đời này như phải mua được xe này, nhà nọ; công việc phải phát triển thành công; phải đạt được vị trí nhất định, phải có được tiền tiết kiệm thì cuộc sống sẽ hạnh phúc viên mãn; nhưng họ lại quên mất rằng cái chết sẽ đến bất ngờ, mọi thứ sẽ qua đi, chỉ có tình yêu là mãi mãi. Càng văn minh, càng phát triển, càng tiện nghi con người ta sẽ càng sống trong phập phồng lo sợ và bất an nhiều hơn; vì sợ gặp phải những điều xui rủi. Thánh vịnh 49 đã khẳng định:
“Mạng người dù giá cao mấy nữa,
thì rồi ra cũng chấm dứt đời đời.
Nào phàm nhân sống mãi được sao
mà chẳng phải đến ngày tận số?
Kìa thiên hạ thấy người khôn cũng chết,
kẻ ngu đần dại dột cũng tiêu vong,
bỏ lại tài sản mình cho người khác.
Tuy họ lấy tên mình mà đặt cho miền này xứ nọ,
nhưng ba tấc đất mới thật là nhà,
nơi họ ở muôn đời muôn kiếp.”
Chẳng có chi bền vững dưới ánh mặt trời, con người cũng không tránh khỏi quy luật tự nhiên là phải chết như bao sinh vật khác. Đây chính là giới hạn của kiếp người vì sự chết sẽ mang con người lìa xa hết mọi thứ. Tự hỏi rằng có ai sẽ thoát chết được chăng? Hằng ngày, ở mọi nơi, chết vì thiên tai, chiến tranh, tai nạn, già yếu, bệnh tật; bất kể trẻ hay già. Dù người giàu sang phú quý hay người nghèo khổ, người tri thức hay bình dân đều phải chết. Thánh Vịnh ví von đời người như bông hoa, chỉ cần một cơn gió thoảng cũng đủ làm nó biến mất. Nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích chi (Tv 103, 15-16). Quả thực, mỗi ngày sống trôi qua là con người đi gần đến cái chết. Vì thế, ta phải sống thế nào để khi đối diện với cái chết ta luôn sẵn sàng và bình an.
Bên cạnh ưu tiên việc cầu nguyện cho các linh hồn, tháng 11 cũng là thời gian thuận tiện cho tôi suy tư về sự chết của chính mình. Khi suy tư về sự chết, không có nghĩa là tôi buồn rầu, sợ hãi, ngã lòng; nhưng giúp tôi hiểu biết hơn về kiếp người. “Con đừng sợ án chết. Hãy nhớ rằng: có những kẻ đã đi trước con, và sẽ có những người theo sau.” (Hc 41, 3). Sự chết đến cách bất ngờ. Nó đến không báo trước, không cần dẫn đường, và cuộc sống này chỉ là tạm bợ. “Xin dạy con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí con được khôn ngoan” (Tv 90, 12). Suy niệm về cái trong niềm tin Ki-tô giáo giúp tôi tránh khỏi những đam mê, những phù vân, những hạnh phúc giả tạo của thế gian để sống tròn đầy trong từng giây phút.
Điều cần thiết và quan trọng nhất là tôi phải biết xây dựng mối tương quan tốt đẹp bền vững với Thiên Chúa và tha nhân. Nhờ đó, tôi khôn ngoan hơn trong từng chọn lựa sống và biết sử dụng lượng thời gian Chúa ban cho những điều ý nghĩa để rồi tôi sống như Đức Ki-tô, can đảm chịu đựng những đau khổ để kết hợp với đau khổ của Người, được dìm vào trong cái chết của Người, được mai táng với và tôi sẽ được sống lại như người, sống một đời sống mới trong vinh quang của Người nhờ quyền năng vinh hiển của Thiên Chúa Cha. (Rm 6, 3-11)
Lạy Chúa, từ ngàn đời Chúa đã yêu thương con cách nhưng không. Chúa đã dựng nên con từ hư vô, cho con sinh vào đời, cho con được nhận biết Chúa là Cha yêu thương. Xin Chúa luôn đồng hành và chỉ dạy con trên hành trình về nhà Chúa. Xin đừng để con bị lạc bước trên đường đời. Xin cho con biết tránh tội lỗi, vấp phạm, luôn sống tinh thần sám hối và canh tân, từ bỏ cái tôi ích kỷ, thi hành thánh ý Chúa qua việc đạo đức, hy sinh và đời sống bác ái. Dù là bất cứ điều gì xảy ra, xin đừng khi nào. Nhờ đó, con xác tín rằng không có gì tách con ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa qua Đức Giê-su Ki-tô. Amen.
Têrêsa Kim Oanh
Theo Ngụy thư của Thánh Giacôbê: “Đức Maria khi còn nhỏ đã được Thánh Anna và Gioakim dâng cho Thiên Chúa”. Điều này cũng được chính Mẹ Maria làm cho Chúa Giêsu, đó là dâng Hài Nhi Giêsu cho Thiên Chúa (Lễ Đức Maria dâng Chúa Giêsu trong Đền thờ). Có thể nói cả cuộc đời Mẹ được Thiên Chúa thánh hiến.
Đức Maria được thánh hiến cho Thiên Chúa
Cuộc đời Mẹ Maria hoàn toàn sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Mẹ được dâng mình để thuộc trọn về Chúa và chính Chúa đã dẫn dắt cuộc đời Mẹ qua mọi thăng trầm của cuộc sống. Và chính nhờ niềm tin, cậy, mến của Mẹ dành cho Chúa mà kế hoạch yêu thương của Chúa được thực hiện.
Đức Maria lắng nghe và thi hành thánh ý Chúa
Đức Maria không chỉ là Mẹ Thiên Chúa mà Mẹ còn là người môn đệ trung tín của Thiên Chúa trong chương trình cứu độ của Ngài qua việc lắng nghe và thực thi mọi điều Chúa muốn. Cuộc đời của Mẹ là bản tình ca Magnificat. Vì thế, Mẹ trở nên tấm gương cho những ai muốn thuộc về Chúa, cộng tác và thi hành ý muốn của Thiên Chúa: “Ai thi hành và làm theo ý muốn của Cha tôi Đấng ngự trên trời người ấy là anh chị em, là mẹ tôi, là môn đệ đích thực của tôi và luôn thuộc về tôi”.
Mẹ Maria cũng trải qua biết bao khó khăn trong cuộc sống nhưng chính tình yêu và sự phó thác hoàn toàn trong bàn tay quan phòng của Chúa đã giúp Mẹ bước đi trong ân sủng và mở ra với tha nhân trong niềm vui có Chúa ở cùng. Mừng Lễ Đức Mẹ Dâng Mình mời gọi chúng ta luôn quy hướng về Thiên Chúa bằng cách đón nhận, lắng nghe và thi hành ý Chúa, dâng lên Chúa tất cả mọi suy nghĩ và hành động để Chúa có thể sử dụng theo ý muốn tốt lành của Ngài.
Maria Nguyễn Hòa
Đau khổ có thể được trải nghiệm tập thể và/hoặc cá vị. Người Do Thái đã trải qua hoạn nạn khủng khiếp dưới triều đại của An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê (1Mcb 1:64). Vì hai lý do. Để tài trợ cho các chiến dịch quân sự, đền thờ đã hai lần bị tước đoạt tài sản. Để đạt được sự hiệp nhất của tất cả các dân tộc, việc Hy Lạp hóa (toàn cầu hóa hay nói chính xác hơn là “sự áp đặt tham vọng của mình lên”) đã ép buộc và ảnh hưởng đến lối sống và định hướng tôn giáo của người Do Thái.
Mù lòa, một trường hợp đau khổ cá nhân, làm suy giảm tầm nhìn thể chất và phương hướng sống của một người. Đến gần Giêricô, người ta đem một người mù đến với Chúa Giêsu. Một người đàn ông đến từ Nazareth, Con vua Đavít, đã làm cho anh ta thấy được về mặt thể lý và có một tầm nhìn mới. Người mù được chữa lành liền đi theo Chúa Giêsu. (Lc 18:35-43)
Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm