BỐN MÔN ĐỆ ĐẦU TIÊN (Mc 1,16-20)

Bản văn Mc 1,16-20 được đặt trong bối cảnh sau khi Chúa Giêsu công khai rao giảng Tin Mừng tại Galilê với nội dung: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy hối cải và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,14-15). Lời rao giảng này như một mắt xích Chúa mời gọi các môn đệ tham dự vào sứ vụ của Người phải có đức tin và sự sám hối. Hơn nữa sau bản văn (Mc 1,16-20), người môn đệ được chứng kiến lời tuyên xưng của thần ô uế về căn tính của Chúa Giêsu: “Ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Mc 1,24). Qua đó, có thể ngầm hiểu người môn đệ sẽ khám phá ra căn tính này của Chúa Giêsu trong lộ trình huấn luyện của Người

  1. Bốn môn đệ đầu tiên được Chúa Giêsu kêu gọi

Sau lời rao giảng: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần, anh em hãy hối cải và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15)[i],Chúa kêu gọi 4 môn đệ đầu tiên với hàm ý Chúa Giêsu muốn có các cộng sự viên trong sứ vụ cứu thế của Người. Chúa Giêsu đang đi dọc theo biển hồ Galilê, Người “thấy” hai ông Simon với người anh là ông Anrê đang quăng lưới xuống biển vì họ “làm nghề đánh cá”, tương tự, Chúa thấy Giacôbê và Gioan đang vá lưới trong thuyền (x. Mc 1,16.19). Trong Cựu ước nhiều lần Thiên Chúa thấy dân của Ngài chịu khốn khổ bên Ai Cập (x. Xh 2,25), Ngài thấy Môsê lại xem bụi cây cháy bừng, nhưng không bị thiêu rụi (x. Xh 3,4), Thiên Chúa đã gọi ông và mặc khải cho ông biết Ngài là Thiên Chúa của tổ tiên họ (x. Xh 3,6).

Chúa Giêsu “thấy” như một khởi điểm Chúa gọi những con người đầu tiên làm môn đệ. Chúa thấy cuộc sống của họ làm nghề đánh cá, nhưng Chúa vẫn kêu gọi họ: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những người như lưới cá”[ii](Mc 1,17). Chúa cũng thấy Lêvi đang ngồi ở trạm thu thuế bất ngờ Chúa gọi ông: “Anh hãy theo tôi” (Mc 2,13-14). Chúa “thấy” cho biết sáng kiến đến từ Chúa Giêsu, Người đi bước trước gọi các môn đệ đầu tiên theo Người.

2. Người môn đệ đáp trả lời mời gọi của Chúa Giêsu

Đứng trước lời mời gọi của Chúa Giêsu, 4 môn đệ đầu tiên đáp lại bằng thái độ: “lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người và bỏ cha mình cùng với người làm công mà đi theo Người” (Mc 1,18.20). Bản văn cho thấy thái độ lập tức và đầy dứt khoát của các môn đệ trước tiếng gọi của Chúa, đã khẳng định thẩm quyền của Chúa Giêsu[iii], nên có thể các ông đã biết Chúa, vì trước đó Người rao giảng lời đầu tiên tại miền Galilê, dọc theo Biển Hồ nơi các ông hành nghề đánh cá. Theo tâm lý bình thường không ai lại theo một kẻ khác một cách dễ dàng và nhanh chóng như vậy, cho dù kẻ ấy có hấp dẫn bao nhiêu đi nữa.. Bài tường thuật Chúa Giêsu kêu gọi những môn đệ đầu tiên trong (x. Ga 1,39) có thể sát thực tế hơn: Chúa Giêsu mở đầu bằng một cuộc đối thoại, cho người môn đệ thời gian suy nghĩ sau khi họ lưu lại với Người một khoảng thời gian.

Xưa kia dân Israel được Thiên Chúa tuyển chọn trở thành dân riêng của Ngài nhưng với những biến động lịch sử họ đã bỏ rơi Đức Chúa (x. Is 2,6), bỏ lề luật của Ngài (x. 1Mcb 1,52) để theo các thần ngoại. Nhưng trong trường hợp của các môn đệ đầu tiên này, chúng ta thấy họ đã không bỏ qua trước tiếng gọi của Chúa Giêsu, trái lại họ bỏ lại tất cả nghề nghiệp để gắn bó hoàn toàn với Người. Nói cách cụ thể, thái độ đáp trả của hai anh em Giacôbê và Gioan trước tiếng gọi của Chúa, họ không những bỏ lại nghề nghiệp nhưng họ bỏ cha lại cùng với người làm công mà theo Người. Hành động đầy dứt khoát của các môn đệ cho thấy tiến độ từ bỏ của 4 môn đệ đầu tiên bước theo tiếng gọi của Chúa Giêsu: khởi đầu là nghề nghiệp sau là những người thân. Điều này, gợi nhớ hình ảnh ông Ápraham đã từ bỏ xứ sở tổ tiên để đi theo tiếng gọi của Đức Chúa (x. St 12,1-4). Thiên Chúa hứa với ông: “Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi, Ta sẽ cho tên tuổi ngươi lẫy lừng và ngươi sẽ là một mối phúc lành” (St 12,2). Người môn đệ đầu tiên được Chúa Giêsu mời gọi thi hành sứ mạng của Người, lời hứa Chúa dành cho họ không phải cho tên tuổi họ lẫy lừng nhưng họ sẽ trở thành lưới người như lưới cá (x. Mc 1,17), nghĩa là họ sẽ quy tụ mọi người vào trong gia đình của Thiên Chúa để đón nhận ơn cứu độ.

Như vậy, bản băn Mc (1, 16-20) cho thấy khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên, để họ chứng kiến hoạt động của Ngài ngay từ thời đầu. Bản văn cho thấy sức năng động của ơn gọi làm môn đệ Chúa Giêsu, với các động từ: “thấy”, “gọi” kèm theo là sự đáp trả “ngay lập tức” của các môn đệ đầu tiên. Ngày hôm nay, mỗi người Kitô hữu được mời gọi tham gia sứ vụ làm môn đệ Chúa Giêsu, hiệp hành cùng Giáo hội với lời rao giảng của Chúa Giêsu: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mưng” (Mc 115). Điều này, đòi hỏi mỗi người Kitô hữu can đảm từ bỏ những an toàn của bản thân, để can đảm tham gia hiệp hành cùng với Giáo Hội ra vùng ngoại biên, đem tình yêu Cứu Độ của Chúa đến cho mọi người.

Maria Phạm Trang


[i] Ngô Ngọc Khanh, Tin Mừng Theo Thánh Marco, 96-97, cho biết thêm: “Khi bắt đầu sứ vụ công khai đi rao giảng kêu gọi người ta sám hối và tin vào Tin Mừng (x. Mc 1,14-15), Đức Giêsu đã kêu gọi các môn đệ. Như thế việc kêu gọi các môn đệ đầu tiên là một phần chính yếu trong công cuộc loan báo Tin Mừng của Đức Giêsu. Các môn đệ sẽ là những người dấn thấn trọn vẹn qua việc từ bỏ hoàn toàn nếp sống cũ và cả những tương quan trần thế để theo Đức Giêsu, làm thành nhóm kề cận Người. Nhờ đó họ có mối hiệp thông sâu xa với Đức Giêsu, để có thể trải nghiệm được toàn bộ đời sống của Đức Giêsu qua các lời giáo huấn và hành động của Người”.

[ii] Thành ngữ “hãy theo tôi – Δεῦτε ὀπίσωv μου” được dịch sát nghĩa là “hãy đến theo sau tôi” có người cho rằng không chỉ là lời mời gọi nhưng là một mệnh lệnh của Chúa Giêsu, nói lên tính cấp bách của việc cộng tác với Chúa trong sứ vụ loan báo Tin Mừng.

[iii] Filipe Gomez,  Kitô Học, SJ, 227, cho biết thêm: “Trong cách kêu gọi các Tông đồ, Người tiến hành theo một lề lối khác hẳn các Rabbi  đương thời. Thường các môn sinh xin Thầy thâu nạp mình, còn Đức Giêsu đích thân chọn lựa những ai mình muốn (3,14). Khác với các Rabbi khác, Người không giải thích Luật, nhưng lập nên Luật, lời Người là Luật. Đúng hơn, các môn đồ không học một thứ giáo lý, nhưng là ở với Người (Mc 3,14), chia sẻ sứ mệnh của Người (Mc 3,14; 6,7-13) và làm chứng về Người (Mt 10,32-33). Cuối cùng môn đệ của Người không bao giờ tốt nghiệp thành Thầy vì chỉ có một Thầy, và mãi mãi họ là môn đệ (Mt 23,8)”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. NHÓM PHIÊN DỊCH GIỜ KINH PHỤNG VỤ, Kinh Thánh Ấn Bản 2011, Nxb tôn giáo, 2017.
  2. FILIPE GOMEZ, Kitô Học, Antôn Và Đuốc Sáng, 2002.
  3. NGÔ NGỌC KHANH, OFM, Tin Mừng Theo Thánh Marco, Học Viện Phanxico, 2015.

Suy niệm Chúa Nhật III Thường Niên, Năm B

NGƯỜI TA NHÌN BỀ NGOÀI, THIÊN CHÚA NHÌN TẬN ĐÁY LÒNG

Để cùng đi với Chúa trong sứ mạng rao giảng Tin mừng, Chúa Giêsu kêu gọi những “cộng tác viên” với Ngài. Ngài đã kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên là Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan bước theo Ngài. Nhưng điều đặc biệt ở tiếng gọi ấy, Chúa Giêsu không chọn những người có vai vế trong xã hội, những người giàu sang quyền quý làm môn đệ đầu tiên của Người, nhưng là những con người hết sức bình thường

Tiêu chuẩn Chúa chọn các môn đệ rất đặc biệt. Chúa không nhìn vẻ bề ngoài để đánh giá nhưng Chúa chú ý đến những điều sâu thẳm bên trong những người Chúa tuyển chọn.

 “Người đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy ông Si-mon với anh ông là An-rê, đang quăng lưới xuống biển, vì họ làm nghề đánh cá. Người bảo họ: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.” Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người.

Đi xa hơn một chút, Người thấy ông Gia-cô-bê, con ông Dê-bê-đê, và người em là ông Gioan. Hai ông này đang vá lưới ở trong thuyền. Người liền gọi các ông và “các ông bỏ cha mình là ông Dê-bê-đê ở lại trên thuyền với những người làm công, mà đi theo Người.”

Người chỉ có “thấy” rồi chọn. Thử hỏi Chúa Giêsu đã thấy gì nơi họ. Thấy vẻ bề ngoài hay tận đáy lòng họ? Chúng ta biết rằng, họ là các ngư phủ, những người dạn dày sương gió. Họ quen chịu giá lạnh giữa biển khơi, từng trải qua những đêm tối giữa biển khơi. Không sợ đói, không sợ rét, không sợ bão tố. Họ bất chấp mọi khó khăn, gian khổ và nghịch cảnh để mưu sinh. Có lẽ đây chính là những phẩm chất đầu tiên rất cần có nơi những người môn đệ nếu muốn đi theo con đường của Chúa Giêsu. Con đường không ngại gian truân, không chần chừ nhưng mau mắn sẵn sàng đáp lại.

Cách gọi của Chúa đã đặc biệt nhưng lời đáp trả của các môn đệ cũng đẹp lạ lùng không kém “Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người; Các ông bỏ cha mình là ông Dê-bê-đê ở lại trên thuyền với những người làm công mà đi theo Người.” Các ông đã mở lòng mình ra để Chúa Giêsu bước vào.

Thật thế, càng ngẫm nghĩ, chúng ta càng thấy rõ giá trị khi chúng ta mau mắn từ bỏ mọi sự để theo Chúa, theo “con đường hẹp” của Chúa. Người môn đệ cần lắm một tấm lòng “dám từ bỏ” và “mau mắn sẵn sàng” khi bước theo Chúa. Theo gương các môn đệ xưa, chúng ta phải hy sinh, phải sẵn sàng trước lời mời gọi của Chúa mỗi ngày dù có muôn vàn khó khăn phía trước. Chúng ta phải từ bỏ mình để dấn thân, không giữ lại gì cho riêng mình nhưng tất cả quy chiếu về chính Chúa, Đấng đã yêu thương và chọn gọi chúng ta làm môn đệ của Ngài. Con đường bước theo Chúa có nhiều niềm vui nhưng cũng không thiếu những khó khăn, thử thách. Vì thế, chúng ta phải trọn niềm phó thác tiến bước giữa bóng đêm của cuộc đời. Tình yêu càng đòi hỏi, càng thêm phó thác và vững mạnh. Chúng ta hãy mạnh dạn bước thêm một bước để đi vào vùng hạnh phúc viên mãn mà Thiên Chúa dành cho chúng ta. Hãy bắt chước các môn đệ xưa, mau mắn và dứt khoát đi theo Chúa Giêsu. Chúng ta hãy bước đi trong sự yêu mến Thiên Chúa và yêu thương mọi người hơn nữa.

            Lạy Chúa Giêsu, trong năm mới này, xin Chúa thêm sức cho chúng con để chúng con mau mắn đáp trả lời mời gọi sống chứng nhân mỗi ngày, mỗi giờ và mỗi phút giây trong cuộc đời để mọi việc chúng con làm, mọi điều chúng con nói đều nhằm mục đích sáng danh Chúa hơn. Amen.

Maria Lan Đặng


Hành Trình nên Một

Tuần lễ từ ngày 18 đến 25 tháng Giêng hàng năm được Giáo Hội dành để cầu nguyện cho sự hiệp nhất các Kitô hữu trên toàn thế giới. Đây là dịp nhắc nhở các Kitô hữu nhận ra rằng vẫn còn tồn tại sự chia rẽ giữa các Kitô hữu và mỗi người chúng ta cần suy ngẫm về những gì xây dựng sự hiệp nhất, dấn thân đấu tranh chống lại áp bức và chia rẽ trong cộng đoàn. Đức Thánh Cha Phanxicô đã mời gọi: “Chúng ta hãy đón nhận mong ước chân thành của Chúa Giêsu muốn chúng ta “nên một” (Ga 17,21) và với ơn của Người, chúng ta hãy tiến đến sự hiệp nhất trọn vẹn.”

Nhìn lại hành trình của các nhà đạo sĩ, ta thấy rõ vẻ đẹp của tình hiệp nhất giữa các dân tộc. Các đạo sĩ được thúc đẩy bởi niềm khắc khoải tìm kiếm Thiên Chúa, họ từ Phương Đông qua Giêrusalem đến Bêlem với tinh thần khiêm nhường, can đảm từ bỏ ý riêng, sống tình huynh đệ và kiên trì cầu nguyện để gặp được Hài Nhi Giêsu và nên một trong tình yêu với Ngài.

Cùng bước đi và hướng nhìn về trời cao

Nhìn lại hành trình của mỗi người, có lẽ chúng ta cũng đi theo ngôi sao của Chúa Giêsu nhưng dễ bị phân tâm bởi ánh sáng chói lọi, lấp lánh của hào quang thế gian. Ta dễ chạy đua, dễ lẩn quẩn trong vòng xoáy cám dỗ tỏa sáng của chính mình, khép mình trong nhóm nhỏ với tinh thần phòng thủ. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy theo Ngài, cùng hướng nhìn lên ngôi sao hy vọng và tiến bước, dù đường đời còn nhiều gập ghềnh chông gai. Chúng ta hãy nên giống như các đạo sĩ cùng mong muốn, cùng nhau bước đi và nâng đỡ nhau trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Các ngài sánh bước với những y phục khác nhau, đại diện cho sự hiệp nhất của các dân tộc trên mọi miền thế giới, không phân biệt sắc tộc hay những truyền thống và kinh nghiệm đức tin. Bởi sự hiệp nhất nên một này khởi đi từ lòng mong muốn hướng về trời cao và cùng nhau bước đi trên mặt đất.

Con đường hiệp nhất

Phương Đông khiến chúng ta liên tưởng đến những Kitô hữu đang sống ở đó hiện nay. Họ đang bị tàn phá bởi chiến tranh và bạo lực. Gần đây nhất chính là cuộc xung đột giữa Palestine và Israel, với cuộc tấn công của lực lượng Hamas từ Gaza và còn rất nhiều cuộc đụng độ khác nữa. Những anh chị em của chúng ta đang phải đối mặt với nhiều thử thách khó khăn, nhưng ngôi sao của Đức Kitô vẫn đang chiếu sáng trong bóng tối. Đức Kitô đã qui tụ chúng ta thành một cộng đoàn, một Giáo Hội mà ở đó mỗi thành viên đều có trách nhiệm với nhau. Chúng ta được mời gọi dành cho nhau lời cầu nguyện, sự hy sinh chân thành. Khi chúng ta cố gắng trở nên hiệp nhất một lòng một ý thì chắc chắn sự bình an của Chúa sẽ hiện diện. Chúa luôn đồng hành và khích lệ từng bước đi của chúng ta tới đích điểm cuối cùng bằng con đường hiệp nhất!

Lòng can đảm khiêm nhường

Nhờ ánh sáng của ngôi sao dẫn dường, các nhà đạo sĩ đã khám phá ra con đường dẫn đến Bêlem để thờ phượng Chúa. Trước Hài Nhi bé nhỏ, họ đã chọn cúi mình trong tình yêu và sự ngưỡng mộ. Họ đã can đảm bỏ lại sự trọng vọng và danh tiếng ở quê nhà, để cúi mình trong ngôi nhà nhỏ bé, nghèo nàn ở Bêlem; nhờ thế họ đã khám phá ra “một niềm vui rất lớn” khi được chiêm ngắm Vị Tân Vương. Chúng ta cũng cần cúi xuống, khiêm tốn mở lòng để Chúa có thể ngự trị trong tâm hồn ta. Có lẽ, đã nhiều lần lòng kiêu hãnh của chúng ta đã trở thành chướng ngại cho sự hiệp thông huynh đệ. Vì thế, chúng ta được mời gọi hãy bỏ lại cái tôi ích kỷ, đơn giản hóa cuộc sống của mình. Chúa muốn chúng ta tin cậy lẫn nhau và cùng nhau bước đi, bất chấp những yếu đuối và tội lỗi, bất chấp sai lầm trong quá khứ và những tổn thương đang có trong lòng chúng ta. Hãy can đảm ra khỏi mình bằng một lối sống khiêm hạ.

Đời sống cầu nguyện

Cuộc hành trình đã trở nên ý nghĩa khi các nhà đạo sĩ bước đi cùng nhau, đến cùng một nhà và cùng thờ lạy Hài Nhi. Đây là hình ảnh đẹp biểu trưng cho đời sống cầu nguyện. Họ đại diện cho mọi dân tộc trên thế giới vẫn hàng ngày hiệp thông với nhau trong đời sống chiệm niệm và thờ phượng. Sự hiệp nhất trọn vẹn, trong cùng một nhà, một cộng đoàn, một Giáo hội chỉ có thể đến nhờ sự thờ lạy và chiêm ngắm Chúa. Chúng ta cần chiêm ngắm Người chứ không phải ngắm nhìn chúng ta; vâng theo ý muốn của Người chứ không phải làm theo ý chúng ta; theo đường lối của Người chứ không phải theo cách thức của chúng ta. Chúng ta được mời gọi đến với Lời của Chúa và đến với tha nhân bằng Lời Ngài soi sáng. Trước mặt Thiên Chúa, dưới ánh sáng của Người chúng ta mới trở nên hiệp nhất trong Người. Chính Chúa Giêsu trong bữa Tiệc Ly đã tha thiết dâng lên Thiên Chúa Cha lời cầu nguyện cho sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu: “Lạy Cha, con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, để họ cùng ở trong chúng ta. Như vậy thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai Con” (Ga 17,20-21).

Khi cầu nguyện cho sự hiệp nhất trong Giáo Hội, chúng ta không quên việc gặp gỡ, động viên nhau, khích lệ nhau trong khi làm việc thiện và cả trong gian nan thử thách vì dịch bệnh, thiên tai, bão lụt…. và để khẳng định Thiên Chúa vẫn ở đó với chúng ta. Bởi Chúa Giêsu đã nói: “Yêu mến nhau là giới răn mới của Thầy, là dấu để nhận ra các môn đệ của Ngài, là vết tích chắc chắn ơn tiền định của chúng ta, là công cuộc chính yếu của mỗi một đời người”.

Lạy Thiên Chúa là ánh sáng không bao giờ tàn lụi, xin soi lòng mở trí để chúng con cùng nhau bước đi trên con đường hiệp nhất trong tình yêu và lòng can đảm; dám biến đổi bản thân, phá bỏ bức tường ngăn cách và sẵn sàng chữa lành vết thương cho nhau. Xin cho chúng con được gặp nhau trong Chúa, hướng về Chúa và nên một trong tình yêu của Ngài. Amen.

Maria Vũ Khánh


Giá Trị Của Xung Đột (17.01.2024 Thứ Tư Tuần II Thường Niên)

Mâu thuẫn, tranh cãi xảy ra một cách tự nhiên khi những hoạt động không tương thích xảy ra, hoặc khi có những ý kiến trái chiều. Chúng có giá trị trong việc làm sáng tỏ niềm tin và nguyên tắc của một người.

Sa-un xung đột với Đa-vít, vì ông ít tin cậy Chúa hơn so với Đa-vít – người tin rằng Chúa sẽ bảo vệ ông khỏi kẻ thù. Tên Phi-li-tinh dựa vào sức mạnh của con người – gươm giáo và sức mạnh của nó, trong khi Đa-vít hành động nhân danh Thiên Chúa (1Sm 17:32-51).

Người Pharisêu tin rằng con người không được chữa bệnh vào ngày Sa-bát, trong khi Chúa Giêsu lại tin ngày Sa-bát là ngày giải thoát. Trong khi Chúa Giêsu quyết định làm một việc tốt và thăng tiến sự sống thì những người Pharisêu bắt đầu bày mưu tìm cách hãm hại Chúa Giêsu (Mc 3:1-6).

Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm


Mang Lại Sự Sống Hơn Là Tuân Thủ Luật Pháp (16.01.2024 Thứ Ba Tuần II Thường Niên)

Thánh Phanxicô Assisi (được coi là “người Công giáo đích thực”) đã không nuốt chửng các quyết định của Công đồng Lateran IV. Một mặt, ngài rất nhiệt tình trong việc thúc đẩy việc canh tân phụng vụ của công đồng đó. Mặt khác, thay vì tham gia vào các chiến dịch chống lại người Hồi giáo, cũng được công đồng uỷ quyền, thánh Phanxicô đã tiến hành đối thoại hòa bình với họ.

Chúa Giêsu rất quen thuộc với luật Do Thái. Đôi khi, Ngài cố tình đi ngược lại những luật lệ tôn giáo vô nhân đạo. Ví dụ, cách giải thích hạn hẹp của người Pharisêu về việc cấm làm việc trong ngày Sa-bát đã cản trở đến trải nghiệm về Thiên Chúa, Đấng nuôi người đói bằng mana. Chúa Giêsu nói: “Ngày Sabát được tạo ra cho loài người, chứ không phải loài người cho ngày Sabát” (Mc 2:27).

“Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng” (1 Sm 16:1-13)

Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm


ĐTC Phanxicô Gặp Các Linh Mục Và Phó Tế Giáo Phận Roma

Gặp gỡ hơn 800 linh mục triều và dòng và các phó tế vĩnh viễn đang làm việc tại giáo phận Roma vào sáng ngày 13/1/2023 tại đền thờ Thánh Gioan Laterano, Đức Thánh Cha kêu gọi họ làm chứng tá đáng tin cậy cho Chúa Kitô và nhắc nhở họ giảng ngắn và trực tiếp.

Cuộc gặp gỡ kéo dài ba tiếng đã diễn ra trong bầu khí đối thoại cởi mở và thân tình. Đức Thánh Cha đã mời các tham dự viên đặt câu hỏi và đã có khoảng 30 câu hỏi đã được nêu lên.

Chứng tá đáng tin cậy của Chúa Kitô

Mô tả giáo phận Roma là một “miền đất truyền giáo”, Đức Thánh Cha nói về sự cần thiết của việc truyền giáo trong bối cảnh ngoại giáo, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc làm chứng tá đáng tin cậy.

Con người được chúc lành

Sau đó, trả lời các câu hỏi về việc chúc lành cho các cặp đồng tính, Đức Thánh Cha nói rằng giáo lý về Bí tích Hôn nhân giữa một người nam và một người nữ không thay đổi và khẳng định rằng con người, chứ không phải tội lỗi, được chúc lành.

Trả lời câu hỏi của một linh mục gốc Châu Phi, Đức Thánh Cha nói rằng văn hóa Châu Phi không chấp nhận những chúc lành này vì có những sự nhạy cảm khác nhau. Ngài nói thêm rằng điều này đã được làm rõ với Đức Hồng Y Fridolin Ambongo, Tổng Giám mục Kinshasa và Chủ tịch SECAM (Hội nghị chuyên đề của các Hội đồng Giám mục Châu Phi và Madagascar).

Đức Thánh Cha nói rằng nhiều người không đọc kỹ các văn bản của Giáo hội. Ngài nhấn mạnh rằng cần phải biết lắng nghe và lưu ý rằng xung đột phải được giải quyết nhưng không được che giấu.

Sau đó, Đức Thánh Cha kêu gọi các linh mục ở Roma hãy luôn tha thứ. “Tôi luôn tha thứ; chúng ta phải luôn có lòng thương xót,” ngài nói.

Phó tế vĩnh viễn phục vụ giữa dân chúng

Về chủ đề các phó tế vĩnh viễn, ngài nói rằng họ phải ở giữa dân chúng, phục vụ những người gặp khó khăn.

Giảng ngắn ngọn và nắm bắt được Lời Chúa

Đức Thánh Cha kết thúc với việc nhắc lại rằng các bài giảng nên ngắn gọn, khoảng 7 đến 8 phút, trực tiếp và phải nắm bắt được tinh thần của Lời Chúa. 

Nguồn: Vatican News


“Lạy Chúa, Này Con Đây; Con Đến Để Làm Theo Thánh Ý Chúa” (14.01.2024 Chúa Nhật II Thường Niên)

Thiên Chúa mời gọi chúng ta cùng cộng tác trong kế hoạch cứu độ của Ngài. Chúng ta đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa theo nhu cầu cầu của hoàn cảnh và năng lực của mình.

Samuen được kêu gọi để bảo vệ một cộng đoàn đang bị đe dọa bên trong lẫn bên ngoài (1Sm 1-20). Các môn đệ đầu tiên được Chúa Giêsu mời gọi đi rao giảng Nước/triều đại của Thiên Chúa. Thánh Phaolô đã rao giảng sự sống mới trong Đức Kitô cho tất cả mọi người. Đối với các tín hữu Cô-rin-tô đang sống vô đạo đức, ngài mời gọi họ “tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác mình” (1Cr 6:20).

Chúng ta nhận ra ơn gọi của mình với sự trợ giúp của những người khác mà họ cho ta về sự khôn ngoan và kinh nghiệm. Samuen được Êli hướng dẫn, còn Anrê được Gioan Tẩy Giả mời đi theo Chiên Thiên Chúa (Ga 1:35-42). Thánh Phaolô đã dành thời gian cầu nguyện và nhận được sự hướng dẫn từ một số Kitô hữu tiên khởi.

Chúng ta sẵn sàng đáp lại: “Lạy Chúa, này con đây; Con đến để làm theo thánh ý Chúa

Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm


Mầu Nhiệm Ơn Gọi – Suy Niệm Chúa Nhật II Thường Niên, Năm B

Ơn gọi là một huyền nhiệm, được khởi đi từ chính Thiên Chúa dành cho con người. Ơn gọi cần sự đáp trả của cả hai trái tim: Chúa mời gọi và con người đáp trả. Ba bài đọc trong Chúa Nhật II hôm nay đã mô tả hành trình ơn gọi của Samuen, những môn đệ đầu tiên và cũng là ơn gọi của mỗi người Kitô hữu.

Ơn gọi của Samuen

Chúa gọi Samuen trong một hoàn cảnh rất bình dị, đó là lúc ông đang ngủ trong đêm. Chúa gọi ông bằng chính tên ông “Samuen”. Cuộc gặp gỡ đầu tiên này dường như không trọn vẹn. Chúa biết Samuen nhưng ông lại không biết Chúa, Chúa gọi ông nhưng ông lại không nhận ra tiếng Chúa. Trước phản ứng của Samuen, Chúa đã đi bước trước trong tình yêu và kiên nhẫn chờ đợi Samuen cho đến khi ông thật sự lắng nghe được tiếng của Ngài. Có lẽ Chúa gọi tên Samuen đến ba lần, Chúa muốn ông nghe cho thật kỹ giọng nói của Chúa để ông sẽ nhạy bén hơn trong những lần gặp gỡ sau này.

Ơn gọi của Samuen không phải tự ông nhận ra nhưng cần sự trợ giúp của Thầy tư tế Êli. Khi Samuen nhận ra tiếng Chúa mời gọi, ông mau mắn đáp lời xin vâng “Lạy Chúa xin hãy phán vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe”. Đây là lời đáp trả đẹp nhất và trọn vẹn nhất trước lời mời gọi của Đấng Tạo Hóa.

Ơn gọi của ba môn đệ đầu tiên

Khởi đầu ơn gọi của Anrê và Gioan qua trung gian là sự giới thiệu của Gioan Tẩy Giả về Chúa Giêsu “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian”. Chắc hẳn ở nơi Chúa có một điều gì đó thật hấp dẫn, lôi cuốn đến nỗi chỉ mới nghe giới thiệu về Chúa thôi, hai ông đã không do dự mà lập tức đi theo Ngài. Hai môn đệ không chỉ dừng lại ở việc “nghe” nhưng các ông đã đi thêm bước nữa đó là “đến và ở lại” với Chúa. Chính nhờ sự khám phá này đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người môn đệ.

Nhờ sự cảm nghiệm sâu sắc của trái tim mà Anrê không ngần ngại giới thiệu cho người em của mình là Phêrô với đầy xác tín “Chúng tôi đã gặp Đấng Messia”. Giả như không có cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, có lẽ các ông đã không nhận ra ơn gọi của đời mình.

Ơn gọi của người Kitô hữu

Mỗi người một hoàn cảnh và một ơn gọi rất khác nhau. Ơn gọi làm con Chúa trong bậc sống hôn nhân gia đình hay ơn gọi tu trì. Ơn gọi nào cũng cao quý miễn sao chúng ta sống tròn đầy ơn gọi mà Chúa mời gọi. Ơn gọi rất riêng tư nên đòi hỏi mỗi người phải nhạy bén với tiếng Chúa qua từng biến cố, hoàn cảnh, qua những trung gian mà Chúa gửi đến trong cuộc đời.

Như Samuen, trong đêm tối, Chúa đã gọi ông. Để lắng nghe được tiếng Chúa, chúng ta cũng cần lắm những giây phút ở lại trò chuyện với Chúa để có thể nhận ra tiếng nói nhẹ nhàng của Chúa giữa bao tiếng gọi trong cuộc sống hằng ngày.

Như các môn đệ đầu tiên đã nhận ra ơn gọi của mình nhờ sự giới thiệu của Gioan Tẩy Giả. Chúng ta cũng cần trân trọng những người đang hiện diện bên cạnh chúng ta, họ có thể là trung gian để giúp chúng ta nhận ra được khuôn mặt của Chúa và lời mời gọi của Ngài.

Và điều quan trọng nhất để chúng ta nhận ra ơn gọi của mình là chúng ta noi gương các môn đệ “đến, xem và ở lại” với Chúa. Mỗi người sẽ có một cảm nghiệm và một dấu ấn rất riêng với Giêsu qua những giây phút được ở lại với Ngài. Chúng ta hãy thử một lần được cảm nghiệm niềm hạnh phúc như các môn đệ, các ngài đã đến với Chúa và quyết tâm từ bỏ tất cả để được bước theo Giêsu.

Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy khám phá ra ơn gọi đời mình ngang qua sự gặp gỡ với Chúa mỗi ngày đồng thời chúng ta cũng hãy giúp người khác gặp được Chúa ngang qua đời sống thường nhật của chúng ta để khuôn mặt của Đức Kitô được tỏ hiện trong thế giới hôm nay.

Lạy Chúa Chúa Giêsu, chúng con đã quá bận rộn cho hành trình cuộc đời mà quên đi điểm dừng chân để nhận ra tiếng Chúa. Xin cho chúng con có những giây phút lắng đọng tâm hồn để ở lại với Chúa, khám phá điều mà Chúa mời gọi. Nhờ đó, chúng con sẽ sống tròn đầy từng giây phút mà Chúa mời gọi.

Maria Thảo An


Theo Đuổi Đến Cùng (13.01.2024 Thứ Bảy Tuần II)

Hai người đàn ông với những phẩm chất trái ngược nhau được kêu gọi thực hiện sứ mạng của Chúa. Sa-un, một thanh niên đẹp trai, được chọn làm vị vua đầu tiên của dân Israel, để cai trị dân Chúa và cứu họ (1Sm 9:1-10:1). Mặt khác, người thu thuế Lê-vi lại bị một số người Do Thái ghét. Những người thu thuế làm việc cho các nhà cai trị nước ngoài, tính thuế cắt cổ và do đó bị coi là tội nhân. Thế nhưng Chúa Giêsu lại mời anh ta làm môn đệ của Ngài (Mc 2:13-17).

Sau này, Sa-un đã suy đồi: ông trở nên ghen tị và chết bi thảm. Trong khi, Lê-vi trở thành tông đồ của Chúa Kitô, ông đã hoán cải. “Sự tương phản cho thấy rằng việc theo đuổi đến cùng cũng quan trọng như thời điểm đưa ra quyết định ban đầu” (Joseph Krempa). Theo đuổi đến cùng đơn giản có nghĩa là tiếp tục đào tạo hoặc hoán cải thường xuyên.

Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm