Hôm qua, ta chiêm ngắm Chúa Giêsu Mục tử Tốt lành. Hôm nay, một hình ảnh khác: Chúa Giêsu là CỬA CHUỒNG CHIÊN! Chiên và những người chăn chiên ra vào qua CỬA này! Kẻ trộm thì trèo lối khác.
Nhưng ‘ra vào qua CỬA’ nghĩa là gì? Nghĩa là được nhìn nhận, được chứng thực là thuộc về Chúa Giêsu, Đấng là Cửa chuồng chiên. Điều này muốn nói cách riêng về các vị mục tử. Có những mục tử mạo danh, tiếm danh (như một số nhóm lạc giáo) tìm cách dẫn dụ các con chiên. Có những mục tử ‘chính danh’ nhưng không đúng chất, nghĩa là thuộc cơ chế Giáo hội nhưng không thuộc về Chúa Giêsu trong tinh thần và trong lối sống của mình. Có những mục tử chính danh và đúng chất, và đây mới thực sự là những mục tử ra vào qua CỬA chuồng chiên để chăm sóc chiên.
Tắt một lời, chỉ những mục tử thuộc về Chúa Giêsu mới là mục tử đúng nghĩa. Mọi mục tử xa lạ với Chúa Giêsu ( = không qua CỬA) đều là những kẻ trộm! Chiên chỉ cần những mục tử chân thực, những mục tử đúng nghĩa thôi, vì chỉ những mục tử ấy mới là hiện thân của Chúa Giêsu, mới giúp cho chiên sống và sống dồi dào…
Vậy thì, câu hỏi còn lại cho các mục tử là: Tôi là mục tử của đoàn chiên Chúa Giêsu, nhưng tôi có thuộc về Chúa Giêsu không, hay tôi xa lạ với Người?
Nhiều khi chúng ta tưởng mình thuộc về Chúa Giêsu, nhưng sự thật thì không phải vậy. Một ví dụ: “Khi Phêrô lên Giêrusalem, các người đã chịu cắt bì trách móc người rằng: ‘Tại sao ngài vào nhà những kẻ không chịu cắt bì và ăn uống với họ?’” Bạn nghĩ trong chuyện này ai thuộc về Chúa Giêsu? Phê rô hay những người chịu cắt bì đang trách móc Phê rô?
Thế đấy, đôi khi chúng ta thuộc về truyền thống, chúng ta bảo thủ cực đoan, chúng ta xây lô cốt và loại trừ người khác, chứ không phải chúng ta thuộc về Chúa Giêsu! Bởi vì Thánh Thần của Chúa Giêsu đã dạy cho Phê rô rằng “Vật gì Thiên Chúa cho là sạch, ngươi đừng nói là dơ nhớp”.
Chính Phê rô cũng đã trả giá đắt để học được bài học ấy. Mọi người trong Giáo hội hôm nay, nhất là các mục tử, đừng tưởng bở… Đừng tưởng mình là cửa chuồng chiên, chỉ Chúa Giêsu Ki tô mới là CỬA chuồng chiên thôi!
Lm. Lê Công Đức
Mục tử nhân lành Giêsu
Hy sinh mạng sống vì đoàn chiên yêu
Đồng xanh tươi mát phì nhiêu
Ngài dắt chiên đến nghỉ ngơi sớm chiều.
Làm thuê sẽ không dám liều
Kẻ thù tiến đến bỏ chiên cứu mình.
Ta là Mục Tử tốt lành
Chăm sóc chiên nhỏ dẫn đàn chiên to
Ra vào cánh cửa chẳng lo
Gọi từng con một không quên tên nào
Còn bao chiên lạc xa đàn
Ngày đêm tìm kiếm đưa chiên trở về
Xót xa lòng vẫn nặng nề
Ước chiên một chủ, một ràn mà thôi.
Giêsu Mục Tử Chúa ơi
Xin ban ân sủng cho linh mục đoàn
Trở nên gương sáng mọi đàng
Chăm đoàn chiên nhỏ vững vàng đức tin
Đoàn chiên an mạnh mới yên
Kiên tâm khiêm tốn lắng nghe Lời mời.
Sống trong Hội Thánh Chúa Trời
Hiệp hành tiến bước Thiên Đường muôn nơi.
Têrêsa Nguyễn Hảo
Tu là gì? Tại sao lại đi tu? Sẽ còn muôn vàn câu hỏi được đặt ra cho người được thánh hiến cho Thiên Chúa. Có lẽ, ta không thể trả lời cách thỏa đáng vì ơn gọi thánh hiến là mầu nhiệm, chỉ có ai “đến” và “xem” mới khám phá được nét đẹp thâm sâu của đời sống tu trì.
Hàng năm, cứ vào Chúa Nhật IV Phục sinh, Giáo Hội dành riêng ngày đó để cầu nguyện cho ơn gọi, những người đã và đang bước theo Chúa trong ơn gọi thánh hiến. Họ là những người được thánh hiến cho Thiên Chúa để thông dự vào tinh thần trung gian của Đức Kitô và tiếp nối sứ mạng của Người. (Đức Cha Lambert de la Motte)
Thuật ngữ “Thánh” trong Kinh Thánh mang ý nghĩa thuộc về Thiên Chúa, tách ra khỏi những gì phàm tục, do đó những gì và những ai thuộc về Thiên Chúa thì được gọi là Thánh. Vì thế, khi hiểu người thánh hiến bước theo Đức Giêsu “Se quela Christi” thì toàn bộ đời sống của họ tách ra khỏi những gì phàm tục, tội lỗi để dấn thâm sâu hơn vào tương quan với Thiên Chúa.
Ngày cổ võ cho ơn gọi thánh hiến, chúng ta được mời gọi nhìn lại hành trình ơn gọi theo Chúa, đồng thời hướng về những tâm hồn đang thiện chí đang khao khát bước theo Chúa trong tiếng gọi của Ngài: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít” (Lc 10,2). Ơn gọi thánh hiến bước theo sát Chúa Kitô xuất phát từ sáng kiến của Thiên Chúa, Người gọi và chọn do ý muốn của Người (x.Mc 3,13). Do đó, người thánh hiến bước theo Chúa luôn ý thức rằng: “không phải anh em đã chọn Thầy nhưng chính Thầy đã chọn anh em” (x. Ga 15,16). Từ đó, người thánh hiến luôn trân trọng hồng ân quý báu này. Họ luôn mở lòng ra để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn, giúp cho đời sống của họ: “Tôi sống không phải là tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20), nhờ đó trong trái tim người sống đời thánh hiến chỉ mang trong mình những thao thức lời rao giảng của Chúa Giêsu: “Hãy sám hối và Tin vào Tin mừng” (Mc 1,14), sẽ được thực hiện hóa trong thế giới hôm nay.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói: “Không say mê Đức Giêsu, sẽ không có tương lai cho đời sống thánh hiến”. Quả thật, đời sống thánh hiến hôm nay đang mang nhiều thách đố, với muôn vàn thử thách trước xã hội đang phát triển, nhu cầu vật chất càng cao, sự tự do cá nhân, sự tự do hưởng thụ đang ngự trị trong tâm hồn. Để từ bỏ điều này và bước theo sát Chúa Kitô đòi hỏi người thánh hiến phải say mê Đức Giêsu, và có đời sống cầu nguyện, chỉ có cầu nguyện người thánh hiến mới nghe được tiếng Chúa, sẵn sàng thực thi sứ mạng của Người và loại bỏ những gì là phàm tục để chỉ sống cho Chúa. Niềm say mê Đức Giêsu là động lực thúc đẩy người thánh hiến hăng say sống giá trị Tin Mừng, trở nên chứng tá sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dòng đời hôm nay.
Trong sứ điệp ngày thế giới cầu nguyện cho ơn gọi năm 2024, Đức Giáo Hoàng Phanxicô kêu gọi những người sống đời thánh hiến trở nên người gieo hy vọng và xây dựng hòa bình dựa trên nền tảng là Đức Kitô Phục sinh. Ước gì, ngày thế giới cầu nguyện cho ơn gọi thiên triệu, những người thánh hiến được mời gọi tháp nhập đời mình trong thân thể Đức Kitô, can đảm lao mình về phía trước, bước vào trong cánh đồng bao la của Chúa, trở nên những lưới người như lưới cá (x.Mc 1,17), gieo rắc niềm hy vọng cho những ai đang gặp đau khổ và xây dựng mối tương quan hòa bình trong thế giới hôm nay.
Maria Phạm Trang
Khi lãnh nhận bí tích rửa tội, chúng ta trở thành một Kitô hữu, cùng tham gia vào ba chức vụ tư tế, ngôn sứ, vương đế của Đức Kitô. Đức Giêsu chính là tư tế thánh thiện khi hiến mình làm của lễ sống động và đẹp lòng Thiên Chúa. Đức Giêsu là ngôn sứ cao cả bởi vì Ngài không những nói Lời Chúa với chúng ta mà còn chính là Lời Thiên Chúa, là Ngôi Lời mặc lấy xác phàm. Đức Giêsu là vương đế hay nói cách gần gũi là mục tử nhân lành, Đấng quy tụ đoàn chiên, hướng dẫn và chăm sóc từng con một.
Thật vậy, người mục tử nhân lành quy tụ, chăn dắt, bảo vệ và chăm sóc đoàn chiên. Nhờ có người mục tử nên các con chiên được thuộc về một đàn chiên. Người mục tử không đòi hỏi mọi con chiên phải giống nhau, hay theo một tiêu chuẩn nào nhưng xuất phát từ tình yêu thương. Người mục tử nhân lành không chỉ dừng ở nhận biết bên ngoài mà cả tâm tình bên trong; không chỉ biết nhu cầu nhưng còn biết cả ước muốn của chúng; không chỉ biết ở một điểm nhưng biết cả một hành trình của từng con; không chỉ nhìn thấy mà là đụng chạm và gặp gỡ từng cá vị. Hơn hết, người mục tử nhân lành không chỉ là hy sinh thời gian, sức lực mà hy sinh chính mạng sống là tất cả cho đoàn chiên.
Ngày nay, để sống chức vụ mục tử trong đời sống, chúng ta cần biết hy sinh cho nhau, yêu nhau hơn những thứ vật chất; biết quan tâm, không chỉ sống với nhau nhưng là sống cùng nhau, có những cuộc gặp gỡ và chia sẻ, cảm thông, thấu hiểu và tạo bình an cho nhau.
Lạy Chúa Giêsu, cám ơn Chúa là Mục Tử Nhân Lành đã hy sinh mạng sống cho chúng con. Ngài còn quy tụ chúng con trong Hội Thánh và ban cho chúng con những ân sủng cần thiết cho đời sống. Xin cho chúng con sống tinh thần phục sinh khi sống tâm tình đàn chiên của Chúa và với nhau. Chúng con cũng dâng lên Chúa những vị mục tử thừa tác để các ngài được theo Chúa và trở thành gương mẫu cho đàn chiên.
Têrêsa Mỹ Lan
“Lời này chói tai quá! Ai nghe được!”
Lời nào vậy? Chính là lời Chúa Giêsu nói rằng thịt Người là của ăn và máu Người là của uống. Nghĩa là tình yêu … đến mức trao ban chính mình! Nhiều người nghe chói tai và đã bỏ đi. Có thể họ dị ứng khi nghe về ăn thịt và uống máu của Giêsu. Cũng có thể họ không hiểu khi Giêsu xả thân đến mức ấy… Các môn đệ khẳng định không bỏ đi, mà vẫn chọn theo Thầy, đi theo vị Thầy yêu thương đến mức trao hết, cho hết như thế…
Thầy trao hết, cho hết. Trò không chỉ nhận hết, mà còn học với Thầy để cũng trao hết, cho hết như chính Thầy… Trao hết, cho hết, đó là hết mức, không còn giữ lại gì, ngay cả sự sống của chính mình!
Ta thấy cái qui mô (hay kích thước) này của đức ái Ki tô giáo thật là… khủng khiếp. Ta thấy cái ‘đạo’ mà mình theo thật là thách thức, chứ không dễ dãi một chút nào. Móc tiền trong túi ra chia sẻ cho người nghèo, hay dành một phần thời gian, sức lực của mình để quan tâm đến họ – điều này thật tốt, nhưng vẫn còn tương đối dễ, và nhất là nó vẫn có thể chưa được định hướng trao hết, cho hết. Còn lên tiếng chất vấn tại sao người ta nghèo khổ như thế, nhận diện nguyên nhân và nỗ lực làm cho nguyên nhân ấy phải bị loại trừ, thì điều này thách đố hơn và thường là nguy hiểm cho mình hơn rất nhiều.
Chính trong tinh thần này mà Đức thánh cha Phan xi cô đã nói về ‘bác ái chính trị’ (x. Thông điệp Fratelli tutti, 180-197). Ngài giải thích: “Nếu một người nào đó giúp một cụ già lội qua một con sông, đó là một hành động bác ái tốt đẹp. Đàng khác, các chính khách xây dựng những cây cầu, thì đó cũng là một hành động bác ái. Trong khi một người có thể giúp một kẻ khác bằng cách chia sẻ cái gì đó để ăn, thì các chính khách tạo ra việc làm cho người kia, và như vậy là đang thực hành một hình thức bác ái cao độ…”
Trong Tông thư Patris corde cũng của Đức thánh cha Phan xi cô, ta đọc thấy câu này: “Thế giới chúng ta không cần những kẻ nhập nhằng lẫn lộn giữa quyền bính và cường quyền, giữa PHỤC VỤ VÀ NÔ DỊCH, giữa thảo luận và áp chế, giữa TỪ THIỆN VÀ NÃO TRẠNG Ỷ LẠI, giữa sức mạnh và sức hủy diệt.” Hãy để ý hai chỗ nhấn mạnh (font chữ in lớn ở trên) có thể được giải thích như sau: Việc phục vụ và từ thiện phải khác với việc ‘nô lệ hoá’ người ta, khác với việc làm cho người ta mang não trạng ỷ lại! Nói cách khác, bạn quảng đại thi ân cho người nhưng bạn không mảy may ràng buộc người bằng ân nghĩa, và không biến người ta thành lệ thuộc và thụ động.
Vì ràng buộc người bằng ân nghĩa, thì đó là thu vén cách tinh vi nhất chứ đâu phải trao đi, càng không phải là trao hết và cho hết! Muốn biết trao hết và cho hết thì thế nào, ta hãy nhìn Đấng chịu đóng đinh trên Thánh giá. Phê rô, người từng thưa rằng “Bỏ Thầy con biết theo ai”, không dừng lại với một số việc ‘từ thiện’, ngay cả những phép lạ thi ân giáng phúc (như thấy trong Bài đọc sách Công vụ hôm nay), mà đã đi theo Thầy cho tới… thập giá!
Giáo hội ở đất nước chúng ta cố gắng làm rất nhiều việc từ thiện, cứu giúp người ngặt nghèo. Nhưng chỉ từ thiện thôi thì chưa đủ – thậm chí nhiều khi vô tình góp phần ‘tạo điều kiện’ cho sự bất công và bóc lột. Thiết tưởng Giáo hội cần có những nỗ lực xa hơn, sâu hơn, dù nguy hiểm cho sự an toàn của mình hơn.
Lm. Lê Công Đức
“Người này là lợi khí Ta đã chọn, để mang danh Ta đến trước mặt các dân tộc”. Lời Chúa nói với Anania về Sao lô sau biến cố ngã ngựa như thế.
Ta thấy gì? Thấy Phao lô là một kẻ bách hại khét tiếng, bỗng ngã uỵch một phát, và trở thành một Tông Đồ lừng lẫy, một ngôi sao sáng rực trong sứ mạng loan báo Tin Mừng! Ta thấy các Tông Đồ kia, kể cả Phê rô, đã từng theo Chúa bao năm, số má ‘quá trình’ dày cộm, nhưng cuối cùng xem chừng không sánh nổi với một Phao lô chỉ mới biết Chúa rất muộn màng, như ‘đứa trẻ sinh non’! Thật lạ!
Kế hoạch của Thiên Chúa có nhiều bất ngờ đối với cách nghĩ suy của con người. Có những thợ làm vườn nho ngay từ sáng sớm, nhưng cũng có những thợ mới đến vào giờ thứ mười một, mà không kém cả về sự cống hiến lẫn tầm quan trọng. Nhưng nói cho cùng, trong cộng đoàn môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu không có sự so sánh hơn thua hay ganh tị… Bởi tất cả chỉ phục vụ một công cuộc sứ mạng duy nhất của Thầy và Chúa của mình!
Vả chăng, tầm quan trọng của Phao lô không gắn với những thứ bã vinh hoa phàm trần, mà gắn với truân chuyên và khổ nạn. “Ta sẽ tỏ cho nó biết phải chịu nhiều đau khổ vì danh Ta” – Chúa còn nói với Anania về Sao lô như thế. Và quả thật, Phao lô không thua kém vị Tông Đồ nào về ‘thành tích’ gian nan khốn khó trong hành trình rao giảng Tin Mừng.
Ơn hoán cải mà Phao lô nhận được là điều để ta chiêm ngưỡng hơn là phân tích. Tuy nhiên, vẫn có thể trộm nghĩ về một thứ ‘lôgic’ nào đó trong câu chuyện hoán cải ngoạn mục này: Trước và sau biến cố ngã ngựa (hoán cải), Phao lô vẫn là một con người với cảm thức tâm linh sâu đậm, chỉ khác là từ lầm lạc chuyển sang đường ngay nẻo chính mà thôi. Ta sẽ khó – vô cùng khó – để hình dung, chẳng hạn, một con người đầy tham lam tiền tài và danh vọng, dục vọng, và không có cảm thức tâm linh, bỗng dưng được biến đổi trở thành con người tâm linh sâu sắc với nhiệt tâm tông đồ cháy bỏng như thánh Phao lô…
Nghĩa là, trong khi ân sủng của Thiên Chúa là ân sủng vạn năng và hoàn toàn ‘nhưng không’, thì ân sủng ấy cũng giả thiết tự nhiên nữa! Vì thế, cảm thức tâm linh nơi mỗi người chúng ta thật quan trọng biết bao!
Cảm thức tâm linh ấy, ở mức phôi thai nhất, là ‘thiện chí’ – như ta vẫn cầu xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn ‘mọi người thiện chí’ dù họ chưa biết Chúa Giêsu Ki tô… Còn ở mức trọn vẹn nhất, thì cảm thức tâm linh ấy là của những con người kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu, được Người chiếm hữu hoàn toàn, không còn là mình sống nữa, mà là chính Chúa Giêsu Kitô sống trong mình – như kinh nghiệm của thánh Phao lô.
Chúng ta ‘ăn uống Chúa’ hằng ngày (hay hằng tuần) chính là để diễn tả khát vọng về sự kết hợp mật thiết ấy.
Lm. Lê Công Đức
Những ngày qua, chúng ta thấy rất rõ trung tâm của sứ điệp Tin Mừng là ‘hãy tin vào Chúa Giêsu Ki tô’! Tôi viết đi viết lại về điều này xem ra dễ gây… nhàm. Vì thế mà số like giảm xuống!? Nhưng biết làm sao hơn, vì đó là trung tâm của lời rao giảng Kitô giáo cơ mà! Quả thật, để ‘thích’ sứ điệp này một cách chân thành, chúng ta cần đến Thánh Thần, chứ không tự mình mà ‘like’ được đâu…
Như lời Chúa Giêsu nói hôm nay: “Không ai đến được với Ta, nếu Cha, là Ðấng sai Ta, không lôi kéo kẻ ấy”. Chúa Cha lôi kéo, đó là cách nói về hành động của Thánh Thần. Chúng ta cần sự lôi kéo này trong lòng mình. Chúng ta phải kêu xin Chúa Thánh Thần lôi kéo mình.
Nếu bạn đọc kỹ những chương sách Công vụ Tông đồ, bạn sẽ nhận ra hành động của Thánh Thần rất rõ. Các Tông đồ được thôi thúc bởi Thánh Thần, đôi khi các ngài có một kế hoạch hay sự phân công không phù hợp, thì Thánh Thần sẽ nhắc để chỉnh sửa lại, rất cụ thể.
Chuyện của Philipphe và viên thái giám của Nữ hoàng Êthiopia là một ví dụ rất tiêu biểu về hành động của Thánh Thần như vậy. Thánh Thần bảo Philipphe chỗi dậy, ra đi. Rồi Thánh Thần bảo ông đuổi cho kịp xe của viên quan thái giám. Cuộc chuyện kết thúc mỹ mãn, Thánh Thần đã đưa Philipphe đi khỏi, và người ta thấy ông hiện diện ở một nơi khác…
Chúng ta không lạ, vì đây là thời của Thánh Thần kia mà. Nhưng chúng ta có thể băn khoăn, liệu thời nay, thời của chúng ta đây, Thánh Thần có còn đồng hành và can thiệp cách ngoạn mục như vậy nữa không?
Vẫn còn, vẫn có chứ! Ai, nếu không phải Thánh Thần, đã thúc đẩy và dẫn dắt toàn thể Giáo hội trong tiến trình Thượng Hội đồng về ‘đồng hành đồng nghị’ (hay ‘hiệp hành’) đang diễn ra? Ai, nếu không phải Thánh Thần, vẫn không ngừng nâng đỡ đời sống và sứ mạng của Giáo hội? Trong đời sống đức tin của cá nhân mỗi người chúng ta cũng thế, chỉ cần biết chiêm niệm, hồi tâm, mỗi chúng ta sẽ nhận ra biết bao sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần trong cuộc đời mình…
Điều quan trọng, đó là hãy để cho Chúa Thánh Thần thúc đẩy và dẫn dắt.
Lm. Lê Công Đức
Chúa Giêsu nói về chính Người là bánh ban sự sống, là nước thoả cơn khát vĩnh viễn, là Đấng được Cha sai đến từ trời, để ai thấy và tin thì có sự sống đời đời.
Thế nhưng khổ nỗi, Chúa phải thở dài thốt lên: “Các ngươi đã thấy Ta, nhưng các ngươi không chịu tin!”
Thế là cứ đói cứ khát, ngay tại nguồn thức ăn và nguồn nước uống… Cứ nghèo mạt, ngay trên kho tàng… Chỉ vì không tin! Rõ ràng, sự khác biệt nằm ở chỗ TIN hay KHÔNG TIN vào Chúa Giêsu Ki tô. Bạn đang bế tắc, khốn khổ, sống không bằng chết phải không? Bạn tuyệt vọng hoàn toàn, phải không? Vậy, hỏi thật, bạn có tin vào Chúa Giêsu ngay trong hoàn cảnh này của mình không? …
Tin vào Chúa Giêsu, vì thế, còn quan trọng hơn cả sự sống hay sự chết trên cõi đời này nữa. Và đó là lý do tại sao việc rao giảng Chúa Giêsu Ki tô là tuyệt đối khẩn thiết. Không có người rao giảng, làm sao người ta nghe – và không nghe, làm sao người ta tin!?
Tất cả điều nói trên giúp ta hiểu câu chuyện ‘có vẻ’ rất kỳ lạ trong sách Công vụ (8,1-8). Hội Thánh bị bách hại dữ tợn ở Giêrusalem… thì mọi người chạy tứ tán… Một số chạy về Samaria, trong đó có phó tế Philipphe… Nhưng chạy đi đâu cũng rao giảng… và tiếp tục làm phép lạ thi ân giáng phúc cho người ta… Thế là, như trong trường hợp của Philipphe, làm cho “cả thành được vui mừng khôn tả”! Chỉ một trình thuật ngắn về một câu chuyện duy nhất, mà đầu thì “bị bách hại dữ tợn”, còn đuôi thì “vui mừng khôn tả”!
Không gì có thể giải thích được điều ấy ngoài sứ mạng rao giảng một cách bất khuất của người môn đệ thừa sai. Và không gì có thể làm ngừng sứ mạng rao giảng ấy, bởi vì lúc nào và ở đâu cũng cần giúp cho người ta nghe, để tin vào Chúa Giêsu Ki tô.
Chúng ta tự hỏi, ngày nay có còn cần tin vào Chúa Giêsu nữa không? Và do đó, có còn cần rao giảng như ngày trước nữa không?
Lm. Lê Công Đức
Đọc kỹ câu chuyện cái chết của Tê pha nô, ta thấy rõ sự tương phản giữa hung dữ và hiền lành. Những người Do thái thật hung dữ. “Họ phát điên lên trong lòng, và họ nghiến răng phản đối Têphanô… Họ lớn tiếng kêu la và bịt tai lại, và họ nhất tề xông vào ông. Khi lôi ông ra ngoài thành, họ ném đá ông”. Như những con thú dữ vồ mồi!
Trong khi đó, con mồi là Tê pha nô thì nhẹ nhàng, khoan thai cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, xin đón nhận linh hồn con… Lạy Chúa, xin đừng trách họ về tội lỗi này”. Rồi Tê pha nô an giấc trong Chúa…
Bạn nghĩ xem, ai là người mạnh, thật sự mạnh trong câu chuyện này? Và ai là kẻ yếu, thật sự yếu? Có phải bạo lực là mạnh? Hung hăng là mạnh? Không. Chính người nói ‘không’ với bạo lực, kể cả thứ bạo lực của tư tưởng, lời nói… mới là người thực sự mạnh! Chính là người hút lấy tất cả bạo lực mà người ta trút lên mình, và hoá giải nó bằng thái độ phi bạo lực và bằng tình yêu… mới thực sự mạnh. Như Chúa Giêsu trên thập giá! Và như Tê pha nô bị ném đá đến chết! Vẫn cảm thông và chân thành cầu nguyện cho những kẻ chống lại mình!…
Chúng ta ngao ngán vì thế giới của mình hiện nay quá nhiều bạo lực… Chiến tranh ở Ucraina còn tàn phá và giết chóc dai dẳng, chưa thấy dấu hiệu lắng xuống… thì nhiều nơi khác bom đạn xôn xao lên tiếng, như ở Myanmar, Nam Sudan, và nhất là Trung Đông với cuộc đối đầu giữa Israel và Hamas, giữa Israel và Iran trong những ngày này… làm mọi người phải nơm nớp lo sợ! Nhưng chiến tranh phát xuất từ đâu? Từ xung đột và bạo lực ở trong lòng con người! Nghĩa là, bất cứ khi nào tôi ấp ủ thái độ bạo lực, tôi nuôi dưỡng xung đột thay vì xây dựng hoà bình với những con người xung quanh mình, bất cứ khi nào tôi nghĩ hay nói điều sân si oán hận, thì đó là tôi đang kích hoạt ngòi nổ chiến tranh, làm cho thế giới này càng chìm lỉm trong chiến tranh hơn nữa!
Lời chúc bình an của Chúa Phục sinh dường như trở thành trò cười vô duyên trong một thế giới in đậm dấu phân hoá và hận thù. Là các môn đệ của Chúa Phục sinh, chúng ta phải nỗ lực làm cho sự bình an của Chúa thành hiện thực. Không có cách nào khác ngoài việc cho phép Thánh Thần của Chúa chiếm lấy mình, đặc biệt qua việc hấp thu Lời của Chúa và ăn Bánh Bởi Trời là chính Chúa!
Phúc cho ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa!
Lm. Lê Công Đức
Chúa đã hoá bánh ra nhiều, nuôi dân qua bữa ngặt tại nơi không có gì để ăn.
Và ‘kết quả’ là nhiều, rất nhiều người bị ‘cuốn’ bởi bánh hoá ra nhiều rất ngoạn mục đó. Họ chỉ thấy bánh, chỉ thèm bánh, và chỉ tìm bánh chứ không tìm gì khác! Họ tìm Chúa Giêsu, nhưng không phải vì Chúa Giêsu, mà chỉ vì bánh thôi! …
Thật là lạc xa điều Chúa Giêsu mong muốn, nên Người nói thẳng để nhắc nhở họ: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, các ngươi tìm ta … vì các ngươi đã được ăn bánh no nê. Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống đời đời, là của ăn Con Người sẽ ban cho các ngươi”.
Đám đông này nói cho cùng là khá dễ thương, ở chỗ bị chạm tim đen như thế nhưng không quá tự ái, mà đơn sơ bày tỏ thiện chí của mình: “Vậy chúng tôi phải làm gì đây?” Và câu trả lời của Chúa Giêsu: “Hãy tin vào Đấng mà Thiên Chúa sai đến!”
Nghĩa là hãy tin vào Giêsu Ki tô! Đây là sứ điệp, là lời kêu gọi xuyên suốt sứ vụ của Chúa Giêsu… cho đến sau khi Người chịu chết và sống lại, sứ điệp vẫn là như vậy chứ không khác. Lời rao giảng tiên khởi (kerygma) của các Tông đồ không nhằm kêu gọi gì khác ngoài việc TIN VÀO CHÚA GIÊSU KI TÔ!
Tin vào Chúa Giêsu Ki tô, đó là điều thiết yếu hơn tất cả, có tầm quyết định tất cả. Tin vào Chúa Giêsu Ki tô, dù ta có được hưởng lộc ‘bánh’ hay không, dù đời sống ta gặp thuận lợi hay trắc trở. Và tin vào Chúa Giêsu Ki tô, cho dù vì tin và làm chứng như vậy mà phải bị ngược đãi, ngay cả bị giết chết bởi những người không tin – như câu chuyện bi tráng của phó tế Tê pha nô!
Vừa qua, Tổng giám mục Paul R. Gallagher gặp gỡ và nói chuyện với các chủng sinh Đcv Huế, cũng đã trao một ấn tượng đậm nét về chính niềm tin và sự gắn bó căn bản này: tin vào Chúa Giêsu Ki tô! Là một nhà ngoại giao thường xuyên gặp gỡ giao tiếp với ‘người ngoài’ bằng những phong cách ngôn ngữ qui ước của ngoại giao, nhưng khi về lại ‘trong nhà’, ngài nói chuyện với thế hệ ứng viên linh mục bằng cách say sưa lặp đi lặp lại về mối tương quan với Chúa Giêsu Ki tô! Một huấn từ về linh đạo linh mục, cách riêng trong khung cảnh đào tạo!
‘Tin vào Chúa Giêsu Ki tô’ là lời kêu gọi của Gioan Tẩy giả (bài Tin Mừng) và của Tê pha nô (bài sách Công vụ). Hai vị đã sống theo niềm tin này. Và hai vị cũng đã chết những cái chết theo mô típ cái chết của chính Chúa Giêsu!
Chúa biết chúng ta dễ bị cám dỗ cần bánh hơn cần chính Người, nên Người đã quyết định trở nên BÁNH, bánh ‘viết hoa’, bánh sự sống đời đời… để ta nhớ rằng trước hết mình cần chính Chúa!
Lm. Lê Công Đức