Bị đánh đòn nhừ tử rồi bị tống ngục, lại là giam vào ngục sâu nhất, còng chân hẳn hoi… như những tù nhân đặc biệt nguy hiểm… thế mà Phao lô và Sila vẫn cất tiếng cầu nguyện ca tụng Thiên Chúa, làm cả nhà tù đều chăm chú lắng nghe!
Chưa hết, kịch tính là lúc đó bỗng xảy ra trận động đất, làm rung chuyển tất cả. Xiềng xích gông cùm của hai tù nhân đặc biệt nguy hiểm này cũng ‘bung toang’ hết, và các lớp cửa ngục đều mở toang hoác… Người cai ngục giật mình nhận thấy mọi sự, hoảng quá, toan tự tử, vì không chu toàn phận sự như vậy thì chỉ có chết thôi!
Song đó vẫn chưa là kịch tính đáng kể. Điều đáng kể là hai tù nhân ‘đặc biệt nguy hiểm’ kia vẫn còn nguyên đó, dù chẳng còn gì trói buộc và giam giữ họ nữa. Chính họ, tức Phao lô và Sila, đã kịp thời can gián viên cai ngục: Đừng làm bậy mà tự hại mình; chúng tôi vẫn còn ở đây mà!
Và đỉnh điểm của kịch tính, đó là chính người cai ngục đã dẫn hai Tông đồ thoát ra khỏi nơi ấy, đưa về nhà, cùng với cả nhà nghe giảng, rồi tin vào Chúa Giêsu, và lãnh Phép Rửa! Câu chuyện nhiều tầng nhiều lớp kịch tính này gợi cho ta thấy rằng: Đối với quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa, thì quyền lực và sức mạnh của con người chỉ như bong bóng xà phòng, chỉ là trò trẻ con… Và nhất là, câu chuyện ấy cho thấy Chúa dùng sức mạnh không phải trước hết nhắm giải cứu các Tông đồ của Ngài, dù sự giải cứu ấy có xảy ra – mà mục tiêu quan trọng đệ nhất chính là để hỗ trợ cho lời rao giảng Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô: -Thưa các ngài, tôi phải làm gì để được cứu thoát? -Hãy tin vào Chúa Giêsu, thì anh và cả nhà anh sẽ được cứu độ.
Tất cả quyền năng và sức mạnh rất ngoạn mục nói trên của Thiên Chúa được thể hiện bởi Thánh Thần, Đấng Phù Trợ, Đấng mà Chúa Giêsu nói Thầy đi thì có lợi cho anh em, vì anh em sẽ được ban Đấng ấy cho… Đấng Phù Trợ thật xứng danh là “Đấng Phù Trợ”, vì Ngài mạnh khủng khiếp!
Nhiều khi người ta bông đùa rằng dựa vào chính lời Chúa Giêsu tuyên bố trên đây, thì Thánh Thần quan trọng hơn Chúa Giêsu! Nhưng đó chỉ là ‘nói cho vui’, còn thực tế thì Lễ Hiện Xuống, với quà tặng Thánh Thần, chính là hoa trái thu được từ toàn bộ mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô, chứ không phải là một công cuộc khác!
Lm. Lê Công Đức
Những tuần lễ ở giai đoạn cuối mùa Phục sinh, phụng vụ Lời Chúa thường xuyên đề cập đến Chúa Thánh Thần. Bởi vì chính Chúa Giêsu, vào thời khắc sắp bước vào mầu nhiệm Vượt Qua của Người, đã nhìn thấy và báo trước vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc nối tiếp và hoàn thành sứ mạng mà Người chuyển trao! Lễ Hiện Xuống không phải là chân trời, là điểm tới, của tất cả mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô đó sao?
Cho các môn đệ Chúa Giêsu, Chúa Thánh Thần là Đấng Phù Trợ và là Thần Chân Lý. Cùng với các môn đệ Chúa Giêsu, Chúa Thánh Thần là Đấng làm chứng về Chúa Giêsu. Ta hiểu tại sao trong các trang sách Công vụ kể về cộng đoàn tín hữu sơ khai và về việc rao giảng của các Tông đồ, Chúa Thánh Thần được thấy thường xuyên tác động, thúc đẩy, dẫn dắt và đồng hành…
Như trong trình thuật của sách Công vụ hôm nay, Phao lô và các bạn đồng hành có mặt tại Philippe vùng Macedonia, đó chính là do Thánh Thần thúc đẩy đến đó để rao giảng. Phao lô giảng cho một nhóm phụ nữ, thì một người trong số họ là bà Lydia, một tiểu thương buôn bán vải, được Thánh Thần soi lòng mở trí cách đặc biệt để lắng nghe. Bà và cả gia đình lãnh Phép Rửa, và đã góp phần vào công cuộc sứ mạng trước hết bằng việc cố nài các Tông đồ đến ngụ tại nhà mình…
Như vậy, đời tông đồ có đủ các cung bậc. Có thử thách gian truân, như Chúa Giêsu đã báo trước mà không giấu giếm! Nhưng cũng có những sự đồng cảm và an ủi từ tấm lòng tử tế của các tín hữu đạo đức chân thành, như bà Lydia và gia đình!… Có sáng và tối, có thăng và trầm – xoay vần luân chuyển…
Nhưng một điều luôn luôn có, dù vô hình nhưng rất chắc chắn, vì đã được chính thức ban cho. Đó là sự hiện diện và hoạt động của Thánh Thần.
Lạy Chúa, xin đổ tràn Thánh Thần trên chúng con. Amen.
Lm. Lê Công Đức
Tự lúc nào đã lâu lắm rồi, đối với người Do thái, nói chung có hai thế giới, hai loại người, đó là: người Do thái và các dân ngoại. Người Do thái được Thiên Chúa ưu tiên tuyển chọn, được tách riêng ra, và được hứa ơn cứu độ. Còn các dân ngoại thì bị loại ra ngoài, không có ‘tuổi’ gì để sánh được với người Do thái! Sự phân biệt ấy là cái gì đương nhiên, là một thứ trật tự tất định rồi, miễn chất vấn.
Nhưng rồi với sự xuất hiện của Chúa Giêsu, nhất là với biến cố Phục sinh của Người và biến cố Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, thì BIG BANG đã xảy ra. Không còn hai thế giới, hai loại người phân biệt nữa, mà chỉ có một mà thôi. Tất cả các dân ngoại đều được bao gồm trong tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, qua mầu nhiệm Chúa Giêsu Ki tô, nhờ quà tặng Thánh Thần. Thậm chí người Do thái nếu cứng cỏi cố chấp, thì sẽ tự loại mình ra ngoài!
Điều này gây ngạc nhiên lắm cho mọi người, ngay cả cho các Tông đồ, ngay cả cho Phê rô, vì nó mới mẻ quá – quả thật một kỷ nguyên mới đã mở ra. Câu chuyện Phê rô đến nhà Cornelio là một câu chuyện đặc sắc về mặc khải tính phổ cập mới mẻ này. Phê rô dõng dạc nói: “Quả thật, tôi nghiệm biết rằng Thiên Chúa không thiên tư tây vị, nhưng ở bất cứ xứ nào, ai kính sợ Người và thực hành sự công chính, đều được Người đón nhận!” Đang khi Phê rô nói thì Thánh Thần đã ngự xuống trên mọi người ở đó, những người Do thái sửng sốt khi thấy ơn Thánh Thần cũng đã tuôn đổ xuống trên các dân tộc! (x. Cv 10,25-26.34-35.44-48). Lời Thánh vịnh Đáp ca tiếp tục âm vang điều ấy: “Chúa đã công bố ơn cứu độ của Người trước mặt chư dân” (x. Tv 97,1.2-3ab.3cd-4).
Không còn phân biệt giữa Do thái và dân ngoại nữa, mà chỉ còn phân biệt giữa YÊU THƯƠNG và KHÔNG YÊU THƯƠNG! Đây là thông điệp của Bài Tin Mừng (x. Ga 15,9-17) và Bài đọc 2 (x. 1Ga 4,7-10). Chúa Giêsu tha thiết giãi bày rằng Thầy yêu thương anh em hết tình, hết mức, nên anh em hãy biết yêu thương nhau. Thánh Gioan lặp lại di ngôn kết đọng này của Chúa Giêsu: “Chúng ta phải yêu thương nhau”. Và ngài xác định rành mạch: Ai yêu thương thì biết Thiên Chúa, ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình Yêu!
Bạn thấy không, ý chí cứu độ của Thiên Chúa dành cho mọi người, thì ‘yêu thương’ cũng là khả năng của mọi người. Ai cũng có khả năng này, chỉ cần thực thi nó, tức ‘yêu thương’, thì đi vào cảnh giới ơn cứu độ.
Không còn Do thái và dân ngoại, nam và nữ, tự do và nô lệ, vân vân… Mà chỉ còn sự khác biệt giữa ‘yêu thương’ và ‘không yêu thương’ mà thôi!
Lm. Lê Công Đức
Để cuộc sống trở nên tươi đẹp, chúng ta không thể thiếu vắng những tình bạn chân thành. Tình bạn giúp cho chúng ta rất nhiều về mọi khía cạnh trong cuộc sống, nhất là khía cạnh tinh thần lẫn hoàn thiện nhân cách. Dù ở bậc sống nào, ta cũng cần có những người bạn để chia sẻ những niềm vui, tâm sự nỗi buồn, và cùng nhau vượt qua những khó khăn, thử thách. Nhưng để có được một người bạn tốt hay tri kỷ thì không phải lúc nào ta cũng có. Có những người bạn lướt qua trong đời ta hoặc trong một giai đoạn nào đó. Có những người bạn có thể sẵn sàng giúp ta về vật chất nhưng lại không hiểu cõi lòng ta v.v. Có nhiều lý do khách quan hoặc chủ quan mà chúng ta không có được những người bạn tốt. Tuy nhiên, có một người có thể hiểu, luôn sẵn sàng lắng nghe, chỉ bảo, hướng dẫn, đồng hành với chúng ta mọi nơi mọi lúc và yêu chúng ta cách vô điều kiện đó chính là Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu là Chúa, là Thầy và là Vua nhưng Ngài đã nâng các môn đệ là những bạn hữu của Ngài. “Các con là bạn hữu của Thầy, nếu các con thi hành những điều Thầy truyền.” Chúa Giêsu không gọi các môn đệ là tôi tớ, vì tôi tớ thì không biết việc chủ làm, và tôi tớ chỉ làm theo những gì chủ nói mà thôi. Nhưng Chúa Giêsu đã coi các môn đệ là bạn hữu để từ đây, các môn đệ sẽ trở thành cánh tay nối dài của Thiên Chúa để mang tình yêu thương đến với mọi loài thụ tạo.
Điều Thầy truyền dạy là: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Chúa Giê-su đã chủ động yêu thương ta và Người yêu thương cho đến cùng. Tình yêu của Người không giới hạn bởi một ai hay một không gian nhất định, nhưng là một tình yêu phổ quát, tình yêu dành cho tất cả những ai lắng nghe và thi hành ý muốn của Ngài. Qua tình yêu của Ngài, các môn đệ đã được biến đổi. Trước kia, các môn đệ cũng từng là những người bạn đi theo Giê-su chỉ vì danh tiếng hay lợi lộc trần thế. Cho nên, dù Đức Giê-su đã thổ lộ và tiên báo về cuộc khổ nạn của Người đến ba lần, họ cũng không thể nào hiểu nổi. Và khi Chúa Giê-su bước vào Vườn dầu, họ cũng không thể thức nổi với Người một giờ. Khi Thầy bị quân lính điệu đi thì mọi người đôi ngả chia rẽ. Nhất là, người môn đệ thân tín lại không dám thừa nhận Thầy mình trước một người tớ gái. Giờ đây, họ đã trở thành những chứng nhân của Chúa qua đời sống yêu thương, qua việc rao giảng Lời Chúa bằng tất cả sự cảm nghiệm của con tim.
Như thế, dù chúng ta có lỗi lầm đến đâu, nhưng nếu chúng ta khiêm tốn trước mặt Chúa và thú nhận về những tội lỗi mà chúng ta đã phạm đến Người thì chúng ta sẽ cảm nhận được tình yêu mà Chúa dành cho ta. Chỉ cần chúng ta dám mở cánh cửa lòng của chúng ta ra, thì ánh sáng Chúa Phục Sinh sẽ từ từ chiếu rọi xua tan những bóng tối sợ hãi trong tâm hồn ta. Nhờ đó, ta sẽ dễ dàng yêu thương người khác như Chúa đã yêu và sẵn sàng tha thứ lỗi lầm của anh chị em như Chúa đã tha thứ cho chúng ta.
“Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con, và đã cắt đặt để các con đi và mang lại hoa trái, và để hoa trái các con tồn tại, để những gì các con xin Cha nhân danh Thầy, Người sẽ ban cho các con.”. Tình yêu của chúng ta không chỉ dừng lại ở lời nói nhưng Chúa mời gọi chúng ta trở nên những nhân chứng sống động qua việc thực thi đức ái yêu thương, nâng đỡ nhau trong công việc bổn phận, giúp nhau thăng tiến trên đường nhân đức. “Không ai có thể cho những gì mà họ không có.” Vì thế, mỗi người hãy tuỳ theo khả năng của mình mà đón nhận nhau trong tinh thần liên đới và phục vụ.
Lạy Chúa Giêsu, vì yêu thương chúng con, Chúa đã chết để cho chúng con được sống. Xin cho chúng con cũng biết sống hy sinh cho nhau, tôn trọng nhau để chúng con trở thành những người bạn đích thực của Chúa và tha nhân.
Anna Trần Bưởi
“Vì nể người Do-thái ở trong vùng ấy, nên Phaolô đã đem anh đi cắt bì, vì mọi người biết cha anh là người dân ngoại”. Đây là chuyện về Timothe, có cha là dân ngoại, và mẹ là người Do thái đã tin theo đạo. Bạn lưu ý, mới ở chương trước, sách Công vụ cho biết các Tông đồ đã quyết nghị rằng không đòi những anh em dân ngoại trở lại phải cắt bì. Thế mà ở đây, chính Phao lô đem Timothe đi cắt bì, vì nể người Do thái ở trong vùng! Bạn có thể giải thích điều này không? Bạn ủng hộ hay không ủng hộ hành động này của Phao lô? Tại sao?
Cũng nên ghi nhận, trong cùng bản văn sách Công vụ hôm nay, Chúa Thánh Thần được tường thuật là liên tục can thiệp vào hành động của Phao lô cách trực tiếp, và Phao lô rất ngoan ngoãn nghe theo, khi Thánh Thần ngăn cản mình đi hướng này hay không cho phép mình làm điều kia… Thế nhưng khi Phao lô đem Timothe đi cắt bì như nói trên, thì Thánh Thần tuyệt nhiên không có ý kiến gì! Tất cả câu chuyện này có thể có những hàm ý gì cho sứ mạng loan báo Tin Mừng của chúng ta ngày nay?
Người môn đệ thừa sai được sai vào thế giới để loan báo Tin Mừng, chứ không phải để làm cho người ta ghét mình một cách không cần thiết. Nhưng thực tế cũng cho thấy là chúng ta không thể bằng mọi giá cố tránh thế gian ghét mình. Bởi môn đệ không hơn Thầy, mà Chúa Giêsu thì đã bị ghét và bị loại trừ. Đó là điều mà ta gọi là ‘thân phận người môn đệ’.
Cũng đừng quên, thân phận môn đệ như vậy là PHÚC! Bởi chính Chúa Giêsu đã tuyên bố ngay từ đầu: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao!”
Lm. Lê Công Đức
Sáng thứ Sáu ngày 3/5/2024, gặp gỡ các thành viên của tổ chức Blanquerna – Đại học Ramón Lully ở Barcelona, Đức Thánh Cha mong ước Đại học và các dự án giáo dục luôn chú ý rằng “chúng ta đào tạo nên những người nam và người nữ toàn diện, chứ không phải những bản sao ảo tưởng của những lý tưởng bất khả thi, những người chính trực cố gắng cống hiến hết khả năng của mình để phục vụ những người mà Chúa kêu gọi họ”.
Đại học mang tên Chân phước Ramón Lully, một triết gia, thần học gia, thi sĩ và nhà truyền giáo sống vào thế kỷ XIV, và “Blanquerna” là tên của nhân vật chính trong tác phẩm văn chương cùng tên của Chân phước Lully.
Giúp người trẻ khám phá ra kế hoạch của Thiên Chúa dành cho họ
Trong diễn văn, Đức Thánh Cha lưu ý rằng Chân phước Ramón Lully đã “cố gắng đưa ra, dưới hình thức sư phạm, một số mẫu mực về đời sống Kitô giáo có thể giúp cho bất kỳ ai theo Chúa Kitô, ở bất cứ nơi nào Ngài kêu gọi họ”. Ngài nói: “Một nền sư phạm khác xa với những anh hùng tuyệt vời đang cố gắng làm cho chúng ta thoát khỏi thực tế của mình, … cống hiến cho chúng ta những mô hình sống đơn giản và tự nhiên, trong đó chúng ta có thể phục vụ Chúa và hạnh phúc”. Liên kết với thực tại ngày nay, khi những khuôn mẫu không thể đạt được mà các thị trường và các nhóm áp lực tuyên bố áp đặt lên chúng ta, gây nên biết bao đau khổ và thất vọng, Đức Thánh Cha nói rằng “việc giúp người trẻ khám phá ra kế hoạch của Thiên Chúa dành cho mỗi người trong số họ” là một nhiệm vụ lớn lao.
Người Kitô hữu phải hướng đến cuộc gặp gỡ với Chúa
Đức Thánh Cha nhận định rằng tổ chức Blanquerna và Đại học Ramón Llull đã chấp nhận nhiệm vụ thú vị này. “Thứ nhất, bằng cách nỗ lực trả lại cho gia đình ơn gọi nguyên thủy của nó trong xã hội, theo gương cha mẹ của nhân vật chính của chúng ta. Sau đó, đưa ra cho những người trẻ những con đường khác nhau trong cuộc sống, giống như những giai đoạn mà nhân vật của chúng ta hoàn thành, giúp họ vượt qua những thử thách mà cuộc sống đặt ra cho họ. Cũng tạo nên sự chắc chắn rằng những bước đi của người anh hùng Kitô giáo không được đánh dấu bằng sự lo lắng của sự nghiệp, mà là một sự đáp lại lời mời gọi. Và can đảm khẳng định rằng việc được yêu cầu đảm nhận những vị trí có trách nhiệm lớn hơn bao giờ hết phải là kết quả của sự xuất sắc trong việc phục vụ đã thực hiện cho đến nay. Và trên hết, dạy họ rằng, một khi nhiệm vụ của một người đã hoàn thành, giống như nhân vật chính của chúng ta, ngay cả khi người đó đã trở thành Giáo hoàng, thì người Kitô hữu phải hướng tới một cuộc gặp gỡ với Chúa, hướng tới sự cống hiến trọn vẹn cho việc phục vụ Thiên Chúa”.
Giúp sinh viên nhận thức tình bạn với Thiên Chúa và con người
Cuối cùng, Đức Thánh Cha mong ước Đại học “chiếu sáng cuộc sống của các sinh viên bằng sự hiện diện của Chúa Giêsu”, và “sự chắc chắn này giúp sinh viên nhận thức được phẩm giá của mình là bạn hữu, của Thiên Chúa và của con người, và rằng họ có khả năng xua tan bóng tối đang bao phủ làm thế giới xa rời bản chất thực sự của nó”.
Sau khi gặp các nghệ sĩ, Đức Thánh Cha đã di chuyển bằng ghe đến trước Vương cung Thánh đường Đức Mẹ Sức khoẻ để gặp gỡ các bạn trẻ. Khoảng 1500 bạn trẻ đứng tại quảng trường Đức Mẹ Sức khoẻ để chờ chào đón Đức Thánh Cha. Trong bài nói chuyện với các bạn trẻ, Đức Thánh Cha không chỉ dùng bản văn đã được soạn sẵn, nhưng nhiều lần bỏ giấy để đối thoại với các bạn trẻ. Ngay từ lời chào đầu, ngài dí dỏm nói: “Ngay cả mặt trời cũng cười!”
Với vẻ đẹp của thành phố Venezia, Đức Thánh Cha nói rằng: “Hôm nay chúng ta ở đây để tái khám phá vẻ đẹp của chúng ta trong Chúa và vui mừng nhân danh Chúa Giêsu, Thiên Chúa trẻ, Đấng yêu người trẻ và là Đấng luôn làm chúng ta ngạc nhiên”. Và ngài đã dùng hai động từ nói về mẹ Maria để nói với các bạn trẻ: “đứng dậy và lên đường” (Lc 1:39).
Trước hết là đứng dậy. Đứng dậy khỏi mặt đất, vì chúng ta được tạo dựng cho Trời cao. Đứng dậy khỏi nỗi buồn để ngước nhìn lên cao. Trỗi dậy để đứng trên đôi chân đối diện với cuộc sống, không ngồi trên ghế sofa. Đứng dậy để nói “dạ con đây!” với Chúa, Đấng tin tưởng chúng ta. Đứng dậy chào đón món quà mà chúng ta có, để nhận ra, trước bất cứ điều gì khác, rằng chúng ta quý giá và không thể thay thế. Đó không phải là tự kỷ ám thị, nhưng đó là sự thật! Nhận ra rằng đây là bước đầu tiên cần thực hiện vào buổi sáng khi thức dậy: ra khỏi giường và chào đón bản thân như một món quà.
Đức Thánh Cha đề nghị: Bạn thức dậy và trước khi bắt tay vào làm những việc cần làm, hãy nhận ra mình là ai bằng cách tạ ơn Chúa. Bạn có thể nói với Người: “Lạy Chúa, cảm ơn Chúa vì sự sống. Lạy Chúa, xin cho con yêu cuộc sống của con. Lạy Chúa, Ngài là sự sống của con”. Sau đó, cầu nguyện với Kinh Lạy Cha, trong đó lời đầu tiên là chìa khóa của niềm vui: Bạn nói “Lạy Cha” và bạn nhận ra mình là người con được yêu thương. Bạn hãy nhớ rằng đối với Chúa, bạn không phải là một hồ sơ số, mà là một người con, rằng bạn có Cha trên trời và do đó bạn là con của trời cao.
Tuy nhiên, chúng ta thường thấy mình đang phải chiến đấu chống lại một lực hấp dẫn tiêu cực đang kéo chúng ta xuống, một quán tính cưỡng bức muốn chúng ta nhìn mọi thứ màu xám. Những lúc như thế thì phải làm thế nào? Để đứng dậy – đừng quên – trước hết chúng ta phải để mình đứng dậy lần nữa: hãy để mình được Chúa nắm lấy tay, Chúa không bao giờ làm thất vọng những ai tin tưởng vào Người, Đấng luôn nâng đỡ và tha thứ. “Nhưng bạn có thể nói – tôi không đạt đến đó: tôi tự nhận mình mong manh, yếu đuối, tôi thường xuyên vấp ngã!”. Khi bạn cảm thấy như vậy, hãy thay đổi “cái khung hình” của mình: đừng nhìn mình bằng con mắt của mình nhưng hãy nghĩ đến ánh mắt của Chúa. Khi bạn mắc sai lầm và sa ngã, hãy nghĩ Chúa sẽ làm gì? Người ở đó, bên cạnh bạn và mỉm cười với bạn, sẵn sàng nắm lấy tay bạn. Bạn không tin ư? Hãy mở Tin Mừng ra và xem những gì Người đã làm với Phêrô, với Maria Magdalena, với Giakêu, với nhiều người khác: những điều kỳ diệu với sự mỏng manh của họ. Bởi vì Chúa biết rằng, ngoài vẻ đẹp, chúng ta còn mong manh, và hai thứ đó đi đôi với nhau: nó hơi giống Venezia, vừa lộng lẫy vừa mỏng manh. Thiên Chúa không trói những lỗi lầm của chúng ta vào ngón tay của Người, nhưng đưa tay ra cho chúng ta. Người là Cha và khi chúng ta ngã, Người thấy chúng ta là người con cần được nâng dậy chứ không phải kẻ ác phải bị trừng phạt. Chúng ta hãy tin cậy nơi Người!
Và, một khi đã đứng dậy, đến lượt chúng ta đứng trên đôi chân. Thật không dễ, nhưng đó là bí quyết. Đúng vậy, bí quyết để đạt được những thành tựu to lớn là sự kiên trì. Ngày nay chúng ta sống với những cảm xúc nhanh chóng, những cảm giác nhất thời, những bản năng kéo dài trong chốc lát. Nhưng nếu theo cách đó thì không đi xa được. Các nhà vô địch thể thao, cũng như các nghệ sĩ và nhà khoa học, đều cho thấy rằng những mục tiêu lớn lao không thể đạt được tức thời, không thể có được tất cả ngay lập tức. Và nếu điều này đúng cho thể thao, nghệ thuật và văn hóa, thì nó còn đúng hơn cho điều quan trọng nhất trong cuộc sống: là tình yêu, là niềm tin. Để lớn lên trong đức tin và tình yêu thì cần có sự kiên trì. Ngược lại, nguy cơ ở đây là để mọi việc tùy hứng: tôi cầu nguyện nếu tôi thích, tôi đi lễ khi tôi thích, tôi làm việc tốt nếu tôi thích… Điều này không mang lại kết quả: chúng ta cần phải kiên trì, ngày này qua ngày khác. Và chúng ta làm điều đó cùng nhau. Những việc lớn mà làm một mình thì không ổn. Đó là lý do đừng cô lập mình, nhưng hãy tìm người khác, cùng nhau có kinh nghiệm về Chúa.
Về việc sử dụng điện thoại di động, Đức Thánh Cha khuyên rằng: điện thoại hữu ích trong việc thông tin, nhưng đừng để nó cản trở việc gặp gỡ người khác. Ai cũng biết một cái ôm, một cái hôn, cái bắt tay là như thế nào. Đừng để điện thoại cản trở việc gặp gỡ người khác.
Với hình ảnh chèo thuyền của Venezia, Đức Thánh Cha nói rằng, để đi xa thì phải chèo đều đặn và liên tục. Với sự mệt nhọc của việc chèo thì sự kiên trì sẽ được đền đáp. Đặc biệt là hãy để Chúa nắm tay các bạn và cùng nhau bước đi!
Điều thứ hai Đức Thánh Cha đề cập đến, sau đứng dậy, là bước đi. Bước đi là trao ban chính mình cho người khác, là trở thành món quà cho người khác. Hãy nhìn xem Cha của chúng ta, Đấng đã tạo thành mọi sự cho chúng ta. Và chúng ta là con cái, cũng được mời gọi trở nên những người sáng tạo nên vẻ đẹp mà trước đó chưa từng có. Như những người trẻ, tuổi trẻ thật đẹp, và rồi khi lấy vợ, lấy chồng và sinh con, thì tình phụ tử và mẫu tử là vẻ đẹp chưa từng có trước đó.
Điều Đức Thánh Cha nhấn mạnh với các bạn trẻ là sự nhưng không, vô vị lợi. Người ta phải làm việc để sống, nhưng trung tâm của cuộc sống phải là sự cho đi vô vị lợi. Hãy làm cho cuộc sống trở thành một bản giao hưởng của sự vô vị lợi trong một thế giới luôn tìm lợi ích. Vậy nên chúng ta phải làm một cuộc cách mạng: Đứng dậy, trao ban chính mình mà không sợ hãi.
Cuối cùng, Đức Thánh Cha khuyến khích các bạn trẻ một lần nữa lắng nghe lời kêu gọi “đứng dậy và lên đường”, lặp lại và giữ nó trong lòng.
Sau buổi gặp gỡ các bạn trẻ, ngài di chuyển bằng xe lăn dọc theo các con đường nhỏ của thành phố nổi Venezia, đến quảng trường thánh Máccô để dâng thánh lễ với các tín hữu.
Chiều ngày 30/4, Mạng lưới cầu nguyện của Đức Giáo Hoàng đã công bố ý cầu nguyện của Đức Thánh Cha Phanxicô cho tháng 5: Cầu cho việc đào luyện các tu sĩ nam nữ và chủng sinh. Trong video giải thích ý cầu nguyện, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhận mạnh: Mọi ơn gọi đều là một “viên kim cương thô” cần được mài giũa, gia công và gọt đẽo từ mọi góc cạnh.
Đức Thánh Cha giải thích: “Một linh mục tốt, nữ tu tốt trên hết phải là người nam, người nữ được đào luyện, được uốn nắn bởi ân sủng của Chúa, là người ý thức được những giới hạn của mình và sẵn sàng đảm nhận một đời sống cầu nguyện, hiến thân làm chứng cho Tin Mừng. Bắt đầu từ chủng viện và tập viện, việc chuẩn bị của họ phải được phát triển một cách toàn diện, trong sự nối kết trực tiếp với cuộc sống của người khác. Điều này là cốt yếu”.
Hơn nữa, Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Việc đào luyện không kết thúc ở một thời điểm nhất định, nhưng tiếp tục suốt cuộc đời, hội nhất nơi con người các chiều kích tri thức, nhân bản, tâm cảm và thiêng liêng”.
Đức Thánh Cha nhấn mạnh: Đời sống cộng đoàn là khía cạnh trung tâm của các tu sĩ nam nữ hoặc linh mục. Đối với ngài, đây là một trong những điểm chính trong việc đào tạo và chuẩn bị cho bất cứ ai đáp lại ơn gọi này. Về điều này, ngài chia sẻ rằng việc sống và quan hệ với người khác đôi khi không phải là điều dễ dàng, nhưng đời sống cộng đoàn luôn là một trường học về sự thánh thiện, nơi người ta phát triển những nhân đức khác nhau và học cách vượt lên trên chính mình. Và ngài cũng nói rõ: Chỉ sống chung thôi thì “không giống với đời sống cộng đoàn”.
Cuối cùng, Đức Thánh Cha mời gọi: “Chúng ta hãy cầu nguyện để các tu sĩ nam nữ và chủng sinh triển nở trong hành trình ơn gọi của mình qua việc đào luyện các khía cạnh nhân bản, mục vụ, thiêng liêng và cộng đoàn, giúp họ trở nên những chứng nhân đáng tin cậy của Tin Mừng”.
Cha Frédéric Fornos S.J, giám đốc Mạng lưới cầu nguyện toàn cầu, chia sẻ: “Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc nhở chúng ta một lần nữa, và dưới ánh sáng của Veritatis Gaudium, về tầm quan trọng của việc đào tạo toàn diện đối với những người trẻ đang thực hiện hành trình trong đời sống tu trì hoặc chủng sinh.
Cha cũng nhận xét: Trong bối cảnh Giáo hội được đánh dấu bởi việc lạm dụng quyền lực và lương tâm cũng như lạm dụng tình dục, vốn có nguồn gốc từ cấu trúc và ý thức hệ, thì điều quan trọng là việc đào tạo phải thúc đẩy sự cởi mở đối với chiều kích nhân bản và tình cảm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tự nhận thức; nó thúc đẩy một kinh nghiệm đích thực với Chúa Kitô, đồng thời học cách chấp nhận và coi trọng những khác biệt cũng như cách làm việc nhóm.
“Lạy Thầy, xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha và như thế là đủ cho chúng con”. Lời yêu cầu này của Philipphe được Chúa Giêsu cho là ngớ ngẩn, thậm chí khi trả lời, Người cho thấy chất giọng phiền trách. Nhưng đó là chuyện khác, chuyện Chúa Giêsu mặc khải sự hợp nhất giữa Người với Chúa Cha: ai thấy Thầy là thấy Cha. Còn về chính khát vọng của Philipphê được chuyển tải trong lời nói trên, thì rõ ràng đó là khát vọng thâm sâu nhất và khôn ngoan nhất, khát vọng mà ai trong chúng ta cũng cần bắt chước.
Không phải tiền bạc của cải là đủ. Không phải quyền lực và danh vọng là đủ. Không phải các thú vui phàm trần là đủ. Không bất cứ thụ tạo nào trên đời có thể lấp đầy khát vọng của những người như Philipphê. “Lạy Thầy, xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha và như thế là đủ cho chúng con”. Ta gọi đây là khát vọng tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo… Khát vọng chính Thiên Chúa!
Ngày nay dường như con người ngày càng xa lạ với khát vọng này, do xu hướng vô thần duy vật thực tiễn, do cuồng tín khoa học, do kiêu căng tự mãn, do mù quáng trước danh, lợi, thú, vân vân… Chúng ta cảm ơn thánh Philipphe vì đã truyền cảm hứng cho chúng ta biết khát vọng chính Thiên Chúa. Và chúng ta cảm ơn vì nhờ ngài mà chúng ta nhận được lời xác nhận của Chúa Giêsu: “Ai thấy Thầy là thấy Cha”. Thiên Chúa không còn chỉ ở trên cao xa kia nữa, mà với Chúa Giêsu, Thiên Chúa vốn siêu việt đã trở thành nội tại, gần gũi, trong tầm tay của mọi con người!
‘Gia cô bê con An phê’ là vị Tông đồ chìm lỉm, rất ít ỏi thông tin. Một trong số thông tin về ngài, đó là ngài được Chúa Phục sinh hiện ra gặp gỡ – hầu như một cách riêng tư (x. bản văn 1Cr trong Bài đọc 1). Và đó chắc chắn là một kinh nghiệm độc đáo không thể nào quên! Như mỗi chúng ta đều có những kỷ niệm đẹp nào đó trong cuộc đời mà mình không bao giờ quên được!
Gia cô bê không chỉ gặp Chúa Phục sinh cùng với các anh em khác, mà còn gặp riêng nữa. Đây vừa là kinh nghiệm tâm linh vừa là kinh nghiệm giác quan, làm nền tảng cho đời sống và sứ vụ rao giảng của vị Tông đồ kể từ đó. Chúng ta có thể hình dung công việc rao giảng của Gia cô bê chủ yếu là kể lại kỷ niệm gặp gỡ của mình với Chúa Giêsu, nhất là gặp gỡ sau khi Người sống lại. Bởi vì kỷ niệm ấy quá lớn lao, quá ấn tượng, nó hoàn toàn biến đổi cuộc đời vị Tông đồ và mở ra cho cuộc đời ấy một chân trời mới, một định hướng mới…
Xin thánh Philipphe và Gia cô bê chuyển cầu cho chúng ta được ơn củng cố đức tin, bằng cách mở lòng ra với những khát vọng và cảm nghiệm tâm linh sâu thẳm nhất – là khát vọng và cảm nghiệm chính Chúa Giêsu!
Lm. Lê Công Đức
Như Cha yêu mến Thầy, Thầy yêu mến anh em.
Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy, bằng cách tuân giữ lệnh Thầy truyền – là lệnh truyền YÊU THƯƠNG!
Tất cả những gì Chúa Giêsu thao thức gói lại chỉ có thế. Chỉ là yêu thương!
Chúa Giêsu không thiết định những nghi tiết thực hành ở bên ngoài, như kiểu những qui định của thời Cựu Ước. Đúng hơn, điều Người đem đến là một phong trào canh tân tôn giáo, nhắm vào cái phẩm chất sống đạo bên trong. Phẩm chất đó là tình yêu – và niềm vui sâu xa của những ai cảm nhận mình ĐƯỢC YÊU và do đó mình YÊU đáp trả…
Thế nhưng, một số người bảo thủ vừa tin Chúa Giêsu vừa gắn bó với những nghi tiết thực hành truyền thống, chẳng hạn việc cắt bì, ngay cả bắt những anh em tín hữu gốc dân ngoại cũng phải cắt bì! Các Tông đồ gặp nhau, bàn bạc trong Thánh Thần, và đi đến quyết nghị không “đặt lên cổ anh em gốc dân ngoại cái ách mà cả chúng ta lẫn cha ông chúng ta không mang nổi”! Lần lượt Phê rô, rồi Phao lô và Gia cô bê đã đăng đàn phát biểu quyết định ấy. Các ngài nói rằng không nên làm khó dễ người ta…
Dần dần qua lịch sử, chúng ta đã phát triển một tôn giáo cũng có đầy những nghi thức và những chi tiết thực hành truyền thống… Trong khi chúng có thể có ý nghĩa, thì vẫn xuất hiện cái cám dỗ vị hình thức hay nệ luật, mà quên mất điều cốt yếu là tinh thần hay hồn cốt bên trong! Quên mất điều cốt yếu là YÊU THƯƠNG!
Giáo hội hiện nay đang diễn ra một Thượng Hội đồng về tính đồng hành đồng nghị, không nhằm gì khác hơn là thanh lọc và canh tân Giáo hội, để phù hợp hơn với bản chất của mình, theo sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, đó là làm cho thế giới này có khả năng yêu thương nhiều hơn, bằng cách ở lại trong tình yêu của Chúa Giêsu…
Lm. Lê Công Đức