Cánh Chung Và Siêu Thoát (11.09.2024 Thứ Tư Tuần XXIII Thường Niên)

Các mối phúc (và các mối ‘khốn’) trong Luca đều là những ‘lời hứa’ – theo nghĩa rằng người ta SẼ được Nước Thiên Chúa, được no đầy, được vui cười, được phần thưởng bội hậu trong viễn tượng CÁNH CHUNG. Ở chiều ngược lại, người ta SẼ không được phần an ủi, sẽ phải đói khát, sẽ ưu sầu khóc lóc, sẽ chịu số phận của các tiên tri giả… cũng trong viễn tượng CÁNH CHUNG.

Không gì chắc chắn bằng sự kiện rằng CÁNH CHUNG sẽ tới. Nói gì thì nói, cuộc đời này sẽ qua đi. Những tai ương, tự nhiên và nhân tạo, trong những ngày qua tại các tỉnh phía bắc (bão, lũ, lở núi, cầu sập, chết sống chỉ trong gang tấc…) càng nhắc ta nhớ về thực tại cánh chung này. Cuộc sống chúng ta trong lịch sử, và chính lịch sử, là dòng chảy cuồn cuộn như nước sông Hồng ngoài kia… Neo bám níu kéo vào bất cứ gì đang chảy phăng thì sẽ được gì?

Với nhãn quan cánh chung, thánh Phao lô đề nghị thái độ SIÊU THOÁT: “Anh em thân mến, tôi nói cùng anh em điều này là: Thời giờ vắn vỏi; còn có cách là những ai có vợ, hãy ăn ở như không có; những ai than khóc, hãy ăn ở như không than khóc; những kẻ hân hoan, hãy ăn ở như không hân hoan; những người mua sắm, hãy ăn ở như không có gì; những ai dùng sự đời này, hãy ăn ở như không tận hưởng, vì chưng bộ mặt thế gian này đang qua đi.”

Siêu thoát là buông, chứ không bám, ở trong lòng mình. Đó là ‘chảy với dòng sông’. Đó không phải là bạc nhược, thụ động, tắc trách, nhưng là tự do khỏi mọi quyến luyến, mọi cố chấp và ràng buộc!

Thế nhưng trong thực tế, rất tức cười khi chúng ta cách nào đó giống anh chàng tử tội kia được đưa lên máy chém và được phép xin ân huệ cuối cùng, anh ta nói: Chỗ cổ tui có cái mụn nhọt

Lm. Lê Công Đức


Giáo Hội Là Bí Tích Của Triều Đại Thiên Chúa (10.9.2024 Thứ Ba Tuần XXIII Thường Niên)

Chúa Giêsu lập Nhóm 12 làm nền tảng cho Giáo hội.

Nhưng Giáo hội không phải là một ‘hội’ ở giữa các hội khác, kiểu như một tổ chức phi chính phủ – mà Giáo hội là bí tích của Nước Thiên Chúa (hay của Triều đại Thiên Chúa)!

Nhớ rằng Nước Thiên Chúa còn gọi là Nước Trời, hàm nghĩa rằng Giáo hội ở trên mặt đất nhưng ứng xử theo các tiêu chuẩn của ‘trời cao’, vì thế… không giống ai!

Song chính khi ứng xử như vậy, tức theo Hiến chương Nước Trời, là Giáo hội đang thể hiện mình là bí tích của Triều đại Thiên Chúa!

Từ nhãn giới này, ta hiểu tại sao thánh Phao lô không cho phép các tín hữu kiện tụng nhau ở toà đời. Ngài kêu gọi họ phải biết nhịn nhục, nếu cần thì chấp nhận chịu thiệt, chịu bất công… chứ không quyết hơn thua nhau mà gây gương xấu.

Giáo huấn này trong thực tế nhiều khi được thấy là rất khó! Nhưng chúng ta phải phân định và tìm ra cách thế cho mỗi trường hợp, nhằm giữ được căn tính mình là Kitô hữu, thuộc về Chúa Giêsu Kitô, thuộc về Các Mối Phúc, thuộc về Bài Giảng Trên Núi, thuộc về Thập giá… Chẳng hạn, không có một hoàn cảnh nào miễn trừ cho ta bổn phận yêu kẻ thù, bổn phận tha thứ vô điều kiện và vô giới hạn… Ta phải sống các giá trị Tin Mừng này ngay ở đây và bây giờ, chứ không chờ đến khi lên trời rồi mới sống như vậy!

Hơn nữa, Giáo hội là men làm cho thế giới này dậy men trở thành Triều đại Thiên Chúa. Nếu Giáo hội mất chất, không còn là men như vậy nữa, thì Giáo hội có còn là Giáo hội của Chúa Kitô?

Lm. Lê Công Đức


Ngày Thành Lập Giáo Hội Việt Nam 09/9/1659?

WHĐ (08/9/2024) – Nữ tu Marie Fiat Trần Thị Tuyết Mai, Hội dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm phỏng vấn Cha Maurice Vidal, chuyên viên Giáo hội học về đề tài liên quan đến buổi đầu của Giáo hội Việt Nam với sự bổ nhiệm hai vị Đại diện Tông tòa tiên khởi.

Nữ tu Marie Fiat

Một số ý kiến cho rằng: Giáo hội Việt Nam được thành lập ngay khi những nhà thừa sai đầu tiên đặt chân đến Việt Nam, hoặc ngay khi có những người đầu tiên lãnh nhận phép Rửa.

Người khác lại dựa vào đặc tính tạm thời của Giáo phận Tông tòa để khẳng định rằng chỉ Giáo phận Chánh tòa mới là thể thức hợp lệ cho một Giáo hội địa phương, trong khi các giáo phận Chánh tòa chỉ được thiết lập vào năm 1960.

Một số khác lại dựa vào sự hiện diện của đấng kế vị tông đồ trên một lãnh thổ được chỉ định với sự hiện diện của dân Chúa để khẳng định Giáo hội Việt Nam chính thức được thành lập ngày 09 tháng 9 năm 1659, ngày thiết lập hai địa phận Tông tòa đầu tiên tại Đàng Trong và Đàng Ngoài, được trao phó cho Đức cha François Pallu và Đức cha Lambert de la Motte.

Cha nghĩ sao?

Cha Vidal[1]

Theo tôi, dưới góc nhìn của Giáo hội học, Giáo hội Việt Nam không được hình thành bởi những nhà thừa sai đầu tiên cũng không bởi những tín hữu đầu tiên nhận phép Rửa.

1. Trước hết, tôi dùng một hình ảnh rất cụ thể trong Kinh thánh, đó là sự rao giảng của Thánh Phaolô tại A-then. Theo sách Công vụ tông đồ, chương 17, câu 34, trong khi Thánh Phaolô giảng dạy tại A-then, có một vài người được ơn đức tin, nhưng rất ít, vì những thính giả khác không tin vào sự phục sinh của kẻ chết, thánh Luca ghi rõ: “Nhưng có mấy người đã theo ông và tin Chúa, trong số đó có ông Đi-ô-ni-xi-ô, thành viên Hội đồng A-rê-ô-pa-gô và một phụ nữ tên là Đa-ma-ri cùng những người khác nữa”. Như thế, chúng ta thật sự ở trong trường hợp một vài người theo đạo, nhưng không có Giáo hội tại A-then, chúng ta không hề thấy một thư nào của thánh Phaolô gửi cho tín hữu ở A-then.

Theo góc nhìn của thần học, người ta có thể dựa vào câu Kinh thánh: “Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ (cf. Mt 18, 20), để cho rằng có Giáo hội tại A-then. Nhưng không, từ những người tin đạo, cần hình thành một cộng đoàn đủ những tiêu chuẩn để người ta có thể nói về Giáo hội, không đủ với 2,3,4 tín hữu, vì tính cộng đoàn còn quá yếu, dù tính thần học đã hiện diện. Cần phải chờ đợi rất lâu mới có Giáo hội tại A-then. Ở Corintô và Thessalonica, số Kitô hữu tuy không nhiều, nhưng họ đã hợp thành cộng đoàn đủ để tạo nên Giáo hội với những vấn đề thuộc về Giáo hội, đến nỗi phải cần đến những lá thư của Thánh Phaolô để giải quyết. Điều đó không hề có đối với A-then.

Vì thế, không thể nói rằng Giáo hội đã hiện diện với những thừa sai hoặc những tín hữu đầu tiên. Lời của Chúa đã được gieo vãi, có những người tin theo, nhưng chưa có thể nói đến Giáo hội.

2. Mẫu thứ hai, tôi dựa vào Truyền thống, cụ thể với Thánh Thomas d’Aquin (Somme Théologique, Prima Secundae) nói về lề luật, câu hỏi 106, mục 4. Thánh Thomas tự hỏi: “Có phải luật mới phải tồn tại cho đến tận thế không?” và Ngài giải đáp bằng lý lẽ bác bỏ số 4 với trích dẫn Tin Mừng thánh Matthêu (Mt 24, 14): “Tin Mừng này về Vương Quốc sẽ được loan báo trên khắp thế giới …Và bấy giờ sẽ là tận cùng”. Thế nhưng, tuy Phúc Âm của Đức Kitô đã được rao giảng trên toàn thế giới, nhưng ngày tận cùng vẫn chưa đến. Từ đó một số người nghĩ rằng Tin Mừng của Đức Kitô không phải là Tin Mừng Nước Trời, sẽ có một Tin Mừng khác, đó là Tin Mừng của Thần khí, được xem như là một luật mới. Điều đó gợi lại lý thuyết của Joachim de Flore (1140-1202), loan báo một thời đại khác trong lịch sử, thời đại của Thánh Thần. Dựa vào quan điểm đó Thánh Thomas đưa ra lời giải đáp. Theo Joachim de Flore, có thời kỳ của Chúa Cha, tiếp đến của Chúa Con với Giáo hội và các bí tích, sau đó thời đại của Thánh thần, thời của các Đan sĩ. Tuy nhiên, một trong nhưng lập luận của lý thuyết này là thời cánh chung chưa đến trong khi Tin Mừng đã được rao giảng khắp cùng trái đất, điều đó muốn nói rằng Tin Mừng Nước Trời mà Chúa Giêsu nói đến trong thánh Matthêu không phải là Tin Mừng của Đức Kitô, mà là Tin Mừng của Thánh Thần.

Quan trọng là xem Thánh Thomas trả lời như thế nào. Theo Ngài, khởi đầu rao giảng Tin Mừng, Đức Kitô tuyên bố rằng Nước Thiên Chúa đã đến gần, nên thật phi lý khi nói rằng Tin Mừng của Đức Kitô không là Tin Mừng Nước Trời như Joachim de Flore nhận định.

Tiếp đến, Ngài trở lại với lý lẽ bác bỏ cho rằng Tin Mừng của Đức Kitô đã được rao giảng khắp cùng trái đất; đối với Ngài, chúng ta có thể hiểu việc rao giảng Tin Mừng của Đức Kitô theo hai cách thức:

 Cách thứ nhất là phổ biến sự hiểu biết về Đức Kitô. Theo cái nhìn này, Tin Mừng đã được rao giảng trên toàn thế giới, ngay cả trong thời đại của các Tông đồ (tất nhiên, về điểm này, thánh Thomas lầm lẫn, vì thời các tông đồ cũng như trong thời của ngài, Tin Mừng chưa được biết đến nơi phần lớn các nước trên thế giới, như châu Á – Việt Nam, châu Phi, châu Mỹ, những vùng mà chính Ngài cũng không biết).

– Chúng ta có thể hiểu việc rao giảng Tin Mừng bằng cách thứ hai (Đây là điều mà tôi trở lại với đề tài của chị), với tất cả hiệu lực trọn vẹn của nó, nghĩa là đến lúc Giáo hội được thành lập trong một quốc gia.

Như thế, thánh Thomas phân biệt việc phổ biến về sự hiểu biết Đức Kitô với hiệu quả viên mãn của nó là sự hình thành Giáo hội, và cả hai tất nhiên không đi cùng.

Tôi trình bày hai mẫu điển hình để cho thấy rằng không phải vì Tin Mừng được truyền bá mà Giáo hội đã hình thành. Chính lúc mà đức tin đã quy tụ khá đủ tín hữu, người ta có thể nói đến một Giáo hội và phải được Tòa thánh nhìn nhận.

3. Trong trường hợp của Việt Nam, chính sự bổ nhiệm các vị Đại diện Tông tòa mà định nghĩa về một Giáo hội được xác nhận. Theo Lumen Gentium 26 và Giáo luật (x. GL 369), cần phải có sự hiện diện của một Giám mục; ngay khi có Phúc Âm, Thánh Thể, và Giám mục, chúng ta có Giáo hội; Giám mục Chánh tòa hay Đại diện Tông tòa, điều đó không thay đổi gì cả theo quan điểm thần học, nó chỉ thay đổi trên bình diện giáo luật.

Từ năm 1659 đến 1960, những Giáo hội địa phương ở Việt Nam đã tồn tại, trải qua 3 thế kỷ. Sự khác nhau giữa giáo phận Tông tòa và giáo phận Chánh tòa không hề xác định về phương diện thần học.

Nữ tu Marie Fiat

Như thế, con có thể nói rằng: ngày 09 tháng 9 năm 1659 là ngày thành lập Giáo hội Việt Nam.

Cha Vidal

Vâng, chị có thể nói điều đó, và chị có thể thêm: trong một quy chế tạm thời theo giáo luật. Giáo hội đã được thành lập, dù có một quy chế còn tạm thời theo giáo luật. Nhưng về phương diện thần học, theo tôi, điều đó không thay đổi gì cả đối với tất cả các điều liên quan đến định nghĩa, sự xác định Giáo hội địa phương. Giáo hội địa phương không phải chỉ duy nhất là giáo phận. Giáo luật 368 không phải là một định nghĩa cho Giáo phận, đó là một định nghĩa về Giáo hội địa phương mà Giáo phận là hình thức thông thường nhất, đầy đủ nhất theo phương diện giáo luật. Nhưng theo phương diện thần học, vào thời điểm mà một phần Dân Chúa được quy tụ bởi Lời Chúa và Thánh Thể trong Chúa Thánh Thần cùng với sự chấp thuận một vị mục tử hợp pháp (Giám mục), chúng ta có Giáo hội. Ngược lại, theo phương diện giáo luật, giáo phận Tông tòa là một Giáo hội địa phương với quy chế tạm thời, và quy chế này có thể kéo dài 3 thế kỷ.

Cần phải phân biệt hai quan điểm khác nhau, không bao giờ để thần học lệ thuộc vào giáo luật. Ngược lại giáo luật phải phụ thuộc vào thần học và không bao giờ được thay đổi thứ tự này.

Nữ tu Marie Fiat

Trong thực tế, theo đa số, một vị Đại diện Tông tòa có cấp bậc thấp hơn một Giám mục Chánh tòa. Nhưng trong Huấn thị của Tòa thánh năm 1659, Đại diện Tông tòa là Giám mục được trao ban những quyền hành rất rộng lớn. Một số người vẫn dựa vào tính tạm thời của Giáo phận Tông tòa mà cho rằng vị Đại diện Tông tòa là Giám mục ở cấp bậc thấp.

Cha Vidal

Vâng, vị Đại diện Tông tòa ở cấp bậc thấp hơn, nhưng chỉ ở một điểm, và điểm đó không thuộc về bí tích (không hề có cấp bậc thấp cao trong bí tích Truyền Chức Thánh) nhưng về giáo luật. Ngài lãnh đạo Giáo hội với quyền đại diện, nhân danh Đức Thánh Cha, trong khi các Giám mục khác lãnh đạo với quyền hành riêng, nhân danh Đức Kitô, trong sự hiệp thông với Đức Thánh Cha. Theo munus regendi, vị Đại diện Tông tòa có quyền tự trị thấp hơn Giám mục của một giáo phận (tuy vậy quyền Đại diện của Ngài có thể rất lớn). Tôi sẽ không nói đến sự thấp kém, nhưng sự khác nhau. Ngài ít tự trị hơn, nhưng không ít là giám mục hơn.

Trong phần bình luận về giáo luật, tác giả nói rằng: “Bên cạnh Giáo phận, còn có sự hiện hữu của những loại hình pháp lý khác, cũng được gọi là Giáo hội địa phương, được đồng hóa với Giáo phận. Giáo luật kể ra 5 loại (c. 370-371): các lãnh thổ thuộc Giám hạt Tòng thổ và Đan viện Tòng thổ; Đại diện Tông tòa và Phủ doãn Tông tòa, cuối cùng cả Giám quản Tông tòa được thiết lập cách thường trực. Tất cả các khoản giáo luật liên quan đến những loại đó đều nói đến một phần nhất định của Dân Chúa, tương tự như Giáo phận, đến nỗi sự đồng hóa với Giáo phận đem lại cho chúng quy chế pháp lý và quy chế Giáo hội cho thực tại của Giáo hội Công giáo, duy nhất, mặc dù do nhiều lý do khác nhau, cấu trúc của chúng chưa có thể là cấu trúc đòi buộc của một Giáo phận[2]. Sự khác nhau ở đây chủ yếu ở góc nhìn về cấu trúc, điều mà tôi gọi là bình diện giáo luật, không ở bình diện thần học. Chúng ta thấy rõ trong bản văn này Giáo phận Tông tòa là một Giáo hội địa phương.

Đại diện Tông tòa được Đức Giáo hoàng bổ nhiệm (không phải do Bộ Phúc Âm Hóa các dân tộc như Phủ doãn Tông tòa). Ngài là Giám mục Hiệu tòa (“trong phần đất dân ngoại” bởi ngài lãnh đạo nhân danh Đức Thánh Cha)… Giữa Đại diện Tông tòa và Giám mục Giáo phận chỉ có một điểm khác duy nhất về luật, không hề liên quan đến quy chế Giáo hội, điều đó chỉ liên quan đến sự cai quản. Vì một Giáo hội địa phương còn là Giáo phận Tông tòa được cai quản bởi một Giám mục như bất kỳ một Giáo phận nào, nhưng vị Giám mục này cai quản Giáo hội nhân danh tòa thánh, không phải nhân danh mình. Đó là một sự khác biệt thứ yếu. Có một sự tiến triển thông thường từ một Địa phận Tông tòa lên một Giáo phận và lúc đó người ta có thể nói rằng Địa phận Tông tòa là một giai đoạn chuẩn bị, nhưng chỉ ở phương diện giáo luật, chỉ ở tầm mức cai quản, không ở tầm mức thuộc về Giáo hội tính. Có thể người ta sẽ đặt câu hỏi: Điều đó có thay đổi gì không đối với tín hữu? Không một chút nào. Sự thay đổi chỉ liên quan đến Giám mục, không chút nào đối với Dân Chúa (x. Ad gentes, n° 5-6; 15-16; 19).

Nữ tu Marie Fiat

Những vị Đại diện Tông tòa đầu tiên của Việt Nam đã nhận thêm trách nhiệm Giám quản Tông tòa các tỉnh Trung Hoa, đâu là sự khác nhau giữa hai chức năng? Khi ký nhận các quy định của Công nghị 1670, dường như Đức cha Lambert de la Motte đã pha trộn cả hai chức năng?

Cha Vidal

Tôi không nghĩ rằng Giám quản Tông tòa mà giáo luật 368 nói đến có cùng tình trạng với Giám quản Tông tòa các tỉnh Trung Quốc bấy giờ, theo tôi, đó là một trường hợp khác. Theo Giáo luật 368, chức Giám quản Tông tòa được xác định cho một Giáo phận. Giám quản tông tòa, đó là một Giám mục, trong khi đảm trách một Giáo phận, ngài nhận tạm thời trách nhiệm Giám quản một giáo phận khác. Đó là trường hợp khi một Đại diện Tông tòa thay thế tạm thời một Đại diện Tông tòa khác bị cản trở cách này cách khác, chẳng hạn cách nay không lâu, Giám mục phụ tá của Paris làm Giám quản giáo phận Pontoise trong thời gian chờ đợi Giám mục mới. Vai trò Giám quản chỉ tạm thời, hoặc do Giám mục qua đời và trống ngôi, hoặc do Tòa thánh bấy giờ không muốn nhìn nhận một quyết định chính trị, giống như trường hợp của một vài Giáo phận ở miền Đông nước Đức, vì Tòa thánh không nhìn nhận sự chia cắt của nước Đức, (người ta không gọi là giáo phận, nhưng là Giám quản Tông tòa). Đó là lập trường của giáo luật cho những quan điểm liên quan đến chính trị.

Đối với Đức cha Lambert và Đức cha Pallu, Tòa thánh phân biệt rõ hai chức năng trong Super Cathedram bởi từ ‘với’. Chúng ta không nên pha trộn chức năng Đại diện Tông tòa Đàng Ngoài, Đàng Trong với chức năng Quản trị các Tỉnh Trung Hoa.

Về từ ngữ được sử dụng bởi Đức cha Lambert, người thay thế Đức cha Pallu, tại Công nghị 1670, ngài chỉ có thể thay thế Đức cha Pallu như một Giám quản, vì suốt hành trình qua lại Châu Âu, Đức cha Pallu vẫn luôn là Đại diện Tông tòa Đàng Ngoài, và tất nhiên sẽ nhận lại trách nhiệm này sau chuyến trở về. Chính điều mà Roma nói mới có giá trị đối với tôi và đoản sắc Super Cathedram trình bày rất rõ ràng về sự phân biệt chức năng của mỗi vị. Khi Đức cha Lambert ký ‘Đại diện Tông tòa của Trung Hoa và Đàng Ngoài’, đơn giản Đức cha Lambert chỉ muốn cho thấy những quyền hành mà Ngài được trao cho, vừa của Ngài và vừa của Đức cha Pallu trong lúc Đức cha Pallu vắng mặt. Khi ngài tự nhận là Đại diện tông tòa, chúng ta thấy ngay sự quy chiếu về Đức Thánh cha, đấng đã trao nó cho ngài, trong khi Giám quản, không nói lên được sự quy chiếu về Đức Thánh cha. Vì thế, nếu Đức cha Lambert muốn đem lại giá trị cho năng quyền của Ngài ở Công nghị này, tôi hiểu ngài tự giới thiệu như Đại diện Tông tòa của tất cả (Trung Hoa và Đàng Ngoài). Ngài cai quản với quyền hành của một Đại diện Tông tòa, thật đúng như thế. Đồng thời Ngài có thêm quyền của Đức cha Pallu, nhưng không ở tước hiệu, hơn nữa, ngài phải nhượng lại vị trí cho Đức cha Pallu khi Đức cha Pallu trở về.

Qua cuộc trao đổi này, có 3 điểm, chị cần phải nhớ thật rõ: trước hết, phương diện giáo luật thì rất chính đáng, nhưng nó phải phụ thuộc vào phương diện thần học. Thứ đến, những Giáo hội được cai quản bởi các vị Đại diện Tông tòa không phải là giáo phận, nhưng đó là những Giáo hội địa phương. Thứ ba, đối với Đại diện Tông tòa, sự khác nhau với giám mục Chánh tòa chỉ trong trách nhiệm cai quản, cai quản với quyền riêng hay với quyền đại diện, nhân danh Đức Thánh cha, không có sự khác nhau về bí tích.

Nữ tu Marie Fiat

Con cảm ơn Cha về tất cả những điều Cha đã chỉ dẫn, bây giờ, vấn đề thật sáng tỏ đối với con.

_______

[1] Cha Maurice Vidal (1932-2021) Linh mục Hội Xuân Bích, là Giáo sư Thần học Viện Đại học Công giáo Paris từ năm 1969 đến năm 1999. Từ năm 1958-2009, ngài là Giáo sư Thần học Tín lý tại Đại Chủng viện Xuân Bích. Ngài rất nổi tiếng về những đóng góp cho nền Giáo hội học đương thời, đặc biệt là các tác phẩm: Giáo hội, Dân Chúa trong lịch sử con người, năm 1975; Giáo hội là ai, năm 2000, giới thiệu và chuyển ngữ từ sách của tác giả Hans Urs von Balthasar; Giáo hội để làm gì ?, năm 2008; Đây là Giáo hội tôi tìm hiểu, năm 2009, trao đổi với Christian Jacques và Salenson Teissier. Bài phỏng vấn này được thực hiện ngày 24-6-2009.

[2] Patrick Valdrini, Jean-Paul Durand, Olivier Échappé, Jacques Vernay, Droit canonique, 2ème édition, édité par Dalloz, 1999, tr. 143.


Biết Quyết Liệt Và Biết Bao Dung (09.9.2024 Thứ Hai Tuần XXIII Thường Niên)

Mấy tiếng “ngày Sa-bát” trong Phúc Âm nghe thật ám ảnh… vì đây là một đầu mối căng thẳng giữa Chúa Giêsu và giới kinh sư, biệt phái. Đây cũng là then chốt giúp hiểu giáo huấn của Chúa Giêsu (nhân bản, nhân đạo) và hiểu vấn đề đặc trưng nơi người Do thái đương thời (đạo đức giả, vị hình thức, phi nhân).

Chúa Giêsu không sợ sự căng thẳng ấy. Người sẵn sàng đương đầu. Thậm chí Người chất vấn họ cách thẳng thắn: “Tôi hỏi các ông, ngày Sabbat được phép làm sự lành hay sự dữ, cứu sống hay là giết chết?” Và Người đã ra tay chữa lành người bệnh ấy trong ngày Sa-bát, công khai trước mặt các ông biệt phái và kinh sư.

Thật là một sứ vụ không dễ dàng! Nhưng ta cần nhận ra và phân biệt: Chúa Giêsu rất quyết liệt với giới lãnh đạo mù quáng, hư hỏng, gây gương xấu làm hại dân chúng – nhưng Người lại đầy bao dung đối với sự yếu đuối của các tội nhân, rao giảng lòng thương xót và ơn tha thứ cho họ…

Thánh Phao lô cũng bộc lộ đồng thời sự nghiêm khắc và lòng kiên nhẫn đầy bao dung này. Ngài mạnh mẽ lên án sự dữ, như thói dâm dục lăng loàn, ngay cả loạn luân giữa các tín hữu Côrintho… Nhưng sự quyết liệt ấy chỉ nhằm giúp họ được hoán cải và được cứu thoát “trong ngày của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc”!

Xin cho chúng ta biết đón nhận sự căng thẳng cần thiết trong đời sống luân lý của mình… biết quyết liệt, nghiêm khắc, và biết nhẫn nại, bao dung… trong đối xử với chính mình, với người khác – một cách phù hợp!

Lm. Lê Công Đức


“Hãy Mở Ra” (Suy Niệm Chúa Nhật XXIII Thường Niên, Năm B)

Sống bình an và mạnh khoẻ về thể xác lẫn tinh thần là ước mơ của con người trong mọi thời đại. Thế nhưng, có những điều chúng ta lại không có quyền để lựa chọn cho mình những điều mình mong muốn, dẫn chứng là người thanh niên vừa điếc, vừa ngọng trong trang Tin Mừng hôm nay. Anh cũng ước mơ như bao người thanh niên khác được lành lặn về mặt thể lý nhưng anh lại bị ngọng nên nói chẳng ai hiểu, và bị điếc nên cũng chẳng hiểu ai. Vì thế, nó khiến cho anh rất cô đơn, buồn khổ. Thấu hiểu được nỗi đau của người câm điếc, Chúa chạm vào anh và được chữa lành anh.

Trang Tin Mừng thuật lại câu chuyện thật đẹp về Chúa Giêsu và anh thanh niên bị điếc và ngọng “Người ta đem một người vừa điếc vừa ngọng đến với Đức Giêsu, và xin Người đặt tay trên anh. Người kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh” (x. Mc 7,32-33). Hành động “Chúa kéo riêng anh ra” giữa dám đông mang thật nhiều ý nghĩa.

“Kéo riêng ra” diễn tả một sự tế nhị của Chúa Giêsu dành cho anh để anh không phải đối diện với những lời chê bai của dân chúng

“Kéo riêng ra” để anh không cảm thấy tự ti, xấu hổ về căn bệnh của bản thân

“Kéo riêng ra” để anh có cảm nghiệm cá vị với Chúa, chính Chúa đã chạm vào cuộc đời anh: chạm vào tai, vào lưỡi anh để anh nhận ra rằng đối với Chúa không có gì là không thể

Câu chuyện không chỉ dừng lại bởi hành động của Chúa nhưng có sự cộng tác của anh thanh niên và chính niềm tin tưởng tuyệt đối vào Chúa Giêsu đã chữa lành anh. Nếu anh không cộng tác, chắc chắn phép lạ sẽ không xảy ra.

Sau đó, Chúa Giêsu ngước mắt lên trời và nói: “Ép-pha-tha”, nghĩa là: hãy mở ra! Lập tức tai anh ta mở ra, lưỡi như hết bị buộc lại. Anh ta nói được rõ ràng. (Mc 7,35). “Hãy mở ra”, chính là mệnh lệnh Đức Giêsu quyền năng nói với kẻ câm điếc hôm xưa, còn hôm nay thì sao? Chúa Giêsu cũng đang mời gọi chúng ta “hãy mở lòng ra”.

“Mở lòng ra” để đón nhận ân sủng của Chúa để Lời Chúa thấm nhuần trong cuộc đời ta.

“Mở lòng ra” để lắng nghe tiếng kêu của bao người nghèo, những người đang sống xung quanh chúng ta.

“Mở lòng ra” để nhận ra rằng Chúa vẫn đang đồng hành với ta trên mọi nẻo đường.

“Mở lòng ra” để Chúa có thể bước vào cuộc đời ta, chữa lành những vết thương sâu mà ta đang đối diện.

Và “mở lòng ra” để nhận ra những giới hạn, yếu đuối của ta và ta biết rằng ta cần Chúa trong đời.

Nếu nhìn về phương diện thể lý, có thể chúng ta không điếc và cũng không ngọng nhưng chúng ta có dám chắc chắn rằng chúng ta không điếc và không ngọng về đời sống thiêng liêng chăng? Chúng ta có giả điếc làm ngơ trước những nhu cầu của người khác. Đã bao lần ta giả điếc trước những bất công, bạo tàn… Chúng ta chưa dám làm chứng cho sự thật? Chúng ta hãy tự hỏi lại chính mình: “Tôi đang mắc căn bệnh thiêng liêng gì?”

Cuối trang Tin Mừng khi dân chúng chứng kiến những phép lạ, những điều tốt mà Chúa Giêsu làm, họ nói với nhau “Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả”. Cuộc đời Kitô hữu của chúng ta phải sống làm sao để mọi người nhận biết rằng, chúng ta làm điều gì cũng tốt cho tha nhân, sống là chứng nhân của Chúa, là con cái của Cha trên trời.

Bài Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta, hãy lặng để lắng nghe Chúa cũng đang kéo riêng ta ra một nơi thanh vắng để chữa lành cho ta, để giúp ta được lành mạnh. Chúng ta có sẵn sàng để cho Chúa chạm vào và chữa lành cho chúng ta không? Chúng ta hãy xin Chúa chữa lành những căn bệnh tâm linh mà chúng ta đang đối diện để ta sống bình an, hạnh phúc và mang Tin Mừng của Chúa đến với mọi người.

Maria Thảo An


Thiên Chúa Giải Phóng Những Người Khốn Khổ (08.9.2024 Chúa Nhật XXIII Thường Niên)

Ephata! Chúa Giêsu chữa người câm điếc. Nhưng các vị giảng thuyết hôm nay không nên chỉ tập chú vào ‘câm’ và ‘điếc’, chẳng hạn tập chú vào bài học luân lý liên quan đến cách nói, cách nghe… Vì Lời Chúa hôm nay còn có cả ‘mù’, ‘què’… và bao nỗi khốn khổ khác nữa! Vâng, những người khốn khổ có đó, và Thiên Chúa giải phóng họ, phục hồi họ. Đó là chủ điểm của Phụng vụ Lời Chúa ngày Chúa Nhật 23B Thường niên. Ta hãy lướt qua các bản văn:

-Sách Isaia (35,4-7a): “Chính Thiên Chúa sẽ đến và cứu thoát các ngươi. Bấy giờ mắt người mù sẽ sáng lên, và tai người điếc sẽ mở ra. Bấy giờ người què sẽ nhảy nhót như nai, và người câm sẽ nói được, vì nước sẽ chảy lên nơi hoang địa, và suối nước sẽ chảy nơi đồng vắng…”

-Ðáp Ca (Tv 145,7.8-9a.9bc-10): “Thiên Chúa trả lại quyền lợi cho người bị ức, ban cho những người đói được cơm ăn. Thiên Chúa cứu gỡ những người tù tội… mở mắt những kẻ đui mù… giải thoát những kẻ bị khòm lưng khuất phục, yêu quý các bậc hiền nhân… che chở những khách kiều cư… nâng đỡ những người mồ côi quả phụ…”

-Thư Gia cô bê (2,1-5): “Không phải Thiên Chúa chọn người nghèo trước mắt thế gian, để nhờ đức tin, họ trở nên giàu có và được hưởng nước Người đã hứa cho những kẻ yêu mến Người đó sao?”

-Tin Mừng Mác cô (7,31-37): “Đức Giêsu đem anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào tai anh và bôi nước miếng vào lưỡi anh ta. Ðoạn ngước mặt lên trời, Người thở dài và bảo: “Ephata!” (nghĩa là “Hãy mở ra!”), tức thì tai anh ta mở ra, và lưỡi anh ta được tháo gỡ, và anh nói được rõ ràng”.

Thật là nhất quán và thật rõ nét chủ đề về Thiên Chúa giải phóng những người khốn khổ. Cách riêng, đoạn Thư Gia cô bê trực tiếp gợi cách hưởng ứng công cuộc giải phóng này: Đừng thiên vị, đừng trơ trẽn trọng phú khinh bần, cách riêng trong các cộng đoàn tín hữu của chúng ta! “Giả sử trong lúc anh em hội họp, có người đi vào, tay đeo nhẫn vàng, mình mặc áo sang trọng; lại cũng có người nghèo khó đi vào, áo xống dơ bẩn, nếu anh em chăm chú nhìn người mặc áo rực rỡ mà nói: ‘Xin mời ông ngồi chỗ danh dự này’. Còn với người nghèo khó thì anh em lại nói rằng: ‘Còn anh, anh đứng đó’, hoặc: ‘Anh hãy ngồi dưới bệ chân tôi’. Ðó không phải là anh em xét xử thiên vị ở giữa anh em và trở nên những quan xét đầy tà tâm đó sao?”

Đã từ lâu, Giáo hội tự xác định mình là “Giáo hội nghèo của người nghèo”. Mới đây, trong Sắc chỉ Spes non confundit công bố Năm Thánh 2025, Đức Phan xi cô đề cập việc quan tâm chăm sóc các anh chị em nghèo khổ là một dấu chỉ của Hy Vọng, là đem lại cho họ niềm hy vọng. Sau đây là nguyên văn lời Đức thánh cha ở số 15:

“Tôi tha thiết cầu xin cho hàng tỷ người nghèo có được niềm hy vọng. Họ thường thiếu thốn những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Trước những làn sóng bần cùng hóa mới nối tiếp nhau, người ta có nguy cơ trở nên quen với cái nghèo và cam chịu. Nhưng chúng ta không thể làm ngơ trước những tình huống bi thảm mà chúng ta đang gặp phải ở khắp nơi, không chỉ ở một số khu vực trên thế giới. Hằng ngày chúng ta gặp những người nghèo hoặc cận nghèo mà đôi khi có thể là những người ở bên cạnh chúng ta. Họ thường không có nhà ở hoặc không có đủ thức ăn hằng ngày. Họ phải chịu đựng sự loại trừ và thờ ơ của nhiều người. Thật là tai tiếng khi thế giới có nguồn tài nguyên dồi dào và chủ yếu được dành cho vũ khí, thì “đại đa số lại là người nghèo […], hàng nghìn triệu người. Ngày nay, trong các cuộc tranh luận về chính trị và kinh tế quốc tế, người ta vẫn nói đến người nghèo, nhưng dường như các vấn đề của họ thường chỉ được nêu ra như một phần phụ, như một vấn đề được thêm vào gần như do bắt buộc phải thế hay theo kiểu chuyện bên lề, nếu không muốn nói là coi chúng như những thiệt hại phụ. Thực tế, khi nói đến hành động cụ thể, họ thường xuyên bị đẩy xuống vị trí cuối cùng”.[7] Chúng ta đừng quên: người nghèo hầu như luôn luôn là nạn nhân chứ không phải thủ phạm.”

Đặc biệt, ở số 16, vị giáo hoàng lại đề nghị xoá nợ cho các quốc gia không có khả năng trả nợ. Ngài lưu ý những ‘món nợ môi sinh’ mà các nước công nghiệp giàu có mắc nợ các nước nghèo. Và ngài khẳng định việc người giàu chia sẻ cho người nghèo không chỉ là vấn đề hào phóng, mà trước hết đó là vấn đề công lý!

Mỗi chúng ta có thể tự hỏi: Mình nên làm gì cụ thể để góp phần giải phóng những người khốn khổ xung quanh cuộc đời mình, và bằng cách đó trao cho thế giới này dấu chỉ hy vọng?

Lm. Lê Công Đức


Kính Mừng Sinh Nhật Đức Mẹ

Kính mừng Đức Nữ hiển vinh

Trần gian khấp khởi mừng Sinh Nhật Ngài

Chào mừng Đức Nữ Trinh Thai

Hôm nay ánh sáng ban mai rạng ngời

Mừng sinh nhật Mẹ Chúa Trời

Trung gian bầu cử muôn nơi khẩn cầu

Mẹ là ngọc quý trân châu

Chúa Cha tuyển chọn đượm mầu phúc thiêng

Đoàn con yêu Mẹ trọn niềm

Noi theo gương mẹ dịu hiền khiêm nhu

Mẹ là Mẹ Chúa Giê-su

Dạy con khiêm hạ, hiền từ, dấn thân

Nữ Vương chín phẩm Thiên Thần

Trinh trong tuyệt mỹ trần hoàn kính tôn

Dâng lên mẹ trọn xác hồn

Làm quà sinh nhật đoàn con mừng Ngài

Nguyện xin mẹ Chúa Ngôi Hai

Giơ tay đón nhận khoan thay chúc lành

Đoàn con lòng mến chân thành

Mẹ thương dẫn lối đồng hành cùng con

Bước đi theo Mẹ chẳng sờn

Bình Minh cứu rỗi, suối nguồn tin yêu

Anna Đào Nguyễn


Chúng Tôi Đã Nên Trò Cười Cho Thế Gian (07.9.2024 Thứ Bảy Tuần XXII Thường Niên)

Năm 1978, Đức thánh cha Phao lô VI qua đời sau mười lăm năm không ít sóng gió trong cương vị lãnh đạo Giáo hội. Chúc thư của ngài được công bố, và người ta ngậm ngùi, dâng trào cảm xúc khi đọc những dòng sau đây: “Tôi nhắm mắt trên đất đau thương, bi tráng và kỳ diệu này…. Chúng tôi đã nên trò cười cho thế gian, cho các thiên thần và loài người…” Vế sau trên đây, vị giáo hoàng đã lấy lại tâm tình của thánh Phao lô trong Thư 1 Côrintho: “Chúng tôi là những tông đồ rốt hết, mà Thiên Chúa đã phơi bày chúng tôi ra như những người bị tử hình: vì chúng tôi đã nên trò cười cho thế gian, cho các Thiên Thần và loài người. Chúng tôi là những kẻ ngu dại vì Ðức Kitô…”

Hai năm sau, tháng 3 năm 1980, Tổng giám mục Oscar Romero của San Salvador bị sát hại, cũng sau một đời mục tử đầy sóng gió – với tâm tư không khác vị giáo hoàng trên đây và vị thánh Tông đồ… Ngày 14.10.2018, Đức thánh cha Phan xi cô đã tuyên thánh cả hai vị mục tử: Giáo hoàng Phao lô VI và Tổng giám mục Romero! “Những kẻ ngu dại vì Đức Kitô”!

Hai vị thánh ấy từng bị chống đối, bị bác bỏ, bị bêu riếu là nghĩ sai và làm sai… Không lạ. Vì Chúa Giêsu đã nếm trọn hoàn cảnh đó trong sứ vụ của Người, mà đỉnh điểm là biến cố Thập giá! Ngay như hôm nay trong câu chuyện các môn đệ bứt bông lúa miến vào ngày Sa-bát, Chúa Giêsu bị những người biệt phái cà khịa… Người đã làm gì? Người đã trả lời thẳng thắn với họ: “Con Người làm chủ cả ngày Sa-bát”!

Nói gì thì nói, bị nghi ngờ, bị chống đối, bị ngược đãi thì… cô đơn lắm. Bạc bẽo và buồn phiền lắm! Nhưng nếu không chấp nhận ‘ngu dại vì Đức Kitô‘, nếu đành phải làm vui lòng thế gian, thì người ta có còn là môn đệ và thừa sai của Chúa?

Lm. Lê Công Đức


Đừng Quá Dễ Dàng Tự Cho Mình Quyền Phán Xét (06.9.2024 Thứ Sáu Tuần XXII Thường Niên)

Đoán xét (hay phán xét, phán xử) xem ra là một trong những bản năng mạnh nhất của con người chúng ta, nhất là như thấy ngày nay trên mạng xã hội, nơi mà bất cứ ai cũng có thể nói bất cứ điều gì đó… Có khi những ‘phiên toà’ được tổ chức rầm rộ như các cuộc đấu tố hồi cải cách ruộng đất!

Chắc thánh Phao lô cũng từng bị nói xấu nhiều, ngài chọn lập trường là không sợ, không lấy làm quan trọng những đoán xét cả từ phía trong đạo lẫn ngoài đời. Nhưng không phải Phao lô lì lợm cố chấp, mà ngược lại bởi vì ngài rất nhạy bén và tinh tế… đến mức không dựa vào ngay cả những gì mình nghĩ về mình! Lương tâm mình an ổn thì vẫn chưa hẳn có nghĩa rằng mình đang công chính. Phao lô chỉ quan tâm đến cách Chúa nghĩ về mình thôi. “Đấng đoán xét tôi chính là Chúa”. Chỉ có một sự công chính chân thực và đáng kiếm tìm, đó là sự công chính dưới con mắt của Chúa, được Chúa hài lòng.

Chúa Giêsu bị các kinh sư và biệt phái chất vấn tại sao các môn đệ Người không ăn chay (điều mà các nhóm khác vẫn thực hành). Rõ ràng, sự chất vấn ở đây mang ý nghĩa một phán xét, họ cho rằng nhóm của Chúa Giêsu không ăn chay là sai. Họ không hiểu điều gì đang xảy ra trong bối cảnh. Họ không hiểu Giêsu là “chàng rể” đang có mặt ở đó. Họ không biết rằng có biết bao điều mình không biết. Họ dễ dàng tự cho phép mình phán xét, theo những giả định ngây ngô của họ, theo cách hiểu nông cạn của họ. Bi kịch ở chỗ họ tin rằng họ đúng!

Chủ quan và bảo thủ cực đoan là hai anh em ruột. Người ta thiếu khả năng đón nhận điều mới mẻ và cho phép điều mới mẻ thách đố mình. Thiếu khả năng và ý chí thích nghi! Chúa Giêsu nói về điều này bằng dụ ngôn về ‘vải/áo’ và ‘rượu/bầu da’. Và Người thở dài nhận định: Biết bao kẻ từ chối rượu mới vì họ kinh nghiệm ‘rượu cũ ngon hơn’! Ôi, kinh nghiệm có khi cũng thật phản chủ… (giống như kinh nghiệm rằng từ Nadaret không thể có gì hay ho được!)

Xin Chúa giúp ta thêm dè dặt và bớt phán xét, thêm mềm mỏng và bớt cực đoan, để có thể nhận ra Chúa ở những nơi bất ngờ nhất…

Lm. Lê Công Đức


Công Thức Vàng Qui Kitô (05.9.2024 Thứ Năm Tuần XXII Thường Niên)

Lưới cá đầy ắp, gần rách lưới, khi Simon và các bạn nghe lời Chúa Giêsu mà đẩy thuyền ra thả lưới chỗ nước sâu – trong bối cảnh vừa mới vất vả suốt đêm mà chẳng được con cá nào! Lạ lùng quá!… Dấu lạ này làm Simon nhận ra Thầy là một Đấng siêu việt, Đấng thánh. Ông buột miệng xin Người tránh xa mình, vì mình tội lỗi bất xứng…

Nhưng Chúa Giêsu không tránh xa, mà ngược lại, Người ‘kéo’ Simon và các bạn lại thật gần Người: “Đừng sợ, từ đây anh sẽ là kẻ chinh phục người ta”. Người vốn cao xa, tận trên trời, nhưng đã xuống thấp, đã sáp lại gần đến mức không còn quãng cách. Như hôm nay, Người đã mượn tạm một chiếc thuyền của các ông, phương tiện kiếm sống của các ông, để làm ‘giảng đài’ mà thi hành sứ vụ rao giảng cho dân chúng… Và Người trực tiếp quan tâm đến công việc kiếm sống mà các ông đang làm, liên can chính Người vào đó, giúp các ông vượt qua nỗi khó khăn và thất bại này của cuộc sống đời thường…

Để rồi, Simon và các bạn nhận ra Thầy là ai… và nhận ra tiếng gọi dành cho mình không đóng kín trong chuyện quen thuộc hằng ngày là bắt cá dưới nước, mà được đưa vào, tháp nhập với Thầy trong một sứ mạng cao cả. Cái kết câu chuyện ở đây thật bất ngờ và đầy hàm súc: “Các ông đưa thuyền vào bờ, và đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Người”.

Từ bỏ mọi sự! Những người ngư phủ chuyên nghiệp bỏ biển lên bờ… bỏ thuyền bỏ lưới… bỏ công việc và nhịp sống đã quen và đã ổn định… bỏ tất cả. Để làm gì? Để đi theo Thầy Giêsu. Thật là một bước quặt ngoạn mục! Và chúng ta thấy sức hút của Thầy Giêsu mạnh mẽ biết bao… Các môn đệ ở đây quyết định rứt ra khỏi mọi thứ khác, tự do khỏi mọi thứ khác, để chỉ thuộc về Thầy Giêsu mà thôi.

Phao lô cũng kinh nghiệm việc bỏ tất cả để theo Chúa Giêsu Kitô – như được thấy từ biến cố ‘hoán cải’ trên đường Damas. Vị Tông đồ hiểu rõ cái lô gic của việc ‘từ bỏ’ và ‘đi theo’ này. Từ bỏ mọi sự là từ bỏ cái khôn ngoan của thế gian; và đi theo Chúa Giêsu Kitô là đi theo sự khôn ngoan của Thiên Chúa! Đây chính là luận đề hết sức quan trọng mà Phao lô khai triển trong mấy ngày qua, cả hôm nay nữa. Cách riêng hôm nay, từ kinh nghiệm và nhận thức của ngài, thánh Phao lô trao cho chúng ta ‘công thức vàng’ về tính thâu họp trong các mối tương quan: “Tất cả là của anh em, nhưng anh em thuộc về Đức Kitô, và Đức Kitô thuộc về Thiên Chúa!”

Đó là CÔNG THỨC của lịch sử cứu độ, của hiện sinh Kitô giáo, của mọi ơn gọi chúng ta trong Giáo hội!

Lm. Lê Công Đức