Đức Thánh Cha Lêô XIV đã bày tỏ nỗi đau buồn sâu sắc trước cái chết của Cha Pierre El Raii, một linh mục Công giáo nghi lễ Maronite đã thiệt mạng ở miền nam Libăng trong một vụ oanh kích của Israel vào ngày 9/3/2026 sau khi cha từ chối di tản khỏi giáo xứ của mình.
Đức Thánh Cha đau buồn về tất cả các nạn nhân của các vụ oanh kích ở Trung Đông
Theo thông cáo, Đức Thánh Cha “bày tỏ sự đau buồn sâu sắc về tất cả các nạn nhân của các vụ oanh kích ở Trung Đông trong những ngày qua, đặc biệt là nhiều người vô tội, trong đó có nhiều trẻ em, và cả những người đang giúp đỡ họ, như cha Pierre El-Rahi, linh mục nghi lễ Maronite thiệt mạng tại làng Qlayaa”. Tuyên bố cũng cho biết Đức Thánh Cha đang theo dõi tình hình với sự lo ngại và cầu nguyện để các hành động thù địch sớm chấm dứt.
Cái chết “tử đạo” của Cha Pierre El Raii
Cha Pierre El Raii thiệt mạng khi đang cố gắng cứu giúp một giáo dân bị thương trong một cuộc tấn công trước đó. Theo cha Toufic Bou Merhi, linh mục dòng Phanxicô tại Thánh Địa, vụ việc xảy ra vào khoảng 14 giờ chiều theo giờ Beirut.
Một cuộc không kích ban đầu đã đánh trúng một ngôi nhà gần giáo xứ của cha El Raii và khiến một giáo dân bị thương. Khi cha cùng nhiều bạn trẻ trong giáo xứ chạy đến giúp đỡ nạn nhân, một đợt oanh kích thứ hai đã xảy ra tại cùng địa điểm. Cha El Raii bị thương nặng và được đưa đến bệnh viện địa phương, nhưng đã qua đời không lâu sau đó.
Tổ chức bác ái thuộc Tòa Thánh “Trợ giúp các Giáo hội đau khổ” xác nhận tin buồn này, trong khi tổ chức Công giáo Pháp “L’Œuvre d’Orient” lên án mạnh mẽ cuộc tấn công, cho rằng các hành động chiến tranh đang đe dọa nghiêm trọng đến dân thường và làm gia tăng bất ổn tại Libăng.
Cha Pierre El Raii, 50 tuổi, được xem là một nhà lãnh đạo tinh thần quan trọng của cộng đồng Kitô hữu trong khu vực. Cái chết của ngài đã gây chấn động mạnh trong cộng đồng địa phương vốn đang chịu nhiều áp lực do xung đột leo thang.
Các tín hữu chỉ mong được sống trong hòa bình và phẩm giá
Theo các nguồn tin địa phương, bạo lực gia tăng đã khiến hàng trăm ngàn người phải rời bỏ nhà cửa. Riêng tại Beirut đã có khoảng 500.000 người phải di tản, trong khi gần 300.000 người khác rời miền nam Libăng.
Giữa bối cảnh khó khăn, các cộng đồng Kitô hữu vẫn cố gắng duy trì hy vọng. Cha Bou Merhi nhấn mạnh: “Như lời Đức Thánh Cha đã nói, vũ khí không mang lại hòa bình; chúng chỉ mang lại thảm sát và hận thù. Các tín hữu chỉ mong được sống trong hòa bình và phẩm giá”.
Nguồn: Vatican News
Thiên Chúa tạo nên con người có lý trí và tự do.
Con người ăn lông ở lỗ trong hang động vẫn có lý trí và tự do.
Ở thời đại đồ đá, đồ đồng, con người vẫn có lý trí và tự do.
Chúng ta, con người hiện đại, càng ý thức mình có lý trí và tự do…
Nhưng Thiên Chúa không ban lý trí và tự do rồi để mặc con người tự mò mẫm, tự mình bơi giữa biển khơi thênh thang trong đêm tối dày đặc, chẳng xác định được phương hướng đi đâu, về đâu…
Điều Chúa làm, đó là: Chúa chọn một dân riêng, để qua họ Chúa ban lề luật và huấn lệnh của Chúa cho con người.
Lý trí là để tìm và nhận ra thánh ý Chúa.
Tự do là để chọn tuân phục thánh ý Chúa.
Trong nhãn giới này, ta có thể hiểu niềm tự hào chính đáng và lòng biết ơn của con dân Israel, phản ánh qua lời Mô sê nói với dân trong sách Đệ nhị luật:
“Tôi thừa lệnh Chúa… mà truyền dạy cho các ngươi biết lề luật và huấn lệnh của Chúa,… các ngươi phải tuân giữ và thực hành, vì đó là sự khôn ngoan và sáng suốt của các ngươi trước mặt muôn dân, để khi nghe nói đến tất cả các lề luật ấy, họ nói: ‘Thật, dân tộc vĩ đại này là một dân khôn ngoan và sáng suốt’”.
Chúa Giêsu đến. Người vừa kiện toàn lề luật, vừa tự do đối với lề luật. Hai điều này không mâu thuẫn mà bổ túc cho nhau.
Kiện toàn lề luật có nghĩa là cho thấy ý nghĩa sâu xa của lề luật, đưa nó đến mục đích hoàn hảo. Đó là chuyển từ việc giữ luật bên ngoài trở thành nội tâm hoá, kết tinh thành tình yêu bên trong đối với Thiên Chúa và tha nhân.
Tự do đối với lề luật – như trong nhiều trường hợp, Chúa Giêsu không giữ luật theo cách hiểu máy móc của người đương thời, nhất là nhóm Pharisêu. “Ngày Sabát được làm ra cho con người, chứ không phải con người cho ngày Sabát”. Nói cách khác, khi việc giữ luật đi ngược lại lòng nhân ái, thì phải hiểu luật theo ý định ban đầu của Thiên Chúa.
Con đường hoán cải của Mùa Chay bao hàm việc chúng ta nội tâm hoá tinh thần của luật, hiểu luật một cách đầy lý trí; đồng thời, chúng ta noi gương Chúa Giêsu để giữ luật một cách trưởng thành và đầy tự do.
Lm. Lê Công Đức
Lời cầu nguyện tha thiết của Adaria trong sách Đanien chuyên chở tâm tình và thái độ phản tỉnh thâm sâu, mà cốt lõi là sự nhìn nhận tình trạng tội lỗi của cá nhân và cộng đồng trước mặt Chúa, cùng lời khẩn nài lượng khoan hồng và ơn tha thứ của Chúa. “Giờ đây chúng con hết lòng theo Chúa, kính sợ Chúa và tìm kiếm thiên nhan. Xin đừng để chúng con phải hổ thẹn, nhưng xin hãy đối xử với chúng con theo lòng nhân hậu và lòng từ bi sung mãn của Chúa”… (x. Đn 3,25.34-43).
Thánh vịnh 24 diễn tả cùng một tâm tình ấy: “Lạy Chúa, xin hãy nhớ lòng thương xót của Ngài”… Đồng thời, gắn với lời kêu xin lòng Chúa xót thương là quyết tâm thay đổi đường lối sống của mình, để chứng thực thái độ thống hối và khát khao hoán cải: “Lạy Chúa, xin chỉ cho con đường đi của Chúa, xin dạy bảo con về lối bước của Ngài. Xin hướng dẫn con trong chân lý và dạy bảo con, vì Chúa là Thiên Chúa cứu độ con”…
Con người thống thiết xin ơn thứ tha. Chúa có sẵn lòng tha thứ không? Có! Chúa luôn sẵn lòng bỏ qua các lỗi phạm của con người, và đối xử với tội nhân bằng lòng thương xót của Ngài. Lời Chúa tràn ngập những xác nhận như thế, nhất là trong Mùa Sám Hối này của Giáo hội.
Chúa tha thứ – vô giới hạn và vô điều kiện. Thật điên rồ nếu ta nghi ngờ điều ấy. Nhưng chúng ta nghĩ sao về sự thật rằng Chúa tha thứ cho mình, còn mình thì… nhất định không tha thứ cho người khác? Mà đây chính là thực tế rất rất thường xảy ra! Thật lố bịch và trơ trẽn quá, phải không?
Chúa Giêsu vạch trần cái trơ trẽn và lố bịch ấy trong câu chuyện dụ ngôn về người đầy tớ độc ác. Anh được tha trắng món nợ rất to lớn, nhưng anh nhẫn tâm không chịu tha món nợ nhỏ hơn nhiều cho người bạn mình! Và ông chủ nợ của anh nghe được, phiền lòng lắm… Ông chủ đã cho gọi anh đến, và bắt anh trả lẽ.
Chúng ta phải tha thứ cho anh chị em mình thì mới xứng đáng nhận ơn tha thứ của Chúa. Đừng gọi đây là ‘điều kiện’ nhé. Đừng cho rằng như vậy là Chúa tha thứ có điều kiện. Bởi vì đây không phải là cái giá phải trả để mua được sự tha thứ, mà đúng hơn, đây là sự hợp lý nội tại của việc đón nhận lòng thương xót và ơn tha thứ của Thiên Chúa. Từ chối thương xót/ tha thứ là từ chối được thương xót/ được tha thứ!
Lm. Lê Công Đức
Trong ý cầu nguyện tháng Ba của chiến dịch “Cầu nguyện cùng với Đức Giáo hoàng”, Đức Thánh Cha Lêô XIV kêu gọi Giáo hội và tất cả những người thiện chí hãy bác bỏ logic của bạo lực và xây dựng nền tảng an ninh dựa trên lòng tin, công lý và tình huynh đệ giữa các dân tộc.
Video ý chỉ cầu nguyện được Mạng lưới Cầu nguyện Toàn cầu của Đức Giáo hoàng phổ biến ngày 5/3/2026, trong đó Đức Thánh Cha gửi đi một lời kêu gọi mạnh mẽ và đầy hy vọng cho hòa bình thế giới. Ngài nhắc nhở rằng Thiên Chúa “đã tạo dựng chúng ta cho sự hiệp thông chứ không phải chiến tranh, cho tình huynh đệ chứ không phải hủy diệt”.
Trong lời cầu nguyện, Đức Thánh Cha xin Thiên Chúa ban “ơn hòa bình và sức mạnh để biến hòa bình thành hiện thực” trong lịch sử cụ thể của các dân tộc. Ngài cũng cầu xin để “tâm hồn chúng ta được giải trừ khỏi hận thù, oán giận và sự thờ ơ”, nhấn mạnh rằng an ninh đích thực không đến từ nỗi sợ hãi hay sự kiểm soát, nhưng từ niềm tin, công lý và tình liên đới giữa các dân tộc.
Đức Thánh Cha đặc biệt cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo chính trị và nguyên thủ quốc gia “có can đảm từ bỏ những dự án gây chết chóc, chấm dứt cuộc chạy đua vũ trang và đặt sự sống của những người dễ bị tổn thương nhất ở trung tâm mọi quyết định”. Ngài cũng khẳng định rằng nhân loại không thể tiếp tục để tương lai của mình bị chi phối bởi mối đe dọa hạt nhân.
Lời kêu gọi này được đưa ra trong bối cảnh thế giới ngày càng gia tăng chi tiêu quân sự. Theo số liệu của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (Stockholm International Peace Research Institute), chi tiêu quân sự toàn cầu năm 2024 đã tăng năm thứ mười liên tiếp, đạt khoảng 2,7 ngàn tỷ đô la – mức cao nhất từng được ghi nhận. Tỷ lệ chi tiêu quân sự so với tổng sản phẩm toàn cầu cũng tăng lên 2,5%. Ở những quốc gia chịu ảnh hưởng trực tiếp của chiến tranh, tỷ lệ này trung bình lên tới 4,4%.
Những con số này cho thấy sự tương phản rõ rệt giữa nguồn lực dành cho ngành công nghiệp vũ khí và nhu cầu cấp thiết về phát triển con người, chăm sóc xã hội và xây dựng hòa bình, đặc biệt đối với những cộng đồng dễ tổn thương.
Theo Mạng lưới Cầu nguyện Toàn cầu của Đức Giáo hoàng, ý chỉ cầu nguyện này không chỉ nhằm lên án bạo lực cơ cấu, nhưng còn mời gọi mỗi người bước vào hành trình hoán cải cá nhân và dấn thân cộng đoàn. Qua cầu nguyện, đối thoại, giáo dục hòa bình và tình liên đới giữa các dân tộc, các mối tương quan con người và trật tự quốc tế có thể được biến đổi.
Với ý chỉ cầu nguyện tháng Ba, Đức Giáo hoàng một lần nữa kêu gọi nhân loại lựa chọn sự sống, tình huynh đệ và hòa bình, tin tưởng rằng lời cầu nguyện chung có thể mở ra con đường hy vọng cho thế giới.
Đức Thánh Cha kết thúc lời nguyện bằng việc xin Chúa Thánh Thần “làm cho chúng con trở thành những người kiến tạo hòa bình hàng ngày trong tâm hồn, trong gia đình, cộng đoàn và các thành phố của chúng con. Ước gì mỗi lời nói tử tế, mỗi cử chỉ hòa giải và mỗi chọn lựa cho đối thoại trở thành những hạt giống gieo mầm cho một thế giới mới”.
Nguồn: Vatican News
Chúa Giê-su là một nhà tâm lý tuyệt vời. Ngài có biệt tài mở cửa trái tim con người, Ngài luôn đi bước trước với từng người trong những hoàn cảnh khác nhau. Với tình yêu trọn hảo của Đấng luôn yêu thương, bất cứ ai dù thánh thiện hay tội lỗi đều được mời gọi đến với Chúa, gặp gỡ Ngài để Ngài chữa lành và ban sự bình an.
Hôm nay, Tin Mừng thánh Gioan kể lại việc Chúa Giê-su đi ngang qua miền Samari. Tại đây, Ngài gặp một người phụ nữ bên bờ giếng Gia-cóp. Dù chị chỉ là một phụ nữ Samari, một dân tộc vốn không được người Do Thái đón tiếp nhưng Chúa Giê-su vẫn không tỏ thái độ phân biệt. Ngài đã phá vỡ sự ngăn cách giữa người Do Thái và người Samari. Đối với Ngài, mỗi con người đều đáng quý, đáng được trân trọng và yêu thương.
Chính sự gần gũi và thấu hiểu của Chúa đã giúp người phụ nữ Samari cảm nhận được niềm tin tưởng. Nhờ đó, chị dần dần mở lòng mình ra trong cuộc gặp gỡ với Chúa Giê-su. Ngài đã mạc khải cho chị về Thiên Chúa hằng sống, về nguồn nước đem lại sự sống đời đời.
Chúa Giê-su đã mạc khải cho người phụ nữ Samari biết “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa” (Ga 4,13-14). Nếu người phụ nữ chỉ tìm kiếm “thứ nước trần gian” là những giá trị trần thế, quyền lực, danh vọng, khoái lạc… chắc chắn chị sẽ không tìm được nguồn bình an, hạnh phúc đích thực trong tâm hồn và chị càng tìm kiếm lại càng khát.
Vậy đâu là nguồn mang lại giá trị hạnh phúc và sự sống đích thực?
Chúa Giê-su chính là nguồn sự sống vì Người đến từ Chúa Cha và ở trong Cha. Chỉ khi chúng ta ở lại và kết hợp mật thiết với Chúa Giê-su, sự sống Thần Linh, chúng ta mới tìm được nguồn hạnh phúc đích thực. Càng tiến sâu vào tình yêu Thiên Chúa, chúng ta càng cảm nhận bình an và hạnh phúc.
Trong đời sống thường nhật, để tìm kiếm nguồn hạnh phúc đích thực, chúng ta phải đấu tranh với cái tôi của mình, để có thể sống yêu thương và quảng đại với người khác. Theo lẽ thường, ta thích ở gần những người khiến ta cảm thấy dễ chịu, và dễ tránh né những người bất đồng với ta hoặc những người thử thách lòng kiên nhẫn của ta. Thế nhưng, tình yêu, hạnh phúc đích thực thì không phân biệt, không bị giới hạn bởi luật lệ hay thành kiến nhưng đến từ tình yêu vô điều kiện mà ta trao tặng không phân biệt ai.
Mùa Chay là thời gian thuận tiện để mỗi người nhìn lại chính mình “Chúng ta đang tìm kiếm điều gì trong từng ngày sống? Đâu là nguồn mang lại hạnh phúc đích thực cho tôi? Nhờ đó, chúng ta nhìn sâu hơn vào lòng mình và nhìn xa hơn vào tình thương của Chúa. Xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết sống kết hợp mật thiết với Chúa và để Chúa chính nguồn mang lại bình an cho mỗi người chúng ta.
Lạy Chúa Giê-su, dù chúng con lỗi tội và không xứng đáng nhưng Chúa đã chịu chết cách đau đớn để cứu chuộc chúng con. Chúa vẫn luôn tìm kiếm và chờ đợi chúng con. Chúng con xin cảm tạ, chúc tụng và nhận Chúa là nguồn sức sống, là sức mạnh của chúng con. Xin dẫn dắt chúng con qua từng ngày của đời này để mai sau chúng con cũng được hưởng hạnh phúc bên Chúa muôn đời. Amen.
Anê Bích Trúc
– Anh con thứ…
Anh xem ra thuộc típ dân chơi, đua đòi… Anh suy nghĩ lệch lạc, và bị lôi kéo bởi trào lưu tự do, hưởng thụ ở ngoài kia… Anh lạnh lùng đòi cha chia cho mình phần thừa kế, rồi cuốn gói, ôm mớ tiền ra đi… Rất lạnh lùng cứng cỏi, chẳng có chút tình cảm quyến luyến gì đối với cha và đối với mái nhà đã cưu mang mình!…
Rồi điều phải đến đã đến. Tiêu pha phóng đãng ít lâu thì hết sạch tiền, anh thân tàn ma dại, đói xanh mặt, phải đi chăn heo cho người ta… Thật thảm hại, chẳng còn gì là phẩm giá của một con người nữa!… Cuối cùng, đói quá, anh nghĩ đến việc quay về, lên kịch bản hẳn hoi – theo đó, anh sẽ nói với cha rằng “Thưa cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha; con không đáng được gọi là con cha nữa, xin cha đối xử với con như một người làm công của cha”… Là người theo dõi câu chuyện, chúng ta hãy để ý rằng cho tới lúc này, với ý nghĩ quay về này, anh vẫn chưa cho thấy dấu hiệu gì của một trái tim biết cảm thương người cha khốn khổ tội nghiệp của mình cả! Anh chỉ nghĩ về bản thân mình và nhu cầu của mình mà thôi. Anh chỉ nghĩ đến việc xin cha xem mình “như một người làm công” mà thôi!
Và anh đã về… đã gặp cha đứng sẵn chờ đón anh… Anh đã nói theo bài bản được hoạch định sẵn… Vẫn là chỉ nghĩ về mình, chứ chưa có chút động lòng thương cha nào cả!…
Nhưng chính là lúc này, ồ!… trong vòng tay ôm của cha, anh kinh nghiệm tấm lòng của cha dành cho mình. Cha không một lời quở trách, cũng không để ý gì đến cái đề nghị ‘coi như một người làm công’ thật vớ vẩn kia của anh. Cha mừng quá, vui quá, nên có vẻ luống cuống đến tội nghiệp… Cha ôm chặt anh và hôn lấy hôn để… Cha cho anh mặc áo đẹp, đeo nhẫn, xỏ giày, rồi cả mở tiệc ăn mừng nữa!… Chính là lúc này đây, trái tim anh mới mềm lại, mới rung động, anh thương cha… Trái tim của cha cuối cùng đã chinh phục được trái tim anh.
– Anh con cả…
Chuyện chưa hết rối… Trái tim ấy của người cha đối với đứa em đi hoang trở về lại bị anh con cả phản đối! Vì chính anh cũng đang ‘đi hoang’… Anh vẫn ở trong nhà xưa nay, vẫn làm mọi việc cách chu đáo, nhưng không phải với tấm lòng của người con, mà với những động cơ thầm kín nhắm được cha trả công này nọ… Thực dụng đó. Lôgic lợi ích đó, chứ không phải là tương quan tình nghĩa!
Đứa em bỏ nhà ra đi được cha thương nhớ mong đợi từng ngày, nhưng anh thì chẳng thương cảm gì nó… Thay vào đó, anh tố cáo nó, anh tự coi mình tốt lành hơn nó, và không còn muốn coi nó là em của mình nữa (chỉ là “thằng con của cha” kia thôi!)… Vì thế, khi cha mở tiệc ăn mừng thằng em trở về thì anh ghen tức và lồng lộn phản đối…
Anh đâu biết rằng đối với cha thì anh là con, và cha luôn coi “mọi sự của cha là của con” chứ đâu có phân biệt gì!… Giờ đây, nghe cha nói rõ điều ấy, anh mới nhận ra bấy lâu nay mình sai rồi… Sai trong nhận thức, vì thế sai luôn trong thái độ, dẫn đến phản ứng cũng sai!… Giờ đây, anh mới hiểu ‘làm con’ có nghĩa là gì… Anh bắt đầu nghe rung cảm trong tim khi nhìn cha và khi nhìn đứa em mình – thứ tâm tình và cảm xúc mà anh chưa từng biết trước đây!
– Câu chuyện của ba cha con nhà này rốt cục là câu chuyện của những tấm lòng. Chỉ vì không có tấm lòng với cha, những người con đã đánh mất nơi mình căn tính ‘là con’, mọi sự trở thành lạc hướng và lộn xộn, mỗi người mỗi kiểu. Và chính nhờ được đánh động bởi tấm lòng của cha mà anh con thứ và anh con cả đã bắt đầu nhận thức được đúng danh phận ‘là con’ của mình…
Sự cứu độ chúng ta đến từ trái tim thương xót của Cha trên trời!
Lm. Lê Công Đức
Nhà Israel (Giacop) sinh toàn con trai. Chục thằng anh đang chăn chiên tại một cánh đồng xa xa. Giuse được cha sai đi tìm các anh… cậu suýt bị giết, vì các anh ghen tị và đã ủ mưu sẵn… May nhờ anh Ruben can thiệp, Giuse chỉ bị lột áo và ném xuống giếng… Rồi khi đang ung dung ngồi ăn bánh gần chỗ đó, các anh trông thấy một đoàn thương nhân đi qua. Anh Giuđa nảy ra ý bán Giuse cho họ (Giu đa là trưởng chi tộc của Chúa Cứu Thế đấy),tất cả đồng ý, thế là thằng nhóc Giuse được kéo lên, trao cho các lái buôn với giá hai mươi đồng bạc… Cậu bé được ‘ship’ qua Ai cập…
Câu chuyện Giuse bị bán đứng như vậy để rồi trở thành cái phao cứu sinh cho cả nhà rõ ràng là câu chuyện báo trước về số phận và vai trò của Chúa Giêsu: “Viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc; đó là việc lạ lùng Thiên Chúa làm”…
Nhưng câu chuyện Giuse không chỉ có ý nghĩa một sự tiên báo về Đấng Cứu Độ sẽ đến. Tự thân câu chuyện trước hết nói lên rằng sự dữ đã thao túng con người và con người đã hoá ra hư hỏng đến mức đó. Chỉ vì ghen tức, ngông cuồng, kiêu ngạo mà chục thằng anh hùa nhau xuống tay hại thằng em mình. Bán đứng tình nghĩa anh em… Bán đứng phẩm giá của nó… Nỗi khổ đau của người cha già cũng không phải là điều đáng quan tâm… Không có công lý hay tình huynh đệ ở đây, chỉ có những cái ‘tôi’ to đùng lấn át tất cả!…
Dụ ngôn về những tá điền sát nhân được Chúa Giêsu kể cũng nhằm hai mục đích – một là nêu bản cáo trạng về sự dữ và tội ác của con người; hai là báo trước cuộc thụ nạn và cái chết Thập giá của chính Chúa… Nhưng điều mấu chốt hơn cả vẫn là: Viên đá bị loại bỏ đã trở nên viên đá góc! Như Giuse bị bán đứng về sau đã trở thành người cứu sống cả gia đình, Chúa Giêsu bị đám đông cuồng nhiệt kêu gào “đóng đinh nó vào thập giá” đã trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho chúng ta là những kẻ đón nhận và tin vào Người.
Nhưng sau tất cả, vẫn còn lời cảnh cáo này: “Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái”!
Lm. Lê Công Đức
Cuộc tấn công Iran của liên minh Mỹ-Israel hôm cuối tuần rồi, và những hành động trả đũa loạn xạ của Iran, đã tạo nên một tình hình dầu sôi lửa bỏng lan rộng cả vùng Trung Đông hiện nay. Thêm một đề tài thời sự nóng hổi cho các ‘nhà bình luận’ ở bàn ăn, bàn cà phê, và trên mạng xã hội… Những đồng minh của chế độ độc tài thần quyền ở Iran thì đặt hy vọng vào sức mạnh của ý chí chiến đấu và của kho vũ khí hiện đại trong tay chế độ này. Những người ủng hộ chính phủ Mỹ thì nô nức với sức mạnh quân sự và tình báo mà siêu cường này đang phô trương… Ngay cả nhiều ‘con cái Chúa’ cũng đang cảm thấy sướng trong lòng vì sức mạnh Mỹ-Israel đang vượt trội và đang trên đà bình thiên hạ!
Trong cái toàn cảnh ấy, Đức giáo hoàng Lê ô XIV có vẻ như ngớ ngẩn khi bày tỏ ưu tư trước những diễn biến nói trên, và khi ngài kêu gọi mọi người tích cực cầu nguyện cho các phe liên hệ biết buông vũ khí xuống và tìm kiếm con đường đối thoại!… Nhiều người xem ra muốn nói tội nghiệp cho Đức thánh cha ‘tối cổ’ quá, chỉ có một bài ‘chống chiến tranh, kêu gọi đối thoại’ lặp đi lặp lại mãi!… Nhưng nếu vậy thì cũng phải tội nghiệp cho Thiên Chúa và cho lời của Ngài, bởi giữa những choáng ngợp của sức mạnh con người đang tự khẳng định là giải pháp, thì lời Chúa nói với chúng ta:
“Khốn thay cho kẻ tin tưởng người đời, họ trông cậy vào sức mạnh con người, còn tâm hồn họ thì sống xa Chúa… Phúc thay cho người tin tưởng vào Thiên Chúa, và Chúa sẽ là niềm cậy trông của họ. Họ sẽ như cây trồng nơi bờ suối… mùa hè đến, lá vẫn xanh tươi… và vẫn sinh hoa kết quả”… (x. Gr 17,5-10).
Tại sao tin tưởng cậy trông vào Chúa thì có phúc? Bởi vì chỉ nơi Chúa mới có sức mạnh đích thực, và bởi vì chỉ Chúa mới là Đấng xét xử. Chúa luôn nắm quyền kiểm soát, và Ngài “thấu tỏ tâm can, trả công cho mỗi người tuỳ theo cách sống và hậu quả hành vi của họ” (x. ibid.).
Sự thật rằng Chúa trả lại cho mỗi người tuỳ cách sống và hành vi của họ được chính Chúa Giêsu xác nhận hùng hồn trong dụ ngôn về người phú hộ và Ladaro. Trong câu chuyện ấy, ông nhà giàu xem ra chẳng có tội chi cả ngoài tội thờ ơ, không quan tâm. Anh Ladaro nghèo thì cũng chẳng có công trạng chi cả, chỉ có tình cảnh khốn cùng và bị bỏ rơi bởi người đồng loại may mắn hơn ở bên cạnh…
Chính Thiên Chúa cầm trịch, Ngài đưa ra phán quyết về số phận của mỗi trong hai con người ấy. Cách Thiên Chúa xét xử thì chúng ta đã biết!…
Lm. Lê Công Đức
Tổ chức bác ái “Trợ giúp các Giáo hội Đau khổ” đã lên tiếng cảnh báo về những hậu quả khó lường đối với cộng đồng Kitô hữu thiểu số tại Trung Đông sau các cuộc tấn công quân sự của Mỹ và Israel nhằm vào Iran. Ông Florian Ripka, Giám đốc điều hành tổ chức tại Đức, nhận định: “Nếu tình hình tiếp tục leo thang, đó có thể là dấu chấm hết cho Kitô hữu tại Trung Đông”. “Các Kitô hữu sẽ không trở lại Trung Đông”.
Phát biểu tại Munich, ông Ripka cho biết nỗi sợ hãi không chỉ bao trùm Iran mà còn lan rộng đến các cộng đồng Kitô hữu tại Iraq, Syria, Libăng và cả Thánh Địa. Hiện vẫn còn vài ngàn Kitô hữu sinh sống tại Iran, trong đó những người cải đạo phải đối mặt với nguy cơ bị đàn áp dưới chế độ giáo sĩ Hồi giáo. “Ngay cả việc nói về các Kitô hữu ở Iran đôi khi cũng có thể gây nguy hiểm cho họ”, ông nhấn mạnh.
Dù thừa nhận khát vọng tự do của người dân Iran là điều đáng trân trọng, ông Ripka cảnh báo rằng cái giá của chiến tranh luôn rất đắt, đặc biệt khi thường dân trở thành nạn nhân, trong đó Kitô hữu thuộc nhóm dễ bị tổn thương nhất.
Tại Iraq, quốc gia láng giềng của Iran, nhiều làng mạc Kitô giáo vừa mới được tái thiết sau những năm bị tàn phá bởi chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan. Theo ông Ripka, các cộng đồng này “khó có thể chịu đựng thêm một vòng hủy diệt mới”. Làn sóng di cư trước đây đã khiến nhiều Kitô hữu rời bỏ quê hương và “họ sẽ không quay trở lại”. Những người ở lại phần lớn là người nghèo và cao tuổi, tương lai càng thêm bấp bênh nếu xung đột lan rộng.
Tình hình tại Thánh Địa cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tại Gaza, hoàn cảnh nhân đạo vốn đã thảm khốc. Nếu việc viện trợ tiếp tục bị hạn chế, cộng đồng Công giáo nhỏ bé còn lại sẽ khó có thể tồn tại và tiếp tục hỗ trợ hàng ngàn người dân chung quanh.
Gần đến lễ Phục Sinh, các Kitô hữu tại Bờ Tây từng hy vọng khách hành hương và du lịch sẽ quay lại, tạo nguồn thu nhập thiết yếu. Tuy nhiên, hy vọng ấy nay đã tan biến, đẩy nhiều gia đình vào cảnh mất kế sinh nhai giữa vòng xoáy bất ổn mới.