Anh ấy khốn khổ trong mù loà, và trong tình trạng bị đời gạt ra lề theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen. Anh nghe ông Giêsu Nadaret và ‘Giáo hội’ của ông đi ngang qua (vâng, đoàn người ấy là hình ảnh của Giáo hội, với đủ thành phần của Giáo hội)… Và anh lên tiếng, anh kêu xin sự cứu giúp – bởi anh từng nghe dư luận về nhiều điều tốt lành mà Giêsu đã làm rất ấn tượng. “Lạy ông Giêsu con vua Ðavít, xin thương xót tôi!” Chính anh hẳn cũng ngạc nhiên vì mình có can đảm để kêu lên như thế.
Nhưng… Giáo hội của ông Giêsu đã mắng và bảo anh câm mồm đi. Thật là không may mắn, anh nghĩ, đây là thử thách mà mình phải vượt qua… vả chăng, đời mình xưa nay có được may mắn chút nào đâu!… Và bất chấp sự quát tháo đe nạt của đám đông kia, anh quyết định tiếp tục lên tiếng: “Lạy con vua Ðavít, xin thương xót tôi!”
Ồ, kìa… Ông Giêsu đã nghe thấy tiếng kêu của anh. Tiếng kêu ấy lạc lõng trong mớ ồn ào bát nháo kia, thế mà ông Giêsu vẫn nghe được! Ông Giêsu gọi anh đến, hỏi anh muốn gì. Thì anh muốn được ánh sáng chứ còn muốn gì nữa! “Lạy Ngài, xin cho tôi được xem thấy”…
“Hãy nhìn xem, lòng tin của ngươi đã cứu chữa ngươi”… Tuyệt vời quá, anh nhìn thấy được rồi. Giêsu dễ mến quá. Và đám đông kia cũng dễ mến biết bao. Khi nãy họ quát mắng anh bởi vì họ ‘không biết việc họ làm’, nghĩ làm thế là tốt. Nhưng họ được ‘Thầy Giêsu’ của mình sửa sai cách tế nhị, chính họ đã đưa anh đến với Người. Và giờ đây, họ chúc mừng và chia vui với anh. Anh thích quá, đời anh chưa có ngày nào ‘sáng sủa’ như ngày hôm nay.
Anh làm gì tiếp theo? Còn làm gì khác nữa, ngoài ca ngợi Thiên Chúa và đi theo ông Giêsu, mà giờ đây anh bắt đầu gọi Người là Thầy, là Chúa, như đám đông ‘Giáo hội’ ấy gọi Người vậy! Quả thật, Chúa Giêsu tốt lành quá, Người yêu thương anh quá, Người thật nhạy cảm và đầy quan tâm… nên anh không thể không thuộc về Người được!
Và đó là một ‘Giáo hội’ đồng hành đồng nghị – hay ‘hiệp hành’ – trong đó anh vốn chưa bao giờ có tiếng nói thì đã mạnh dạn lên tiếng. Anh tưởng mình không được lắng nghe, nhưng anh đã được lắng nghe. Anh mù loà, đã nhận được ánh sáng. Anh vốn bị quên lãng, bị loại trừ, bị dạt vào lề đường, ngồi co ro một mình ở đó… thì bây giờ, anh đã đứng lên, bước ra, được đón nhận hoà vào đoàn người, cùng đi với Giáo hội trên đường, có Chúa Giêsu dẫn đầu! Đúng là không một ai bị loại trừ, không một ai bị bỏ lại đằng sau!
Thật không có gì vui hơn! Giáo hội của Chúa Giêsu hôm nay, sau 2000 năm, cũng đang muốn lấy lại, làm mới lại phong cách ‘hiệp hành’ vốn của mình, chứ không mong gì khác (x. Tài liệu Chung kết, Thượng Hội đồng Giám mục XVI, số 1-155). Và đó cũng là mong muốn “lấy lại tình yêu thuở ban đầu”, như tác giả sách Khải huyền, trong thị kiến, đã kêu gọi và kỳ vọng nơi Giáo đoàn Êpheso…
Lm. Lê Công Đức
Gặp gỡ các chủng sinh các giáo phận Pamplona, Tudela, San Sebastian, và Mẹ Đấng Cứu Chuộc của Tây Ban Nha vào sáng thứ Bảy ngày 16/11/2024, Đức Thánh Cha mời gọi họ hãy can đảm, vị tha và không mệt mỏi trong việc mang lại lòng thương xót mà Chúa đã quảng đại tuôn đổ trên họ khi chọn họ cho sứ vụ này.
Từ hình ảnh Đức Tổng Giám mục Pamplona là tu sĩ Dòng Chuộc kẻ làm tôi, Đức Thánh Cha nói rằng chủng viện là nơi để học biết rằng linh mục là người cứu chuộc các tù nhân; “bởi vì linh mục không thể là gì khác hơn là hình ảnh sống động của Chúa Giêsu, Đấng Cứu Chuộc”.
Mang hy vọng và an ủi cho người bị giam cầm
Từ ý nghĩa này, Đức Thánh Cha nói rằng chúng ta phải đi đến các nhà tù “để mang lại cho những người bị giam cầm ở đó dầu an ủi và rượu hy vọng” mà người Samaritanô nhân lành đã để lại cho chúng ta. Ngài còn nói đến một loại nhà tù khác đang giam giữ những người nam nữ trong xã hội chúng ta; đó là các ý thức hệ, các thứ luân lý, những thứ tạo ra sự bóc lột, chán nản, thiếu hiểu biết và lãng quên Thiên Chúa.
Vâng theo sự hướng dẫn của Thánh Thần
Suy tư về chương thứ tư của Tin Mừng Thánh Luca, Đức Thánh Cha đề nghị một bài suy niệm về việc chuẩn bị cho các linh mục tương lai: đó là sự ngoan ngoãn trước Chúa Thánh Thần, về việc đi vào sa mạc để gặp gỡ Thiên Chúa, về việc trút bỏ nhiều thứ vô ích mà chúng ta mang theo. Ngài nói rằng Chúa Thánh Thần “khuyến khích chúng ta đừng sợ phải đối mặt với sự cám dỗ của một mục vụ thờ ngẫu tượng trong đó chúng ta là trung tâm, tìm kiếm quyền lực vật chất hoặc những tràng pháo tay”.
Không đối xử phân biệt
Cũng từ hình ảnh Chúa Giêsu trở về Nazareth, quê hương của Người, Đức Thánh Cha nhắc nhở các chủng sinh: “Đừng bao giờ quên cội nguồn này, đừng quên các con là những người con của Dân tộc”. Theo Đức Thánh Cha, đoạn Tin Mừng này cũng dạy chúng ta rằng “trong công việc tông đồ, chúng ta không thể có sự đối xử phân biệt người này với người khác, đặc biệt nếu họ là người nước ngoài hoặc thậm chí là kẻ thù, bởi vì trước mắt Chúa, tất cả chúng ta đều là con cáí”.
Luôn chúc lành
Suy tư về đoạn Tin Mừng Thánh Luca trong đó Chúa Giêsu đau buồn và phẫn nộ trước sự cứng lòng của những người cùng thời với Người, những người không hiểu được mối quan tâm của Người trong việc giải thoát một người phụ nữ bị thần dữ trói buộc trong nhiều năm (xem Lc 13,16), Đức Thánh Cha nói với các chủng sinh: “Ngược lại, các con hãy luôn sẵn sàng chúc lành, giải thoát và khi cảm thấy đôi tay được Chúa xức dầu bị tê liệt, hãy tin tưởng mở rộng chúng ra như Người đã làm với người què trong Tin Mừng Marco (xem 3,5)”.
Đã vào Chúa nhật 33 Thường niên rồi. Chỉ một Chúa nhật nữa thôi, là hết một chu kỳ năm Phụng vụ!
Lời Chúa nói về sự kết thúc. Không phải kết thúc một chu kỳ nào đó để mở ra một chu kỳ khác y chang, tuần hoàn miên viễn… mà đây là sự kết thúc dứt khoát tất cả những gì mà ta cảm giác và kinh nghiệm trên cõi đời này. Kết thúc của không gian, thời gian. Kết thúc của lịch sử! Đằng sau đó sẽ là một thế giới khác, không phải thế giới này lặp lại.
Bài đọc Đaniel, trong thể văn khải huyền, cho biết đó là sự kết thúc chung, nhưng số phận mỗi người thì riêng, tức khác nhau. Ngày ấy, có những kẻ “đã được ghi tên trong sách”, có kẻ không; mọi người “an giấc trong bụi đất đều chỗi dậy; có người sẽ được hưởng phúc trường sinh, có kẻ phải tủi nhục muôn đời. Những người thông minh sẽ sáng chói như ánh sáng vòm trời, và những kẻ khuyên dạy sự công chính cho nhiều người, sẽ nên như các vì tinh tú tồn tại muôn ngàn đời”… (x. Đn 12,1-3). Để ý, giọng tường thuật ở đây mang âm hưởng ít nhiều về sự cảnh cáo gây hoang mang lo lắng. Nào là “tổng lãnh thiên thần Micae chỗi dậy can thiệp…”, nào là “thời kỳ khốn khổ chưa từng xảy đến bao giờ”… Đáng lo thật!
Nhưng Thánh vịnh 15 (Đáp ca) lấy lại cho chúng ta sự bình tĩnh và yên tâm, theo qui luật rằng ngay cả trong ngày ấy, thì ai vốn thuộc về Chúa sẽ tiếp tục thuộc về Chúa, nghĩa là được Thiên Chúa đón nhận vào trong vòng tay yêu thương của Ngài. “Xin bảo toàn con, lạy Chúa, vì con tìm nương tựa Chúa… chính Người nắm giữ vận mạng của con… con sẽ không nao núng… Chúa sẽ chỉ cho con biết đường lối trường sinh: sự no đầy hoan hỉ ở trước thiên nhan”…
Những lời của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng Mác cô cũng thuộc giòng văn khải huyền, và cũng nói về sự kết thúc. Cũng vô hình trung gây lo lắng ít nhiều về ‘ngày ấy’: “Trong những ngày ấy, sau cảnh khốn cực, mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng sẽ mất sáng, các ngôi sao sẽ từ trời rơi xuống và các sức mạnh trên trời sẽ bị lay chuyển…”! Cũng xác nhận sự kết thúc đó là ‘chung’, nhưng số phận người ta thì khác nhau – có người được tuyển chọn, có kẻ không! Con Người ngự đến trong đám mây “sẽ sai các thiên thần của Người đi quy tụ những kẻ đã được tuyển chọn từ khắp bốn phương, từ chân trời cho đến cùng kiệt trái đất”! (x. Mc 13,24-32).
Khỏi phải nói, những kẻ được tuyển chọn ấy sẽ được đón nhận trong “quyền năng và vinh quang” của Con Người. Nghĩa là, sau tất cả, một cái kết có hậu, viên mãn dành cho họ. Cuối cùng, đoạn Thư Do thái cho ta biết điều cốt yếu nhất: Ta có quyền hy vọng, một ‘niềm hy vọng không làm thất vọng’, vì Đức Kitô là vị Thượng tế đã hiến dâng chính Người làm hy lễ đền tội cho ta! (x. Dt 10,11-14.18).
Số phận của mỗi người chúng ta, vì thế, không còn là ẩn số, không còn là một cái gì hoàn toàn may rủi. Vì Chúa Giêsu đã trả giá xong, và bảo kê rồi! Ta chỉ còn có việc TIN TƯỞNG vào Người. Tin tưởng nghĩa là trông cậy, tín thác, hy vọng… Nó như ta đặt tất cả cuộc đời và vận mạng của mình vào cửa ‘Chúa Kitô‘ trong ván bài quyết định. Ta thuộc về Chúa, ngay từ bây giờ – và ‘luật chơi’ sẽ được chính Chúa tôn trọng:
Ai thuộc về Chúa, sẽ tiếp tục thuộc về Chúa, trong ngày kết thúc mọi sự ấy!
Lm. Lê Công Đức
Giáo hội quy tụ những người có cùng đức tin vào Đức Kitô – Đấng đã chết và phục sinh, để nhờ Ngài, mọi người được sống và kết hợp mật thiết với Thiên Chúa. Giáo hội vừa là một cộng đoàn của những người tin, vừa mang đặc tính cá vị, niềm tin này được xây dựng và lớn lên nhờ đức tin của cộng đoàn nhưng cũng là ân sủng của mỗi cá nhân trong tình yêu cá vị với Thiên Chúa. Giáo hội là nơi không loại trừ ai.
Giáo hội được xây trên nền tảng Thiên Chúa Ba Ngôi và trọng tâm là Đức Kitô. Giáo hội là hiện thân của Chúa Giêsu, do ý muốn của Thiên Chúa Cha để cứu độ mọi người. Giáo hội phát triển nhờ Chúa Thánh Thần luôn canh tân đổi mới.
Trải qua dòng thời gian, sứ mạng của Giáo hội không bao giờ thay đổi là rao giảng và làm chứng về Đức Kitô. Giáo hội có thể thay đổi cách thức rao giảng cho phù hợp với thời đại nhưng mục đích thì không bao giờ thay đổi. Đó là loan truyền tình yêu ơn cứu độ của Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng đã nhập thể, chết và sống lại.
Trong những tuần cuối năm phụng vụ, Tin Mừng nhắc nhiều đến chủ đề ngày quang lâm, tức là ngày Chúa đến trong vinh quang để phán xét nhân loại. Với người công chính thì mong chờ ngày đó, nhưng lại là nỗi khiếp sợ đối với những kẻ bất lương hoặc không tin. Nhìn chung, con người vẫn luôn sợ hãi ngày đó bởi họ tìm hiểu mà không tin, chờ đợi nhưng không sẵn sàng với sự tự do
Lạy Chúa, chúng con được thuộc về Giáo hội là một hồng ân cao quý, xin Chúa ban ơn để mỗi người chúng con biết bày tỏ vinh quang của Chúa qua đời sống hằng ngày, bằng cách sống bác ái, chân thật để xóa bỏ sự bất công và chia rẽ, làm cho mọi người tin vào Thiên Chúa nơi Giáo hội.
Têrêsa Mỹ Lan
Đoạn Thư 3Ga là lời khuyến dụ của tác giả gửi một nhân vật tên là Gaio, nhắc cách cư xử tử tế, nồng nhiệt với các anh chị em ngoại kiều. Câu chuyện dụ ngôn trong bài Tin Mừng Luca thì xoay quanh nhân vật ‘bà goá’. Ta nhớ lại, các người ngoại kiều, các bà goá và cô nhi là những người – trong toàn bộ truyền thống Thánh Kinh – được Thiên Chúa ưu tiên quan tâm bênh vực, vì họ là những thành phần yếu thế, chênh vênh, dễ bị tổn thương nhất trong cộng đồng Do thái thời xưa ấy. Ngày nay, và tại bối cảnh chúng ta, tình hình xem ra vẫn vậy – có lẽ chỉ trừ chi tiết ‘ngoại kiều’, có thể được thay bằng những người di dân, nhập cư, thường là sinh viên, công nhân từ các miền quê nghèo đến các thành phố lớn…
Những người yếu thế vẫn tiếp tục có chỗ đặc biệt trong trái tim của Chúa. Bởi chắc chắn rằng Chúa không bỏ ‘truyền thống’ xuyên suốt của Ngài trong lịch sử. Chúng ta cần hưởng ứng sự chọn lựa này của Chúa, và có thể nói, chúng ta cần ‘giúp’ Chúa giữ truyền thống này! Cách riêng trong Giáo hội, đây là một thể hiện rất đặc nét của tính ‘hiệp hành’: không một ai bị loại trừ, không một ai bị bỏ lại đàng sau!
Nhưng cũng đừng quên chiều ngược lại, chính những người yếu thế cũng có phần để đóng góp cho những người khác trong cộng đoàn. Họ giúp chúng ta hoán cải, trở về với đường nẻo công chính, thậm chí có thể là lần đầu tiên trong đời… Như ông quan toà trong câu chuyện của Chúa Giêsu: ông có quyền, cậy quyền, và chẳng biết kính sợ Thiên Chúa cũng không nể nang con người. Song chính bà goá ấy, bằng sự kiên trì van xin của mình, đã giúp cho ông cuối cùng nghĩ lại và hành động đúng đắn lần đầu tiên trong đời, dù động cơ nơi ông còn cần được tinh luyện. Đây có thể là sự khởi đầu cho hành trình biến đổi đầy hứa hẹn của ông…
Điều quan trọng hơn, cũng là thông điệp trung tâm của câu chuyện, đó là bà goá ấy cống hiến cho chúng ta một gương mẫu rất thuyết phục về sự kiên trì cầu nguyện. Khi người ta khốn khổ, lại thấy mình hoàn toàn bất lực, thì chỉ biết van xin và kêu cứu thôi. Kêu van mà không được đáp ứng, thì kiên trì tiếp tục kêu cho tới khi được đáp ứng chứ sao!
Thiên Chúa luôn cảm thương người khốn khó, nhưng chúng ta nhiều khi không đủ kiên trì… Tại vì thiếu lòng tin! Vâng, sự kiên trì cầu nguyện giả thiết lòng tin nơi chúng ta. Vì thế, Chúa Giêsu băn khoăn lắm: “Khi Con Người đến, liệu có còn gặp lòng tin trên mặt đất nữa không?”
Lm. Lê Công Đức
Trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư ngày 13/11/2024, tiếp tục suy tư về cách thế Chúa Thánh Thần hoạt động để thánh hóa Giáo hội, Đức Thánh Cha nhắc rằng ngoài Lời Chúa, các bí tích và lời cầu nguyện, Chúa Thánh Thần còn thánh hóa Giáo hội bằng “lòng sùng kính Đức Maria”. Ngài giải thích rằng Mẹ Thiên Chúa là công cụ Chúa Thánh Thần sử dụng để đưa chúng ta đến với Con của Mẹ; đó là lý do tại sao chúng ta có câu nói truyền thống: “Qua Mẹ Maria đến với Chúa Giêsu”.
Đức Thánh Cha nói rằng cuộc đời của Mẹ là một mẫu gương cho chúng ta, để chúng ta biết thưa “xin vâng” với Thiên Chúa như Mẹ đã làm, với lòng tin tưởng và quảng đại, để Thiên Chúa viết những gì Người muốn trên cuộc đời chúng ta. Hai tiếng “Này con đây” và “xin vâng” của Đức Mẹ là những lời mà chúng ta có thể thưa với Thiên Chúa khi chúng ta cần vâng phục hoặc phải vượt qua thử thách. Như Mẹ Maria đã hiện diện cùng các môn đệ trong Nhà Tiệc Ly, Mẹ cũng hiện diện với chúng ta khi chúng ta cùng Mẹ cầu nguyện với Chúa Giêsu.
Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu theo gương Mẹ Maria, sẵn sàng vâng theo sự soi sáng của Chúa Thánh Thần và sẵn sàng đứng lên giúp đỡ những người cần chúng ta trợ giúp.
Vào đầu buổi tiếp kiến chung, cộng đoàn cùng nghe đoạn sách Công vụ Tông đồ (Cv 1,12-14):
Bấy giờ các ông từ núi gọi là núi Ôliu trở về Giêrusalem. Núi này ở gần Giêrusalem, cách đoạn đường được phép đi trong ngày sabát. Trở về nhà, các ông lên lầu trên, là nơi các ông trú ngụ. Đó là các ông: Phêrô, Gioan, Giacôbê, Anrê, Philípphê, Tôma, Batôlômêô, Mátthêu, Giacôbê con ông Anphê, Simôn thuộc nhóm Quá Khích, và Giuđa con ông Giacôbê. Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện, cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria thân mẫu Đức Giêsu, và với anh em của Đức Giêsu.
Sau đó Đức Thánh Cha bắt đầu bài giáo lý.
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
“Qua Đức Maria đến với Chúa Giêsu”
Trong số những cách thức mà Chúa Thánh Thần sử dụng để thực hiện công cuộc thánh hóa trong Giáo hội – Lời Chúa, các Bí tích, việc cầu nguyện – có một phương thế rất đặc biệt; đó là lòng sùng kính Đức Maria. Trong truyền thống Công giáo có châm ngôn này “Ad Iesum per Mariam”, nghĩa là “qua Đức Maria đến với Chúa Giêsu”. Đức Mẹ giúp cho chúng ta thấy Chúa Giêsu, Mẹ luôn luôn mở cửa cho chúng ta! Đức Mẹ là người mẹ nắm tay chúng ta hướng về Chúa Giêsu. Đức Mẹ không bao giờ chỉ về chính mình, Đức Mẹ chỉ về Chúa Giêsu. Và đây là lòng sùng kính Đức Mẹ: nhờ tay Mẹ dẫn dắt đến với Chúa Giêsu.
Mọi người có thể “biết và đọc” Đức Maria
Thánh Phaolô định nghĩa cộng đoàn Kitô hữu là “một bức thư của Đức Ki-tô được giao cho chúng tôi viết, không phải viết bằng mực đen, nhưng bằng Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống, không phải ghi trên những tấm bia bằng đá, nhưng trên những tấm bia bằng thịt, tức là lòng người” (2 Cr 3,3). Đức Maria, như là môn đệ đầu tiên và là gương mặt của Giáo hội, cũng là một lá thư được viết bằng Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống. Chính vì lý do này mà Mẹ có thể “được mọi người biết và đọc” (2 Cr 3,2), ngay cả bởi những người không biết đọc các sách thần học, và bởi những “kẻ bé mọn” mà Chúa Giêsu nói về họ rằng những mầu nhiệm Nước Trời ẩn giấu đối với những người khôn ngoan, nhưng lại được tỏ ra cho họ (xem Mt 11,25).
Lời “Xin vâng” của Mẹ Maria là đỉnh cao của mọi hành vi tôn giáo
Khi Đức Maria thưa tiếng “xin vâng” – khi đón nhận lời thiên thần và thưa với thiên thần: “xin hãy thực hiện thánh ý Chúa” và chấp nhận trở thành mẹ của Chúa Giêsu –, Đức Maria như thể thưa với Chúa: “Này con đây, con là một tấm bảng để viết: xin hãy để Nhà văn viết những gì Nhà văn muốn, hãy thực hiện với con những điều Chúa muốn”[1]. Vào thời đó, người ta có phong tục viết trên những tấm bảng sáp; ngày nay chúng ta có thể nói rằng Đức Maria dâng mình cho Thiên Chúa như một trang giấy trắng để Người có thể viết bất cứ điều gì Người muốn. Tiếng “xin vâng” của Đức Maria – một nhà chú giải nổi tiếng đã viết – thể hiện “đỉnh cao của mọi hành vi tôn giáo trước mặt Thiên Chúa, bởi vì Mẹ diễn tả, theo cách cao nhất, sự sẵn sàng thụ động được kết hợp với sự sẵn sàng tích cực, sự trống rỗng sâu thẳm nhất đi kèm với sự tràn đầy phong phú nhất”[2].
“Này con đây”; “xin vâng”
Do đó đây là cách mà Mẹ Thiên Chúa là công cụ của Chúa Thánh Thần trong công cuộc thánh hóa của Người như thế nào. Giữa vô số từ ngữ được nói và viết về Thiên Chúa, về Giáo hội và sự thánh thiện (mà rất ít người, hay không có ai, có thể đọc và hiểu đầy đủ), Mẹ chỉ gợi ý hai từ mà mọi người, ngay cả những người đơn sơ nhất, có thể thưa trong mọi trường hợp: “Này con đây” và “xin vâng”. Đức Maria là người đã thưa “xin vâng” với Thiên Chúa và bằng gương sáng và lời cầu bầu, Mẹ cũng thúc đẩy chúng ta thưa “xin vâng” với Người, mỗi khi chúng ta đứng trước việc phải thực hiện sự vâng phục hoặc một thử thách phải vượt qua.
Đức Mẹ hiện diện với Giáo hội
Trong mọi thời đại trong lịch sử của Giáo hội, đặc biệt là vào thời điểm này, Giáo hội đang ở trong cùng tình trạng như cộng đoàn Kitô hữu sau khi Chúa Giêsu lên trời. Giáo hội phải rao giảng Tin Mừng cho mọi người, nhưng đang chờ đợi “sức mạnh từ trời cao” mới có thể làm được điều đó. Và chúng ta đừng quên rằng vào lúc đó, như chúng ta đọc trong sách Công vụ Tông đồ, các môn đệ tụ họp quanh “Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu” (Cv 1,14).
Đúng là cũng có những người phụ nữ khác ở cùng với Mẹ trong Nhà Tiệc ly, nhưng sự hiện diện của Mẹ khác biệt và độc đáo hơn tất cả. Giữa Mẹ và Chúa Thánh Thần có một mối liên kết độc đáo và vĩnh viễn không thể phá hủy, chính là Chúa Kitô, “Đấng được thụ thai bởi quyền năng Chúa Thánh Thần và được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria” (Kinh Tin Kính). Thánh sử Luca cố tình nhấn mạnh sự liên hệ giữa việc Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Đức Maria lúc Truyền Tin và việc Người ngự xuống trên các môn đệ vào Lễ Ngũ Tuần, bằng cách sử dụng một số cách diễn đạt giống hệt nhau trong cả hai trường hợp.
Mối liên hệ độc đáo của Đức Maria với Chúa Ba Ngôi
Thánh Phanxicô Assisi, trong một lời cầu nguyện, đã chào Đức Trinh Nữ là “nữ tử và nữ tỳ của Vua tối cao, Cha trên trời, Mẹ của Chúa Giêsu Kitô rất thánh, hiền thê của Chúa Thánh Thần”[3]. Nữ tử của Chúa Cha, Mẹ của Chúa Con, Hiền thê của Chúa Thánh Thần! Mối liên hệ độc đáo của Đức Maria với Chúa Ba Ngôi không thể được minh họa bằng những lời lẽ đơn giản hơn.
Theo gương Mẹ, vâng theo sự soi sáng của Chúa Thánh Thần
Giống như tất cả các hình ảnh, hình ảnh “Hiền thê của Chúa Thánh Thần” này không nên được hiểu cách tuyệt đối, nhưng phải được hiểu theo mức độ sự thật trong cách diễn tả này, và đó là một sự thật rất đẹp. Mẹ là hiền thê, nhưng trước đó, Mẹ còn là môn đệ của Chúa Thánh Thần. Chúng ta hãy học nơi Mẹ trở nên ngoan ngùy trước những soi sáng của Chúa Thánh Thần, đặc biệt khi Người gợi ý với chúng ta hãy “vội vã lên đường” và đi giúp đỡ người đang cần chúng ta, như Mẹ đã làm ngay sau khi thiên thần từ biệt Mẹ (xem Lc 1,39). Cám ơn anh chị em!
Buổi tiếp kiến kết thúc với Kinh Lạy Cha và phép lành Đức Thánh Cha ban cho mọi người.
Nguồn. Vatican News
Chúa Giêsu nhắc lại chuyện thời ông Nôe và chuyện ông Lót. Cả hai chuyện đều trao cùng một thông điệp, đó là hãy tỉnh thức và sẵn sàng cho điều bất ngờ xảy đến, thậm chí hãy sẵn sàng cho sự kết thúc, cho dấu chấm hết, nghĩa là cho cái chết của mình!
Trong cả hai câu chuyện, Chúa Giêsu đều mô tả cái tình trạng gọi là thiếu tỉnh thức, thiếu sẵn sàng của những người đương thời ông Nôe và ông Lót. Họ thiếu sẵn sàng như thế nào? Họ “cứ ăn uống, cưới vợ gả chồng”… họ “ăn uống, mua bán, trồng tỉa, xây cất”… Ta có thể nhận ra ngay rằng những việc được liệt kê ấy toàn là những việc tốt và cần thiết. Ăn uống, cưới vợ lấy chồng thì tốt chứ sao! Ăn uống, mua bán, trồng tỉa, xây cất là những việc tốt, chứ đâu có vấn đề gì! Cũng như trong dụ ngôn nọ, các khách được mời dự tiệc cưới đã xin kiếu vào giờ chót, vì họ bận thử trâu, bận xem mảnh đất mới mua, bận ở nhà với vợ mới cưới! Toàn là những lý do tốt lành. Không có ai làm điều gì xấu xa, gian ác cả. Thế mà lại thành ‘chuyện’, lại có vấn đề. Tại sao?
Tại vì họ không có tầm nhìn đúng, không có tâm thế, thái độ đúng! Họ tuyệt đối hoá cái tương đối, và tương đối hoá cái tuyệt đối; nghĩa là họ đảo lộn hay xáo trộn thứ tự bảng giá trị. Nói một cách sâu xa hơn, vấn đề của họ là lấy cái tốt của mình, do mình nghĩ ra và mình muốn, để thay cho cái tốt mà Chúa muốn và Chúa đề nghị. Nếu chúng ta cũng sống theo kiểu miệt mài làm ăn, mua sắm, thưởng ngoạn các thứ… và chỉ chừng ấy thôi, chỉ biết có đời này mà thôi, nhất là chỉ nghĩ về mình và các nhu cầu của mình mà thôi, không quan tâm gì đến Thiên Chúa hay ai khác… thì chúng ta đang có vấn đề, và đây là vấn đề ‘chết người’ chứ chẳng đùa!
Bạn không làm điều gì xấu, ừ…. nhưng bạn cũng KHÔNG làm điều tốt và cần thiết, thì bạn sẽ hụt, sẽ nhỡ vĩnh viễn. Hãy nhớ lại chuyện ông nhà giàu không quan tâm đến Ladaro, người đầy tớ không chịu thông cảm cho anh bạn mắc nợ mình một món nợ nhỏ, ông tư tế và ông Lêvi không dừng lại cứu giúp người, những người bên tả Đức Vua trong cuộc phán xét chung đã không làm những việc của lòng thương xót… Họ đâu có làm việc xấu, họ chỉ không làm việc tốt thôi!
Và đó là do trong lòng họ không được định hướng về phía Thiên Chúa và về phía tha nhân. Chỉ định hướng về chính mình mà thôi! Chính sự định hướng này, tầm nhìn và tâm thế này làm nên sự khác biệt giữa người này và người khác. Ta hiểu vì sao Chúa Giêsu nói hai người trên một giường, hai người xay một cối, hai người làm việc ngoài đồng… thì một người được đem đi, còn người kia bị bỏ lại.
Mỗi người chúng ta thỉnh thoảng nên nhìn người nào đó ngay bên cạnh mình, bất cứ người nào, và nghĩ biết đâu người ấy sẽ được đem đi, còn mình sẽ bị bỏ lại! Đừng tự huyễn hoặc mình rằng mình không làm điều xấu là đã đủ. Bởi khi từ chối điều Chúa đề nghị để chọn điều ‘tốt’ theo ý mình, thì điều gọi là ‘tốt’ ấy trở thành xấu mất rồi!
Lm. Lê Công Đức
Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ kêu gọi các chính trị gia và tất cả mọi người tôn trọng và cử xử văn minh, sau cuộc bầu cử lịch sử kết thúc với việc ông Donald Trump chiến thắng lần thứ hai làm tổng thống.
Trong một tuyên bố, Đức Tổng Giám Mục Timothy Broglio, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ chúc mừng ông Trump về chiến thắng của ông và ca ngợi “khả năng chuyển giao quyền lực hòa bình” của Hoa Kỳ.
Đức Tổng Giám Mục lưu ý rằng Giáo hội Công giáo không liên kết với bất cứ đảng phái chính trị nào, và các mục tử của Giáo hội mong muốn làm việc với các đại diện được bầu để thúc đẩy công ích. Ngài nói: “Là Kitô hữu và là người Mỹ, chúng ta có nghĩa vụ đối xử với nhau bằng lòng bác ái, sự tôn trọng và văn minh, ngay cả khi chúng ta có thể không đồng tình về cách thực hiện các vấn đề chính sách công. Quốc gia được ban tặng nhiều ân huệ, vì thế chúng ta phải quan tâm đến nhiều người ở ngoài biên giới chúng ta và mong muốn hỗ trợ tất cả mọi người”.
Chủ tịch Hội đồng Giám mục kêu gọi người dân Hoa Kỳ cầu nguyện cho tổng thống đắc cử Trump và tất cả những người được bầu, để họ có thể hoàn thành trách nhiệm được trao phó. Ngài viết: “Chúng ta cùng cầu xin sự chuyển cầu của Đức Mẹ, Đấng Bảo Trợ quốc gia, để Người hướng dẫn chúng ta bảo vệ công ích của tất cả mọi người và thúc đẩy nhân phẩm, đặc biệt là những người dễ bị tổn thương nhất, gồm cả trẻ em chưa chào đời, người nghèo, người nước ngoài, người già và người ốm yếu, và người di cư”.
Về phần Tổng Giám Mục Washington, trong một tuyên bố được đưa ra sau cuộc bầu cử tống thống, ngày 06/11/2024, Đức Hồng Y Wilton Gregory viết: “Hôm nay, khi đất nước chúng ta đang chuẩn bị thực hiện một hướng đi mới trong việc điều hành, điều rất quan trọng cho mỗi người trong chúng ta là phải nhớ rằng, với tư cách là những người có đức tin và thiện chí, chúng ta được kêu gọi cùng nhau làm việc tìm kiếm sự thật, công bằng và bình an trong gia đình, cộng đoàn và quốc gia của chúng ta”.
Tổng Giám Mục Washington nhận xét, với kết quả bầu cử ở các cấp, một số người thở phào nhẹ nhõm, nhưng cũng có một số lo lắng về tương lai phía trước. Theo ngài, “con đường phía trước của chúng ta nằm ở sự tôn trọng lẫn nhau và phẩm giá do Chúa ban tặng mà chúng ta chia sẻ, được trao tặng một cách tự do với lời cầu nguyện, sự kiên nhẫn, lòng tốt và hy vọng”.
Tham dự Hội nghị COP 29 của Các bên tham gia Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu, tại ở Baku, Azerbaijan, Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Toà Thánh, đọc sứ điệp của Đức Thánh Cha gửi tới sự kiện, trong đó nhắc lại lời kêu gọi cho Năm Thánh 2025: các quốc gia giàu có xoá nợ cho các quốc gia sẽ không bao giờ có khả năng trả nợ được. Bởi vì, hơn cả vấn đề quảng đại, đây là vấn đề của công lý, đó là “nợ sinh thái” của các quốc gia phát triển.
Đức Thánh Cha nhận xét, COP 29 diễn ra trong bối cảnh xu hướng xây các bức tường giữa các quốc gia ngày càng tăng. Kinh tế thế giới phát triển không làm sự bất bình đẳng giảm, ngược lại tạo ưu tiên lợi nhuận và góp phần làm xấu đi các vấn đề môi trường.
Đức Thánh Cha nói: “Để đảo ngược xu hướng này và tạo ra một nền văn hóa tôn trọng sự sống và phẩm giá con người, cần phải hiểu rằng những hậu quả có hại của lối sống ảnh hưởng đến tất cả mọi người và cùng nhau định hình tương lai, để đảm bảo rằng các giải pháp được đề xuất từ góc độ toàn cầu, chứ không chỉ đơn thuần là bảo vệ lợi ích của một số ít quốc gia”.
Theo ngài, cần nỗ lực tìm ra những giải pháp không làm suy yếu thêm sự phát triển và khả năng thích ứng của nhiều quốc gia đang phải chịu gánh nặng của nợ kinh tế. Khi thảo luận về tài chính khí hậu, điều quan trọng cần nhớ là nợ sinh thái và nợ nước ngoài là hai mặt của một đồng tiền, thế chấp tương lai.
Trong cái nhìn này, Đức Thánh Cha nhắc lại lời kêu gọi cho Năm Thánh 2025: các quốc gia giàu có xoá nợ cho các quốc gia sẽ không bao giờ có khả năng trả nợ được. Bởi vì, hơn cả vấn đề quảng đại, đây là vấn đề của công lý, đó là “nợ sinh thái” của các quốc gia phát triển.
Đức Thánh Cha kêu gọi các nguyên thủ quốc gia cùng nhau làm việc để đảm bảo rằng COP 29 củng cố ý chí chính trị để hướng các nguồn nhân lực và công nghệ cho công ích. Hy vọng vào khả năng luôn có một lối thoát, luôn có hướng để giải quyết các vấn đề.
Về phần Giáo hội Công giáo, Đức Thánh Cha nhắc lại Toà Thánh luôn hỗ trợ các nỗ lực trong lĩnh vực giáo dục sinh thái toàn diện, và trong việc nâng cao nhận thức về môi trường như là một vấn đề của con người và xã hội ở nhiều cấp độ. Điều này đòi hỏi trước hết sự cam kết rõ ràng, trong đó trách nhiệm, việc tiếp thu kiến thức và sự tham gia của mỗi người là cơ bản.
Kết thúc sứ điệp, Đức Thánh Cha nhấn mạnh trách nhiệm của mọi người, không thể dửng dưng, vì dửng dưng là đồng loã với bất công. Phải luôn đặt ra câu hỏi “Tôi có thể làm gì cho môi trường? Tôi có thể đóng góp gì?”. Ngày nay không còn thời gian cho sự dửng dưng nữa. Đây là thách đố của thế kỷ chúng ta.
Ônêsimô, người nô lệ đã bỏ trốn khỏi nhà ông Philemon, nay trở thành Kitô hữu và được Phaolô gửi trả về. Chúng ta để ý cách Phaolô dàn xếp việc này. Vị Tông Đồ biết rằng trong vị thế của mình, ngài có quyền yêu cầu Philemon phải đón nhận lại Ônêsimô. Nhưng ngài đã không muốn dùng quyền để áp đặt như thế. Thay vào đó, Phaolô gợi ý để Philemon đón nhận người nô lệ cũ của mình, đón nhận một cách tự do và dựa trên nền tảng bác ái, bình đẳng, huynh đệ, hiệp thông của những người môn đệ Chúa Kitô. Phaolô còn tự nguyện hứa sẽ đền bù những thiệt hại vật chất mà Ônêsimô có thể đã gây ra cho ông chủ, nếu Philemon yêu cầu điều này…
‘Hiệp hành’, tức đồng hành đồng nghị, là như thế đó! Không dùng quyền bính để áp đặt những cách dàn xếp theo kiểu ‘cường quyền’, mà dùng cách đối thoại, gợi ý, lắng nghe và cùng phân định để tìm ra giải pháp cho những vấn đề cụ thể trong đời sống cộng đoàn, đặt nền trên cảm thức đức tin và trên các giá trị Tin Mừng. Nhãn giới là Nước Thiên Chúa, là sự tự do của con cái Thiên Chúa!…
Nước Thiên Chúa, hay Triều đại Thiên Chúa, là tất cả định hướng sứ mạng của Chúa Giêsu. Người ta hỏi: “Nước ấy ở đâu, khi nào Nước ấy đến?” Hãy để ý cách Chúa Giêsu trả lời. Nước Thiên Chúa không ở đây hay ở kia (như quan niệm của chúng ta về các quốc gia trần gian có vùng lãnh thổ và đường biên giới xác định), mà “Nước Thiên Chúa đang ở giữa các ngươi”! Khẳng định này vừa ám chỉ chính Chúa Giêsu là hiện thân của Nước Thiên Chúa, vừa muốn nhấn mạnh rằng Nước Thiên Chúa là hồn cốt, là tâm thế, là tinh thần bàng bạc trong mọi sự. Ở đâu có yêu thương chân thực, ở đó có Nước Thiên Chúa!…
Lại cũng có thể nói về ‘hiệp hành’, hay đồng hành đồng nghị, y như vậy. Đây là một phong cách, một tâm thế căn bản nằm trong mọi khía cạnh đời sống và hoạt động của Giáo hội. Nó không nằm ở việc này việc kia. Nó bàng bạc và thấm đẫm tất cả. Ba năm của tiến trình Thượng Hội đồng vừa qua và nhất là Tài liệu Chung kết mới đây lưu ý chúng ta rằng tính đồng hành-đồng nghị thể hiện nơi sự tham gia của mọi người, dựa trên nền tảng hiệp thông và luôn nhắm phục vụ cho sứ mạng. Một cách thực tiễn, nó được diễn tả qua việc cùng lắng nghe và cùng phân định, bằng công cụ ‘đối thoại trong Thánh Thần’.
Nước Thiên Chúa thú vị biết bao. Tính ‘hiệp hành’, hay đồng nghị, sẽ giúp chúng ta vượt qua các bế tắc để thẳng tiến về Nước ấy, cho Giáo hội và – qua Giáo hội – cho mọi con người trong thế giới hôm nay.
Lm. Lê Công Đức