“Hãy theo Ta!”
Chúa nhìn thấy điều gì hay/tốt/triển vọng nơi ông Lêvi để quyết định gọi ông theo Người? Cứ theo các tiêu chuẩn thường tình của con người thì chúng ta khó trả lời câu hỏi này. Khi Chúa chọn và thành lập Nhóm Mười Hai, thì Phúc Âm nói “Người chọn những kẻ Người muốn”. Tiêu chuẩn “Người muốn” thì coi như không phải là tiêu chuẩn khách quan cho ta khảo sát. Song ta cũng khó mà nghĩ rằng cách Chúa gọi và chọn thì hoàn toàn ngẫu nhiên…
Trong câu chuyện Chúa gọi người thu thuế là Lêvi hôm nay, Chúa có gián tiếp hé mở lý do của tiếng gọi ấy. Lý do này đúng ở đây, và cũng đúng như một nguyên tắc chung của Chúa nữa: “Ta không đến để kêu gọi những người công chính, mà kêu gọi những người tội lỗi”.
Thì ra, Chúa ủng hộ đội yếu. Chúa theo phe thất thế. Chúa bênh vực kẻ bị khinh thường. Chúa biết họ khổ nhục, mặc cảm, không có gì để tự hào, tự mãn. Chúa không dị ứng với họ như Chúa luôn dị ứng với những kẻ huênh hoang, những kẻ thích thể hiện ‘ta đây’. Nhưng trên hết, Chúa ủng hộ người yếu vì Chúa thấy họ đáng thương, mà Chúa lại là ‘Lòng Thương Xót’!
Thư Do thái nói rất cô đọng về sự chọn lựa liên đới và chia sẻ đến mức đồng hoá này của Chúa: “Không phải chúng ta có Thượng tế không thể thông cảm sự yếu đuối của chúng ta, trái lại, Người đã từng chịu thử thách bằng mọi cách như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi”. Bạn thấy đó, Chúa làm người, giống như chúng ta mọi đàng, giống cả trong việc chiến đấu trước thử thách, cám dỗ, nhưng Chúa không phạm tội. Điều này cho thấy tội lỗi không tất yếu, mà chỉ là ‘tai nạn’…
Chúa giống chúng ta mọi đàng, chỉ trừ tội lỗi. Chúng ta không giống Chúa mọi đàng, chỉ bởi vì tội lỗi. Dù vậy, khi thấy mình ở trong tội lỗi, chúng ta vẫn tin tưởng hy vọng chứ không thất vọng, bởi vì Chúa Giêsu đến để kêu gọi những người tội lỗi kia mà!
Bạn thấy mình đau yếu vì tội lỗi phải không? Chúa Giêsu là thầy thuốc. Bạn hãy gặp thầy gặp thuốc đi, còn đòi gì nữa!
Lm. Lê Công Đức
Chúa Giêsu thường xuyên chữa bệnh bằng phép lạ, nhằm mục đích… chữa lành bệnh cho bệnh nhân, dĩ nhiên. Nhưng cũng luôn có mục đích gợi cho người ta biết Người là ai! Không bao giờ Chúa Giêsu tự coi mình như được sai đến chỉ để chữa bệnh thể lý cho các bệnh nhân khốn khổ. Người muốn trao ban cho họ nhiều hơn thế, trao ban điều tốt lành nhất cơ! Vì thế, hoạt động chữa bệnh của Chúa Giêsu luôn gắn với một ý nghĩa biểu tượng, hướng chỉ một ý nghĩa khác, sâu xa và toàn vẹn hơn. Ý nghĩa đó là: Người là Con Thiên Chúa, đến để giải phóng con người khỏi mọi tình trạng ràng buộc thuộc mọi chiều kích (thể lý, tâm lý, tinh thần, tâm linh)…
Sự kiện Người thấy những người kia có lòng tin mạnh mẽ nên đã tuyên bố lời tha tội cho người bệnh bại liệt được thả xuống từ mái nhà, đó là một sự kiện đặc biệt hé mở vai trò giải phóng toàn diện nói trên của Chúa Giêsu. Nói lời tha tội là một ‘nước cờ’ có tính áp sát hơn trong việc mặc khải sự thật về nguồn gốc và sứ mạng của Người. Nhưng không dễ cho người ta nhận ra chút nào, vì việc nhận ra ấy đòi hỏi một sự cởi mở và thiện chí rất cao độ mà họ không có sẵn.
Người ta không tin Chúa Giêsu có thẩm quyền ấy. Đồng thời, người ta sính phép lạ (nghĩ rằng làm phép lạ mới đáng kể, chứ nói lời tha tội thì… dễ quá mà!). Và Chúa Giêsu phải ‘nhượng bộ’ luận lý của họ, để chữa lành người bệnh bằng một phép lạ. Thấy phép lạ, “ai nấy đều sửng sốt và ngợi khen Thiên Chúa”… Thì ra, đúng như luận lý của họ, phép lạ mới chinh phục được họ! Ta thấy Chúa Giêsu ở trong hoàn cảnh gay go biết bao, và Người phải kiên nhẫn biết bao! Bởi Người biết rõ, sự chinh phục của phép lạ thì không sâu xa và không bền.
Xin Chúa tăng cường nơi chúng ta sự mềm mỏng cởi mở và thiện chí đối với Chúa, để nhận ra và đón nhận chính Chúa, đó cũng là đón nhận ơn giải phóng trọn vẹn nhất cho mình!
Lm. Lê Công Đức
“Bởi chính Người đã chịu khổ hình và chịu thử thách, nên Người có thể cứu giúp những ai sống trong thử thách.” Lời này trong Thư Do thái nhắc ta rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa đã làm người trọn vẹn. Ta đừng nghi nan điều này – kiểu như nghĩ rằng Chúa chỉ làm người phần nào đó thôi hay chỉ ‘làm màu’ bên ngoài vậy thôi! Không, Chúa đã đảm nhận 100 phần trăm thân phận con người, và ‘không có gì thuộc về con người mà xa lạ với Con Thiên Chúa nhập thể’ – mượn cách diễn tả của Térence.
Theo các Giáo phụ Cappadoce, cái gì không được Con Thiên Chúa nhập thể đảm nhận thì không được cứu độ, vì thế, Chúa Giêsu chịu thử thách, chịu khổ, chịu chết thật – như một con người! Trình thuật Tin Mừng Mác-cô hôm nay cho thấy Chúa Giêsu muốn ôm lấy hết tất cả những hoàn cảnh muộn phiền khó khăn trắc trở đau ốm bệnh hoạn tật nguyền trong cõi nhân sinh này…
Vì thế, khi thấy mình hay bạn hữu, người thân của mình ở trong nghịch cảnh, thử thách, chúng ta hãy cố gắng vượt qua bằng các phương tiện tự nhiên trong khả năng mình – đói ăn rau, đau uống thuốc – nhưng trước, trong, và sau khi dùng các phương tiện ấy, thái độ của người Kitô hữu có đức tin trưởng thành là tín thác, tức đặt niềm trông cậy vào Chúa. Là Kitô hữu, chúng ta là ‘những người hành hương của hy vọng’ – vẫn luôn thế, chứ không chỉ là trong Năm Thánh 2025 này!
Niềm hy vọng tín thác này có thể là cớ để những ai không hiểu, như Karl Marx, sẽ phê phán rằng các Kitô hữu bị ru ngủ bởi ‘thuốc phiện tôn giáo’. Chúng ta không luôn dễ trả lời cho họ bằng lời lẽ, nhưng chúng ta có thể (và phải) trả lời cho họ bằng chính chứng tá Hy Vọng, tức Niềm Trông Cậy của mình. Vả chăng, niềm hy vọng của chúng ta đâu có đóng lại nơi những mục tiêu tìm kiếm trước mắt. Ví như ta bị bệnh ung thư, thì không phải tất cả điều ta mong mỏi và tìm kiếm là hết ung thư, mà đúng hơn và quan trọng hơn, ta mong mỏi và tìm kiếm ‘sự bình an chân thực của Chúa’, dù mình ở trong hoàn cảnh nào.
Chúa Giêsu biết mọi bệnh hoạn tật nguyền và mọi nỗi khốn khổ của chúng ta, và chỉ có Người mới trao ban cho ta sự bình an sâu xa và đích thực. Chúng ta hãy tín thác, trông cậy vào Người, bởi chính Người mới là ‘Niềm Hy Vọng không làm thất vọng’!
Lm. Lê Công Đức
“Ngày nghỉ lễ, Chúa Giêsu vào giảng dạy trong hội đường. Người ta kinh ngạc về giáo lý của Người, vì Người giảng dạy người ta như Ðấng có uy quyền, chứ không như các luật sĩ”…
Chúa Giêsu là một nhà giảng thuyết, bởi công việc rao giảng là công việc chính yếu của Người. Điều đáng để ý, đó là đám đông các thính giả có ấn tượng về Người như một vị “giảng dạy có uy quyền”. Giảng dạy ‘có uy quyền’ nghĩa là gì? Nghĩa là giảng với xác tín, quyết đoán, có tiêu điểm rõ ràng, dựa vào nhận thức của chính mình hay đã được mình ‘nội tâm hoá’. Đồng thời, đó là giảng phù hợp với hoàn cảnh của người nghe và phù hợp cho sự nhận hiểu của người nghe.
Qua các bài giảng của Chúa Giêsu được ghi lại trong các sách Phúc Âm, chúng ta cũng nhận thấy rõ Người giảng không hoạt ngôn, không rườm rà tung hứng ngôn từ, không sáo ngữ, cũng không nhắm hùng biện. Tư tưởng thì thâm thuý mà ngôn ngữ thì sát đất, gần gũi! Người giảng với lửa trong tim nên lời Người bừng cháy. Người là Lời, nên ánh mắt, nét mặt, cử điệu tay chân, vân vân… cũng chuyên chở Lời! Người không giảng vô hồn như trả bài, mà giảng với hồn cốt, với thần thái thật sự sống động. Nói tóm là Người giảng với uy quyền!
Giáo hội chúng ta đang có khoảng 500.000 nhà giảng lễ thi hành tác vụ Lời Chúa vào mỗi ngày Chúa Nhật. Đây là tác vụ hàng đầu trong số các tác vụ của thừa tác viên chức thánh (giám mục, linh mục, phó tế). Hẳn là không vị nào có thể ‘giảng dạy với uy quyền’ như Chúa Giêsu được – nhưng chắc chắn rằng ngay cả những nhà giảng thuyết tốt nhất cũng có thể cải thiện để giảng tốt hơn, hầu chuyển đạt sứ điệp Lời Chúa cho cộng đoàn cách hữu hiệu nhất.
Hãy khuyến khích, nâng đỡ các vị giảng thuyết của cộng đoàn bạn bằng những cách mà bạn có thể – nhất là cầu nguyện cho tác vụ quan trọng này của các ngài!
Ngày 06/01/2025, Đức Thánh Cha đã bổ nhiệm sơ Simona Brambilla, nữ tu người Ý thuộc Dòng Truyền giáo Consolata, làm Tổng trưởng của Bộ các Tu hội Đời sống Thánh hiến và các Hiệp hội Đời sống Tông đồ, gọi tắt là Bộ Tu sĩ.
Sơ Simona Brambilla 60 tuổi, đã là một y tá chuyên nghiệp trước khi gia nhập Dòng Nữ tu Truyền giáo Consolata và đã truyền giáo ở Mozambique. Sơ đã phục vụ trong chức vị Bề trên Tổng quyền của Dòng Truyền giáo Consolata từ năm 2011 đến năm 2023.
Trước đó, vào ngày 8/7/2019, lần đầu tiên Đức Thánh Cha bổ nhiệm bảy phụ nữ làm thành viên của Bộ các Tu hội Đời sống Thánh hiến và các Hiệp hội Đời sống Tông đồ. Sau đó, vào ngày 7/10/2023, sơ Simona đã được Đức Thánh Cha bổ nhiệm làm Tổng Thư ký của cùng Bộ này. Và ngày 6/1/2025, sơ trở thành người phụ nữ đầu tiên được bổ nhiệm làm Tổng trưởng của một Bộ của Tòa Thánh.
Vào tháng 10/2023, trong một cuộc phỏng vấn với trang tin tiếng Ý, sơ đã chia sẻ rằng “kinh nghiệm tiếp xúc với các thực tại, dân tộc, văn hóa đa dạng, các Giáo hội địa phương, các hình thức đời sống thánh hiến ở châu Phi, châu Mỹ, châu Á và châu Âu đã biến đổi và củng cố trong tôi ý thức rằng cuộc gặp gỡ với người khác là nguồn tăng trưởng, trao đổi món quà và ân sủng. Sứ vụ dạy tôi rằng nếu thực sự chúng ta được sai đi ‘gieo rắc’ Tin Mừng, thì cũng chính Chúa gieo vãi và làm cho ân ban của Người phát triển khắp nơi. Chúng ta có nhiệm vụ biết ơn, nhận ra, đón nhận và cùng nhau cử hành”.
Bổ nhiệm theo tinh thần của Thượng Hội đồng về hiệp hành
Khi được hỏi việc bổ nhiệm của Đức Thánh Cha dành cho sơ có thể được đọc trong chìa khoá của Thượng Hội đồng về hiệp hành không? Sơ nói rõ rằng hiệp hành có nghĩa là “cùng nhau bước đi” hướng về Chúa, tôn trọng và làm hài hoà những khác biệt trong Tình yêu. Điều này cũng đúng đối với sự đa dạng giữa các ơn gọi và đặc sủng, và giữa các chiều kích nam tính và nữ tính của con người. Hiệp hành là một lời mời gọi sống các mối quan hệ đích thực, thẳng thắn và tôn trọng, nhân bản và Kitô giáo đích thực, vun trồng sự trao đổi, hỗ tương và đối thoại.
Canh tân đời sống thánh hiến
Liên quan đến cuộc khủng hoảng ơn gọi và canh tân đời sống thánh hiến, tân Tổng trưởng Bộ Tu sĩ cho rằng cần phải suy tư vấn đề này theo cái nhìn hiệp hành, nghĩa là cùng với những người nam nữ thánh hiến. Khi làm việc trong Bộ Tu sĩ, sơ mong muốn và ý thức sự cần thiết đặt mình vào trường học của những người có nhiều kiến thức và hiểu biết hơn mình. Cá nhân sơ tin rằng việc lắng nghe mọi người, những trải nghiệm và hành trình khác nhau, là bước cơ bản để Thánh Thần hướng dẫn, mở rộng tâm hồn, các giác quan nội tâm của chúng ta để đón nhận ánh sáng Người, để chúng ta có thể cùng nhau bước đi.
Đối với sơ, ngày nay chủ đề về sự nhỏ bé đáng được nghiên cứu và đặc biệt chú ý hơn nữa. Sơ ấn tượng bởi điều mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói trong cuộc gặp với các giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ, chủng sinh và nhân viên mục vụ ở Kazakhstan vào ngày 15/9/2022: “Tất nhiên, khi đối diện với nhiều thách đố của đức tin – đặc biệt là những thách đố liên quan đến sự tham gia của các thế hệ trẻ -, cũng như đối diện với những vấn đề và khó khăn của cuộc sống và nhìn vào các con số, trong bối cảnh rộng lớn của một đất nước như tại đây, người ta có thể cảm thấy ‘nhỏ’ và bất tương xứng. Tuy nhiên, nếu chúng ta tiếp nhận cái nhìn đầy hy vọng của Chúa Giêsu, chúng ta sẽ khám phá ra một điều đáng ngạc nhiên: Tin Mừng nói rằng sự bé nhỏ, khó nghèo về tinh thần, là một mối phúc, là mối phúc đầu tiên (xem Mt 5,3), bởi vì sự nhỏ bé làm chúng ta khiêm nhường trước quyền năng của Thiên Chúa và để chúng ta không đặt nền tảng hành động của Giáo hội dựa trên khả năng của chúng ta. Đây là một hồng ân! Tôi nhắc lại: có một ân sủng giấu ẩn khi là một Giáo hội nhỏ, một đoàn chiên nhỏ; thay vì phô trương sức mạnh, các con số, cơ cấu của chúng ta và mọi hình thức khác do con người, chúng ta để mình được Chúa hướng dẫn và khiêm tốn đặt mình bên cạnh mọi người. Không giàu về điều gì và nghèo về mọi thứ, chúng ta bước đi với sự đơn sơ, gần gũi với anh chị em đồng bào của mình, mang niềm vui của Tin Mừng vào những hoàn cảnh của cuộc sống. Như men trong bột và như hạt giống nhỏ nhất được gieo vào đất (x. Mt 13,31-33), chúng ta sống trong những biến cố vui buồn của xã hội mà chúng ta đang sống, để phục vụ nó từ bên trong”.
Sơ cho rằng những gì Đức Thánh Cha đã nói với đàn chiên bé nhỏ ở Kazakhstan, cũng có thể giúp ích và khích lệ đời sống thánh hiến nói chung, đang lo lắng về sự suy giảm về số lượng và năng lượng, ít là ở một số nơi trên thế giới.
Giá trị của trải nghiệm truyền giáo ở Mozambique
Về thời gian truyền giáo ở Mozambique, cụ thể là ở Mucua sơ chia sẻ trải nghiệm này đã biến đổi sơ một cách sâu sắc. Sơ luôn mang theo với lòng biết ơn tất cả những năm tháng đó. Những mối quan hệ đầy ý nghĩa đã chạm đến và hoán cải tâm hồn sơ, sự phong phú khôn ngoan của vùng đất truyền giáo đã mở ra cho sơ những chân trời nhân bản và thiêng liêng mới, sự hỗ tương của việc công cuộc loan báo Tin Mừng, và nhiều hồng ân khác mà Chúa đã ban cho sơ qua cuộc gặp gỡ với một dân tộc có tâm hồn sôi nổi, ấm áp, mãnh liệt, nhạy cảm.
Sơ nói: “Một câu tục ngữ Macua luôn là nguồn cảm hứng cho tôi: ‘Thiên Chúa không giống như Mặt Trời, chỉ đi qua thế giới để chiếu sáng mọi vật, nhưng giống như Mặt Trăng, đi cùng với những vì sao, luôn đồng hành và soi sáng trong bóng tối’. Đó là một tục ngữ rất …hiệp hành! Mặt Trăng, đối với Macua là tinh tú khiêm tốn chiếu sáng đêm tối và làm cho đêm trở nên quyến rũ và đầy bí ẩn. Tinh tú khiêm tốn bởi vì, theo cách diễn đạt của sự khôn ngoan bình dân, trong khi Mặt Trời chiếu sáng rực rỡ trên bầu trời, làm lu mờ ánh sáng các ngôi sao khác vào ban ngày thì Mặt Trăng lại thích sống cùng với ánh sáng của các ngôi sao và hành tinh trong bầu trời về đêm. Mặt Trời, đối với người Macua, du hành một mình, là vị vua và chúa tể duy nhất trong ngày. Mặt Trăng, trái lại du hành cùng bạn bè, hiện hữu trong chân trời của sự hiệp thông và chia sẻ mà trong đêm, do đó, trong thời gian thân mật, một biểu hiện đặc quyền. Mặt Trời sáng đến mức chúng ta không thể nhìn vào. Chúng ta có thể ngắm Mặt Trăng, tận hưởng khung cảnh của bầu trời đầy sao và được truyền cảm hứng bởi ánh sáng bầu trời”.
Theo sơ, bí ẩn của Mặt Trăng đã mê hoặc nhiều nhà tư tưởng, nhà thơ, nhà ngôn sứ và các thánh. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắc lại điều này nhiều lần. Ngài đưa chúng ta trở lại chủ đề về hiệp hành, đối thoại, về bản giao hưởng của những ánh sáng khác nhau cùng nhau cư trú, chiếu sáng và tô điểm cho cùng một bầu trời.
Có một câu tục ngữ Macua khác về mặt trăng cũng luôn đồng hành với sơ: “Có người ngắm Trăng ở trên trời, có người có Trăng trong lòng”. Về điều này, sơ mong ánh sáng kín đáo của Mặt Trăng chiếu vào tâm hồn mỗi người và làm cho tâm hồn trở thành nơi Mặt Trăng cư ngụ, ngày càng mở ra cho nó sự tinh tế dịu dàng và bền bỉ của những người không tỏa sáng bằng ánh sáng của mình nhưng biết ơn và hạnh phúc khi cùng với những người khác trở thành một phản ánh khiêm tốn của Ánh sáng Thiên Chúa, Đấng yêu thương sưởi ấm, che chở và biến đổi các tạo vật bằng tình yêu dịu dàng và mạnh mẽ của Người.
Phụ nữ có vị trí quan trọng ở Vatican, Giáo hội mang tính hiệp hành hơn
Vào tháng 01/2024, trong cuộc phỏng vấn của báo Avvenire của Hội đồng Giám mục Ý, sơ Simona Brambilla cho rằng việc phụ nữ hiện diện trong các vị trí quan trọng ở Vatican cho thấy Giáo hội ngày càng mang tính hiệp hành, và cởi mở hơn.
Dịp đó, sơ nhắc lại bài giảng của Đức Thánh Cha trong Thánh lễ trọng đầu năm, Đức Maria Mẹ Thiên Chúa: “Giáo hội cần Đức Maria để tái khám phá khuôn mặt nữ tính của mình: trở nên giống Mẹ hơn, Đấng, với tư cách là một người nữ, Trinh nữ và là người Mẹ, đại diện cho mẫu mực và hình dáng hoàn hảo; dành không gian cho phụ nữ để trổ sinh hoa trái ngang qua việc chăm sóc mục vụ được thực hiện bằng sự quan tâm và chăm sóc, sự kiên nhẫn và lòng can đảm của người mẹ”.
Khi được hỏi liệu việc bổ nhiệm phụ nữ có làm “mất tính nam” của Giáo hội Công giáo hay không, tân Tổng trưởng nhấn mạnh rằng “đó là một sự phản ánh rằng mọi người phải tiếp tục và mở rộng, nhưng điều đó cũng phải được chuyển thành một thực hành hiệu quả chắc chắn có sự tham gia nhiều hơn của phụ nữ ở các cấp độ khác nhau của đời sống Giáo hội”.
Điều này cũng đòi hỏi “một nghiên cứu cẩn thận về chiều kích nữ tính của Giáo hội và sứ vụ theo nghĩa rộng: các mô hình và năng động của suy nghĩ, tình cảm, sự nhạy cảm, linh đạo, hành động, sứ vụ thể hiện hai chiều kích quan trọng, nữ tính và nam tính và tính đến sự tương tác cần thiết, mang lại ích lợi và phúc lành cho cả hai phái.
Nguồn. Vatican News
Nghĩa là ‘thời’ (kairos) đã đến. Chờ đợi đã hết, chuẩn bị đã xong… Đã tới ngày N, đã tới giờ G… Nhưng ‘thời’ ở đây không phải là một nhật kỳ ‘date’ ngẫu nhiên được đưa ra, mà ‘thời’ gắn với (và được định nghĩa bởi) một con người, một biến cố. Đó là con người và biến cố Chúa Giêsu! Không còn là các ngôn sứ lớn nhỏ được Thiên Chúa lần lượt sai đến nữa, mà là chính ‘Người Con’! Không còn là những uốn nắn, điều chỉnh theo đường lối Chúa được định vị chỉ bên trong các bối cảnh chính trị, xã hội, văn hoá, tôn giáo nào đó nữa, mà là chính ‘Triều đại Thiên Chúa’ được khai mở và xây dựng…
Ý nghĩa sự xuất hiện của ‘Người Con’ này thì đặc biệt chưa từng có, nhưng biểu hiện bên ngoài thì vẫn… thông thường thế thôi. Giêsu Nadaret vẫn là một con người bình thường, đi lại, sinh hoạt, nói năng giữa những con người bình thường khác. Ngay cả một vai vế, một chức tước nào đó trong đạo hay ngoài đời, cũng chẳng có! Cũng vì thường quá như vậy, mà Người bị phần đông người ta xem thường.
Dù sao, cũng có một số người đủ thiện chí, đủ cởi mở và trực giác để không bắt hụt Giêsu Nadaret. Trong số đó, hôm nay chúng ta thấy có hai cặp anh em: Simon và Anrê, cùng với Giacôbê và Gioan. Đây là những ‘người nghèo của Thiên Chúa’. Họ đang đánh cá hằng ngày ở Biển Galile để mưu sinh như bao người, nhưng họ có khát vọng mãnh liệt về một cuộc ‘mưu sinh’ khác, sâu xa, trọn vẹn, và đích thực… Vì thế, khi Đức Giêsu đi qua và gọi họ, họ ngay lập tức bắt được tần số… và đi theo Người.
Hẳn ai trong chúng ta cũng ước mong cảm nhận một sức hút lạ kỳ của Chúa Giêsu đối với mình như thế. Quá tốt! Hãy cầu xin đi!…
Lm. Lê Công Đức
Nếu thời các Tông Đồ mà có Bộ Giáo lý Đức tin thì hẳn thánh Gioan Tông Đồ rất phù hợp để làm bộ trưởng. Bởi như ta thấy, ngài quan tâm nhấn mạnh những điều thật nền tảng trong đức tin của chúng ta! Và điều nền tảng nhất, đó là: Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa, nếu ai tin và ở trong Người thì có sự sống đời đời. Trích bản văn Thư 1 Gioan hôm nay:
“Con Thiên Chúa đã đến và đã ban cho chúng ta ơn thông hiểu, để chúng ta nhận biết Thiên Chúa chân thật, và được ở trong Con chân thật của Ngài. Chính Người là Thiên Chúa chân thật và là sự sống đời đời. Các con thân mến, hãy giữ mình xa các tà thần”…
Thần học và giáo huấn của Gioan QUI KITÔ cách đậm đặc như thế, không chỉ trong đoạn Thư 1Gioan trích ở trên, mà ta cũng thấy rõ trong trình thuật Tin Mừng Gioan hôm nay nữa, qua lời chứng dứt khoát và rõ ràng của Gioan Tẩy giả: “Tôi không phải là Ðấng Kitô, nhưng tôi được sai đến trước Người. Ai cưới vợ, thì là người chồng, còn bạn hữu của tân lang đứng mà nghe tân lang nói thì vui mừng vì tiếng nói của tân lang. Vậy niềm vui của tôi như thế là đầy đủ. Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại”…
Có thể nói, với những lời trên, Gioan Tẩy giả đang giới thiệu Chúa Giêsu chính thức ‘bước ra sân khấu’, và Gioan Tẩy giả hoàn thành nhiệm vụ, sẵn sàng rút lui vào hậu trường. Điều này phù hợp với cột mốc Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa ngày mai, đánh dấu việc Người bắt đầu sứ vụ công khai của Người – sứ vụ ấy ứng với Mùa Thường Niên trong Năm Phụng Vụ của chúng ta.
Công việc chính yếu trong sứ vụ của Chúa Giêsu là rao giảng cho mọi người biết Chúa Cha là ai, Cha sai Người đến để làm gì, và sự cần thiết của việc tin vào Người để được cứu độ, tức là được sự sống đời đời… Chúng ta đừng quên, người Do thái vốn biết nhiều điều về Thiên Chúa, nhờ Thánh Kinh và lịch sử, truyền thống của họ, chẳng hạn họ biết Thiên Chúa độc nhất, sáng tạo, quan phòng, toàn năng, hằng hữu, vân vân… Thế nhưng họ vẫn hình dung méo mó và sai bét về Thiên Chúa – và việc của Chúa Giêsu là diễn tả cho họ hình ảnh chân thực của Thiên Chúa, nhưng họ cố chấp, không nghe!…
Chúng ta cần cảnh giác với những hình ảnh méo mó về Thiên Chúa trong nhận thức của chúng ta, nhất là khi ta là ‘con nhà đạo gốc nhiều đời’ – và cần mềm mỏng lắng nghe và chiêm ngắm Chúa Giêsu một cách tinh khôi, để điều chỉnh lại cho đúng hình ảnh của Thiên Chúa trong cách hiểu của mình.
Lm. Lê Công Đức
Sắp đến lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa, đoạn Thư 1 Gioan nhắc đi nhắc lại rằng Chúa Giêsu đến trong Thánh Thần, nước, và máu. Và chính Thánh Thần, nước, và máu làm chứng về Chúa Giêsu. Ba yếu tố này gợi cho ta nghĩ đến Phép Rửa của mình trong Chúa Giêsu Kitô, là cánh cửa mà ta đã bước qua để trở thành Kitô hữu.
Trước hết, Chúa Giêsu xuống sông Giođan để được Gioan Tẩy giả rửa bằng NƯỚC – một hình ảnh Người tự đồng hoá với tội nhân. Sự kiện được Gioan Tẩy giả thấy ở đây là: THÁNH THẦN trong hình ảnh chim bồ câu ngự xuống trên Chúa Giêsu, cùng với tiếng Chúa Cha xác nhận rất hài lòng về Con Yêu Dấu. Sự ‘hài lòng về Con Yêu Dấu’ này vang âm lại điều sách thánh (Isaia) nói về người Tôi Tớ đau khổ, nghĩa là gợi cho ta chân trời Thập giá Canvê của Chúa Giêsu. Ta ghi nhận, trong biến cố Hiển Dung chuẩn bị cho việc đi vào cuộc Khổ Nạn, Chúa Giêsu cũng được Chúa Cha tuyên bố ‘rất hài lòng’. Thế mà cuộc Khổ Nạn và Thập giá ấy chính là ‘Phép Rửa’ bằng MÁU mà Chúa Giêsu ý thức mình phải chịu, bởi Người đồng hoá mình với tội nhân! Cần nói thêm, thánh sử Gioan tường thuật cái chết của Chúa Giêsu không chỉ có yếu tố MÁU, mà cả NƯỚC nữa.
Thánh Thần, máu, nước là 3 ‘yếu tố’ mà Thư 1 Gioan nhận diện rằng “cả ba chỉ là một”. Cả ba đều là năng lực ‘thanh tẩy’, và ‘Thanh Tẩy’ là tên gọi khác cho Phép Rửa của chúng ta. Sự kiện Chúa Giêsu chữa lành người phong hủi là minh hoạ sắc bén cho ý nghĩa thanh tẩy này. Chúa Giêsu đã làm gì? Người giơ tay chạm đến người ấy. Chúng ta biết, phong hủi là ô uế đối với tâm thức Do thái, và ai chạm đến người phong hủi sẽ tự động nhiễm ô uế – vì thế kẻ phong hủi phải tránh xa người khác, và phải la lớn để nhắc người ta đừng tới gần mình… Thế nhưng, Chúa Giêsu sờ chạm bệnh nhân phong hủi thì Người không nhiễm uế, mà ngược lại, Người ‘truyền nhiễm’ sự tinh sạch của Người để thanh tẩy tình trạng ô uế kia! Người lật ngược cục diện… sự thiện và sự sống khải thắng trên sự dữ và sự chết! Chạm đến để để đồng hoá mình với tội nhân, hoá ra Chúa Giêsu cho phép tội nhân ‘đồng hoá’ với chính Người!
Đó là điều chúng ta nhận được từ Phép Rửa của mình, trong Chúa Giêsu Kitô. Cũng vậy, bất cứ khi nào ta thấy mình bị ‘nhiễm bẩn’ do tách rời khỏi Chúa Giêsu, tất cả những gì ta cần làm là cho phép Người chạm đến mình, chúng ta sẽ được thanh tẩy và được SỐNG!
Lm. Lê Công Đức
Đây là luận chứng của thánh Gioan:
Thiên Chúa yêu thương chúng ta -> ta đáp lại bằng lòng yêu mến Chúa -> yêu mến Thiên Chúa thì yêu thương anh chị em mình -> tinh thần thế gian là ích kỷ, kiêu ngạo, hận thù, loại trừ… vì thế, ai yêu thương anh chị em mình thì người đó đã thắng thế gian -> để có thể chiến thắng thế gian bằng tình yêu thương như vậy, chúng ta cần tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa!
Vẫn còn trong bối cảnh Mùa Giáng Sinh, chúng ta đã dọn hang đá ra, ít ngày nữa lại dọn cất vào, ta tự nhủ: mình đã MỪNG GIÁNG SINH tới đâu rồi, mừng đã trọn vẹn chưa? Nói cách khác, Mùa Giáng Sinh này có làm cho chúng ta lớn lên hơn trong lòng tin vào Chúa Giêsu và trong sự đón nhận Người? Đó mới là trọng tâm của chữ ‘MỪNG’!
Nhưng tin và đón nhận Chúa Giêsu, theo luận chứng của thánh Gioan trên kia, thì có nghĩa là CÓ KHẢ NĂNG YÊU THƯƠNG anh chị em mình – đây là cách đáp lại Món Quà yêu thương của Thiên Chúa, Đấng trao ban Con Một cho ta.
Có thể có người hỏi cắc cớ: Có thật không, có thật Giêsu là Món Quà yêu thương của Thiên Chúa không? Thì đây, hãy xem Người đến để làm gì… Nhìn toàn bộ câu chuyện Chúa Giêsu, từ Bêlem cho tới Thập giá và Mồ trống… sẽ biết Người đến để làm gì… Nhưng ngay ở đây, trong hội đường Nadaret vào buổi đầu sứ vụ, chính Chúa Giêsu đã cho biết rõ: Người đến để GIẢI PHÓNG!
Thật vậy, được trao cho việc đọc và giảng giải sách thánh hôm ấy, và ‘tình cờ’ gặp đoạn sách Isaia đầu chương 61, Chúa Giêsu trang trọng đọc lớn tiếng cho mọi người nghe: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng tin mừng cho người nghèo khó, chữa lành những người sầu khổ trong tâm hồn, loan tin giải thoát cho kẻ bị giam cầm, cho người mù được thấy, giải thoát người bị áp chế, công bố năm hồng ân của Thiên Chúa”. Rồi Người gấp sách lại, nhìn mọi người đang chăm chú nhìn mình, và ‘giảng giải’ chỉ bằng một câu ngắn: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh tai quí vị vừa nghe”!
Trong Tin Mừng Luca, “hôm nay” có một ý nghĩa đặc biệt, nói về ‘kairos’, về ‘thời’ đã đến, thời cứu độ, thời ân sủng… Chúa Giêsu muốn nói với thính giả của Người: Đoạn sách Isaia ấy nói về tôi; và hôm nay đã ứng nghiệm, vì tôi đang có mặt với quí vị đây, tôi đã sẵn sàng để bắt tay vào làm các công việc có tính giải phóng và thi ân giáng phúc ấy…!
Vậy thì, chúng ta đã rõ câu trả lời cho câu hỏi có thật Đức Giêsu là Món Quà yêu thương của Chúa Cha. Chúng ta nhận Món Quà này trong lòng biết ơn, và Món Quà này sẽ tăng cường nơi chúng ta khả năng yêu thương anh chị em mình…
Lm. Lê Công Đức
Chiếc thuyền nhỏ giữa biển khơi. Giữa đêm tối nữa. Sóng to, gió lớn, người trên thuyền phải nhọc nhằn chèo chống… Nhiều người trong chúng ta thấy cuộc đời mình, gia đình mình, cộng đoàn mình, Giáo hội mình, đất nước mình… như chiếc thuyền tròng trành của các môn đệ giữa Biển Hồ vào đêm khuya hôm ấy. Điều tệ nhất là trong tình trạng như vậy mà chẳng thấy Chúa đâu! Và cũng như các môn đệ, chúng ta hoảng sợ…
Nhưng vẫn có Chúa đó. Vì Chúa đến!
Vâng, Chúa đến có mặt với các môn đệ, trong một tình cảnh mà các ông nghĩ không có một phần trăm cơ hội nào để mình ‘có Chúa’ được!
Phép lạ dồn dập quá, các ông không bắt kịp. Chúa vừa mới hoá bánh nuôi đám đông, giờ đây Người lại đi trên mặt nước – các ông không tưởng tượng nổi.
Nói gì thì nói, Chúa đi trên nước và bước tới đó. Người nói với các ông: “Hãy yên tâm. Thầy đây. Đừng sợ!”…
Thử hỏi, điều gì thúc đẩy Chúa đến và có mặt với các môn đệ trong cơn khốn khó ấy, ngay cả dù mọi yếu tố đều ‘chống lại’ việc Chúa đến (giữa đêm, giữa biển, gió bão, lại không có thuyền…)?
Chỉ vì Chúa chạnh lòng thương các ông, như Người đã chạnh lòng thương và đã hoá bánh nuôi đám đông mới đây thôi. Chúa thương vì thấy các ông sợ hãi. Và Chúa muốn cho thấy rằng các môn đệ vẫn có Chúa, ngay cả dù họ nghĩ rằng họ đang KHÔNG có Chúa và phải tự mình chèo chống trong bất lực và vô vọng!
Những biến cố loại này vun đắp một kinh nghiệm nơi các môn đệ về tình thương và mối quan tâm của Thiên Chúa dành cho mình, qua Chúa Giêsu. Sau này, thánh Gioan sẽ thay mặt anh em mà chuyển tải cách say sưa và đầy xác tín về tình yêu của Thiên Chúa. “Phần chúng ta, chúng ta đã biết và tin nơi tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta. Thiên Chúa là Tình Yêu, và ai ở trong tình yêu, thì ở trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong họ”; “Anh em thân mến, nếu Thiên Chúa thương yêu chúng ta dường ấy, thì chúng ta cũng phải thương yêu nhau”…
Vâng, dù bạn đang thấy mình ở trong thử thách hay nghịch cảnh nào, thì vẫn có Chúa đó… Người hiện diện theo cách thức mà ta có thể hoàn toàn bất ngờ.. Và Người trấn an bạn: “Hãy yên tâm, Thầy đây, đừng sợ!”… Không gì chắc chắn bằng tình thương và sự quan tâm của Chúa! Và Chúa chỉ mong chúng ta: nhận ra tình thương ấy… và hãy yêu thương nhau!
Lm. Lê Công Đức