ĐỂ TẤT CẢ LẠI ĐÀNG SAU VÀ LAO VỀ PHÍA TRƯỚC – Lm. Lê Công Đức
Tuần thứ 5 Mùa Chay là tuần lễ cuối cùng trước khi bước vào Tuần Thánh. Hành trình ‘sa mạc’ của mỗi người và của cộng đoàn cũng đã trải qua nhiều cung bậc. Những cố gắng để trung tín với Chúa, và những bất trung! Những kinh nghiệm về tình thương và sự săn sóc của Chúa, cũng như kinh nghiệm về sự cứng cỏi kém tin của mình!… Qua tất cả, hành trình vẫn còn mở ra, chúng ta vẫn còn đang bước đi, và lời Chúa hôm nay trao gửi một thông điệp giục giã: Hãy quên hẳn đàng sau mà lao về phía trước!
Trước hết, Bài đọc Isaia (43,16-21) nhắc lại những hành động giải phóng của Chúa đối với dân, kèm với lời Chúa kêu gọi đầy khích lệ: “Các ngươi đừng nhớ đến dĩ vãng, và đừng để ý đến việc thời xưa nữa… Ta sẽ mở đường trong hoang địa, và khai sông nơi đất khô khan… Ta làm cho hoang địa có nước và đất khô khan có sông, để dân yêu quý của Ta có nước uống…” Rõ ràng đây là một sự thúc bách, một tình thế khẩn cấp. Việc nhớ lại quá khứ cũng cần chứ, nhưng lúc này không cần, vì điều cần là bước đi, tiếp tục kinh nghiệm cách mới mẻ tình thương và sự quan tâm chăm sóc của Chúa.
Để rồi, nếu có lúc nào nhớ lại, thì dân Chúa càng được củng cố trong sự thật xuyên suốt này: “Chúa đã đối xử đại lượng với chúng tôi, nên chúng tôi mừng rỡ hân hoan” (x. Đáp ca, Tv 125). Nghĩa là, khi quên hẳn đàng sau mà lao về phía trước, thì điểm đến chung cuộc sẽ đầy niềm vui – niềm vui của những người nhận ra rằng “Chúa đối xử cách đại lượng” với mình.
Đó chính là kinh nghiệm của người phụ nữ ngoại tình trong câu chuyện Phúc Âm Gioan (8,1-11). Chị sa ngã nặng nề, bị đấu tố và đứng trước cuộc xử tử thê thảm… Nhưng Chúa Giêsu đã giải thoát chị khỏi tay đám đông kia. Và chính Người – con người duy nhất ở đó đủ tư cách để ném đá chị – cũng tha bổng chứ không xử tội chị. “Chị hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa”, lời này có nghĩa: Chị hãy để tất cả quá khứ lại đàng sau, hãy bước về phía trước với một con người khác, một con người hoàn toàn mới mẻ! Chị được Chúa Giêsu đối xử đại lượng biết bao… Chúng ta hãy tưởng tượng niềm vui mừng hân hoan của người phụ nữ này!
Chúa Giêsu tuyệt vời quá như thế đó. Ta hiểu tại sao thánh Phaolô cảm nghiệm rằng được biết Chúa Giêsu là điều quá tuyệt vời. Chính Chúa Giêsu làm cho Phaolô coi mọi sự là rác rưởi, và “quên hẳn mọi sự đàng sau mà lao về phía trước”. Phaolô tâm sự: “Không phải là tôi đã đạt đến đích, hoặc đã trở nên hoàn hảo, nhưng tôi đang đuổi theo để chiếm lấy, bởi vì chính tôi cũng đã được Ðức Giêsu Kitô chiếm lấy” (x. Pl 3,8-14). Đuổi theo để chiếm lấy Đức Kitô, bởi vì đã được Đức Kitô chiếm lấy! Đây chính là kinh nghiệm mà sau này thánh Augustino sẽ diễn tả bằng lời Chúa nói trong tâm hồn mình: Ngươi tìm Ta, vì ngươi đã gặp Ta!
Hôm nay Chúa cũng đang khuyến khích mỗi người chúng ta: Hãy để mọi sự lại đàng sau và lao về phía trước, vì Chúa đang chờ ta ở phía trước!
LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA – Maria Thu Thủy
Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót. Trước mặt Người tất cả chúng ta đều là tội nhân và cần đến lòng thương xót của Chúa. Ngài vẫn yêu thương và tha thứ tội lỗi cho ta ngay cả khi ta phản bội Ngài. Chính vì thế, ta được mời gọi phản chiếu hình ảnh lòng thương xót của Thiên Chúa bằng việc khoan dung tha thứ cho anh chị em xung quanh chúng ta.
Tin mừng hôm nay, thánh sử Gioan thuật lại: Vừa tảng sáng những người Pharisêu đã dẫn đến trước mặt Đức Giêsu một người phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Phải chăng đây là một sự tình cờ, ngẫu nhiên họ thấy người phụ nữ phạm tội hay là một kế hoạch đã được sắp xếp nhiều ngày, chờ cơ hội để tố cáo, làm nhục người khác?
Việc làm này của những người Pharisêu cũng cho ta một bản xét mình. Trong cuộc sống có khi nào tôi cũng là những người Pharisêu hay để ý, xét nét, tìm lỗi sai của người khác để bắt lỗi họ. Tôi có biến những yếu đuối của anh chị em mình thành những câu chuyện vui, đùa giỡn trước đám đông để làm mất danh dự của họ không? Nhất là khi chúng ta đặt mình trong hoàn cảnh của người phụ nữ chắc chắn chúng ta sẽ rất cần một ánh mắt xót thương, một sự cảm thông tha thứ bởi tôi cũng từng nhiều lần yếu đuối và vấp ngã. Tôi cũng đã có những lỗi lầm trong suy nghĩ, lời nói, hành động những điều mà nếu bị phơi bày, tôi cũng chẳng thể ngẩng mặt. Vì thế, nếu tôi muốn người khác làm cho tôi điều gì thì tôi cũng hãy làm như vậy cho họ.
Chúng ta phải làm gì trước những sai lỗi của người khác? Chúng ta hãy học nơi Chúa Giêsu. Thay vì kết án người phụ nữ, Chúa Giêsu cúi xuống, viết trên đất, như để cho cơn giận của đám đông lắng xuống, cho họ cơ hội để nhìn lại chính mình. Thế nhưng họ không nhận ra và cứ hỏi Người mãi. Và rồi, Người nói: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc ném đá chị này trước đi” (Ga 8,7). Câu nói đã kết thúc phiên xét xử một cách bất ngờ khiến cho đám đông phải sững sờ kinh ngạc và bỏ đi. Đức Giê su đã dạy cho họ cũng như mỗi người chúng ta bài học về việc xét đoán lên án người khác: “Tôi là ai mà dám xét đoán người khác” chỉ có một mình Thiên Chúa mới có quyền xét xử.
“Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” (Ga 8,11). Một lời nói rất nhẹ nhàng nhưng quá đủ để để giúp người phụ nữ vực dậy và thay đổi chính mình. Đức Giêsu không kết án chị không có nghĩa là Ngài chấp nhận tội lỗi nhưng Ngài luôn đón nhận tội nhân và cho họ một con đường để làm lại từ đầu, một cơ hội để thay đổi lối sống.
Lạy Chúa khi nhìn những người xung quanh con sẽ có nhiều cách nhìn khác nhau. Nếu tâm hồn con rộng lượng và quảng đại con sẽ nhìn tha nhân với ánh mắt cảm thông. Nếu tâm hồn con chứa đựng nhiều suy nghĩ tiêu cực, hờn oán và ghét ghen, con sẽ dễ kết án người khác cách bất công. Ước mong sao con có thể mặc lấy tâm tình thương xót của Chúa trước những giới hạn và lầm lỗi của tha nhân. Nhờ đó, con trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa mỗi ngày một hơn.
Ngày 04/4, Đức Thánh Cha gửi sứ điệp đến 4.300 tín hữu Công giáo Slovakia dịp hành hương Năm Thánh. Ngài nhắc lại đức tin là kho báu cần được chia sẻ với niềm vui. Mỗi giai đoạn cuộc sống đều có những thách đố và khó khăn, nhưng cũng là cơ hội để phát triển lòng tin và phó thác nơi Chúa.
Từ ngày 03 đến 06/4, đoàn hành hương quốc gia Slovakia cử hành nghi thức bước qua các Cửa Thánh tại các Đền thờ Thánh Phêrô, Gioan Laterano, Đức Bà Cả, và Thánh Phaolô ngoại thành. Cao điểm của cuộc hành hương là Thánh lễ tại Đền thờ Thánh Gioan Laterano, vào ngày 3, và tại Đền thờ Thánh Phêrô, ngày 04/4 sau đó. Vào Chúa Nhật, ngày 06/4, đoàn sẽ tham dự Thánh lễ tại Đền thờ Thánh Phêrô, nhân Ngày Năm Thánh của các bệnh nhân và các nhân viên y tế.
Trong sứ điệp gửi đến đoàn hành hương, trước hết Đức Thánh Cha bày tỏ mong muốn được hiện diện giữa các tín hữu để chia sẻ khoảnh khắc đức tin và sự hiệp thông, nhưng do vẫn đang trong thời gian dưỡng bệnh, ngài tham gia cùng mọi người qua lời cầu nguyện và với tất cả tình mến dành cho họ.
Tiếp đến, gửi lời chào đến Đức Tổng Giám Mục Bernard Bober, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Slovakia, các Tổng giám mục và Giám mục thuộc Công giáo Latinh và nghi lễ Đông phương, Tổng thống Peter Pellegrini và nhiều vị trong chính phủ, cùng với nhiều thành phần dân Chúa, Đức Thánh Cha nhận xét, cuộc hành hương của các tín hữu là dấu chỉ cụ thể cho ước muốn canh tân đức tin, củng cố mối dây liên kết với Người kế vị Thánh Phêrô và vui mừng làm chứng cho niềm hy vọng không làm thất vọng (Rm 5, 5), vì được sinh ra từ tình yêu tuôn đổ từ Trái Tim bị đâm thâu của Chúa Kitô và được Thánh Thần đổ vào chúng ta.
Đức Thánh Cha viết: “Về niềm hy vọng này, Năm Thánh mời gọi chúng ta trở thành những người hành hương trong suốt cuộc đời, và hành trình đến Roma, với việc bước qua Cửa Thánh và dừng chân tại phần mộ của các Thánh Tông Đồ và các vị Tử Đạo, là dấu chỉ của hành trình mỗi ngày, hướng về đời đời. Đối với anh chị em, đây là một hành trình phù hợp với truyền thống Kitô giáo phong phú của đất nước anh chị em, được nuôi dưỡng bởi lời chứng tá Thánh Xirilô và Thánh Mêtôđiô, cùng nhiều vị thánh khác, những người đã tưới mát cho truyền thống này bằng Tin Mừng Chúa Kitô trong hơn một nghìn năm”.
Trong sứ điệp, Đức Thánh Cha còn diễn giải thêm rằng, đức tin là kho báu cần được chia sẻ với niềm vui. Mỗi giai đoạn đều mang đến những thách đố và khó khăn, nhưng cũng là cơ hội để phát triển lòng tin và phó thác nơi Chúa. Và như Đức Trinh Nữ Maria, với lời “xin vâng” khiêm nhường và can đảm đã mở ra cánh cửa cứu chuộc thế giới. Như thế, lời “xin vâng” đơn sơ và chân thành của chúng ta cũng có thể trở thành khí cụ trong tay Thiên Chúa để thực hiện một điều gì đó vĩ đại. Đón nhận kế hoạch của Người không có nghĩa là đã có mọi câu trả lời, nhưng tin tưởng rằng nơi Người dẫn chúng ta đến, Người cũng sẽ đi trước chúng ta với ân sủng. Nói “xin vâng” hôm nay có thể mở ra những chân trời mới về đức tin, hy vọng và bình an cho chúng ta và cho những người mà Chúa cho chúng ta gặp gỡ.
Cuối sứ điệp, Đức Thánh Cha mời gọi tất cả thành phần dân Chúa cùng nhau bước đi, hướng nhìn về Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ chúng ta. Và ngài cầu nguyện xin Đức Mẹ, Bổn mạng của Slovakia, hướng dẫn và che chở mọi người. Ngài ban phép lành cho tất cả các tín hữu hành hương và gia đình họ cũng như toàn thể người dân Slovakia.
Nguồn. Vatican News
Giêsu Nadaret quả thật là nguyên cớ chia rẽ. Giữa dân chúng, cũng như giữa giới lãnh đạo Do thái, có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về Người. Họ cãi nhau ỏm tỏi. Rồi cuối cùng, thánh Gioan ghi nhận: “Ai về nhà nấy”. Ai về nhà nấy, đó cũng có nghĩa là chẳng ai thuyết phục được ai, chẳng ai thay đổi lập trường…
Thời nay, có internet, có mạng xã hội, sự phân hoá sâu sắc giữa người ta càng được thấy rõ hơn, về nhiều hiện tượng và nhiều chuyện thời sự tôn giáo/xã hội/ chính trị… nói chung là về mọi sự kiện trong đời sống. Dường như khi bình luận về bất cứ gì ‘thời sự’ (in the news), luôn có nhiều kẻ nói xuôi và nhiều người nói ngược. Chẳng hạn, về ông Donald Trump đắc cử tổng thống, về Hành giả Minh Tuệ rong ruổi dặm trường rày đây mai đó, về sự ra đi của một linh mục vốn dĩ mang nhiều thị phi… Với phương tiện truyền thông luôn sẵn trên tay, bất cứ ai cũng có thể nói bất cứ gì cho cả thế giới nghe!
Chúng ta không cần phải quá hoang mang trước những ồn ào trong cái chợ mạng xã hội như thế. Hầu như ai cũng đã rõ rằng cần phải dè dặt và tỉnh táo khi tiếp cận truyền thông ngày nay – vì đa số các trường hợp thì ‘kẻ biết, không nói; người nói, không biết’!
Nhưng điều đặc biệt quan trọng, đó là người Kitô hữu cần phải LÀ KITÔ HỮU cả trên mạng xã hội: trong các bài viết hay các bình luận của mình. Người công chính trong sách Giêremia hôm nay ví mình như “con chiên hiền lành”, song lại vô tư mong Chúa báo thù những kẻ hại mình! Nghe qua, chúng ta thấy lợn cợn… Và quả thật, cách nghĩ ấy cần được ‘kiện toàn’ bởi chính Con Chiên hiền lành đích thực là Chúa Giêsu: “Cha ơi, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”.
Vâng, câu hỏi “Giêsu là ai?” rất quan trọng – nhưng “tôi là ai?” cũng là câu hỏi quan trọng không kém. Tôi là ai mà phán xét người ta? Tôi có thực là Kitô hữu không khi trút xả sân hận vô tội vạ lên người này kẻ nọ? Tôi tin vào ai và rao giảng ai, khi khẳng định chắc nịch rằng ‘Chúa tha thứ, nhưng tôi thì không tha’?
Xin Chúa Giêsu uốn lòng chúng ta nên giống Trái Tim của Người!
Lm. Lê Công Đức
Đã là tuần 4 Mùa Chay, chỉ còn tuần 5 nữa thì sẽ tới Tuần Thánh. Và hôm nay là thứ Sáu, ngày dành tưởng niệm Chúa chịu chết. Lời Chúa nói về ‘bi kịch muôn đời’ là người công chính bị bách hại, bị loại trừ chỉ vì đó là người công chính! Và Chúa Giêsu, trong câu chuyện của Người, đã đảm nhận bi kịch này; đúng hơn, tình trạng bị bách hại và bị loại trừ của Người đã đưa bi kịch này lên đến đỉnh điểm của nó.
Ta hãy đọc lại những lời trong sách Khôn ngoan:
“Những kẻ gian ác đã nói rằng: ‘Chúng ta hãy vây bắt kẻ công chính, vì nó không làm ích gì cho chúng ta, mà còn chống đối việc chúng ta làm, khiển trách chúng ta lỗi luật và tố cáo chúng ta vô kỷ luật. Nó tự hào mình biết Thiên Chúa và tự xưng là con Thiên Chúa. Chính nó là sự tố cáo những tư tưởng của chúng ta. Vì nguyên việc thấy nó, chúng ta cũng cáu, thấy bực mình, vì nếp sống của nó không giống như kẻ khác, và đường lối của nó thì lập dị. Nó kể chúng ta như rơm rác, nó xa lánh đường lối chúng ta như xa lánh những gì dơ nhớp, nó thích hạnh phúc cuối cùng của người công chính, nó tự hào có Thiên Chúa là Cha […] Chúng ta hãy nhục mạ và làm khổ nó, để thử xem nó có hiền lành và nhẫn nại không. Chúng ta hãy kết án cho nó chết cách nhục nhã, vì theo lời nó nói, thì người ta sẽ cứu nó’”.
Đó là tường thuật, còn đây là bình luận: “Chúng nghĩ như vậy, nhưng chúng lầm, vì tội ác của chúng đã làm cho chúng mù quáng. Và chúng không biết ý định mầu nhiệm của Thiên Chúa”… Lời Thánh vịnh 33 (Đáp ca) đồng thanh với bình luận trên: “Chúa gần gũi những kẻ đoạn trường, và cứu chữa những tâm hồn đau thương dập nát. Người hiền đức gặp nhiều bước gian truân, nhưng Chúa luôn luôn giải thoát”…
Đoạn Tin Mừng Gioan hôm nay kể chuyện Chúa Giêsu cảm nghiệm thật rõ số phận bị bách hại của người công chính. Bầu khí ngột ngạt căng thẳng và nguy hiểm bắt đầu bao trùm Chúa Giêsu. Người phải dè dặt, tránh công khai… nhưng rồi lại xuất hiện công khai. Về phía những người Do thái thì… “họ tìm cách bắt Chúa Giêsu, nhưng không ai đụng tới Người, vì chưa tới giờ Người”!…
Sống đời Kitô hữu, chúng ta cần cảnh giác và cần sẵn sàng: Cảnh giác để không đấu tố và loại trừ người công chính. Và sẵn sàng để chịu bách hại, ngay cả chịu bách hại chỉ vì lý do là mình cố gắng sống và rao giảng sự công chính!
Lm. Lê Công Đức
Trong bài giáo lý được chuẩn bị cho buổi Tiếp kiến chung ngày 2/4/2025, Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu “hãy học từ ông Dakêu để không mất hy vọng, ngay cả khi chúng ta cảm thấy bị bỏ rơi hoặc không có khả năng thay đổi. Chúng ta hãy vun trồng ước muốn được nhìn thấy Chúa Giêsu, và trên hết hãy để lòng thương xót của Thiên Chúa tìm gặp chúng ta, Đấng luôn đến tìm kiếm chúng ta, trong bất kỳ hoàn cảnh nào khi chúng ta lạc lối”.
Như thông cáo của Phòng Báo chí Tòa Thánh vào ngày 1/4/2025, vào sáng thứ Tư ngày 2/4/2025, dù không có buổi Tiếp kiến chung, Đức Thánh Cha đã cho công bố bài giáo lý đã được ngài chuẩn bị cho buổi tiếp kiến để các tín hữu có thể tiếp tục suy tư về chủ đề những cuộc gặp gỡ trong cuộc đời Chúa Giêsu.
Sau khi đã suy tư về cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với ông Nicôđêmô, với người phụ nữ xứ Samaria, tuần này Đức Thánh Cha suy tư về cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với người thu thuế Dakêu, một câu chuyện xúc động với đoạn kết rất hay.
Cuộc gặp gỡ với ông Dakêu (19 1-5)
Sau khi vào Giêrikhô, Đức Giêsu đi ngang qua thành phố ấy. Ở đó có một người tên là Dakêu; ông đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có. Ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông, mà ông ta lại lùn. Ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giêsu, vì Người sắp đi qua đó. Khi Đức Giêsu tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông: “Này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!”
Bài giáo lý của Đức Thánh Cha
Anh chị em thân mến,
Chúng ta hãy tiếp tục suy tư về cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với một số nhân vật trong Phúc Âm. Lần này tôi muốn tập trung vào nhân vật Dakêu: một câu chuyện tôi đặc biệt yêu thích, bởi vì nó có một vị trí đặc biệt trong hành trình thiêng liêng của tôi.
Người lạc lối
Phúc Âm Thánh Luca mô tả ông Dakêu như một người dường như đã lạc lối hoàn toàn và không thể cứu chữa. Có lẽ đôi khi chúng ta cũng cảm thấy như thế: không còn hy vọng. Tuy nhiên, ông Dakêu sẽ khám phá ra rằng Chúa đang tìm kiếm ông.
Trên thực tế, Chúa Giêsu đã đi xuống Giêricô, một thành phố nằm dưới mực nước biển, được coi là hình ảnh của địa ngục, nơi Chúa Giêsu muốn đến để tìm kiếm những người cảm thấy lạc lối xa đường. Và trong thực tế, Chúa Phục Sinh vẫn tiếp tục đi xuống địa ngục ngày nay, đến những nơi chiến tranh, đến nỗi đau của những người vô tội, đến trái tim của những người mẹ chứng kiến cái chết của con mình, đến cơn đói khát của người nghèo.
Theo một nghĩa nào đó, ông Dakêu đã bị lạc lối; có lẽ ông đã đưa ra một số lựa chọn sai lầm hoặc có lẽ cuộc sống đã đặt ông vào những tình huống mà ông khó tránh khỏi. Thật vậy, Thánh Luca nhấn mạnh vào việc mô tả đặc điểm của người đàn ông này: ông không chỉ là người thu thuế, nghĩa là người thu thuế từ những người đồng hương của mình cho quân xâm lược La Mã, mà ông còn là người đứng đầu những người thu thuế, như thể muốn nói rằng tội lỗi của ông tăng gấp nhiều lần.
Sau đó, Thánh Luca nói thêm rằng ông Dakêu giàu có, ngụ ý rằng ông đã trở nên giàu có nhờ bóc lột người khác, lạm dụng địa vị của mình. Nhưng tất cả những điều này đều có hậu quả: có thể ông Dakêu cảm thấy bị mọi người xa lánh, khinh thường.
Những trở ngại ngăn cản gặp Chúa
Khi hay biết Chúa Giêsu đang đi qua thành phố, ông Dakêu cảm thấy mong muốn được gặp Người. Ông không dám tưởng tượng đến một cuộc gặp gỡ, ông chỉ có thể quan sát từ xa. Nhưng những mong muốn của chúng ta cũng gặp phải trở ngại và không tự động trở thành hiện thực: ông Dakêu có vóc dáng thấp bé! Đó là thực tế của chúng ta, chúng ta có những hạn chế mà chúng ta phải giải quyết. Và rồi còn những người khác, đôi khi không giúp chúng ta: đám đông ngăn cản ông Dakêu nhìn thấy Chúa Giêsu. Có lẽ đây cũng là một phần sự trả thù của họ.
Can đảm và đơn sơ như trẻ nhỏ khi đến gặp Chúa
Nhưng khi bạn có mong muốn mạnh mẽ, bạn sẽ không nản lòng. Bạn sẽ tìm ra giải pháp. Nhưng bạn cần phải có lòng can đảm và không xấu hổ, bạn cần một chút tính đơn sơ của trẻ con và không cần quá bận tâm về hình ảnh của mình. Ông Dakêu, giống như một đứa trẻ, trèo lên cây. Chắc hẳn đó là một điểm quan sát tốt, đặc biệt là khi có thể quan sát mà không bị phát hiện, khi ẩn nấp sau những tán lá.
Thiên Chúa không thể đi qua mà không tìm kiếm những người lạc mất
Nhưng với Chúa, điều bất ngờ luôn xảy ra: Khi Chúa Giêsu đến gần, Người nhìn lên. Ông Dakêu cảm thấy bị phơi bày và có lẽ đang mong đợi một sự khiển trách công khai. Có thể dân chúng đã hy vọng điều đó, nhưng họ sẽ phải thất vọng: Chúa Giêsu, gần như ngạc nhiên khi thấy ông Dakêu trên cây, đã yêu cầu ông xuống ngay lập tức, và nói với ông: “Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!” (Lc 19,6). Thiên Chúa không thể đi qua mà không tìm kiếm những người lạc mất.
Đôi khi chúng ta khó chấp nhận lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho người khác
Thánh Luca nhấn mạnh đến niềm vui trong lòng ông Dakêu. Đó là niềm vui của những người cảm thấy được nhìn nhận, công nhận và trên hết là được tha thứ. Ánh mắt của Chúa Giêsu không phải là ánh mắt khiển trách nhưng là ánh mắt thương xót. Đôi khi chúng ta khó chấp nhận lòng thương xót đó, đặc biệt là khi Thiên Chúa tha thứ cho những người mà chúng ta cho là không xứng đáng. Chúng ta than phiền vì chúng ta muốn giới hạn tình yêu của Thiên Chúa.
Bắt đầu thay đổi khi gặp được Chúa
Tại nhà ông Dakêu, sau khi nghe lời tha thứ của Chúa Giêsu, ông đứng dậy, như thể được sống lại từ cõi chết. Và ông đứng lên để đưa ra lời cam kết: sẽ trả lại gấp bốn lần những gì ông đã chiếm đoạt. Đó không phải là cái giá phải trả, bởi vì sự tha thứ của Thiên Chúa là điều được ban vô điều kiện, nhưng đó là mong muốn noi gương Đấng đã yêu thương chúng ta. Ông Dakêu đã thực hiện một cam kết mà ông không bắt buộc phải thực hiện, nhưng ông đã làm như vậy vì ông hiểu rằng đây là cách ông yêu thương. Và ông thực hiện điều đó bằng cách kết hợp cả luật La Mã về trộm cắp và luật của đạo Do Thái về sám hối. Do đó ông Dakêu không chỉ là người có khát vọng mà còn là người biết thực hiện những bước cụ thể. Mục đích của ông không phải là chung chung hay trừu tượng, mà bắt đầu từ chính lịch sử của ông: ông nhìn lại cuộc đời mình và xác định thời điểm để bắt đầu thay đổi.
Đừng mất hy vọng
Anh chị em thân mến, chúng ta hãy học từ ông Dakêu để không mất hy vọng, ngay cả khi chúng ta cảm thấy bị bỏ rơi hoặc không có khả năng thay đổi. Chúng ta hãy vun trồng ước muốn được nhìn thấy Chúa Giêsu, và trên hết hãy để lòng thương xót của Thiên Chúa tìm gặp chúng ta, Đấng luôn đến tìm kiếm chúng ta, trong bất kỳ hoàn cảnh nào khi chúng ta lạc lối.
Trong video ý cầu nguyện trong tháng 4, được công bố ngày 1/4/2025, Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu cầu nguyện “để việc sử dụng công nghệ mới không thay thế các mối tương quan giữa con người với nhau, nhưng tôn trọng phẩm giá của mỗi người và giúp chúng ta đối diện với những khủng hoảng của thời đại”.
Công nghệ là thành quả của trí tuệ mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta
Đức Thánh Cha khẳng định rằng “công nghệ là thành quả của trí tuệ mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta”, nhưng nếu chúng ta không sử dụng nó cách đúng đắn thì nó sẽ tạo ra những hậu quả tiêu cực. Một trong những hậu quả mà ngài nói đến đó là “Có điều gì đó không ổn khi chúng ta dành nhiều thời gian cho điện thoại hơn là cho con người”. Bên cạnh điều này, những hậu quả tiêu cực khác như bắt nạt trên mạng và sự thù hận thể hiện trên các mạng xã hội, bởi vì “màn hình khiến chúng ta quên rằng đằng sau đó là những con người thật, biết thở, biết cười, biết khóc”.
Đức Thánh Cha cũng cảnh báo rằng “công nghệ không thể chỉ mang lại lợi ích cho một số ít người trong khi lại loại trừ những người khác”.
Sử dụng công nghệ để kết nối chứ không phải để chia rẽ
Do đó, để tránh những nguy hiểm này, Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta “sử dụng công nghệ để kết nối chứ không phải để chia rẽ; để giúp đỡ người nghèo; để cải thiện cuộc sống của những bệnh nhân và những người có khả năng khác nhau; dùng công nghệ để chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta; để gặp gỡ nhau như anh chị em”.
Đây là điều Đức Thánh Cha nói khi mở đầu video: “Tôi ước ao biết bao chúng ta nhìn vào màn hình ít hơn và nhìn vào mắt nhau nhiều hơn!”. Bởi vì, “chính khi chúng ta nhìn vào mắt nhau, chúng ta mới khám phá ra điều thật sự quan trọng: chúng ta là anh chị em, là con cái của cùng một Cha”.
Sử dụng công nghệ phải hướng đến sự tôn trọng phẩm giá mỗi người
Đức Hồng y Michael Czerny, Tổng trưởng Bộ Phục vụ Phát triển Con người Toàn diện, đồng tình với lời của Đức Thánh Cha. Ngài khẳng định: “Các công nghệ mới là nguồn lực và công cụ quan trọng phục vụ cho gia đình nhân loại. Việc sử dụng chúng phải hướng đến sự tôn trọng và phẩm giá của các quyền cơ bản của con người nếu chúng phục vụ cho sự phát triển. Chúng ta hãy cùng nhau hợp nhất với lời kêu gọi của Đức Thánh Cha để tiến bộ kỹ thuật số có thể trở thành món quà cho nhân loại, tôn trọng phẩm giá của mỗi người, vì công lý và lợi ích chung”.
Sử dụng công nghệ để phục vụ con người và thụ tạo
Cha Cristóbal Fones, Giám đốc quốc tế của Mạng lưới cầu nguyện toàn cầu của Giáo hoàng, giải thích rằng trong video, “Đức Thánh Cha Phanxicô muốn nhắc nhở chúng ta rằng việc sử dụng công nghệ có trách nhiệm có nghĩa là sử dụng công nghệ để phục vụ con người và thụ tạo. Được sử dụng theo cách này, công nghệ cũng có thể là phương tiện để tôn vinh Chúa vì khả năng và sự sáng tạo của chúng ta do Người ban. Tương tự như vậy, việc sử dụng các công nghệ mới một cách có đạo đức giúp chăm sóc thụ tạo, bảo vệ phẩm giá của con người và cải thiện cuộc sống”.
Sử dụng công nghệ một cách có đạo đức
Theo cha Cristóbal, việc sử dụng công nghệ một cách có đạo đức “trước hết đòi chúng ta phải nhìn người khác bằng đôi mắt của trái tim, rằng chúng ta phải thiết lập mối quan hệ thân thiện với họ, đó là điều mà Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta làm. Tôn trọng phẩm giá của mỗi người và lợi ích chung là những nguyên tắc cần hướng dẫn chúng ta khi phân định cách thức và mục đích sử dụng công nghệ”.
Dân đúc tượng con bò và sấp mình thờ lạy, gọi con bò là ‘Thiên Chúa’ của họ. Môse đang ở trên núi với Chúa, được Chúa sai xuống với phán quyết rằng Chúa sẽ huỷ diệt dân vì sự cứng cổ ấy, và Chúa sẽ đặt Môse làm tổ phụ một dân tộc to lớn… Vậy là Chúa định xoá bàn làm lại!?
Nhưng Môse không đành. Ông phản biện, ông van nài Chúa nghĩ lại mà thương bỏ qua cho dân này và đừng tiêu diệt họ. Ông dẫn ra đủ thứ lý lẽ để thuyết phục Chúa – nào là Chúa đã thương và ra tay giải thoát họ khỏi cảnh nô lệ ở Ai cập, nào là đừng để người Ai cập cười mỉa mai trên việc Chúa làm và trên số phận dân Chúa, nào là hãy nhớ lại lời Chúa hứa với các tổ phụ của dân… Tóm lại, Chúa đã thương dân này đến thế, giờ chẳng lẽ Chúa không thương nữa sao?
Ta ghi nhận, Môse không phủ nhận mức độ tội lỗi nghiêm trọng của dân. Ông chỉ dựa vào chính tình thương của Chúa mà biện hộ cho họ. Ông đã lãnh trách nhiệm trên họ, giờ đây nếu họ bị tiêu diệt – ngay cả dù chính bản thân ông được chừa ra – thì còn có nghĩa gì! Vì thế, Môse quyết định bênh vực dân trước mặt Chúa. Không phải một cách ậm ờ qua loa, được chăng hay chớ, mà một cách quyết đoán, thậm chí ông từng tuyên bố “Chúa hãy lấy mạng con đi!” – nghĩa là, ông sống chết với dân!
Và ta thấy, những lý lẽ của Môse thực ra rất yếu ớt về mặt luận lý thông thường, bởi chúng bỏ qua qui tắc về ‘nguyên nhân và hậu quả’. Song thật bất ngờ, dường như những lý lẽ ấy đủ mạnh để thuyết phục được Thiên Chúa, bởi chúng dựa trên nền tảng thâm sâu và vững chắc nhất của mọi qui tắc, đó là dựa trên ‘luận lý’ Lòng Thương Xót của Chúa đối với dân Ngài…
Đi vào trong nỗi lòng Mô sê, chúng ta thấy ông là hình ảnh thật đẹp tiên báo về chính Chúa Giêsu, vị Mục tử Tốt lành không tố cáo chiên, nhưng chịu trách nhiệm về đàn chiên, gánh tội cho đàn chiên, sẵn sàng chết cho đàn chiên. Nỗi lòng của Môse giúp chúng ta tiếp cận nỗi lòng của Chúa Giêsu, bi tráng hơn rất nhiều. Trong khi Môse cố thuyết phục Thiên Chúa, điều ông đã thành công, thì Chúa Giêsu cố thuyết phục con người và đã không thành công, vì thế Người lấy mạng sống mà làm bằng chứng cuối cùng cho họ. Hãy nghe Chúa Giêsu nói với những người Do thái:
“Ta không tìm vinh quang nơi loài người. Nhưng Ta biết các ngươi không có lòng yêu mến Thiên Chúa. Ta đến nhân danh Chúa Cha, nhưng các ngươi không chịu đón nhận. Nếu có một người nào khác nhân danh mình mà đến, các ngươi sẽ đón nhận nó. Các ngươi tôn vinh lẫn nhau mà không tìm vinh quang do Thiên Chúa, thì làm sao các ngươi có thể tin được? Đừng tưởng rằng Ta sẽ tố cáo các ngươi với Chúa Cha. Kẻ tố cáo các ngươi là Môsê, người mà các ngươi vẫn tin tưởng”.
Ngày hôm nay, lời cảnh cáo ấy của Chúa Giêsu dành cho chúng ta đó, nhất là cho các mục tử trong Giáo hội: “Các ngươi tôn vinh lẫn nhau mà không tìm vinh quang do Thiên Chúa, thì làm sao các ngươi có thể tin được?”
Lm. Lê Công Đức
Sion nói:
– Chúa bỏ rơi tôi, Chúa đã quên tôi rồi!
Chúa nói:
– Nào người mẹ có thể quên con mình mà không thương xót chính đứa con mình đã cưu mang ư? Cho dù người mẹ đó có quên, nhưng Ta sẽ không quên ngươi đâu.
Tám thế kỷ trước Chúa Giáng Sinh, một mặc khải như thế đã được ban cho dân Chúa qua ngôn sứ Isaia. Hai mươi thế kỷ sau Chúa Giêsu, mặc khải ấy vẫn còn thách đố đức tin của chúng ta mỗi khi ta rơi vào nghịch cảnh và cảm thấy chới với đến nỗi thốt lên “Chúa đã bỏ rơi tôi, Chúa đã quên tôi rồi!”… Dù có người mẹ nào đó quên con mình, thì Thiên Chúa vẫn không bao giờ quên chúng ta! Ta vẫn bị thách đố để tin như thế, dù so với dân Chúa thời Cựu ước thì chúng ta còn được củng cố cách dứt khoát bằng biến cố Chúa Giêsu Kitô, biến cố đóng ấn tình thương cứu độ của Thiên Chúa cách hùng hồn nhất.
Thật vậy, nếu có người Con nào bị Thiên Chúa bỏ, bị Thiên Chúa quên, thì đó là Giêsu trên Thập giá, người Con ruột và là Con duy nhất. Và Chúa Cha thí bỏ Con của Ngài chỉ vì để cứu chúng ta! Lời hứa “Ta sẽ không quên ngươi đâu” được Thiên Chúa trung tín giữ trọn, ngay cả phải trả bằng giá đắt như thế! “Chúa nhân ái và từ bi, chậm bất bình và giàu ân sủng”, lời này của Thánh vịnh 144 được chứng minh không ở đâu mạnh mẽ cho bằng trên Thập giá, khi Con Thiên Chúa thảng thốt kêu lên: “Lạy Chúa con, sao Chúa bỏ con?”
Và chính khi ấy Thiên Chúa nói với dân Ngài: “Có điều gì Ta đã phải làm cho ngươi, mà Ta đã không làm?” Bởi vì nơi Chúa Giêsu, Thiên Chúa “nhân ái và từ bi” đã làm tất cả để cứu chúng ta, cho chúng ta được sống! Tất cả điều còn lại là việc đáp trả từ phía con người chúng ta, như chính Chúa Giêsu gợi ý: “Ai nghe lời Ta và tin Ðấng đã sai Ta, thì được sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng được từ cõi chết mà qua cõi sống”.
Vâng, Chúa đã làm tất cả. Chúng ta chỉ còn một việc là NGHE VÀ TIN thôi. Và câu chuyện sẽ tốt đẹp trọn vẹn…
Mạch nước từ đền thờ chảy ra – như thị kiến trong sách Êdekiel – là hình ảnh của nguồn mạch sự sống. Mạch nước ấy chảy thành dòng sông, chảy đến đâu thì đem lại sự sống đến đó, cho cây trái và cho các sinh vật dưới nước, trên bờ…
Câu chuyện Phúc Âm Gioan cũng có Đền thờ, cũng có hồ nước với năng lực chữa lành mỗi khi nước động, và cũng có nỗi khao khát được chữa lành và được sống của người bệnh bất toại nằm đó đã 38 năm… Điều bất ngờ là gặp Chúa Giêsu, người bệnh khốn khổ ấy không cần phải chờ nước động hay bất cứ yếu tố bên ngoài nào khác nữa. Chính Chúa Giêsu chữa lành cho anh ta – và điều này cho thấy: chính Chúa Giêsu là nguồn mạch sự chữa lành và sự sống!
“Nè, anh đã được chữa lành, đừng phạm tội nữa, kẻo tình trạng càng tồi tệ hơn!” Lời nhắc nhở này của Chúa Giêsu lưu ý chúng ta rằng việc chữa bệnh thể lý không phải là tất cả mối quan tâm của Chúa, bởi Chúa muốn chữa lành và đem lại sự sống toàn diện, mà trước hết là sự lành mạnh và sự sống tâm linh. Ở đây, Chúa Giêsu chỉ rõ rằng vấn đề gốc rễ nơi con người này là tội lỗi, và rằng anh cần hoán cải dứt khoát khỏi tình trạng của mình.
Chúng ta nên nhớ, Chúa Giêsu không ủng hộ cách suy diễn theo hướng qui gán mọi tai ương hoạn nạn của người ta cho tội lỗi của chính họ – tuy nhiên, Người vẫn xác nhận: mọi tội lỗi đều sinh ra đau khổ, như trong trường hợp này thì chính tội lỗi của anh ta là nguyên nhân vấn đề của anh ta…
Đó là một ngày Sa-bát! Thông tin về ngày Sa-bát gợi liên tưởng đến luật lệ, và giải thích tại sao “những người Do thái bắt đầu bách hại Đức Giêsu”. Nghĩa là, người ta nhân danh việc bảo vệ luật để chống lại hành động chữa lành và trao ban sự sống của Chúa! Ta thấy đó, việc giữ luật một cách máy móc, vô hồn, có thể đặt người ta đứng về phía sự dữ, tội lỗi và sự chết, chứ không đứng về phía sự chữa lành và sự sống. Chúa Giêsu đem lại sự giải phóng, người ta nhân danh luật để chống lại sự giải phóng này, tức ủng hộ tình trạng nô lệ. Thật không gì mù quáng hơn!
Xin Chúa Giêsu giúp chúng ta biết khao khát sự giải phóng và sự sống đích thực là chính Chúa!
Lm. Lê Công Đức
“Nếu các ông không thấy những phép lạ và những việc phi thường, hẳn các ông sẽ không tin”… Chúa Giêsu muốn nói gì khi nêu nhận xét này? Người muốn nói rằng tốt nhất chúng ta nên tin vào Người ngay cả dù không thấy những phép lạ ngoạn mục. Vị quan chức ở đây đã đáp ứng điều Chúa mong muốn: ông tin vào Người dù chưa thấy phép lạ diễn ra!
Câu chuyện Phúc Âm nhắc chúng ta rằng Chúa Giêsu vẫn tốt lành như thế và quyền năng như thế, dù ta có tin vào Người hay không. Nếu tin, thì đó là phúc cho ta. Nếu không tin, thì đó là sự bắt hụt đáng tiếc muôn đời!
Vấn đề của người Do thái là khư khư tìm kiếm phép lạ. Họ đặt phép lạ như điều kiện để tin – có lẽ do họ tự hào vì cha ông mình trong lịch sử đã được Thiên Chúa can thiệp bằng vô số phép lạ. Họ nghiện phép lạ. Và nghiện phép lạ là triệu chứng của tinh thần thực dụng, chỉ mong được việc trước mắt (chẳng hạn, được khỏi bệnh, được khỏi tai ương hoạn nạn, được may mắn…), chứ chẳng tìm kiếm gì sâu xa và nền tảng hơn! Họ ít để ý rằng dù trải nghiệm vô số phép lạ của Chúa như thế mà cha ông họ đâu có dễ tin, ngược lại đã thường xuyên tỏ ra cứng đầu cứng cổ! Quả thật, phép lạ không làm ra đức tin; đức tin mới làm ra phép lạ.
Phép lạ của Chúa không chỉ được thấy là ‘lạ’, mà trước hết và cốt yếu hơn hết, đó phải được nhận hiểu là những sự can thiệp đặc biệt từ tình thương và mối quan tâm chăm sóc của Chúa đối với con cái Ngài. Thiên Chúa làm phép lạ để thi ân giáng phúc; nếu Ngài nhằm tỏ uy quyền, thì uy quyền ấy cũng là để thi ân giáng phúc! Chúa Giêsu cũng vậy, như những phép lạ trong sứ vụ của Người cho thấy… Người không làm phép lạ để gây ấn tượng, để áp lực ai đó phải tin; Người chỉ làm phép lạ để thi ân giáng phúc và trao thông điệp rằng Triều đại Thiên Chúa đã có mặt.
Nhìn từ nhãn giới ‘thi ân giáng phúc’ này, chúng ta sẽ thấy nói cho cùng tất cả chúng ta vẫn được bao phủ bởi biển trời ‘phép lạ’ của Chúa. Bởi vì ân sủng Chúa thực sự bao phủ chúng ta, mà ta không luôn luôn ý thức!
Bắt đầu ý thức về ân sủng Chúa, người ta sẽ bắt đầu tin. Càng ý thức về ân sủng, người ta càng vững tin!
Lm. Lê Công Đức