Ngước nhìn Thánh Giá trên cao
Lòng con cảm nghiệm ngọt ngào Chúa ơi!
Nhìn lên thánh giá Chúa, con cảm nghiệm được tình yêu Chúa dành cho con dù con đầy tội lỗi. Chiêm ngắm những chặng đường thánh giá Chúa đã đi và vết thương đầy đau đớn của Chúa, con lắng nghe được lời mời gọi của Chúa “Ai muốn theo ta, hãy từ bỏ chính mình, vác thập giá hằng ngày mà theo Ta” (Lc 9,23). Từ bỏ và vác thập giá theo chân Chúa? Giêsu ơi! nó thật khó đối với con – một Thanh Tuyển sinh mới chập chững bước theo linh đạo Mến Thánh Giá. Nhưng con lại được thôi thúc cùng Chúa bước đi trên con đường thánh giá ấy để tập từ bỏ mình, bỏ đi cái tôi ích kỷ, kiêu ngạo… Nhờ đó, mỗi ngày con được trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa hơn.
Khi chiêm ngắm thánh giá Chúa, con có thêm niềm hy vọng, một sức sống mới, giúp con dám hiến thân phụng sự Chúa trong tin yêu và phó thác bởi Chúa đã chết để con được sống. Như hạt lúa mì gieo vào lòng đất, phải chịu mục nát và chết mới sinh được nhiều bông hạt. Con cũng phải dám chết đi cho con người cũ để mặc lấy con người mới trong Đức Kitô.
Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh! Cám ơn Chúa cho con hiểu: Thập Giá không còn là biểu tượng của sợ hãi, nhưng là ngọn đèn soi lối cho con đi. Xin cho con đừng vội trốn chạy khổ đau nhưng biết sống từng ngày với lòng tin tưởng: Thập Giá không phải là dấu chấm hết mà là dấu thánh của tình yêu, của ơn cứu độ, của niềm hy vọng. Từ Thập Giá, xin cho con học biết khiêm nhường; tha thứ và trao ban chính mình – như Chúa đã nêu gương cho con. Amen.
Anna Diễm Quỳnh
Ngày Thứ Năm Tuần Thánh, Đức Thánh Cha Phanxicô lại thực hiện một cử chỉ cụ thể dành cho những người đang sống sau song sắt: “Tôi luôn muốn đến nhà tù để thực hiện nghi thức Rửa Chân. Năm nay tôi không thể, nhưng tôi vẫn gần gũi anh chị em”. Khoảng 70 tù nhân thuộc nhiều độ tuổi và quốc tịch đã chào đón Đức Thánh Cha với những lời hô vang và vỗ tay, xen lẫn tiếng hò reo từ các khu biệt giam khác.
Dù vẫn đang hồi phục sau 38 ngày điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Gemelli, Đức Thánh Cha vẫn không muốn vắng mặt tại một nhà tù như thường lệ trong ngày đầu Tam Nhật Vượt Qua suốt 12 năm triều Giáo hoàng, và cả trước đó tại Buenos Aires.
Đức Thánh Cha đã thăm nhà tù Regina Coeli trong nửa giờ, ngài đã hỏi thăm và ban phép lành cho 70 tù nhân thuộc nhiều độ tuổi và quốc tịch (55% trong số họ đang chờ xét xử), cùng các nhân viên của nhà tù. Nhà tù này vốn là một tu viện, được chuyển thành nhà tù vào năm 1881. Đây cũng là nơi nhiều vị Giáo hoàng đã đến thăm, trong đó có Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII vào tháng 12 năm 1958.

Giám đốc nhà tù Clementi chào ĐTC (Vatican Media)
Dù các nhân viên an ninh nhiều lần nhắc nhở giữ trật tự trước, trong và sau chuyến thăm của Đức Thánh Cha, nhưng khó có thể kiềm chế cảm xúc khi thấy vị Giám mục Roma xuất hiện trong chính căn phòng mà họ vẫn tụ họp mỗi Chúa Nhật để học giáo lý hay dự Thánh lễ. Đây là một bất ngờ mà họ chỉ được biết từ tối hôm trước.
Những món quà từ Đức Thánh Cha
Các tù nhân, từ 20 đến 65 tuổi, ngồi thành năm hàng chờ đợi Đức Thánh Cha. Họ là đến từ Ý và nhiều quốc gia khác, thậm chí cả các châu lục xa xôi.

ĐTC giữa các tù nhân (Vatican Media)
Đức Thánh Cha đã tự tay trao tặng sách Tin Mừng và tràng hạt Mân Côi, đi qua từng hàng ghế và dừng lại với mỗi người. Có người quỳ xuống, hôn tay ngài, hoặc cúi đầu chạm vào xe lăn. “Xin Ngài cho con thêm một cuốn nữa! Con sắp được ra tù và muốn tặng nó cho chị gái con!”, một thanh niên đứng dậy từ ghế nói to. Đức Thánh Cha dừng lại vài phút với Ferdinando, một tù nhân từ tháng 12. Với làn da ngăm đen, anh luôn cầm trên tay một mảnh giấy trắng với dòng chữ: “Xin ánh sáng của Chúa chiếu rọi cuộc đời con và gia đình con. Cảm ơn Đức Thánh Cha đã thương đến chúng con”. Trước khi Đức Thánh Cha đến, anh đã nhiều lần nhờ Giám đốc Claudia Clementi giúp đỡ: “Xin bà giúp tôi trao mảnh giấy này cho Đức Thánh Cha!” – Bà trả lời: “Bình tĩnh nào, chúng ta sẽ xem có thể làm được không”. Nhưng cuối cùng, chính anh đã đặt mảnh giấy vào tay Đức Thánh Cha, và ngài đã dừng lại để hỏi thăm về gia đình anh.

ĐTC hôn gió các tù nhân sau song sắt trước khi ra về (Vatican Media)
Vị tuyên úy: Một người cha giữa chúng tôi
Cha tuyên úy Vittorio Trani, người đã nhiều năm phục vụ giữa những con người phức tạp và tổn thương này, đã chia sẻ với Vatican News: “Tôi tin rằng cử chỉ hôm nay của Đức Thánh Cha có ý nghĩa vô cùng lớn lao, bởi nó thể hiện sự quan tâm của một người cha dành cho những người đang gặp khó khăn. Nhà tù không chỉ liên quan đến các tù nhân, mà còn cả những người làm việc ở đây, những người lãnh đạo – một công việc thực sự gian nan. Và Đức Thánh Cha đã không muốn Lễ Phục Sinh trôi qua mà thiếu đi một điều gì đó ngài ấp ủ trong tim”.
Không có Thánh lễ cho ngày Thứ Sáu Thánh! Điều này cũng phản ánh nỗi bàng hoàng về một hụt hẫng, một trống trải, một dở dang… như sự ngẩn ngơ của các môn đệ trước tất cả những gì xảy ra cho Chúa Giêsu, nhất là trước cái chết của Người trên Thập giá. Sự trống trải và dang dở này còn chờ được lấp đầy bởi những gì sẽ còn tiếp tục diễn ra nữa. Nhưng ngay ở đây, khi Chúa Giêsu kêu lên “Mọi sự đã hoàn tất” rồi gục đầu xuống và trao Thần Khí, thì đó là sự ứng nghiệm tất cả nỗi thống khổ của Người Tôi Tớ trong Isaia.
Bài ca thứ tư của người Tôi Tớ (Is 52,13-53,12) được đặt vào Phụng vụ Tưởng niệm Cái Chết của Chúa chiều nay thật là ăn khớp, thật là khít khao. Không có chỗ nào khác thích hợp hơn! Tốt nhất là đọc trọn bản văn của Bài ca này khi nhìn ngắm Chúa Giêsu treo trên Thập giá. Sau đây chỉ là một phân đoạn:
“Người chẳng còn hình dáng, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì để chúng ta ưa thích; Người bị đời khinh dể như kẻ thấp hèn nhất … Sự thật, người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh lấy những đau khổ của chúng ta. Mà chúng ta lại coi người như kẻ bị Thiên Chúa đánh phạt và làm cho nhuốc hổ. Chính người đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm. Người lãnh lấy hình phạt cho chúng ta được bình an, và bởi thương tích người mà chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lang thang như chiên cừu, mỗi người một ngả. Chúa đã chất trên người tội ác của tất cả chúng ta…”
Người Tôi Tớ đau khổ chính là Chúa Giêsu. Đoạn Thư Híp-ri hôm nay (4,14-16; 5,7-9) xác nhận sự ứng nghiệm của Bài ca nói trên, và cũng đáng đọc trọn bản văn để cảm nếm hết các dư vị ngọt ngào súc tích của nó:
“Anh em thân mến, chúng ta có một Thượng tế cao cả đã đi qua các tầng trời, là Ðức Giêsu, Con Thiên Chúa… Không phải vị thượng tế không thể cảm thông sự yếu hèn của chúng ta, trái lại, Người đã từng chịu thử thách về mọi phương diện như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Khi còn sống ở đời này, Chúa Kitô đã lớn tiếng rơi lệ dâng lời cầu xin khẩn nguyện lên Ðấng có thể cứu mình khỏi chết, và vì lòng thành kính, Người đã được nhậm lời. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã trải qua đau khổ mới học được thế nào là vâng phục, và khi tới mức thập toàn, Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những kẻ tùng phục Người”.
Như vậy, lời Chúa của cuộc Tưởng niệm hôm nay cho chúng ta biết Chúa Giêsu CHẾT THẾ NÀO và Người CHẾT ĐỂ LÀM GÌ, CHẾT CHO AI… Chúng ta sẽ lấy gì đáp lại đây, ngoài niềm tri ân cảm mến dạt dào của kẻ nhận được ơn cứu mạng? Và chúng ta tin tưởng, hy vọng, hoà trong chính niềm hy vọng và tín thác của Chúa Giêsu:
“Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha!”
Lm. Lê Công Đức
Trong bài giáo lý được dọn sẵn cho buổi tiếp kiến chung ngày 16/4/2025, suy tư về dụ ngôn người cha thương xót, Đức Thánh Cha nhắc với các tín hữu rằng Thiên Chúa luôn tìm kiếm, tha thứ và thương xót chúng ta, bất kể chúng ta lạc lối ở đâu và như thế nào. Đây là niềm hy vọng của chúng ta.
Vào thứ Tư ngày 16/4/2025 Đức Thánh Cha đã cho công bố bài giáo lý được ngài soạn trước cho buổi Tiếp kiến chung được lên kế hoạch vào cùng ngày nhưng phải hủy bỏ; bởi vì dù tình trạng sức khỏe có khá hơn đôi chút, Đức Thánh Cha vẫn còn đang được trị liệu và cần tham gia các trị liệu vật lý về khả năng vận động, hô hấp và giọng nói.
Trong bài giáo lý tuần này, Đức Thánh Cha chuyển sang suy tư về các dụ ngôn và dụ ngôn đầu tiên ngài chọn chính là dụ ngôn người cha thương xót, được trình bày trong Phúc Âm Thánh Luca chương 15, dụ ngôn mà theo ngài, trình bày cốt lõi của Phúc Âm: lòng thương xót của Chúa.
Hai câu 31 và 32 trong chương 15 của Phúc Âm Thánh Luca – “Nhưng người cha nói với anh ta (người con cả): ‘Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy’” – nhắc với chúng ta rằng Thiên Chúa luôn tìm kiếm, tha thứ và thương xót chúng ta, bất kể chúng ta lạc lối ở đâu và như thế nào.Đây là niềm hy vọng của chúng ta. Mỗi chúng ta đều tìm thấy mình nơi hình ảnh của người con cả hay người con thứ, những người con lạc lối trong tình yêu khi không tôn trọng hay không hiểu tình yêu đích thực. Chính tình yêu thực sự của người cha đã có thể giải thoát những người con khỏi cách hiểu sai lầm về tình yêu.
Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu suy nghĩ xem mình là người con cả hay người con thứ và cầu xin Chúa ban cho chúng ta ơn hoán cải để biết đường trở về Nhà. Ngài bắt đầu bài giáo lý như sau:
Bài giáo lý của Đức Thánh Cha
Anh chị em thân mến,
Sau khi đã suy tư về những cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với một số nhân vật trong Phúc Âm, bắt đầu từ bài giáo lý này, tôi muốn tập trung suy tư một số dụ ngôn. Như chúng ta đã biết, các dụ ngôn là những câu chuyện lấy hình ảnh và tình huống từ thực tế hàng ngày. Đây là lý do tại sao chúng cũng có liên quan đến cuộc sống của chúng ta. Chúng đánh động chúng ta. Và chúng yêu cầu chúng ta đưa ra quan điểm: tôi đang ở đâu trong câu chuyện này?
Cốt lõi của Phúc Âm: lòng thương xót của Thiên Chúa
Chúng ta hãy bắt đầu với dụ ngôn nổi tiếng nhất, dụ ngôn mà có lẽ tất cả chúng ta đều nhớ từ khi còn thơ bé: dụ ngôn về người cha và hai người con (Lc 15:1-3.11-32). Trong đó chúng ta tìm thấy cốt lõi của Phúc Âm Chúa Giêsu, đó là lòng thương xót của Thiên Chúa.
Thánh sử Luca kể rằng Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn này cho những người Pharisêu và các kinh sư, những người phàn nàn vì Người ăn uống với những người tội lỗi. Vì lý do này, có thể nói rằng đây là một dụ ngôn dành cho những người lạc lối nhưng không biết mình lạc và lại phán xét người khác.
Sứ điệp hy vọng: Thiên Chúa luôn tìm kiếm chúng ta dù chúng ta lạc lối ở đâu
Phúc Âm muốn mang đến cho chúng ta sứ điệp hy vọng, bởi vì nó cho chúng ta biết rằng bất kể chúng ta bị lạc lối nơi nào, bất kể chúng ta bị lạc lối như thế nào, thì Thiên Chúa luôn luôn tìm kiếm chúng ta! Có lẽ chúng ta đã bị lạc lối như một con chiên, rời khỏi đường đi để gặm cỏ, hoặc bị tụt lại phía sau vì mệt mỏi (xem Lc 15,4-7). Hoặc có thể chúng ta bị lạc mất như một đồng xu, có thể rơi xuống đất và không thể tìm thấy nữa, hoặc ai đó đã để nó ở đâu đó mà không nhớ ra. Hoặc chúng ta đã lạc lối như hai người con của người cha này: người con thứ bởi vì cảm thấy mệt mỏi khi phải ở trong một mối quan hệ mà anh ta cảm thấy quá đòi hỏi; nhưng ngay cả người con cả cũng lạc lối, bởi vì ở lại trong nhà thôi thì chưa đủ nếu trong lòng còn kiêu hãnh và oán giận.
Lạc lối khi hiểu sai về tình yêu
Người con thứ lạc lối ì ích kỷ
Tình yêu luôn là một sự dấn thân, luôn có điều gì đó chúng ta phải mất đi để gặp được người kia. Nhưng người con thứ trong dụ ngôn chỉ nghĩ đến bản thân mình, điều thường xảy ra trong một số giai đoạn của thời thơ ấu và tuổi thiếu niên. Trên thực tế, chúng ta cũng thấy rất nhiều người lớn xung quanh mình có thái độ như vậy, những người không thể tiếp tục mối quan hệ vì họ ích kỷ. Họ tự lừa dối mình rằng họ đang tìm thấy chính mình, nhưng ngược lại họ lại đánh mất chính mình, bởi vì chỉ khi chúng ta sống vì ai đó thì chúng ta mới thực sự sống.
Phung phí tình yêu
Cậu con thứ này, giống như tất cả chúng ta, đều khao khát tình cảm, muốn được yêu thương. Nhưng tình yêu là món quà quý giá, cần phải được chăm sóc cẩn thận. Nhưng anh ta lại phung phí nó, hạ thấp giá trị của mình và không tôn trọng chính mình. Anh ta nhận ra điều đó vào những khi đói kém, khi không ai quan tâm đến anh. Nguy cơ là vào những khoảnh khắc đó chúng ta bắt đầu cầu xin tình cảm và gắn bó với người chủ đầu tiên mà chúng ta gặp.
Sống tình yêu trong tương quan chủ tớ
Chính những trải nghiệm này làm nảy sinh trong lòng chúng ta niềm tin sai lệch rằng chúng ta chỉ có thể ở trong một mối quan hệ như những người tôi tớ, như thể chúng ta phải chuộc tội hoặc như thể tình yêu đích thực không thể tồn tại. Trên thực tế, khi người con thứ chạm đến đáy vực, anh ta nghĩ đến việc quay về nhà cha mình để lượm nhặt một ít tình cảm vụn vặt từ mặt đất.
Ý nghĩa của vòng tay ôm của người cha
Chỉ có những người thực sự yêu thương chúng ta mới có thể giải thoát chúng ta khỏi quan điểm sai lầm này về tình yêu. Trong tương quan với Chúa, chúng ta sống chính kinh nghiệm này. Họa sĩ vĩ đại Rembrandt, trong một bức tranh nổi tiếng, đã miêu tả một cách tuyệt vời cảnh đứa con hoang đàng trở về. Có hai chi tiết đặc biệt đánh động tôi: đầu của chàng trai trẻ được cạo trọc, giống như đầu của một người sám hối, nhưng cũng giống như đầu của một đứa trẻ, bởi vì người con này đang được tái sinh. Và rồi đến đôi bàn tay của người cha: một bàn tay của người nam và một bàn tay của người nữ, để mô tả sức mạnh và sự dịu dàng trong cái ôm tha thứ.
Người con cả lạc lối khi chỉ sống tình yêu như bổn phận
Nhưng chính người con cả là người đại diện cho những người được kể trong dụ ngôn này: anh ta là người con luôn ở nhà với cha mình, nhưng lại xa cách cha mình, xa cách trong tâm hồn. Người con này có thể cũng muốn rời đi, nhưng vì sợ hãi hoặc vì bổn phận nên anh vẫn ở lại đó, trong mối quan hệ đó. Nhưng khi bạn miễn cưỡng thích nghi, bạn bắt đầu nuôi dưỡng sự tức giận trong lòng, và sớm hay muộn thì cơn tức giận này cũng bùng nổ. Nghịch lý thay, cuối cùng, người con cả lại là người có nguy cơ ở bên ngoài vì không chia sẻ niềm vui của cha mình.
Thiên Chúa luôn chờ đợi chúng ta
Người cha cũng ra gặp anh ta. Ông không la mắng hay gọi anh đi làm nhiệm vụ. Ông chỉ muốn anh cảm nhận được tình yêu của ông. Ông mời anh vào nhà và để cửa mở. Cánh cửa đó vẫn mở cho chúng ta. Trên thực tế, đây chính là lý do để hy vọng: chúng ta có thể hy vọng bởi vì chúng ta biết rằng Chúa Cha đang chờ đợi chúng ta, Người nhìn thấy chúng ta từ xa và luôn để cánh cửa mở rộng.
Anh chị em thân mến, chúng ta hãy tự hỏi mình đang ở đâu trong câu chuyện thật hay này. Và chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa Cha ban ơn để có thể tìm được đường trở về nhà.
Lễ Vượt Qua là lễ trọng nhất của Do thái giáo, kỷ niệm biến cố vĩ đại bậc nhất trong lịch sử dân tộc Do thái: Họ được Thiên Chúa giải phóng khỏi ách nô lệ Ai cập, để lên đường đi về miền đất hứa mà Chúa đã ban cho tổ tiên họ. Lễ này được thiết lập vĩnh viễn, để muôn đời ghi nhớ việc tốt lành và kỳ diệu Thiên Chúa đã làm cho dân của Ngài (x. Xh 12,1-8.11-14).
Đối với chúng ta, các Kitô hữu, tính ‘vĩnh viễn’ của lễ Vượt Qua ấy được thể hiện trong cuộc Vượt Qua mới của Chúa Giêsu Kitô. Thánh vịnh 115 diễn tả điều này, với câu Đáp ca lấy từ Tân Ước: “Chén chúc tụng là sự thông hiệp Máu Chúa Kitô” (x. 1 Cr 10,16). “Tôi lấy gì dâng lại cho Chúa để đền đáp những điều Ngài ban tặng cho tôi ? Tôi sẽ lãnh chén cứu độ, và tôi sẽ kêu cầu danh Chúa”. Rõ ràng, biến cố Vượt Qua mới, đó là cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô, được mừng trong mỗi cử hành Thánh Thể, cách riêng các ngày Chúa Nhật, và cách tột đỉnh trong Tam Nhật Vượt Qua hằng năm.
Bài Ðọc II (1Cr 11,23-26) là trình thuật tưởng niệm việc Chúa Giêsu thiết lập lễ Vượt Qua mới, ký kết Giao Ước mới. Mọi chuyện diễn ra trong Phòng Tiệc Ly, và hoàn thành trên Thập giá ở Đồi Canvê chiều hôm sau. Có thể ghi nhận: Chuyện ở Ai cập ngày xưa cho thấy rằng hai tiếng ‘vượt qua’ có nghĩa là ‘đi qua’ hay ‘bỏ qua’. Đức Chúa ‘đi qua’/ ‘bỏ qua’ các cửa nhà Do thái có bôi máu chiên, tha mạng cho các con đầu lòng của người Do thái, và chỉ ghé lại lấy mạng các con đầu lòng của người Ai cập! Như vậy, các con đầu lòng Do thái được ‘con chiên của lễ Vượt Qua’ chết thế mạng, được cứu.
Trong khi đó, Con Chiên của lễ Vượt Qua mới là chính Chúa Kitô. Người chết để thế mạng cho mọi người. Thiên Chúa không ‘đi qua’/ ‘bỏ qua’ Con của Ngài, nhưng thí mạng Người Con ấy để cứu chúng ta. Nói cách khác, Thiên Chúa ‘đi qua’/ ‘bỏ qua’ chúng ta, tức tha mạng chúng ta, nhờ dấu máu Chúa Giêsu Kitô là Con Chiên của lễ Vượt Qua mới.
Tất cả là việc Thiên Chúa làm. Thiên Chúa ‘đi qua’, Thiên Chúa ‘bỏ qua’, Thiên Chúa tha, Thiên Chúa cứu. Và tất cả là do Thiên Chúa, nơi Chúa Giêsu, đã yêu thương chúng ta đến cùng! (x. Ga 13,1). Thay vì tường thuật việc thiết lập Thánh Thể, Tin Mừng Gioan kể chuyện Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ, để minh hoạ cách sống động sự thật “yêu thương đến cùng” này.
Tình yêu đến cùng ấy của Chúa, chúng ta không hiểu nổi đâu – chỉ có thể cảm nghiệm thôi. Có một điều thiết yếu mà chúng ta có thể và phải làm được, đó là việc cử hành sự kiện Chúa ‘đi qua’/ ‘bỏ qua’ như thế sẽ gọi mời chúng ta Vượt Qua – vượt qua chính mình, vượt qua sự đóng kín trái tim mình, để yêu thương và phục vụ anh chị em. Như di ngôn của Chúa: “Thầy đã làm gương để anh em cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho anh em”.
Lm. Lê Công Đức
‘Thương khó’ hay ‘khổ nạn’ hàm nghĩa gì đối với Chúa Giêsu? Ta thường nghĩ đến đòn roi, sức nặng cây gỗ trên đường đi, nhất là sự đóng đinh và treo lên – nghĩa là những đớn đau do bạo lực thể lý… Vâng, những điều này thật khủng khiếp (như bộ phim Passion of the Christ mô tả!). Tuy nhiên, điều còn khủng khiếp hơn thế đối với Chúa Giêsu, đó là Người phải chịu sự phản bội, chịu sỉ nhục, tức nỗi khổ đau tâm can do bạo lực tinh thần.
Đây là khía cạnh của ‘thương khó’ mà Bài ca thứ ba của người Tôi Tớ đau khổ trong Isaia muốn diễn đạt với sự nhấn mạnh: “Tôi đã không che mặt giấu mày, tránh những lời nhạo cười và những người phỉ nhổ tôi”. Ở đây, một lần nữa, người Tôi Tớ đủ sức cam chịu tủi nhục vì kinh nghiệm rằng có Thiên Chúa đứng về phía mình: “Vì Chúa nâng đỡ tôi, nên tôi không hổ thẹn: nên tôi trơ mặt chai như đá, tôi biết tôi sẽ không phải hổ thẹn”…
Thánh vịnh 68 (Đáp ca) là chứng từ của cùng kinh nghiệm ‘thương khó’ ấy: “Sở dĩ vì Chúa mà con chịu nhục, và thẹn thò làm nhơ nhuốc mặt con. Con bị những người anh em coi như khách lạ, bị những người con cùng một mẹ xem như kẻ ngoại lai. Sự nhiệt tâm lo việc nhà Chúa khiến con mòn mỏi, điều tủi nhục người ta nhục mạ Chúa đổ trên mình con”…
Trình thuật của Phúc Âm Máttheu hôm nay cho thấy đối với Chúa Giêsu, cuộc Thương Khó đầy sỉ nhục chính thức bắt đầu với sự phản bội của Giuđa, một môn đệ thân tín. “Khi ấy, một trong nhóm Mười Hai tên là Giuđa Iscariô, đi gặp các thượng tế và thưa với họ: ‘Các ông cho tôi bao nhiêu, tôi nộp Người cho các ông ?’ Họ liền ấn định cho ba mươi đồng bạc. Và từ đó, hắn tìm dịp thuận tiện để nộp Người”.
‘Thương khó’ (Passio/ passion) là chịu thương chịu khó, thể lý và nhất là tinh thần. ‘Thương khó’ (passio/ passion) cũng có nghĩa là ‘đam mê’/ ‘say mê’, nghĩa là một tình yêu nồng nàn, cháy bỏng đến quên mình, quên cả danh dự của mình! Đây chính xác là thế giới tâm cảm của Chúa Giêsu trong cuộc Thương Khó của Người: Người đảm nhận cái chết vì say mê Chúa Cha và say mê con người!
Cách nào ta đáp trả cuộc Thương Khó của Chúa? Đây, năm mầu nhiệm Mùa Thương: Thứ ba thì gẫm, Chúa Giêsu chịu đội mão gai – Ta hãy xin cho được chịu sỉ nhục bằng lòng!
Và ta cũng phải say mê – say mê Chúa Kitô, say mê con người – thì mới đủ ‘lì’ để chịu sỉ nhục bằng lòng như vậy!
Lm. Lê Công Đức
Thứ năm Tuần Thánh đến rồi
Giêsu truyền dậy hôm Người rửa chân
Chúa xưa nhắc nhở tận căn
Làm người lớn phải tận tâm sẵn sàng
Chúa làm gương sáng ở lần
Thắt lưng, quỳ xuống rửa chân môn đồ
Chúng ta thật chẳng có ngờ
Chúa mà lại rửa chân dơ bao giờ
Thế nên ta chớ thờ ơ
Quan tâm giúp đỡ ai chờ đợi ta
Chủ chăn đời sống đậm đà
Chuyên chăm, quảng đại, bao la thái bình
Dẫn đường thì phải hy sinh
Việc chung là chính, hết mình lo toan
Người già chăm sóc hỏi han
Yếu đau, bệnh tật, quan tâm hàng đầu
Thương người cơ khổ âu sầu
Tha nhân mong muốn thâm sâu ân tình
Giúp nhau rong ruổi hành trình
Như Thầy Chí Thánh thật tình yêu thương
Kitô Ngài chính là Đường
Bước theo nối gót noi gương khiêm nhường
Khởi đi từ sự hiệp thông
Lắng nghe đối thoại, tâm lòng chỉn chu
Theo gương Thiên Chúa nhân từ
Gieo niềm hy vọng – suy tư – Nguyện cầu
Anna Đào
Khi màn đêm buông xuống, giờ kinh nguyện đã kết thúc, chỉ còn lại mình con với Chúa trong sự thinh lặng cuối ngày. Con ngước mắt lên nhìn Chúa và Chúa cũng đang nhìn con, một cảm xúc dâng trào trong lòng và con tự hỏi: “Tình yêu là gì?” Có thứ tình yêu “sét đánh” thường xảy ra chớp nhoáng nhưng mau tàn. Có tình yêu của tuổi học trò ngây ngô, nhẹ nhàng, trong sáng. Có tình yêu mong manh sớm tan vỡ trước những trắc trở… Nhưng vẫn còn đó một tình yêu bền bỉ đầy ắp sự hy sinh trao hiến mà chẳng tình yêu nào sánh nổi. Đó chính là tình yêu Thập Giá.
Tại vườn Ghết-si-ma-ni, Chúa Giê-su biết giờ của Ngài đã đến, dù có sợ hãi nhưng Ngài đã đón nhận chén đắng đó trong sự vâng phục và tín thác: “Áp-ba, Cha ơi! Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con. Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn” (Mc 14,36).
Thập Giá mà Chúa Giê -su gánh lấy vì nhân loại chính là đỉnh cao của yêu thương. Trên đường vác Thập Giá, Ngài đã phải chịu bao nhiêu sự sỉ nhục, Ngài đã ngã xuống nhưng vẫn cố gắng đứng dậy để tiếp tục tiến lên đỉnh đồi Gôn-gô-tha là nơi Ngài sẽ tỏ hiện tình yêu thương cao vời của Ngài. Trên đồi Gôn-gô-tha ấy, giây phút Chúa căng mình, dang trọn đôi tay để ôm lấy tội lỗi của nhân loại chính là giây phút đẹp nhất. Chúa Giêu-su, Chúa đã yêu con người trọn vẹn, Ngài đã cho đi tất cả, cho đến khi hơi thở dần cạn, tim ngừng đập và cho đi cả giọt máu cuối cùng. Trái tim Người đã phải mang thương tích, chịu tan nát để chúng con được chữa lành. Trái tim Chúa cũng là trái tim Người Mục Tử Nhân Lành, luôn tìm kiếm những con chiên bơ vơ, lạc lối, luôn mời gọi và khao khát chúng con trở về với Chúa trong tin tưởng và mến yêu.
Có lời thánh ca vẫn luôn vang vọng: “Làm sao hiểu thấu Giê-su ơi, Ngài chết vì ai?” Thật vậy, không ai có thể thấu hiểu được cái chết và Mầu nhiệm Cứu độ của Ngài một cách trọn vẹn ngoài Chúa Cha. Chính Chúa Cha đã đồng hành với Chúa Giê-su trong mọi giây phút đau khổ. Để rồi Chúa Giê-su lại tiếp tục đồng hành cùng nhân loại tội lỗi bằng tình yêu của Ngài. Nhờ sự hiến thân trên Thập Giá, Chúa đã mang lại một giá trị tuyệt vời và ý nghĩa cho sự đau khổ; đó là giá trị cứu độ. Từ đây Thập Giá không phải là hình phạt của mọi tội lỗi nhưng là thể hiện cho tình yêu cao vời. Thập Giá là chiếc cầu nối sự sống và cái chết, là ánh sáng chiếu dọi vào những tâm hồn tăm tối để cho chúng con được giao hòa với Thiên Chúa. Thập Giá không còn là chướng ngại vật nhưng mà là con đường dẫn đưa chúng con đến nguồn sống đích thực.
Là thân phận con người, ai cũng sợ đau khổ, sợ hy sinh và sợ chết. Nhưng chỉ những ai vượt qua đau khổ, không ngại hy sinh thì mới cảm nhận được giá trị của chúng trong cuộc sống. Chúa đã vác lấy tội lỗi của con người mà đưa lên cây Thập Giá, đã chết để khép lại màn đêm tăm tối và mở ra một chân trời cứu độ tươi sáng. Con ước mong mình cũng biết chết đi trong những đau khổ của con người cũ để con người mới được lớn lên.
Lạy Chúa Giê-su, qua mầu nhiệm Thập Giá Chúa. Xin cho con biết khiêm tốn nhìn nhận tội lỗi của mình trước tình yêu vô biên và lòng nhân hậu của Chúa. Xin để con biết đón nhận thập giá với tất cả niềm tin và lòng yêu mến. Xin thắp trong con ngọn lửa tình yêu nồng nàn của Chúa, giúp con sống bài học yêu thương, tha thứ, biết vượt qua những yếu hèn của bản thân để yêu thương hết mọi người như Chúa đã yêu và còn yêu con người mãi mãi. Amen.
Têrêsa Avila Quỳnh Mai
Bài đọc Isaia (là Bài ca thứ hai của Người Tôi Trung) cùng với Thánh vịnh 70 (Đáp ca) lặp đi lặp lại ít nhất năm lần những diễn ngôn như “từ khi tôi còn trong lòng mẹ”/ “từ trong bụng mẹ” – đó là chưa kể những kiểu nói “từ thuở sơ sinh/ từ thời niên thiếu/ từ tuổi thanh xuân”… Tất cả nhằm khắc hoạ mầu nhiệm ƠN GỌI dành cho người Tôi Tớ đau khổ của Chúa, ứng nghiệm vào Chúa Giêsu, vào cả chúng ta nữa, trong ý nghĩa thâm sâu nhất của hiện hữu mình.
Ơn gọi ấy của Người Tôi Trung được diễn giải bằng chính lời của Thiên Chúa trong cùng văn mạch Isaia nói trên: “Con là tôi tớ Ta, để tái lập các chi họ Giacóp, để dẫn đưa các người Israel sống sót trở về; này đây Ta làm cho con nên ánh sáng các dân tộc, để con trở thành ơn cứu độ Ta ban cho đến tận bờ cõi trái đất”. Chúng ta để ý hai hình ảnh: ‘ánh sáng các dân tộc’, và ‘ơn cứu độ cho đến tận bờ cõi trái đất’! Hai hình ảnh này thậm chí có thể được tinh gọn thành ‘ánh sáng các dân tộc’ mà thôi – vì Chúa Giêsu chính là ÁNH SÁNG MUÔN DÂN và do đó cũng chính là sự CỨU ĐỘ!
Khi Giuđa rời phòng Tiệc Ly đi ra, thánh sử Gioan ghi nhận: “Bấy giờ là đêm tối”! Anh đi vào trong bóng tối, để Ánh Sáng lại sau lưng. Anh từ chối Ánh Sáng là Chúa Giêsu, và từ chối Ánh Sáng là ơn gọi căn bản của hiện hữu mình ‘từ trong lòng mẹ’. Vì thế, trong phiên bản của Máttheu, chúng ta nghe Chúa Giêsu nói về Giuđa: “thà đừng sinh ra thì hơn”!
Phêrô, ngược lại, mạnh mẽ tuyên bố “sẽ theo Thầy và sẽ liều mạng sống vì Thầy”. Thật cảm động, Phêrô nghĩ mình sinh ra trên đời là để đi theo Ánh Sáng Giêsu, và bằng cách đó chính mình trở thành Ánh Sáng – ơn gọi căn bản của mình là vậy. Nhưng, Chúa Giêsu cảnh báo rằng Phêrô không mạnh như bản thân tưởng nghĩ đâu. “Anh liều mạng sống vì Thầy ư? Thật, Thầy nói thật cho anh biết: trước khi gà gáy, anh đã chối Thầy ba lần”.
Chuyện Giuđa là bi kịch. Nhưng chuyện Phêrô cũng bi kịch không kém. Điều này cho thấy bóng tối rất mạnh, và không ai tự mình đủ sức đi theo Ánh Sáng và tự mình đáp lại được tiếng gọi trở thành Ánh Sáng cả. Tất cả đều cần được cứu độ bởi Ánh Sáng Chúa Kitô, thì mới được tham dự vào Ánh Sáng ấy – như hình ảnh mỗi người thắp nến của mình từ ‘Ánh Sáng Chúa Kitô’ trong đêm Vọng Phục sinh.
Vâng, có thể hiểu lịch sử cứu độ, hiểu biến cố Chúa Giêsu Kitô, hiểu mầu nhiệm Vượt qua, hiểu ơn gọi căn bản của chúng ta, hiểu thế giới này và cuộc đời mỗi người trong đó… từ lăng kính cuộc tương tranh giữa Ánh Sáng và Bóng Tối! Và chúng ta thấy Bóng Tối mạnh khủng khiếp, nhưng Ánh Sáng mạnh hơn, và Ánh Sáng đã chiến thắng nơi cái chết và sự sống lại của Chúa.
Chúa Giêsu là Ánh Sáng muôn dân (Lumen gentium). Hội Thánh và mỗi chúng ta trong Hội Thánh cũng thế – Vos estis lux mundi! Tất cả hoa trái của cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu mà chúng ta cử hành trong tuần này, đó là: trong Chúa Kitô, chúng ta thực sự trở thành Ánh Sáng cho thế giới này!
Lm. Lê Công Đức
Vào tối thứ Bảy, ngày 19/4 tới đây, tại Pháp, 17.800 dự tòng sẽ được lãnh nhận bí tích Rửa tội trong đêm vọng Phục Sinh, trong đó 10.384 người lớn và hơn 7.400 thanh thiếu niên từ 11 đến 17 tuổi. Con số này đã tăng gấp đôi trong vòng hai năm, và là con số cao nhất từng được ghi nhận.
Một hiện tượng khác được ghi nhận trong nghiên cứu của Pháp năm 2024: tỷ lệ người trẻ ngày càng tăng và hiện chiếm đa số trong số dự tòng. Số thanh thiếu niên dự tòng tăng đáng kể vào năm 2025, với mức tăng 33%.
Trong số những người lớn mới được rửa tội, tỷ lệ những người từ 18 đến 25 tuổi, bao gồm sinh viên và những người trẻ có chuyên ngành và đang làm việc, hiện chiếm 42%; nhóm này vượt nhóm tuổi 26-40, vốn là nhóm cho đến nay được đặc biệt nhắm tới trong các lớp dự tòng cho người lớn.
Theo bà Catherine Chevalier, đặc trách chương trình “Rao giảng và đồng hành đời sống Kitô hữu” của Giáo hội Pháp, mặc dù trong mọi độ tuổi đều có sự gia tăng, nhưng giới trẻ từ 15–25 tuổi là nhóm gia tăng nhiều nhất. Thế hệ này lớn lên với mạng xã hội và tìm thấy sự hỗ trợ đức tin từ đó, nhưng họ cũng ý thức được “nhu cầu gặp gỡ những cộng đoàn thật, con người thật, những nơi họ được đồng hành”.
Bên cạnh sự gia tăng số người dự tòng, kể từ năm 2022, các giáo phận đã ghi nhận sự gia tăng đáng kể số người lớn lãnh bí tích Thêm sức, tức là những người được rửa tội khi còn nhỏ. Năm 2024, có hơn 9.000 người lớn lãnh nhận tí tích Thêm sức vào Lễ Hiện Xuống, gấp đôi so với năm 2022.
Năm nay, 2025, 13 giáo phận đã tăng gấp đôi số người lớn được rửa tội. Trong mười năm, số dự tòng ở Pháp đã tăng từ 3.900 (năm 2015) lên 10.391 (năm 2025), tăng hơn 60%.
Ngày càng có nhiều người “không tôn giáo” trong số các dự tòng
Theo trang web của Giáo hội Pháp, mỗi năm có nhiều phụ nữ xin rửa tội hơn nam giới, bất kể nhóm tuổi nào, ngoại trừ những người trên 65 tuổi. Tỷ lệ nữ dự tòng là 63%.
Cùng với sự trẻ hóa, tỷ lệ sinh viên gia tăng so với những năm trước (42% vào năm 2025, so với 17% vào năm 2020). Tuy nhiên, các dự tòng xuất thân từ tầng lớp lao động vẫn chiếm đa số.
Sau hai năm tỷ lệ người dự tòng sống ở vùng nông thôn tăng, năm nay người ta ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ hơn ở vùng thành thị.
Phần lớn những dự tòng đều xuất thân từ những gia đình có truyền thống Kitô giáo. Tuy nhiên, tỷ lệ những người không theo tôn giáo nào đã tăng lên trong nhiều năm. Họ chiếm gần 40% số người được rửa tội trong năm 2025.
Dấu hiệu để giải thích
Hội đồng Giám mục Pháp giải thích về sự gia tăng này: “Cuộc khảo sát hàng năm về dự tòng, cho thấy sự gia tăng cả người lớn và người trẻ không phải là hiện tượng nhất thời. Ngoài những con số vốn đã có ý nghĩa, vấn đề còn nằm ở cách giải thích dấu hiệu từ Trời Cao”.
Đối với các Giám mục, thách đố lớn hiện nay là làm sao để làm cho những người mới đến này thành “môn đệ”. Không chỉ là đưa ra công thức để “giữ” họ sau khi rửa tội. Toàn thể cộng đoàn giáo xứ phải nhận thức được sứ vụ chung này và đưa ra các quy trình kết nạp, cả trước và sau khi rửa tội.
Nguồn. Vatican News