Chuyện ở Biển Hồ cũng phản ánh một kiểu thức phân định trong cộng đoàn, liên quan tới điều mà những năm gần đây chúng ta nhắc đến qua hai tiếng ‘hiệp hành’, tức đồng hành đồng nghị. Bảy anh em đồng môn có mặt với nhau ở đó. Phêrô khởi xướng việc đi đánh cá, mọi người hưởng ứng, nhưng cố gắng cả đêm mà không được gì. Một thất bại ê chề của công việc chung mà mọi người cùng cảm nhận…
Rồi Chúa Phục sinh đến vào lúc sáng sớm. Không ai nhận ra Người. Chúa can thiệp bằng một ý kiến mách nước cụ thể cho công việc của họ. Một cách mau mắn, họ lắng nghe và hưởng ứng, làm theo. Và kìa, kết quả mỹ mãn, thật là thích quá! Gioan nhận ra trước hết và nói với Phêrô: “Chính Chúa đó!” Rồi tất cả đều nhận ra chính là Chúa đó. Phêrô và tất cả anh em đổi hướng, hướng lên bờ, đến với Chúa, kéo theo thành quả là mẻ lưới lạ lùng vừa đạt được. Thầy trò quây quần, ăn sáng, hàn huyên trong niềm vui sâu xa mà không ồn ào…
Đây là một tiến trình phân định kiểu mẫu. Cả cộng đoàn cùng tìm kiếm, cùng kinh nghiệm thử thách, cùng lắng nghe ngay cả một người khách lạ bày tỏ thiện chí góp ý… Hoá ra đó là tiếng Chúa nói với mình. Hoá ra chính là Chúa đó. Có người nhận ra trước, những người khác nhận ra sau, nhưng tất cả cuối cùng đều nhận ra. Cả cộng đoàn được biến đổi, đổi mục tiêu, đổi hướng. Vì chỉ có Chúa và điều Chúa muốn mới là mục tiêu tìm kiếm chân thực mà thôi.
Chính Chúa đó, là con đường, là cùng đích, là sự cứu độ. Đây là thông điệp Phêrô trao cho các thượng tế và giới lãnh đạo Do thái. “Chính Người là viên đá đã bị chư vị là thợ xây loại ra, đã trở thành viên Ðá Góc tường; và ơn cứu độ không gặp được ở nơi một ai khác. Bởi chưng không một Danh nào khác ở dưới gầm trời đã được ban tặng cho loài người, để nhờ vào Danh đó mà chúng ta được cứu độ”.
Phêrô mạnh mẽ khẳng định Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ duy nhất, để cho người Do thái nhận ra rằng họ đã bắt hụt, đã vứt bỏ Người, và để họ nghĩ lại và tin vào Người, muộn còn hơn không, và họ không phải đợi chờ một đấng thiên sai nào khác… Chúng ta có thể ghi nhận, khẳng định nói trên được nói với những người Do thái trong bối cảnh Do thái giáo, nên Phêrô nói một cách dứt khoát, rõ ràng, tự nhiên – vì thính giả ở trong tâm cảnh hoàn toàn thuận tiện để tiếp nhận thông tin mới mẻ này. Nhưng khi các thừa sai đến với những bối cảnh các tôn giáo lớn khác của thế giới, thì cách thức hiểu và truyền đạt thông điệp ấy sẽ cần sự phân định kỹ lưỡng hơn. Đây chính là lãnh vực của thần học tôn giáo và đối thoại tôn giáo mà Giáo hội đang dành nhiều quan tâm.
Chúng ta cần nhận ra Chúa Phục sinh và tiếng nói mách bảo của Người, nhiều khi đến từ những phía bất ngờ. Và chúng ta cần phân định để biết cách trình bày thông điệp về ‘Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ duy nhất’ cho con người hôm nay.
Lm. Lê Công Đức
Chúa Phục Sinh lại hiện ra với nhóm môn đệ đang khi họ kể cho nhau về việc Người vừa hiện ra trước đó. Họ vẫn còn lo sợ, sợ ma, vì chưa quen với loại kinh nghiệm này. Chúa trấn an và củng cố họ, xác nhận rằng mọi việc phải xảy ra với Người như thế, tức phải chết đi rồi mới sống lại. Ta ghi nhận Chúa Giêsu báo về cuộc Thương Khó không chỉ ba lần, mà nhiều hơn thế – vì ngoài ba lần báo trước, còn có những lần báo sau khi sự việc đã xảy ra nữa, như ở đây Người nói: “Có lời chép rằng: Ðấng Kitô sẽ phải chịu thương khó và ngày thứ ba Người sẽ từ cõi chết sống lại”! Và ở đây, kèm với việc xác nhận phải trải qua cuộc Thương Khó, Chúa Phục Sinh trao sứ mạng làm chứng cho các môn đệ thừa sai của Người: “Anh em sẽ làm chứng nhân về những điều ấy!”
Sụ nhấn mạnh rằng Đấng Kitô của Thiên Chúa phải chịu khổ hình sẽ còn được lặp lại bởi các Tông Đồ khi thi hành sứ mạng làm chứng cho Tin Mừng Chúa Phục Sinh – như câu chuyện trong sách Công vụ Tông đồ hôm nay: Phêrô nhấn mạnh điều đó để khuyến khích các thính giả Do thái hoán cải và tin vào Chúa Giêsu, thay vì ôm nỗi bứt rứt vì chính họ có liên can đến việc đóng đinh Người.
Đấng Kitô phải chịu khổ hình, điều này có nghĩa gì? Có nghĩa rằng trong kế hoạch của Thiên Chúa, Thập giá gắn liền với sự cứu độ. Tội lỗi và sự chết tự căn bản là điều bất tất – nhưng chính trong bối cảnh hư hỏng của con người mà cái chết của Con Thiên Chúa trở thành một cái gì tất yếu: “Đấng Kitô phải chịu khổ hình”! Vì thế, cái chết không chấm dứt sự sống mà là một phần của sự sống. Nó trở thành ‘tự nhiên’, như một phần việc trong lộ trình cứu độ. Điều này cũng soi sáng cho chúng ta hiểu tại sao các khăn liệm, khăn che mặt được xếp ngay ngắn trong ngôi mộ trống. Một phần việc, nên phải làm chỉn chu như thế chứ!
Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba sống lại! Thật ra, nói ‘sống lại’ không thật chỉnh ở đây, vì đây là sự sống đã đổi mới, không như cũ, trong khi ‘lại’ có thể hiểu là ‘lần nữa’, ‘như trước’ (‘again’ trong Anh ngữ, chẳng hạn). Nói ‘sống dậy’ có lẽ đúng hơn – như các từ ‘chỗi dậy’, ‘nâng dậy’ ở các ngữ cảnh này trong Sách Thánh.
Và chúng ta kết luận: Đấng Kitô đã chịu khổ hình, chúng ta cùng chết với Người, thì sẽ được SỐNG DẬY với Người trong sự sống mới!
Lm. Lê Công Đức
Những lời chia buồn về sự ra đi của Đức Thánh Cha Phanxicô đang vang lên từ mọi nơi trên thế giới, chứng minh cho lòng yêu mến vượt biên giới và tín ngưỡng. Từ những lời chia buồn của tổng thống Ý, tổng thống Pháp, cho đến lời chia buồn của tổng thống Mỹ, tổng thống Argentina, … tất cả đều tưởng nhớ Đức Thánh Cha Phanxicô đáng kính như một con người của đức tin, hòa bình, tình yêu, một người dấn thân cho công lý và bênh vực người nghèo.
Lời chia buồn từ Ý
Tổng thống Ý, ông Sergio Mattarella, viết trong một tuyên bố được đăng trên trang web của dinh Quirinale: “Tôi vô cùng đau buồn khi biết tin Đức Giáo hoàng Phanxicô qua đời và cảm nhận được khoảng trống lớn lao do mất đi một người mà đối với tôi luôn là điểm tham chiếu”. Ông nói thêm: “Cái chết của Đức Giáo hoàng Phanxicô gây ra nỗi đau và cảm xúc trong người dân Ý và trên toàn thế giới. Giáo huấn của ngài đã gợi lại thông điệp Tin Mừng, tình liên đới giữa con người, bổn phận gần gũi với những người yếu thế nhất, sự hợp tác quốc tế, hòa bình trong nhân loại. Lòng biết ơn đối với ngài phải được chuyển thành trách nhiệm làm việc, như ngài đã liên tục làm, vì những mục tiêu này”.
Trong khi đó, bà Thủ tướng Ý Giorgia Meloni đã viết: “Tôi đã có vinh dự được tận hưởng tình bạn, lời khuyên và sự dạy dỗ của ngài, những điều không bao giờ sai ngay cả trong những lúc thử thách và đau khổ. Trong các suy niệm của Đàng Thánh Giá, ngài nhắc nhở chúng ta về sức mạnh của ân sủng, thứ làm cho mọi thứ phát triển trở lại và có khả năng hòa giải những gì đối với con người là không thể hòa giải. Và ngài một lần nữa yêu cầu thế giới can đảm thay đổi hướng đi, đi theo con đường không hủy diệt, nhưng vun trồng, sửa chữa, bảo vệ”.
Anh quốc liên đới với Giáo hội
Từ Anh quốc, Đức Tổng giám mục Stephen Cottrell của York, lãnh đạo lâm thời Giáo hội Anh giáo, đã đưa ra một tuyên bố trong đó ngài nhắc lại những lời mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói với ngài trong một cuộc gặp gỡ năm 2023: “Chúng ta cùng nhau bước đi, chúng ta cùng nhau làm việc, chúng ta cùng nhau cầu nguyện”. Một cụm từ mà theo Đức Tổng Giám mục, tóm tắt triều đại Giáo hoàng của Đức Giáo hoàng Phanxicô, “nhận thức được những chia rẽ hiện diện trong Giáo hội”, nhưng đồng thời sẵn sàng lắng nghe và thiết lập “một tiến trình hiệp hành”, đại diện cho “di sản lâu dài cho Giáo hội Công giáo Roma và cho tất cả chúng ta”.
Và trong một thông điệp được ban hành từ Điện Buckingham, thay mặt cho hoàng hậu Camilla, Vua Charles III cũng đã bày tỏ lòng tôn kính đối với Đức Giáo hoàng Phanxicô và nhắc lại “lòng trắc ẩn” và dấn thân đại kết của ngài. Quốc vương Anh nhắc lại “xác tín” của Đức Giáo hoàng rằng “việc chăm sóc Thụ tạo là biểu hiện hiện sinh của đức tin”, có thể “tìm thấy tiếng vang trong nhiều người trên khắp thế giới”. Hai tuần trước, Vua Charles và hoàng hậu đã gặp Đức Thánh Cha trong chuyến thăm riêng tới Vatican bên lề chuyến đi tới Roma.
Các nguyên thủ Châu Âu tưởng nhớ Đức Phanxicô
Nhiều thông điệp khác cũng được gửi đến từ các tổ chức chính trị châu Âu. Bà Ursula von der Leyen, Chủ tịch Ủy ban châu Âu, viết trên mạng X rằng các tín hữu “có thể tìm thấy sự an ủi khi suy nghĩ rằng di sản của Đức Giáo hoàng Phanxicô sẽ tiếp tục hướng dẫn tất cả chúng ta hướng tới một thế giới công bằng, hòa bình và nhân ái hơn”.
Tổng thống Cộng hòa Pháp, Emmanuel Macron, viết trên mạng xã hội: “Từ Buenos Aires đến Roma, Đức Giáo hoàng Phanxicô muốn Giáo hội mang lại niềm vui và hy vọng cho những người nghèo nhất trong số những người nghèo. Để đoàn kết mọi người với nhau và với thiên nhiên. Mong rằng hy vọng này sẽ luôn trỗi dậy không ngừng cả sau khi ngài qua đời”.
Thủ tướng Đức Friedrich Merz cũng viết: “Đức Phanxicô sẽ được nhớ đến vì sự tận tụy không mệt mỏi của ngài đối với những thành viên yếu thế nhất của xã hội, đối với công lý và hòa giải. Sự khiêm nhường và đức tin vào lòng thương xót của Chúa là những nguyên tắc chỉ đạo của ngài”.
Thông điệp của Tổng thống Ucraina Volodymyr Zelensky cũng viết về Đức cố Giáo hoàng Phanxicô: “Ngài biết cách mang lại hy vọng, xoa dịu nỗi đau thông qua lời cầu nguyện và thúc đẩy sự hiệp nhất. Ngài cầu nguyện cho hòa bình ở Ucraina và cho người dân Ucraina. Chúng ta cùng thương tiếc với những người Công giáo và tất cả Kitô hữu đã tìm kiếm sự hỗ trợ tinh thần từ Đức Giáo hoàng Phanxicô”.
Còn Tổng thống Nga Vladimir Putin, trong một điện thư gửi tới Vatican và được đăng trên trang web của Điện Kremlin, đã viết về Đức Thánh Cha Phanxicô: Một “con người phi thường”, một “người bảo vệ vĩ đại cho công lý và nhân loại”, người “thúc đẩy đối thoại giữa Giáo hội Công giáo Roma và Giáo hội Chính thống giáo Nga”. Ông Putin nhấn mạnh rằng ngài là Giáo hoàng có uy tín quốc tế to lớn với tư cách là “người phục vụ trung thành của giáo huấn Kitô giáo, một tu sĩ và chính khách thông thái, một người bảo vệ nhất quán các giá trị cao cả của chủ nghĩa nhân văn và công lý”, đồng thời nhắc lại rằng “trong suốt thời gian làm Giáo hoàng, ngài đã tích cực thúc đẩy sự tương tác mang tính xây dựng giữa Nga và Tòa Thánh”.
Những lời phân ưu từ Châu Mỹ
Từ ngoài Châu Âu, nhiều nguyên thủ và lãnh đạo chính trị cũng ca ngợi Đức cố Giáo hoàng như con người của hòa bình, một người đấu tranh cho công lý và người nghèo. Tại Hoa Kỳ, tổng thống Trump viết trên mạng xã hội Truth Social: ” Giáo hoàng Phanxicô, xin hãy yên nghỉ! Xin Chúa chúc lành cho ngài và tất cả những ai yêu mến ngài!”. Ông đã ra lệnh treo cờ rủ một ngày để thể hiện lòng tôn kính đối với Đức Giáo hoàng Phanxicô và tưởng nhớ ngài. Ông giải thích rằng lệnh này là một dấu hiệu tôn trọng để tưởng niệm Đức Thánh Cha Phanxicô. Lệnh này được áp dụng cho Nhà Trắng và tất cả các tòa nhà và khuôn viên công cộng, tại tất cả các đồn quân sự và trạm hải quân, trên tất cả các tàu hải quân và tại tất cả các đại sứ quán.
Về phần cựu Tổng thống Joe Biden, ông cũng ca ngợi Đức cố Giáo hoàng Phanxicô là “một Giáo hoàng cho mọi người”, “Giáo hoàng của người dân”, và “một ánh sáng đức tin, hy vọng và tình yêu”. Ông viết trên mạng xã hội X: “Đức Giáo hoàng Phanxicô sẽ được nhớ đến như một trong những nhà lãnh đạo có tầm ảnh hưởng nhất thời đại chúng ta, và tôi cảm thấy tốt hơn khi được biết ngài”.
Ông viết thêm: “Trong nhiều thập kỷ, ngài đã phục vụ những người dễ bị tổn thương nhất trên khắp Argentina và sứ mạng phục vụ người nghèo của ngài không bao giờ ngừng lại. Là một Giáo hoàng, ngài là một mục tử yêu thương và là một người thầy thúc giục chúng ta, người đã tiếp cận với nhiều tín ngưỡng khác nhau. Ngài đã ra lệnh cho chúng ta đấu tranh vì hòa bình và bảo vệ hành tinh của chúng ta khỏi cuộc khủng hoảng khí hậu. Ngài đã ủng hộ những người không có tiếng nói và quyền lực. Ngài đã khiến tất cả mọi người cảm thấy được chào đón và được Giáo hội nhìn nhận. Ngài đã thúc đẩy công bằng và chấm dứt đói nghèo và đau khổ trên toàn cầu”.
Từ Nam Mỹ, Tổng thống Argentina, Javier Milei, cũng là người đồng hương với Đức cố Giáo hoàng, đã viết trên mạng xã hội rằng “bất chấp những khác biệt mà ngày nay có vẻ rất nhỏ”, việc có thể gặp Giáo hoàng “với lòng tốt và sự thông thái của ngài” là “một vinh dự thực sự”.
Tổng thống Brazil Lula Inácio da Silva cũng viết trên mạng xã hội X rằng Đức Phanxicô “với sự giản dị, lòng dũng cảm và sự đồng cảm” của mình luôn đặt mình “bên cạnh những người cần sự giúp đỡ nhất: người nghèo, người tị nạn, người trẻ, người già và nạn nhân chiến tranh và mọi hình thức định kiến”.
Từ Á châu và Úc châu
Từ Ấn Độ, tổng thống Narendra Modi đã nhắc lại trên mạng xã hội về cuộc gặp gỡ của ông với Đức cố Giáo hoàng và “sự dấn thân của ngài đối với sự phát triển bao gồm mọi người và cho toàn thế giới. Tình cảm của ngài dành cho người dân Ấn Độ sẽ luôn sống mãi”.
Từ Úc châu xa xôi, thủ tướng Úc Anthony Albanese phát biểu trong bài phát biểu được truyền hình toàn quốc rằng tất cả cờ sẽ được treo rủ tại các tòa nhà chính phủ vào thứ Ba (22/4/2025) để tỏ lòng tôn kính với Đức cố Giáo hoàng. Ông Albanese nói: “Đối với người Công giáo Úc, ngài là một nhà vô địch tận tụy và là một người cha yêu thương. Đức Giáo hoàng Phanxicô đã sống đức tin và ơn gọi của mình bằng lời nói và hành động. Ngài thực sự là nguồn cảm hứng”.
Những thông điệp từ Trung Đông
Từ Thánh Địa cũng không thiếu những thông điệp tưởng nhớ Đức Thánh Cha Phanxicô. Tại Thánh Địa, Tổng thống Israel, Isaac Herzog, đã gửi lời chia buồn tới thế giới Kitô giáo và đặc biệt là tới các cộng đồng Kitô giáo tại Đất Thánh. Ông Herzog viết trên mạng xã hội X, “Là một người có đức tin sâu sắc và lòng nhiệt thành vô bờ bến”, Đức Phanxicô “đã cống hiến cuộc đời mình để an ủi người nghèo và kêu gọi hòa bình trong một thế giới đầy xáo trộn”. Ông hy vọng rằng lời cầu nguyện của Đức cố Giáo hoàng về việc chấm dứt xung đột ở Trung Đông “và cho phép các con tin được trả tự do sẽ sớm được đáp lại”.
Trong khi đó, ông Mahmoud Abbas, chủ tịch Chính quyền Palestine, đã gửi lời chia buồn tới Vatican sau sự ra đi của Đức cố Giáo hoàng Phanxicô, người mà ông gọi là “biểu tượng của lòng khoan dung, tình yêu thương và tình huynh đệ” và “một người bạn thực sự của hòa bình và công lý”.
Nguồn. Vatican News
Hai môn đệ Emmau gặp Chúa mà không nhận ra, nhưng vẫn được biến đổi sâu xa trong lòng trí… “Phải chăng lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên trong ta khi Người đi đường đàm đạo và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta đó ư?” Nghĩa là sự biến đổi đến từ chính Chúa Phục Sinh – cũng như chính Chúa Phục Sinh đã chủ động đến gặp họ giữa nỗi buồn da diết của họ. Người hiểu tâm trạng họ, hiểu bóng tối còn vây bủa che lấp không cho họ tiếp cận sự thật là chính Người, vị Thầy và Chúa của họ, đã sống lại, chứ không còn chết nữa. Và Người trò chuyện, lắng nghe họ, giúp khai sáng họ, đưa lòng trí họ ra khỏi bóng tối u ám ấy…
Chúa Phục Sinh đã thành công trong việc khai sáng và vén mở cho hai môn đệ nhận ra sự thật. Bằng cách nào? Bằng cách làm sống dậy ký ức và kinh nghiệm của họ về Người: “Ðang khi cùng các ông ngồi bàn, Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông. Mắt họ sáng ra và nhận ra Người”! Một lần nữa, ở đây ta thấy những lời giảng giải Sách Thánh rất cần nhưng chưa đủ – những lời ấy thực sự có sức mạnh làm cho trái tim bừng cháy, nhưng những lời ấy vẫn cần được ‘đóng ấn’ bởi ký ức và kinh nghiệm cá vị và trực tiếp về chính Chúa Giêsu Phục Sinh! Hai ông quay lại, kể cho nhóm mười một về việc mình “nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào”… Sự NHẬN RA ở đây là điều có tính quyết định. Chính Chúa khơi lên ký ức và kinh nghiệm của chúng ta để giúp chúng ta NHẬN RA Người!
Chính Chúa Phục Sinh đem lại sự biến đổi cho hai môn đệ Emmau. Người trực tiếp chủ động hành động; và sự biến đổi nhận được là sự biến đổi sâu xa của thái độ bên trong. Còn câu chuyện trong sách Công vụ cũng nêu bật nguyên tắc rằng chính Chúa Phục Sinh đem lại sự biến đổi – nhưng ở đây trước hết là sự biến đổi bên ngoài, trên bình diện thể lý: người què bẩm sinh bỗng đứng lên và đi được! Một phép lạ! Và phép lạ này xảy ra nhân danh Chúa Giêsu Kitô: “Vàng bạc thì tôi không có, nhưng có cái này tôi cho anh, là: nhân danh Ðức Giêsu Kitô Nadarét, anh hãy đứng dậy mà đi!” Phêrô và Gioan truyền cho anh què làm thế, nhưng hai vị khẳng định đó là quyền năng của Chúa Phục Sinh chứ không phải quyền lực của mình.
Chúng ta có thể kết luận: (1) Chúa Phục Sinh đem lại mọi sự biến đổi, mọi sự chữa lành – cả bên trong lẫn bên ngoài; và (2) Chúa Phục Sinh không chỉ trực tiếp chủ động làm thế, mà Người còn trao quyền cho các chứng nhân của Người sắp đặt để Người làm thế.
Chúng ta đang được phủ trùm bởi năng lực biến đổi của Chúa Phục Sinh. Chỉ cần chúng ta nhận ra, bằng ký ức và kinh nghiệm mà chính Chúa ban cho mình!
Lm. Lê Công Đức
Nhìn lại 6 năm đầu triều đại Giáo hoàng Phanxicô, từ khi ngài được bầu chọn vào ngày 13/3/2013 cho đến hết năm 2019, những sự kiện nổi bật bao gồm thiết lập Năm Thánh Lòng Thương xót, tuyên thánh Mẹ Têrêsa Calcutta, thiết lập Ngày Thế giới Người nghèo. Ngài đã bày tỏ: “Tôi mong muốn biết bao rằng nơi nào Giáo hội hiện diện, đặc biệt là các giáo xứ và các cộng đoàn của chúng ta, nơi ấy sẽ trở thành những ốc đảo thương xót giữa lòng đại dương vô cảm!”.
Ngày 13/3/2013 – Vị Giáo hoàng đến từ tận cùng thế giới
Khoảng hai tuần sau khi Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI từ nhiệm, Đức Hồng y Jorge Bergoglio được bầu làm Giáo hoàng. Ngài lấy tên hiệu là Phanxicô để vinh danh Thánh Phanxicô thành Assisi; ngài là vị Giáo hoàng đầu tiên mang tên hiệu Phanxicô. Ngài cũng là vị Giáo hoàng đầu tiên đến từ Châu Mỹ Latinh, một Giáo hoàng được nói là đến từ tận cùng của thế giới.
Tuyên bố từ ban công trung tâm của Đền thờ Thánh Phêrô: “Chúng ta hãy bắt đầu cuộc hành trình này, Giám mục và giáo dân, cuộc hành trình của Giáo hội Rôma, một Giáo hội hướng dẫn trong tình bác ái trên tất cả các Giáo hội, một cuộc hành trình của tình huynh đệ trong tình yêu thương, của sự tin tưởng lẫn nhau. Chúng ta hãy luôn cầu nguyện cho nhau”.
Thăm đảo Lampedusa của Ý
Ngày 8/7/2013, gần 4 tháng sau khi kế vị Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI, Đức Thánh Cha Phanxicô đến thăm đảo Lampedusa của Ý và gặp gỡ một nhóm 50 người di cư, phần lớn là những người trẻ từ Somalia và Eritrea. Hòn đảo này, cách bờ biển Tunisia khoảng 350 km, là cửa ngõ chung cho những người di cư chạy trốn khỏi một số vùng của Châu Phi và Trung Đông để vào Châu Âu. Đây là chuyến viếng thăm mục vụ đầu tiên của ngài bên ngoài Roma và đặt nền tảng cho việc đưa việc tiếp cận các vùng ngoại vi trở thành trọng tâm đáng kể.
Đại hội Giới trẻ Thế giới tại Rio de Janeiro, Brazil
Bốn tháng rưỡi sau khi được bầu làm Đấng Kế vị Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tham dự ngày hội lớn nhất của giới trẻ Công giáo trên toàn thế giới tại Rio de Janeiro, Brazil, từ ngày 23-28/7/2013. Đây là Đại hội Giới trẻ Thế giới đầu tiên của Đức Thánh Cha Phanxicô, với hơn 4 triệu bạn trẻ quy tụ từ khắp nơi trên thế giới
Khoảng 4 triệu bạn trẻ cầu nguyện với vị Giáo hoàng người Argentina “đến từ vùng ngoại vi của thế giới”. Chủ đề của Đại hội là: “Hãy ra đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ”. Chúa Nhật ngày 28/7/2013, trong Thánh lễ tại bờ biển Copacabana, Đức Thánh Cha đã nêu lên ba từ: “Hãy ra đi, không sợ hãi, để phục vụ”.
Ngài nói với các bạn trẻ: “Bằng cách sống theo ba từ này, các con sẽ cảm nghiệm được rằng bất cứ ai loan báo Tin Mừng đều được Tin Mừng hóa, bất cứ ai truyền đạt niềm vui đức tin, sẽ nhận được nhiều niềm vui hơn. Các bạn trẻ thân mến, khi các con trở về nhà của mình, các con đừng sợ quảng đại với Chúa Kitô, để làm chứng cho Tin Mừng của Người”. “Mang Tin Mừng là đem sức mạnh của Thiên Chúa để nhổ bật gốc rễ và đánh đổ sự dữ và bạo lực; phá bỏ và dẹp tan những rào cản ích kỷ, bất khoan dung và hận thù; để xây dựng một thế giới mới”.
2015 – Thiết lập Năm Thánh Lòng Thương Xót
Ngày 13/3/2015, tại Đền thờ Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Phanxicô đã công bố mở một “Năm Thánh đặc biệt” gọi là “Năm Thánh Lòng Thương xót”.
Đức Thánh Cha đã công bố mở Năm Thánh khi ngài giảng trong cử hành phụng vụ sám hối bắt đầu “24 giờ cho Chúa” vào hai ngày 13-14/3/2015. Chủ đề “24 giờ cho Chúa” năm 2015 là “Thiên Chúa giàu lòng thương xót” (Ep 2,4). Việc mở Năm Thánh 2015 diễn ra nhân dịp kỷ niệm 50 năm bế mạc Công đồng Vatican II vào năm 1965. Điều này thật ý nghĩa, vì Năm Thánh sẽ thúc đẩy Giáo hội tiếp tục công trình mà Vatican II đã khởi sự. Với “Năm Thánh Lòng Thương xót”, Đức Thánh Cha Phanxicô muốn đặt trọng tâm nơi lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng mời gọi các tín hữu trở về với Người. Gặp gỡ Chúa sẽ giúp chúng ta biết thực thi lòng thương xót.
Năm Thánh được ngài khai mạc với việc mở Cửa Thánh tại Đền thờ Thánh Phêrô vào ngày 8/12/2015, lễ Trọng Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội, và kết thúc vào ngày 20/11/2016, lễ Trọng Chúa Giêsu Kitô, Vua Vũ Trụ.
Lòng thương xót là một chủ đề mà Đức Thánh Cha Phanxicô rất thường nói đến, như được thể hiện trong châm ngôn giám mục ngài đã chọn: “miserando atque eligendo” (Được thương xót và được chọn). Trong buổi đọc kinh Truyền Tin đầu tiên sau khi được bầu làm Giáo hoàng, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói: “Dung mạo của Thiên Chúa là dung mạo của một người Cha đầy lòng thương xót, đầy nhẫn nại với chúng ta. Người thấu hiểu chúng ta, chờ đợi chúng ta và luôn tha thứ cho chúng ta mà không bao giờ mệt mỏi, nếu chúng ta chạy đến với Người với tâm hồn sám hối… Lòng thương xót sẽ biến đổi thế giới. Một chút lòng thương xót thôi cũng làm cho thế giới bớt lạnh lẽo và thêm công chính” (Kinh Truyền Tin, 17/03/2013).
Trong buổi đọc kinh Truyền Tin ngày 11/1/2015, Đức Thánh Cha còn nói: “Ngày nay chúng ta rất cần đến lòng thương xót, Điều quan trọng là các tín hữu sống lòng thương xót ấy và đem vào các môi trường xã hội khác nhau. Anh chị em hãy lên đường! Chúng ta đang sống trong thời đại của lòng thương xót, đây là thời đại của lòng thương xót”.
Rồi trong Sứ điệp Mùa Chay năm 2015, Đức Thánh Cha cũng bày tỏ: “Tôi mong muốn biết bao rằng nơi nào Giáo hội hiện diện, đặc biệt là các giáo xứ và các cộng đoàn của chúng ta, nơi ấy sẽ trở thành những ốc đảo thương xót giữa lòng đại dương vô cảm!”.
2016 – Đức Thánh Cha tuyên thánh cho Mẹ Têrêsa Calcutta
Trong 13 năm kế vị Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tuyên phong nhiều vị thánh và chân phước, trong đó, nổi tiếng và gần gũi với thời đại nhất chính là Mẹ Têrêsa Calcutta, một nữ tu dấn thân phục vụ người nghèo. Mẹ đã sáng lập dòng Thừa sai Bác ái để chăm lo những người cùng khổ.
Sáng 4/9/2015, tại quảng trường Thánh Phêrô, hàng trăm ngàn tín hữu khắp năm châu tề tựu dưới chân dung Mẹ Têrêsa thành Calcutta, mặc áo dòng sari trắng của phụ nữ Ấn Độ viền xanh da trời, được gắn trên tiền đình Đền Thánh Phêrô, dự đại lễ phong thánh Mẹ Têrêsa. Theo nghi thức phong thánh, Đức Thánh Cha Phanxicô long trọng tuyên đọc: ‘‘Chúng tôi tuyên thánh Chân phước Têrêsa thành Calcutta và ghi tên ngài trong số các thánh, được toàn Giáo hội tôn kính’’.
Giảng trong Thánh lễ, Đức Thánh Cha nói: Mọi công việc của lòng thương xót đều đẹp lòng Thiên Chúa, bởi vì trong người anh em, mà chúng ta giúp đỡ, chúng ta nhận ra gương mặt của Thiên Chúa, mà không ai trông thấy (x. Ga 1,18). Mỗi lần chúng ta cúi xuống trên các nhu cầu của các anh em khác, là chúng ta đã cho Chúa Giêsu ăn và uống; chúng ta đã cho Ngài mặc, nâng đỡ và viếng thăm Con Thiên Chúa (x. Mt 25,40). Như thế, chúng ta đưọc mời gọi diễn tả cụ thể điều chúng ta xin trong lời cầu nguyện và tuyên xưng trong đức tin. Không có cách nào khác ngoài tình bác ái: những ai phục vụ các anh em khác là những nguời yêu mến Thiên Chúa, dù không biết Người (x Ga 3,16-18; Gc 2,14-18). Tuy nhiên, cuộc sống kitô không chỉ là việc trợ giúp khi cần. Nó là tâm tình liên đới đẹp, nhưng sẽ khô cằn vì không có gốc rễ. Trái lại, dấn thân mà Chúa đòi hỏi là dấn thân của một ơn gọi bác ái, qua đó nguời môn đệ Chúa Kitô dùng chính cuộc sống mình để phục vụ và lớn lên mỗi ngày trong tình yêu. Phúc Âm nói đến “đám đông dân chúng đến với Chúa Giêsu” (Lc 14,25). Ngày hôm nay “đám đông” đó là thế giới thiện nguyện đang quy tụ ở đây nhân Mừng Năm Thánh Lòng Thương Xót. Anh chị em chính là những người theo Chúa và khiến cho tình yêu của Người trở thành cụ thể đối với từng người…. Những người thiện nguyện củng cố biết bao con tim, nâng đỡ biết bao bàn tay, lau khô biết bao nước mắt! Có biết bao tình yêu thương đã được đổ vào việc phục vụ dấu ẩn, khiêm tốn và vô vị lợi này!”
Đề cập đến gương sống của Mẹ Têrêsa, Đức Thánh Cha nói: “Trong toàn cuộc đời mình, Mẹ Têrêsa đã quảng đại phân phát lòng thương xót Chúa, sẵn sàng với tất cả mọi người qua việc tiếp đón và bảo vệ sự sống con người, sự sống chưa sinh ra cũng như sự sống bị bỏ rơi và gạt bỏ. Mẹ đã dấn thân bênh vực sự sống bằng cách không ngừng công bố rằng ‘ai chưa sinh ra là người yếu đuối nhất, bé nhỏ nhất, bần cùng nhất’. Mẹ cúi xuống trên trên những người kiệt lực bi bỏ chết bên lề đường, bằng cách thừa nhận phẩm giá mà Thiên Chúa đã ban cho họ. Mẹ đã làm vang lên tiếng nói của Mẹ giữa các người quyền thế của trái đất này, để cho họ nhận ra các lỗi lầm của họ trước các tội ác của nghèo đói do chính họ dã gây ra. Đối với Mẹ lòng thương xót đã là ‘muối’ trao ban hương vị cho mỗi hoạt động của Mẹ, và là ‘ánh sáng’ chiếu soi các tăm tối của biết bao người cũng đã chẳng còn nước mắt để khóc thương cho sự nghèo túng và nỗi khổ đau của họ.
Đức Thánh Cha nhắc lại lời Mẹ Têrêsa thường nói: “’Có lẽ tôi không nói tiếng của họ, nhưng tôi có thể cười’. Chúng ta hãy mang theo trong tim nụ cười của Mẹ và trao ban nó cho những ai chúng ta gặp trên đường đời, nhất là cho những người đau khổ. Như thế chúng ta sẽ mở ra cho biết bao người đã mất tin tưởng và đang cần sự cảm thông và lòng hiền dịu các chân trời của niềm vui và niềm hy vọng”.
2017 – Đức Thánh Cha thiết lập Ngày Thế giới Người nghèo
Đức Thánh Cha đã có ý tưởng về Ngày Thế giới Người nghèo vào cuối Năm Thánh Lòng Thương xót và đã thiết lập Ngày này vào năm 2017, nhắm kêu gọi Giáo hội đi ra khỏi những bức tường để gặp gỡ sự nghèo khó dưới nhiều hình thức trong thế giới ngày nay. Ngài viết trong sứ điệp nhân Ngày Thế giới Người nghèo lần đầu tiên, được cử hành vào Chúa Nhật ngày 19/11/2017, có chủ đề “Chúng ta hãy yêu thương, không phải bằng lời nói nhưng bằng việc làm”: “Vào cuối năm thánh lòng Thương Xót, tôi muốn cống hiến cho Giáo Hội Ngày Thế Giới Người Nghèo để trên toàn thế giới các cộng đoàn Kitô ngày càng trở nên dấu chỉ cụ thể và rõ ràng về tình yêu thương của Chúa Kitô đối với những người rốt cùng và túng thiếu nhất. Thêm vào những ngày Quốc Tế khác do các vị tiền nhiệm của tôi thiết định và nay đã trở thành truyền thống trong các cộng đoàn của chúng ta, tôi muốn lập ngày thế giới người nghèo này để cùng với các ngày thế giới khác mang lại một yếu tốt bổ túc với sắc thái tin mừng tuyệt hảo, đó là sự yêu thương ưu tiên của Đức Giêsu dành cho những người nghèo”.
Ngài mời gọi toàn thể giáo hội, những người nam nữ thiện chí trong ngày này hãy nhìn vào những người đang giơ tay kêu cứu và xin tình liên đới của chúng ta. Họ là những người anh chị em được Chúa Cha duy nhất trên trời tạo dựng và yêu thương. Đồng thời, ngài mời gọi tất cả mọi người không phân biệt tôn giáo, hãy cởi mở chia sẻ với người nghèo trong mọi hình thức liên đới như dấu chỉ tình huynh đệ. Thiên Chúa đã tạo dựng trời và đất cho tất cả mọi người; nhưng đáng tiếc lại có những người đã dựng nên các biên giới, các tường thành và hào lũy, phản bội món quà nguyên thủy dành cho nhân loại không loại trừ ai.
Ngài nhắc lại lời Thánh Gioan: “Hỡi các con, chúng ta đừng yêu bằng lời nói và miệng lưỡi, nhưng bằng việc làm và trong sự thật” (1 Ga 3,18). Ngài nói rằng đây là một mệnh lệnh mà không một người Kitô hữu nào có thể tránh né… “Tình yêu không chấp nhận cớ thoái thác. Ai muốn yêu như Chúa Giê-su đã yêu thương thì phải noi gương Chúa nhất là khi ta được kêu gọi yêu thương những người nghèo”.
Ngài lưu ý: “Tuy nhiên có những lúc, các Ki-tô hữu đã không nghe tiếng kêu gọi ấy cho đến cùng và để cho mình thấm nhiễm não trạng trần tục. Nhưng Chúa Thánh Thần không quên nhắc nhở họ hãy chú tâm đến điều thiết yếu. Thực vậy, Chúa làm nảy sinh những người nam nữ qua nhiều cách thức hiến mạng sống mình để phục vụ người nghèo. Bao nhiêu trang sử qua hai ngàn năm đã được các Kitô hữu ấy viết lên với tất cả sự đơn sơ và khiêm tốn với sáng kiến bác ái quảng đại, họ đã phục vụ những anh chị em nghèo nhất!”.
Vào Ngày Thế giới Người nghèo đầu tiên, Đức Thánh Cha đã dùng bữa trưa với 4.000 người nghèo và người khốn khổ tại Roma.
2019 – Ký Tài liệu về Tình huynh đệ nhân loại
Ngày 4/2/2019, Đức Thánh Cha ký một văn bản chung với Sheikh Ahmed el-Tayeb, đại giáo sĩ của Al-Azhar, tại Abu Dhabi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, có tên là “Tài liệu về tình huynh đệ nhân loại vì hòa bình thế giới và chung sống”. Tài liệu tập trung vào những người có tín ngưỡng khác nhau đoàn kết với nhau để chung sống hòa bình và thúc đẩy văn hóa tôn trọng lẫn nhau.
Văn kiện này được coi như một cột mốc trong tương quan giữa Kitô giáo và Hồi giáo, và cũng là một sứ điệp có ảnh hưởng mạnh mẽ trên chính trường quốc tế.
Trong lời tựa, sau khi khẳng định “tín ngưỡng giúp tín hữu nhìn tha nhân như một người anh chị em cần nâng đỡ và yêu thương”, hai vị thủ lãnh khẳng định rằng văn kiện này “mời gọi tất cả mọi người vốn mang trong con tim niềm tin nơi Thiên Chúa và sự tin tưởng nơi tình huynh đệ của con người hãy liên kết và cộng tác với nhau”. Hai vị lãnh đạo tin rằng trong số những nguyên nhân quan trọng gây ra khủng hoảng trên thế giới ngày nay có sự kiện lương tâm con người bị gây mê và xa lìa các giá trị tôn giáo, cá nhân chủ nghĩa thống trị và những triết lý duy vật.
Đức Thánh Cha và vị Đại Imam nhắc nhở rằng “Đấng Tạo Hóa đã ban cho chúng ta hồng ân sự sống cần phải được gìn giữ. Đó là một hồng ân mà không ai có quyền tước đoạt, đe dọa hoặc tuỳ ý lèo lái… Vì thế chúng tôi lên án mọi hành động đe dọa sự sống như diệt chủng, những hành vi khủng bố, cưỡng bách di cư, buôn bán cơ phận, phá thai, làm cho chết êm dịu và những chính sách ủng hộ những điều ấy”.
Hai vị lãnh đạo Công Giáo và Hồi giáo mạnh mẽ tuyên bố rằng “Các tôn giáo không bao giờ xúi giục chiến tranh, và không xách động những tâm tình oán ghét, đố kỵ, cực đoan, và cũng không mời gọi thi hành bạo lực và đổ máu. Những tai ương đó là kết quả của sự xuyên tạc giáo huấn tôn giáo, lạm dụng tôn giáo vào những mục tiêu chính trị và cả những giải thích do một nhóm người thuộc các tôn giáo. Vì thế, chúng tôi yêu cầu mọi người hãy ngưng lợi dụng tôn giáo để xách động oán thù, bạo lực, cực đoan và cuồng tín mù quáng, hãy ngưng lạm dụng danh Thiên Chúa để biện minh cho những hành vi giết người, phát lưu, khủng bố và đàn áp”. “Thiên Chúa toàn năng không cần được ai bảo vệ và không muốn Danh của Ngài được dùng để khủng bố dân chúng”.
“Thưa ông, nếu ông đã mang xác Người đi, thì xin cho tôi biết ông đã đặt Người ở đâu, để tôi đến lấy xác Người”…
Tất cả điều Maria Mađalêna mong mỏi lúc này chỉ có thế. Chúa chết rồi, mai táng ở đây, mà bây giờ không thấy đâu nữa! Chút dấu vết để bám víu cũng không còn!… Maria nào biết rằng điều mình được lập trình để suy nghĩ như thế không còn đúng nữa. Chị nào biết rằng hôm kia Chúa chết thật nhưng hôm nay chuyện đã trở nên khác rồi. Chị chấp nhận Chúa chết như điều hẳn nhiên, chị chỉ quan tâm làm sao để có lại được xác chết của Chúa vốn đang mất tích thôi…
Thế nhưng, sau khi hỏi ‘bác làm vườn’ và nghe chất giọng rất thân thuộc gọi tên mình: “Maria!”, thì chị quay lại và bỗng thấy mình ở trong một ‘thế giới’ khác, hết sức bất ngờ, đó là: Chúa Giêsu đã sống lại và đang sống! “Rabbouni! Thầy!” Chị kêu lên, và nhận ra Chúa đang sống, nên không hề có chuyện mất xác Chúa gì cả. Chúa đang sống, nên ngay cả việc Chúa chết cũng trở thành quá khứ rồi, chuyện kia đã qua rồi. Chị tự nhủ ôi vui quá, hạnh phúc quá, sự thật mà y như là mơ vậy!
Đó là kinh nghiệm của Maria Mađalêna về Chúa Phục Sinh, cũng đồng thời là kinh nghiệm về sự ‘phục sinh’ của chính bản thân chị. Kinh nghiệm này kết tinh và phát tiết thành lời chứng: “TÔI ĐÃ TRÔNG THẤY CHÚA!” Chính sự biến đổi như thể từ thế giới này đến thế giới khác nơi con người của Mađalêna làm nên trọng lượng và sức thuyết phục của lời chứng ấy.
Lời chứng về Chúa sống lại tiếp tục được trao đi… Và khi Phêrô trao lời chứng cho những người Do thái vốn liên can đến việc giết Chúa Giêsu, họ bứt rứt trong lòng và hỏi: “Chúng tôi phải làm gì?” Phêrô trả lời họ: “Anh em hãy sám hối, và hãy chịu Phép Rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô”… Ngày hôm ấy có 3000 người bứt rứt trong lòng được mời gọi sám hối và lãnh Phép Rửa như thế.
Ta nhận ra ‘qui trình’ là: – nghe lời chứng – tin – thao thức muốn hành động phù hợp – sám hối – lãnh Phép Rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô!… Như vậy, Phép Rửa không phải là một nghi thức có tính phù phép, máy móc, vô hồn… mà là sự đóng ấn một thái độ, một chọn lựa sâu xa ‘trở lại’ với Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chết và sống lại trong sự sống mới. Phép Rửa là điểm tới của việc nghe lời chứng và tin vào lời chứng. Đồng thời Phép Rửa mở ra một đời sống mới, một đời sống hoàn toàn qui hướng vào việc làm chứng cho Chúa Phục Sinh: “TÔI ĐÃ TRÔNG THẤY CHÚA!”
Đó là kinh nghiệm đúng ‘bài bản’ của các anh chị em tân tòng. Đó cũng phải là kinh nghiệm của tất cả chúng ta, những người đã lãnh Phép Rửa trong Chúa Giêsu Kitô! Ước được như vậy. Amen!
Lm. Lê Công Đức
Đức Hồng Y nhiếp chính Kevin Joseph Farrell thông báo về sự qua đời của Đức Thánh Cha Phanxicô, lúc 7:35am giờ Roma.
Đức Hồng y Farrell đã loan báo:
Anh chị em thân mến,
với nỗi đau sâu sắc, tôi phải thông báo về sự qua đời của Đức Thánh Cha Phanxicô.
Lúc 7 giờ 35 sáng nay, Giám mục Roma, Phanxicô, đã trở về nhà Cha.
Cả cuộc đời ngài đã được hiến dâng để phục vụ Chúa và Hội Thánh của Người.
Ngài đã dạy chúng ta sống các giá trị Tin Mừng với lòng trung tín, can đảm và tình yêu phổ quát, đặc biệt là cho những người nghèo khổ và bị gạt ra bên lề.
Với lòng biết ơn sâu xa vì gương sáng của ngài như một môn đệ đích thực của Chúa Giêsu, chúng ta phó thác linh hồn Đức Thánh Cha Phanxicô cho tình yêu thương xót vô biên của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Nguồn. Vatican News
Chứng từ về Phục Sinh chủ yếu đặt nền trên kinh nghiệm. Và kinh nghiệm được vun đắp từ ký ức. Có ký ức cá nhân và có ký ức tập thể nữa. Vì thế, Phêrô và anh em Tông Đồ khi trao lời chứng cho người Do thái đã gợi lại ký ức về vua Đavít, một nhân vật thế giá bậc nhất trong lịch sử dân tộc này. Phêrô giải thích rằng chính Đavít đã nói trước về sự sống lại của Chúa Kitô! Nhưng lời của vua Đavít trong Sách Thánh, dù thế giá đến mấy, cũng chỉ nâng đỡ cho chính ký ức và kinh nghiệm của Phêrô và các Tông Đồ về sự kiện Chúa sống lại. Cuối cùng, chứng từ được chốt lại ở đây là: “Ðức Giêsu đó, Thiên Chúa đã cho sống lại; CHÚNG TÔI HẾT THẢY XIN LÀM CHỨNG!”
Chúa Phục Sinh ban cho các phụ nữ, rồi các ông, ký ức và kinh nghiệm về sự sống lại của Người, bằng cách Người đích thân gặp họ. Nhưng sự thật rành rành mà họ kinh nghiệm ấy bị đề kháng bởi sự nghi nan của một số người, và nhất là bị tấn công vùi dập bởi những người khác. Nếu một kịch bản đã được dựng lên, và người ta đã giết được Chúa Giêsu, thì giờ đây những người ấy bị phiền phức vì Chúa chết nhưng rồi đã sống lại. Vì thế, họ lại cần dựng một kịch bản khác để dập tắt sự kiện sống lại này. Các thượng tế đã hối lộ cho nhóm lính canh để các anh này dựng chuyện và phao tin thất thiệt!
Ngày nay, chúng ta hoang mang với nhiều tin giả (fake news) và hiểu sự độc hại của những tin giả trong một thế giới rất mạnh về các công cụ truyền thông. Chính Chúa Phục Sinh, Đấng là Sự Thật, đã là ‘nạn nhân’ của tin giả như thế. Các chứng nhân của Chúa bị làm phiền bởi tin giả. Sứ mạng làm chứng không dễ dàng chút nào.
Rốt cuộc, để làm chứng cho sự thật, và để đương đầu với sự bịa đặt dối trá, các môn đệ thừa sai là chúng ta chỉ có vũ khí sắc bén nhất là chính ký ức và kinh nghiệm của mình mà thôi. Bởi tiên vàn, ký ức và kinh nghiệm của ta về sự hiện diện và hoạt động của Chúa Phục Sinh cũng chính là ân sủng mà ta được ban tặng.
Chúa Giêsu đã sống lại! Tất cả chúng tôi xin làm chứng! Alleluia.
Lm. Lê Công Đức
Phêrô cùng với anh em Tông Đồ làm chứng hai điều: Một là làm chứng về con người và sứ vụ của Chúa Giêsu khởi từ Galile; hai là làm chứng về sự sống lại của Người sau khi bị đóng đinh và chết trên thập giá (x. Cv 10,34a.37-43). Điều thứ nhất thật ra mọi người đều nắm biết khá rõ, cho tới vụ án, vụ xử tử và việc mai táng. Điều thứ hai, việc Chúa Giêsu sống lại, mới là nội dung cốt yếu của lời chứng và là trọng tâm của đức tin Kitô giáo.
Đáng ghi nhận, cả hai điều mà Phêrô và các Tông Đồ làm chứng thì đều được làm chứng dựa trên kinh nghiệm, cả kinh nghiệm cá nhân lẫn kinh nghiệm cộng đoàn. Các ông được Chúa Giêsu gọi vào buổi ban đầu sứ vụ để đi theo Người. Rồi đặc biệt là các ông được gặp Chúa, ăn uống với Chúa sau khi Chúa sống lại. Làm chứng dựa trên kinh nghiệm, nên được gọi là các ‘thị chứng nhân’ – mắt thấy tai nghe!
Riêng đối với kinh nghiệm có tầm quyết định là kinh nghiệm Chúa Phục sinh, thì phải nói rằng Phêrô và nhóm các ông mắc nợ sự nâng đỡ từ lời chứng của nhóm các phụ nữ (theo các tác giả Phúc Âm nhất lãm), hay từ lời chứng của một phụ nữ là Maria Mađalêna (theo Phúc Âm Gioan). Nói gì thì nói, Chúa Phục sinh đã không gặp Phêrô hay Giacôbê hay Gioan hay bất cứ ông nào trước, mà đã gặp Maria Mađalêna trước (cùng với các bà!) (x. Ga 20,1-9). Và chúng ta nhận ra: Các chứng nhân, dù là ‘thị chứng nhân’ đi nữa, cũng được nâng đỡ bởi các chứng nhân!
Chúa muốn điều đó, Chúa cho Maria Mađalêna và các phụ nữ vốn bị coi thường được nổi bật lên xung quanh biến cố Phục Sinh, để cộng đoàn môn đệ Chúa sẽ không coi thường bất cứ ai, ngược lại biết trân trọng đặc sủng của hết mọi người, cả những người bất ngờ nhất. Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ 16 đã rất thâm thuý khi chọn trình thuật Tin Mừng Phục Sinh của Gioan hôm nay làm ý lực cho việc nhận hiểu tính ‘hiệp hành’ của Hội Thánh. Maria Mađalêna, Gioan, Phêro – mỗi người có đặc sủng khác nhau, lắng nghe và tôn trọng nhau trong cuộc tìm kiếm chung từ trong ‘đêm tối linh hồn’ của mỗi người. Và sự thật rằng Chúa đã sống lại được hé mở lần lượt cho tất cả…
Kết quả là sự biến đổi. Không còn đêm tối nữa, mà đã ở trong ánh sáng chan hoà. Không còn luẩn quẩn với ‘những sự dưới đất’ nữa, mà đã hướng lòng trí về ‘những sự trên trời’. Không còn chết trong tội nữa, mà đã ‘sống lại với Đức Kitô’ (x. Cl 3,1-4).
Xin Chúa Phục Sinh ban cho chúng ta những sự biến đổi này, để đến lượt mình, chúng ta thi hành sứ mạng làm chứng cho Tin Mừng Chúa sống lại. Alleluia!
Lm. Lê Công Đức
Trong khi trình thuật Phục sinh đầu tiên của Tin Mừng Gioan xoay quanh một người phụ nữ, thì Luca nói về ‘những người phụ nữ’. Không chỉ có Maria Mađalêna, mà còn có bà Gioanna, bà Maria mẹ Giacôbê, và các bà khác nữa trong nhóm. Trong bối cảnh hậu THĐGM 16 về tính ‘hiệp hành’, tức tính ‘đồng hành đồng nghị’ của Hội Thánh, chúng ta rất nên nhìn và suy nghĩ về những người phụ nữ này.
Trước hết, bữa tiệc lời Chúa thịnh soạn tối nay là một tóm lược lịch sử cứu độ. Kể từ cuộc sa ngã ngay buổi ban đầu, tất cả các câu chuyện được chuyển tải qua một loạt các Bài đọc mà chúng ta vừa nghe đều hướng đến biến cố Chúa Giêsu Kitô. Và cao trào của biến cố Chúa Giêsu Kitô – tức sứ vụ công khai, cái chết và sự sống lại của Người – có sự hiện diện năng động và xuyên suốt của một nhóm phụ nữ, mà xem ra chúng ta ít để ý.
Những người phụ nữ này được nhắc đến ở đầu chương 8 Tin Mừng Luca, với ghi chú rằng các bà không chỉ đi theo, mà còn lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ! Ở cuối trình thuật Thương Khó (chương 23), khi Chúa Giêsu phó linh hồn trong tay Cha và tắt thở, thánh Luca ghi nhận nhóm phụ nữ này đứng gần đó và chứng kiến tất cả. Rồi các bà đã đi với ông Giô-xếp để quan sát kỹ việc an táng thi hài Chúa Giêsu. Cuối cùng, các bà về nhà, chuẩn bị dầu và thuốc thơm, chờ đợi qua ngày nghỉ lễ…
Giờ đây, ở đầu chương 24, thánh Luca một lần nữa nhắc đến các phụ nữ này, cho biết rằng họ là những chứng nhân đầu tiên của Tin Mừng Chúa sống lại. Vừa tảng sáng, các bà đi ra mồ, mang theo các loại thuốc thơm… Các bà thấy mồ trống… Đang ngơ ngác không hiểu gì thì hai thiên thần hiện ra báo tin rằng Chúa đã phục sinh… “Tại sao các bà tìm người sống nơi những kẻ chết? Người không còn ở đây”… Rời khỏi mộ, đi về, các bà tường thuật lại tất cả sự việc cho mười một Tông đồ và các người khác… Nhưng khi nghe những điều đó, các ông không tin, cho là chuyện vớ vẩn… Tuy nhiên – thánh Luca kể – Phêrô vẫn đứng dậy, chạy ra mộ, nhìn thấy mọi sự. Ông trở về và rất đỗi ngạc nhiên…
Chúng ta nhận ra:
-Nhóm phụ nữ này cũng rong ruổi đi theo Chúa Giêsu trong hành trình sứ vụ, từ buổi ban đầu ở Galile, đi theo nhưng một cách mờ nhạt như những chiếc bóng, giữ một khoảng cách xa xa so với Nhóm Mười Hai, không được trao vai trò gì và không có danh giá gì ngoại trừ là nguồn ủng hộ tài chánh cho Chúa và các môn đệ.
-Tuy nhiên, những thời khắc cực kỳ quan trọng – là khi Chúa chết, Chúa được mai táng, và khi những dấu hiệu đầu tiên của sự Phục sinh được nhận biết – thì chính các phụ nữ này là nhân chứng, chứ không phải 12 hay 11 người đàn ông kia.
-Thật ra, các bà cũng lơ ngơ chứ không hiểu biết sâu sắc gì. Thấy Chúa chết thì biết Chúa chết vậy thôi, nên tất cả những gì các bà có thể làm là chuẩn bị thuốc thơm để chăm sóc thi hài của Chúa. Các bà không được các ông tin tưởng lắm – ngay cả khi kể lại những điều lạ lùng cho các ông nghe, các bà đã bị các ông nhún vai, bĩu môi cho là vớ vẩn!
-THẾ NHƯNG rõ ràng là các bà, nổi bật là Maria Mađalêna, được ban cho ĐẶC SỦNG làm Tông Đồ của các Tông Đồ! Không phải ba môn đệ thân tín nhất của Chúa Giêsu, không phải bất cứ ông nào trong Nhóm tiền thân của hàng giám mục hiện nay của Giáo hội, mà chính là những người phụ nữ giáo dân mờ nhạt này được chọn làm chứng nhân đầu tiên của sự kiện Chúa Phục sinh, là sự kiện nằm ở trung tâm của đức tin Kitô giáo!
Ta hiểu tại sao Giáo hội ngày nay muốn làm sống hoạt lại phong cách ‘hiệp hành’, tức đồng hành đồng nghị – theo nghĩa rằng mọi đặc sủng của mọi người trong Giáo hội, không trừ ai, phải được tôn trọng. Không ai bị loại trừ, không ai bị bỏ lại đằng sau, ai cũng được trân trọng lắng nghe, và không ai bị cho là vớ vẩn… Điều này đòi tất cả chúng ta phải hoán cải trong cách nhìn, trong tâm thức, trong các mối tương quan – để đời sống và SỨ MẠNG loan báo Tin Mừng Phục sinh của Giáo hội thật sự được THAM GIA bởi mọi thành phần, nam cũng như nữ, dựa trên nền tảng HIỆP THÔNG của Nhiệm thể Chúa Kitô.
Đừng quên, không chỉ Gioan hay Luca, mà tất cả bốn sách Phúc Âm đều đồng thanh xác nhận: Các chứng nhân đầu tiên của Tin Mừng Phục Sinh là NHỮNG NGƯỜI PHỤ NỮ! Nói cách khác, tất cả chúng ta mắc nợ những người phụ nữ ấy về chính ơn đức tin của mình. Và cùng với Thượng Hội đồng Giám mục về Giáo hội ‘hiệp hành’, ta còn phải tự hỏi: Phụ nữ đang ở đâu trong Giáo hội hôm nay?
Lm. Lê Công Đức