“Như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em. Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy. Nếu anh em tuân giữ lệnh Thầy truyền, anh em sẽ ở trong tình yêu của Thầy”…
Trong những khoảnh khắc cuối cùng, người ta nói với nhau những điều quan trọng nhất. Chúa Giêsu nói với các môn đệ về tình yêu hết lòng mà Người dành cho họ. Và Người không mong gì hơn là họ ở lại trong tình yêu ấy của Người. Bằng cách nào các môn đệ ở lại trong tình yêu của Chúa Giêsu? Bằng cách giữ lệnh Chúa truyền! Thế nhưng, lệnh truyền khẩn thiết và thúc bách nhất của Chúa là: Hãy yêu thương nhau, như Thầy yêu anh em!
Ta thấy đó, chẳng có gì khác ngoài tình yêu. Chỉ bằng cách mở lòng ra yêu thương nhau, thì chúng ta mới có thể chắc chắn mình ở lại trong tình yêu của Chúa Giêsu, và do đó cũng ở trong tình yêu của Chúa Cha. Bài giảng Thánh lễ nhận sứ vụ Phêrô, Đức Lêô XIV đã không nhấn mạnh điều gì khác điều này: Hãy cho phép tình yêu của Thiên Chúa chạm đến mình, và hãy yêu thương nhau! Mọi xung đột sẽ chấm dứt. Chiến tranh sẽ không còn. Bình an sẽ trở lại trên thế giới đầy xâu xé này…
Chính trên nền tảng cảm nghiệm tình yêu của Thiên Chúa và trong động lực yêu thương anh chị em mình mà các Tông Đồ tại công nghị ở Giêrusalem đã phân định được cách giải quyết cho vấn đề cắt bì. “Thiên Chúa thấu biết các tâm hồn… Vậy sao anh em thách thức Thiên Chúa khi anh em đặt lên cổ các môn đồ cái ách mà cả tổ phụ chúng ta lẫn chúng ta không sao mang nổi?”
Phêrô đã tuyên bố dõng dạc như thế. Giacôbê cũng đồng quan điểm. Và đó vốn là xác tín trong trực giác của Phaolô và Barnaba, dù hai Tông Đồ này không nói nhiều về lập trường của mình, mà chỉ tập trung kể lại những việc Chúa đã làm giữa các anh chị em dân ngoại. Thật là một phong cách đồng nghị kiểu mẫu, nhất là khi chốt lại điều được quyết nghị, các Tông Đồ không nói “chúng tôi quyết định…”, mà nói rõ rằng “Thánh Thần và chúng tôi quyết định…”
Có thể kết luận: Khi chúng ta thực sự ở lại trong tình yêu của Chúa Giêsu, thì chúng ta cũng ở lại trong Chúa Cha, và được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần. Chúng ta sẽ cùng với Thánh Thần mà đưa ra các quyết định.
Lm. Lê Công Đức
Vào lúc 5 giờ chiều thứ Ba ngày 20/5/2025, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã đến viếng Đền thờ Thánh Phaolô Ngoại thành và cầu nguyện trước mộ thánh nhân. Trong bài chia sẻ ngắn, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng nguồn gốc của mọi sứ vụ chính là Thiên Chúa, Đấng yêu thương và chọn gọi chúng ta trước, nhưng chúng ta cũng cần tin tưởng và tự do đón nhận.
Sau khi được chào đón bởi Đan viện phụ của Đan viện Thánh Phaolô Ngoại thành và Đức Hồng y Giám quản Đền thờ Thánh Phaolô, Đức Thánh Cha cùng đoàn rước tiến qua Cửa Thánh đi vào Đền thờ.
Đến trước bàn thờ Tuyên xưng Đức tin, Đức Thánh Cha đi xuống viếng Mộ Thánh Tông đồ Phaolô và bắt đầu cử hành phụng vụ với Dấu Thánh Giá và lời chào phụng vụ.
Sau đó, cộng đoàn cùng nghe đoạn thư Thánh Phaolô gửi các tín hữu Roma (1,1-6.8-9.11-12.14-15):
Tôi là Phaolô, tôi tớ của Đức Kitô Giêsu; tôi được gọi làm Tông Đồ, và dành riêng để loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa. Tin Mừng ấy, xưa Người đã dùng các ngôn sứ của Người mà hứa trước trong Kinh Thánh. Đó là Tin Mừng về Con của Người là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Xét như một người phàm, Đức Giêsu Kitô xuất thân từ dòng dõi vua Đavít. Nhưng xét như Đấng đã từ cõi chết sống lại nhờ Thánh Thần, Người đã được đặt làm Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng.
Nhờ Người, chúng tôi đã nhận được đặc ân trở thành Tông Đồ, làm cho hết thảy các dân ngoại vâng phục Tin Mừng hầu danh Người được rạng rỡ. Trong số đó, có cả anh em, là những người đã được kêu gọi để thuộc về Đức Giêsu Kitô.
Trước hết, nhờ Đức Giêsu Kitô, tôi tạ ơn Thiên Chúa của tôi về tất cả anh em, vì trong khắp hoàn cầu, ai ai cũng đều nói đến lòng tin của anh em. Thiên Chúa là Đấng tôi hết lòng thờ phượng khi loan báo Tin Mừng về Con của Người, chính Người làm chứng cho tôi là tôi hằng nhắc nhở đến anh em.
Thật vậy, tôi rất ước ao được gặp anh em, để chia sẻ với anh em phần nào ân huệ của Thánh Thần, nhờ đó anh em vững mạnh, nghĩa là để chúng ta cùng khích lệ nhau, bởi vì cả anh em lẫn tôi, chúng ta đều chung một niềm tin.
Tôi mắc nợ người Hy Lạp cũng như người man di, người thông thái cũng như người dốt nát. Bởi vậy, tôi nóng lòng loan báo Tin Mừng cho cả anh em nữa, những người đang sống ở Roma.
Và Đức Thánh Cha đã có bài suy tư ngắn về đoạn thư Thánh Phaolô gửi các tín hữu Roma. Ngài nói:
Đoạn Kinh Thánh mà chúng ta vừa nghe là phần mở đầu của một lá thư tuyệt hay được Thánh Phaolô viết cho các tín hữu ở Roma. Sứ điệp của lá thư xoay quanh ba chủ đề lớn: ân sủng, đức tin và ơn công chính. Khi chúng ta phó thác sự khởi đầu của Triều đại Giáo hoàng mới này cho sự chuyển cầu của Vị Tông đồ của Dân ngoại, chúng ta hãy cùng nhau suy tư về sứ điệp của ngài.
Ân sủng: Thiên Chúa yêu thương và chọn gọi chúng ta trước
Trước hết, Thánh Phaolô nói rằng ngài đã nhận được từ Thiên Chúa ân sủng về ơn gọi của ngài (xem Rm 1,5). Nghĩa là, ngài nhận ra rằng cuộc gặp gỡ của ngài với Chúa Kitô và sứ vụ của ngài là kết quả của tình yêu mà Thiên Chúa đã dành cho ngài trước, tình yêu đã gọi ngài đến với một cuộc sống mới khi ngài vẫn còn xa rời Phúc Âm và bách hại Giáo hội. Thánh Augustino – cũng là một người hoán cải – đã nói về cùng một kinh nghiệm như sau: “Làm sao chúng ta có thể chọn nếu trước đó chúng ta không được chọn? Chúng ta không thể yêu nếu chúng ta không được yêu trước” (Discourse 34, 2). Ở nguồn gốc của mọi ơn gọi đều có Thiên Chúa: lòng thương xót, lòng nhân từ của Người, quảng đại như lòng mẹ (x. Is 66,12-14), người nuôi dưỡng con mình bằng chính thân thể mình khi đứa trẻ vẫn chưa có khả năng tự nuôi sống mình (x. THÁNH AUGUSTINE, Giải thích về Thánh vịnh 130,9).
Đức tin: Sự tự do đón nhận của con người
Tuy nhiên, trong cùng đoạn văn đó, Thánh Phaolô cũng nói về “sự vâng phục của đức tin” (Rm 1,5), và ở đây ngài cũng chia sẻ những gì ngài đã trải nghiệm. Thực ra, khi hiện ra với ngài trên đường đi Đamát (x. Cv 9,1-30), Chúa không tước mất tự do của ngài, nhưng cho ngài cơ hội để đưa ra quyết định, để chọn một sự vâng phục là kết quả khổ luyện từ những đấu tranh nội tâm cho đến bên ngoài, điều mà ngài vui lòng đối mặt. Ơn cứu độ không đến bằng phép thuật, nhưng bằng mầu nhiệm của ân sủng và đức tin, của tình yêu thương đi bước trước của Thiên Chúa, và của lòng tin tưởng và sự tự do đón nhận của con người (xem 2 Tm 1,12).
Trở thành chứng nhân tình yêu
Trong khi chúng ta tạ ơn Chúa vì lời kêu gọi đã biến đổi cuộc đời của ông Saolô, chúng ta cũng xin Chúa cho chúng ta biết cách đáp lại lời mời gọi của Người theo cách tương tự, trở thành những chứng nhân của tình yêu “được đổ vào lòng chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần đã được ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Chúng ta cầu xin Chúa vun trồng và truyền bá lòng bác ái của Người, làm cho chúng ta trở nên người thân cận của nhau (x. PHANXICÔ, Bài giảng Kinh Chiều II lễ kính Thánh Phaolô trở lại, ngày 25 tháng 1 năm 2024). Chúng ta hãy thi đua trong việc thể hiện tình yêu mà sau cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô đã thúc đẩy kẻ bách hại xưa kia trở nên “mọi sự cho mọi người” (x. 1 Cr 9,19-23), ngay cả đến mức tử đạo. Vì thế, đối với chúng ta cũng như đối với Thánh Phaolô, sự yếu đuối của xác thịt sẽ bày tỏ sức mạnh của đức tin vào Thiên Chúa, Đấng ban ơn công chính (xem Rm 5,1-5).
Luật Biển Đức: tình bác ái huynh đệ và đón tiếp mọi người
Trong nhiều thế kỷ, Đền thờ này đã được giao phó cho cộng đoàn dòng Biển Đức chăm sóc. Vậy thì, khi nói về tình yêu như là nguồn mạch và động lực thúc đẩy việc loan báo Tin Mừng, làm sao chúng ta có thể không nhớ đến lời kêu gọi không ngừng của Thánh Biển Đức, trong Luật của ngài, về tình bác ái huynh đệ trong tu viện và lòng hiếu khách đối với mọi người (Luật, chương LIII; LXIII)?
Tình yêu Thiên Chúa là nguồn gốc của ơn gọi
Nhưng tôi muốn kết thúc bằng cách nhắc lại những lời mà hơn một ngàn năm sau, một vị Biển Đức khác, Đức cố Giáo hoàng Biển Đức XVI, đã nói với những người trẻ: “Các bạn thân mến,” ngài nói, “Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Đây là chân lý vĩ đại của cuộc sống chúng ta và điều này mang lại ý nghĩa cho mọi thứ khác […]. Ngay từ nguồn gốc sự hiện hữu của chúng ta, có một kế hoạch yêu thương từ Thiên Chúa”, và đức tin dẫn chúng ta đến “việc mở lòng mình ra với mầu nhiệm tình yêu này và sống như những người nhận ra mình được Thiên Chúa yêu thương” (Bài giảng tại buổi cầu nguyện canh thức với những người trẻ, Madrid, ngày 20 tháng 8 năm 2011).
Đây chính là gốc rễ đơn giản và độc đáo của mọi sứ vụ, kể cả sứ vụ của tôi, với tư cách là người kế vị Thánh Phêrô và là người thừa hưởng lòng nhiệt thành tông đồ của Thánh Phaolô. Xin Chúa ban cho tôi ơn biết đáp lại tiếng gọi của Người một cách trung thành.
Sau khi cùng cộng đoàn đọc Kinh Lạy Cha, Đức Thánh Cha đọc lời nguyện kết thúc và ban phép lành cho cộng đoàn.
Cử hành phụng vụ kết thúc với kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng.
Nguồn. Vatican News
Cắt bì là một thực hành truyền thống, có gốc rễ nơi chính Môsê, khuôn mặt biểu tượng của Lề Luật. Vì thế, nhiều người ủng hộ lập trường đồng hoá cắt bì với điều kiện cần cho ơn cứu độ! Phaolô và Barnaba tranh luận gay gắt với quan điểm ấy. Có thể thấy đây như một đụng chạm nảy lửa giữa bảo thủ và cấp tiến, trong đó quan điểm cấp tiến của Phaolô và Barnaba tại thời điểm này chủ yếu đặt nền trên xác tín mạnh mẽ của cá nhân, nghĩa là không dễ thuyết phục những người chủ trương phải cắt bì…
Thế là cả hai nhóm đều thấy cần thượng cầu đến tập thể các Tông Đồ, tức đưa vấn đề ra thảo luận tại một công nghị ở Giêrusalem. Đây là cách làm đúng đắn, văn minh, hợp tình hợp lý, và hợp với bản chất của Hội Thánh: cùng nhau lắng nghe và phân định, để nhận ra Chúa Thánh Thần muốn mách bảo điều gì. Đây chính là sự thể hiện của phong cách đồng hành đồng nghị (hay ‘hiệp hành’), là phong cách sống và hoạt động của Hội Thánh (modus vivendi et operandi).
Phong cách đồng hành đồng nghị ấy, dĩ nhiên, giả thiết chúng ta Ở LẠI trong Chúa Giêsu Kitô và do đó cũng Ở LẠI trong Hội Thánh của Người. “Cũng như nhành nho tự nó không thể sinh trái được, nếu không dính liền với cây nho; anh em cũng vậy, nếu không ở trong Thầy. Thầy là cây nho, anh em là nhành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, kẻ ấy sẽ sinh nhiều trái, vì không có Thầy, anh em không thể làm được gì”.
Chúng ta đã hô khẩu hiệu ‘hiệp hành’ (tức đồng hành đồng nghị) rất sôi nổi hồi những năm 2021, 2022… Giai đoạn áp dụng Văn kiện Chung kết Thượng Hội Đồng đã mở ra. Để có một Giáo hội ‘hiệp hành’, điều thiết yếu là các giáo phận, giáo xứ, dòng tu, cộng đoàn của chúng ta thực sự là những cộng đoàn có phong cách ‘hiệp hành’!
Lm. Lê Công Đức
Tiếp các Đại diện các Giáo hội và các cộng đoàn Giáo hội Kitô và các tôn giáo khác vào sáng thứ Hai ngày 19/5/2025, Đức Thánh Cha nhấn mạnh sự hiệp nhất trong đức tin của các Kitô hữu và xem việc tái lập sự hiệp thông trọn vẹn và hữu hình giữa tất cả các Kitô hữu là một trong những nhiệm vụ chính của ngài. Ngài cũng khẳng định tiếp tục dấn thân của Đức Phanxicô trong hành trình đối thoại và đại kết. Ngài đề cao chứng tá của các lãnh đạo tôn giáo cho việc xây dựng hòa bình.
Đức Thánh Cha Lêô XIV đã dành buổi tiếp kiến đầu tiên sau Thánh lễ khai mạc sứ vụ Phêrô cho các đại diện của các Giáo hội Kitô và các cộng đoàn Giáo hội, cũng như đại diện các tôn giáo đã tham dự Thánh lễ khai mạc sứ vụ của ngài vào sáng Chúa Nhật ngày 18/5/2025. Ngài nói: “Sự hiện diện và lời cầu nguyện của quý vị là sự an ủi và khích lệ lớn lao dành cho tôi”.
Dấn thân của Đức Phanxicô cho đại kết và đối thoại liên tôn
Trong bài diễn văn, Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến tình huynh đệ phổ quát, một điểm nổi bật trong triều Giáo hoàng của Đức Phanxicô khi tiếp tục các sáng kiến của các vị tiền nhiệm. Nhận xét rằng Đức Phanxicô đã cổ võ cả hành trình đại kết và đối thoại liên tôn, “trên hết bằng cách vun trồng các mối quan hệ giữa các cá nhân, theo cách không làm mất đi bất cứ điều gì trong các mối liên hệ của các giáo hội, nét nhân bản của cuộc gặp gỡ luôn được trân trọng”.
Hiệp nhất trong đức tin
Ngỏ lời với các Giáo hội Kitô và các cộng đoàn giáo hội, lưu ý việc ngài được bầu chọn làm Giáo hoàng vào dịp kỷ niệm 1.700 năm Công đồng chung đầu tiên ở Nixêa, Đức Thánh nhấn mạnh rằng việc tái lập sự hiệp thông trọn vẹn giữa tất cả các Kitô hữu chỉ có thể là “sự hiệp nhất trong đức tin”. Ngài xem “việc tái lập sự hiệp thông trọn vẹn và hữu hình” giữa tất cả các Kitô hữu là một trong những nhiệm vụ chính của Giám mục Roma.
Tiếp tục dấn thân hiệp hành
Đức Thánh Cha bảo đảm tiếp tục sự dấn thân của Đức cố Giáo hoàng Phanxicô trong việc cổ võ tính hiệp hành của Giáo hội Công giáo và phát triển những hình thức mới và cụ thể cho tính hiệp hành ngày càng mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực đại kết.
Nói với các truyền thống tôn giáo ngoài Kitô giáo: Đối thoại và xây dựng những cầu nối
Ngỏ lời với các đại diện các truyền thống tôn giáo ngoài Kitô giáo, Đức Thánh Cha nói rằng hành trình chung của họ phải được hiểu theo tinh thần tình huynh đệ nhân loại. Ngài nhấn mạnh việc đối thoại và xây dựng những cầu nối. Ngài nhắc đến nỗ lực của Đức Phanxicô trong việc đối thoại liên tôn, bằng lời nói và hành động “đã mở ra những con đường gặp gỡ mới, để thúc đẩy ‘văn hóa đối thoại như con đường; hợp tác lẫn nhau như quy tắc ứng xử; hiểu biết lẫn nhau như phương pháp và tiêu chuẩn’”.
Nói với người Do Thái và người Hồi giáo
Nhắc lại tuyên ngôn Nostra aetate (số 4) của Công đồng Vatican II, Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến sự vĩ đại của di sản thiêng liêng chung giữa các Kitô hữu và người Do Thái và tầm quan trọng của đối thoại thần học giữa các Kitô hữu và người Do Thái ngay cả trong thời điểm đầy xung đột và hiểu lầm.
Ngài cũng nhận xét rằng tương quan giữa Giáo hội Công giáo và các tín đồ Hồi giáo được đánh dấu bằng cam kết ngày càng gia tăng đối với việc đối thoại và tình huynh đệ, dựa trên nền tảng là sự tôn trọng lẫn nhau và tự do tín ngưỡng.
Đóng góp của tôn giáo cho hòa bình
Cuối cùng, Đức Thánh Cha nhấn mạnh sự đóng góp của các tôn giáo cho hòa bình bằng cách nói ‘không’ với chiến tranh, chạy đua vũ khí, nền kính tế làm con người và Trái đất nghèo đi; nói ‘có’ với hòa bình, với giải trừ vũ khí, với sự phát triển toàn diện.
Chứng tá của tôn giáo cho hòa bình
Kết thúc bài nói chuyện, Đức Thánh Cha hy vọng chứng tá hiệu quả của các tôn giáo sẽ góp phần xây dựng một thế giới hòa bình hơn. Ngài mời gọi mọi người cầu xin lòng nhân từ và sự khôn ngoan vô hạn của Thiên Chúa giúp chúng ta sống như con cái của Người và như anh chị em với nhau, để hy vọng có thể phát triển trên thế giới.
Nguồn: Vatican News
“Thầy để lại bình an cho anh em”…
Nhưng các Tông Đồ của Thầy lại đầy gian nan khốn khó… Như Phaolô hôm nay bị những người Do thái ném đá thừa sống thiếu chết. Thật sự họ tưởng ngài đã chết nên quăng ra ngoài thành, rồi ngài lồm cồm bò dậy, ung dung đi vào… Mà đây mới chỉ một vụ việc – Phaolô còn lên bờ xuống ruộng bao phen khác nữa…
Sao thế nhỉ?… À thì ra, Thầy đã nói là Thầy ban bình an CỦA THẦY, không phải bình an của thế gian! … Vì thế Thầy nhắc “lòng anh em đừng xao xuyến và đừng sợ hãi”!… Quả là Phaolô đã không sợ hãi, và các Tông Đồ của Thầy không ai sợ hãi, dù gặp phải những ngược đãi đủ kiểu trên đường sứ mạng…
Thì ra, Phaolô và các Tông Đồ vẫn có bình an thật, bình an của Thầy, bình an sâu thẳm trong tâm hồn – bất chấp xác thân các ngài phải đòn roi hay bị ném đá bầm giập!
Chúng ta thường mong muốn bình an vô sự. Nhưng bình an vô sự là bình an của thế gian – nó không hẳn là bình an thật trong tâm hồn. Hãy dám xin Chúa ban cho mình bình an của Chúa, bình an thật, ngay cả dù đó là bình an không ‘vô sự’ chút nào!… Bạn hãy nghĩ đi, có tất cả nhưng không có bình an trong tâm hồn, và lao đao lận đận nhưng trong tâm hồn vẫn bình an – bạn biết mình sẽ chọn đàng nào…
Lm. Lê Công Đức
Chúa Giêsu dạy các môn đệ. Vẫn chưa đủ. Thánh Thần, là Thần Khí sự thật, sẽ được sai đến nhân danh Chúa Giêsu mà dạy các môn đệ mọi điều, cũng như giúp các môn đệ hiểu tất cả những lời Chúa Giêsu đã dạy. Đó là lý do các Tông Đồ phải chờ lãnh nhận ân ban Thánh Thần cách chính thức trước khi lên đường thi hành sứ mạng – dĩ nhiên là lên đường và ra đi như vậy trong sự đồng hành và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần…
Chính trong Thánh Thần, Phaolô và Barnaba rao giảng và kinh nghiệm đủ mọi chuyện dở khóc dở cười. Bị những người có thế lực ngược đãi và ném đá, phải chạy tránh! Chữa lành cho một anh chàng bại chân, khiến những người ở đó nghĩ hai vị là những thần linh, và họ cúng bái, suy tôn, đến nỗi Phaolô phải la lên mà can ngăn họ!
Câu chuyện trên cho thấy người được Chúa Thánh Thần hướng dẫn biết sống trong sự thật, bảo vệ sự thật, rao giảng sự thật và làm chứng cho sự thật. Được tôn là thần, Phaolô và Barnaba không lợi dụng sự tin tưởng ấy để biến nó thành những lợi ích nào đó cho mình hay cho công việc của mình. Cũng không ấm ớ, lấp lửng kiểu thinh lặng hay giải thích nửa vời! Phaolô đã nói rõ ràng để đánh tan sự nhận diện sai lầm của những người ấy.
Bởi vì người Tông Đồ chân thực thì rao giảng Chúa Giêsu Kitô chứ không rao giảng chính mình, không qui về mình! Nếu không vậy, tức nếu qui về mình, thì đó là biểu hiện của tính ‘thế tục thiêng liêng’, điều tai hại nhất cho Giáo hội – theo nhận định của Henri de Lubac được ĐTC Phanxicô dẫn lại…
Chúng ta cần Thánh Thần hướng dẫn để hiểu lời của Chúa Giêsu, để giữ lời ấy, và qua đó làm chứng rằng mình yêu mến Chúa. “Ai nghe các giới răn Thầy truyền và tuân giữ, người ấy là kẻ yêu mến Thầy, và ai yêu mến Thầy, sẽ được Cha Thầy yêu mến, và Thầy cũng yêu mến và tỏ mình ra cho người ấy”. Nói cho cùng, chỉ cần yêu mến Chúa Giêsu theo đúng cách mà Người chỉ dẫn là giữ lời Người, thì mọi sự sẽ ổn cho chúng ta!
Lm. Lê Công Đức
Hết lượt Tôma được ‘sửa lưng’, thì đến lượt Philipphê. Thật ra, sự lẩn thẩn của hai môn đệ này là bài học quí chứ không phải là trò cười cho chúng ta – vì ở trường hợp của các ngài, chắc ta cũng không ít lẩn thẩn hơn. Chuyện của Philipphê là “xin Thầy tỏ cho chúng con xem thấy Cha, và như thế là đủ cho chúng con”. Chúa Giêsu đáp: Ơ kìa, lâu nay không nhận ra gì ư? Ai thấy Thầy là thấy Cha cơ mà! Anh không tin Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy sao?
Hơn nữa, Chúa Giêsu còn khẳng định chính sự gắn bó mật thiết giữa Người với Chúa Cha là sự bảo đảm rằng “Ai tin vào Thầy, người ấy sẽ làm được những việc Thầy đã làm; người ấy còn làm được những việc lớn lao hơn” – và “Nếu điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin cùng Thầy, Thầy sẽ làm cho”. Nghĩa là, sự kết hợp giữa Chúa Giêsu với Chúa Cha là điều kiện cần thứ nhất, có tính quyết định. Sự kết hợp giữa người môn đệ với Chúa Giêsu là điều kiện cần thứ hai, làm thành điều kiện đủ.
Thế mà, Chúa Giêsu kết hợp với Chúa Cha là điều hiển nhiên rồi. Chỉ cần chúng ta làm cho sự kết hợp giữa mình với Chúa Giêsu cũng thành hiển nhiên nữa thôi!
Lm. Lê Công Đức
Con người toan tính, quyết định, hành động theo đường lối mình, thường không phản ánh đường lối của Thiên Chúa lắm… Có vẻ như Thiên Chúa mất quyền kiểm soát, vì đã trao cho con người tự do mà Ngài không muốn thu hồi!… Chuyện như vậy không chỉ ở ngoài đời mà cả ở trong ‘đạo’, điều mà ta gọi là ‘thế tục hoá’!…
Nhưng trong mọi trường hợp, Thiên Chúa thực sự không bao giờ mất quyền kiểm soát. Chỉ có điều, Ngài kiểm soát theo cách mà con người vẫn tự do. Lời rao giảng của Phaolô trong sách Công vụ hôm nay nhắc lại câu chuyện Chúa Giêsu bị đấu tố, bị kết án, và bị giết chết do những toan tính thuần tuý nhân loại. Nhưng Thiên Chúa đã cho Chúa Giêsu sống lại: Ngài vẫn kiểm soát tình hình! Ngài luôn có khả năng (và luôn muốn) rút điều tốt lành ra từ những sự tệ hại của con người. Sứ mạng của Thiên Chúa (missio Dei) phải được Thiên Chúa xúc tiến cho tới khi hoàn tất.
Cao trào của sứ mạng ấy là biến cố Chúa Giêsu Kitô, Đấng là Con Đường cho chúng ta đến với Chúa Cha. Hãy nghe lại mẩu thoại giữa Chúa Giêsu với Tôma:
– Thầy đi đâu, anh em đã biết đường rồi.
– Lạy Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đường đi?
– Thầy là đường, là sự thật, và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy.
Tôma cần ‘biết đường’, cần biết điểm đến – nghĩa là, có vẻ như điều Tôma cần là một toạ độ và một bản đồ. Nhưng Chúa Giêsu lưu ý sự việc không phải như thế. Chính Người là Con Đường, nên Tôma và các môn đệ chỉ cần bám lấy Người mà thôi, không cần bản đồ nào hết. Chúa Giêsu ở đâu thì Con Đường ở đó. Ngay cả có thể nói Chúa Giêsu ở đâu thì Cha ở đó, vì “không ai đến được với Cha mà không qua Người”!
Nhiều khi chúng ta cũng lẩn thẩn như Tôma, muốn tìm kiếm điều gì đó ở ngoài Chúa Giêsu… Và Chúa Giêsu không ngừng nhắc ta nhớ: “Thầy là Con Đường, là Sự Thật, và Sự Sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”.
Lm. Lê Công Đức
“Ai đón nhận kẻ Thầy sai, là đón nhận Thầy, và ai đón nhận Thầy là đón nhận Ðấng đã sai Thầy”…
Trong những giờ phút cuối cùng trước cuộc Khổ nạn, Chúa Giêsu có những đề cập đến sứ mạng của chính Người và của các môn đệ – với những kiểu nói như “Đấng đã sai Thầy” và “những kẻ Thầy sai”… Quả thật, tất cả biến cố Chúa Giêsu Kitô đều thuộc về sứ mạng và được định hướng sứ mạng. Và sứ mạng ấy còn được chuyển trao cho các môn đệ thừa sai của Người để thi hành cho đến tận thế.
Chỉ có một sứ mạng là ‘sứ mạng của Thiên Chúa’ (missio Dei), được trao cho Chúa Giêsu thi hành – và Chúa Giêsu trao lại cho Hội Thánh tiếp tục đảm nhận cùng với Thánh Thần. Ta hiểu vì sao bản chất của Hội Thánh có tính sứ mạng thừa sai. Ta nói về Hội Thánh như “mầu nhiệm, hiệp thông, sứ mạng”, và nói về tính ‘hiệp hành’ được diễn tả nơi ba chiều kích “hiệp thông, tham gia, sứ mạng”. Bởi tất cả đời sống của Hội Thánh, hiện hữu và hành động, đều định hướng sứ mạng!
Vậy còn chính sứ mạng thì định hướng gì? Hay nói cách khác, mục tiêu của sứ mạng là gì? Câu hỏi này vô cùng quan trọng, vì tuỳ cách trả lời mà người ta đi lạc hay bước đi đúng hướng. Và câu trả lời đúng là: Sứ mạng nhằm xây dựng Triều đại Thiên Chúa, hay Nước Trời. Triều đại Thiên Chúa là sự khải thắng của tình yêu, là sự công chính, là hạnh phúc thật, là niềm vui, bình an, là ơn cứu độ, là sự sống viên mãn đời đời.
Chính trong định hướng Triều đại Thiên Chúa như thế mà Phaolô đã nhiệt tình đứng lên rao giảng trong hội đường, khởi đi từ lịch sử mà ai cũng biết, để dẫn thính giả của ngài đến với Chúa Giêsu Kitô là cột mốc quyết định. Chúa Giêsu rao giảng và thiết lập Triều đại Thiên Chúa. Bản thân Người là Triều đại Thiên Chúa (autobasileia). Vì thế, ai chọn Triều đại Thiên Chúa thì tin vào Người và đón nhận Người.
Câu hỏi gốc để chúng ta phân định và quyết định về mọi chuyện: Điều này/ cách này/ sự chọn lựa này… có góp phần làm hiện thực Triều đại Thiên Chúa hơn không? Hay chống lại Triều đại ấy?
Lm. Lê Công Đức
Mặc dù hết sức ngạc nhiên khi đón nhận tin Đức Hồng y Robert Francis Prevost, một người anh em cùng dòng được bầu chọn làm Giáo hoàng, các tu sĩ Dòng Augustinô cũng nhận định rằng Đức tân Giáo hoàng là một món quà cho toàn thể Giáo hội.
Cha Alejandro Moral Antón, Bề trên Tổng quyền Dòng Augustinô, đã chia sẻ với truyền thông Vatican: “Chúng tôi rất vui, tôi hy vọng ngài thực sự là một món quà, bởi vì ngài là một món quà cho Giáo hội. Đó là điều quan trọng”. Cha nói thêm: “Chúng tôi hạnh phúc khi là tu sĩ Augustinô, chúng tôi muốn ngài trở thành người phục vụ”.
Gần gũi với tất cả mọi người
Bề trên Tổng quyền Dòng Augustinô, một người bạn lâu năm của Đức Lêô XIV, đã ca ngợi Đức tân Giáo hoàng là “một người rất quân bình, rất có đời sống tâm linh, một người thực sự gần gũi với mọi người”. Ngài “yêu thương tất cả mọi người, cả người nghèo lẫn người giàu. Chúng tôi rất vui vì chúng tôi nghĩ ngài sẽ làm một việc rất tốt. Những ngày này chúng tôi đã nói và chúng tôi nghĩ rằng điều đó sẽ như thế này”.
Món quà cho Giáo hội
Còn Cha Pasquale Cormio, bề trên cộng đoàn Augustinô ở Roma và là cha sở của Đền thờ Thánh Augustinô ở khu vực Campo Marzio của Roma, chia sẻ: “Đó thực sự là một bất ngờ tuyệt vời!”. “Hôm nay thực sự là một ngày tạ ơn đối với chúng tôi bởi vì đây là một món quà mà Chúa đã ban không chỉ cho Dòng Augustinô, mà còn cho Giáo hội hoàn vũ, khi có được vị Giáo hoàng này, người luôn tiếp nối Huấn quyền của Đức Giáo hoàng Phanxicô”.
Cha Cormio nhấn mạnh rằng trong cuộc đời và việc đào tạo của Đức tân Giáo hoàng, “có hai yếu tố định tính hành động của ngài. Một mặt, sứ vụ mà ngài cũng đã nhắc lại trong lời chào đầu tiên của ngài với tư cách là Giáo hoàng, và sau đó là cam kết của ngài đối với việc đào tạo các tu sĩ trẻ dòng Augustinô, mà ngài đã thực hiện trong giai đoạn đầu tiên của thiên chức linh mục của mình, và sau khi hoàn thành nhiệm vụ bề trên tổng quyền sau năm 2013”.
Cha Cormio nhận xét tiếp rằng chính vai trò lãnh đạo đã giúp Đức Giáo hoàng tương lai Lêô XIV có được hiểu biết sâu rộng về tình hình của Giáo hội trên thế giới. Ngài đã có thể đến thăm hơn 50 quốc gia có các cộng đồng Augustinô, và sau đó, khi là Tổng trưởng Bộ Giám mục, ngài cũng có thể có được kiến thức trực tiếp về các thực tại khác nhau của Giáo hội. Những yếu tố này chắc chắn giúp ngài ngày nay trong việc phục vụ Giáo hội.
Kế thừa di sản của Đức Phanxicô
Những lời đầu tiên của Đức tân Giáo hoàng là lời kêu gọi hòa bình mạnh mẽ, lời của Chúa Kitô Phục sinh, một nền hòa bình không vũ trang và giải trừ vũ khí, khiêm nhường và bền bỉ, theo Cha Cormio, nhấn mạnh rằng Lêô XIV là sự tiếp nối di sản mà Đức Giáo hoàng Phanxicô để lại cho chúng ta và cũng giúp chúng ta hiểu rằng trong lịch sử của Giáo hội, không cần phải ngay lập tức đưa ra điều gì đó mới mẻ, mà chúng ta bước theo bước chân của những người đi trước. Những gì chúng ta tiếp nhận, sau đó chúng ta truyền lại.
Thừa tác vụ là để phục vụ
Tuy nhiên, Cha Cormio lưu ý rằng Đức tân Giáo hoàng đã đưa ra một đặc điểm cụ thể, mà chúng ta có thể định nghĩa là của tinh thần Augustinô, khi ngài trích dẫn một văn bản của Thánh Augustinô, được Thánh nhân tuyên bố trong bài giảng nhân kỷ niệm ngày thụ phong giám mục với tư cách là giám mục của Hippo, trong đó ngài nhấn mạnh rằng thừa tác vụ phải luôn là một việc phục vụ vì lợi ích chung”.
Nguồn. Vatican News