Bà Sara mất, Abraham chôn cất, rồi phái người lão bộc về quê cũ tìm vợ cho Isaac. Chuyện tìm vợ và đưa sang đất Canaan không đương nhiên dễ dàng, vì còn tuỳ vào ý muốn của chính người phụ nữ đó nữa. Nhưng cuối cùng mọi chuyện đã ổn. Rebecca được đưa sang, và Isaac cưới nàng làm vợ…
Trang này của sách Sáng thế có cả đám tang và đám cưới, những thực tại tự nhiên trong đời thường của con người. Chúng ta thấy câu chuyện của Thiên Chúa được khai triển ngay trong (và xuyên qua) những câu chuyện của con người như thế. Ngay sát đất, rất đời thường, và con người vẫn luôn còn nguyên tự do chọn lựa! Thiên Chúa không hề ‘đạo diễn’ câu chuyện của Ngài ở trên mây, cũng không hề áp chế sự tự do của một người nào.
Câu chuyện tiếng gọi dành cho Máttheu trong Bài Tin Mừng gợi cho ta thấy sự tự do trong lời kêu gọi của Chúa Giêsu cũng như sự tự do trong thái độ đáp trả của Máttheu. Chúa không chọn người ‘xứng đáng’ theo lôgic của chúng ta. Còn về Mattheu, ta có thể đọc được dữ kiện này giữa các dòng chữ: Máttheu vốn khao khát lắm việc vượt qua tình trạng sa lầy và bế tắc của chính mình, nhưng ông không đủ sức, và không ai đủ sức giúp… Thì giờ đây, điều khao khát ấy được hiện thực nơi việc Chúa Giêsu đi ngang qua và lên tiếng gọi. Máttheu “mau mắn đứng dậy và đi theo Người”… âu cũng là điều phải lẽ thôi!
Cần ghi nhận, Chúa Giêsu kêu gọi Máttheu như thầy thuốc chữa lành người đau yếu – nhưng không chỉ thế, Người kêu gọi Máttheu còn bởi vì Người muốn cần đến sự góp phần độc đáo của Mattheu trong câu chuyện của Thiên Chúa mà Người đang xúc tiến thi hành.
Mỗi chúng ta đều có phần của mình trong câu chuyện của Thiên Chúa, như Máttheu vậy.
Lm. Lê Công Đức
Các vị thánh thường ‘nổi tiếng’ về một nét nào đó trong câu chuyện cuộc đời mình. Tôma có biệt danh ‘cứng lòng’. Ông đặt điều kiện cách kiên quyết lắm – “nếu tôi không…, nếu tôi không…, thì tôi nhất định không tin”. Nhưng rồi Tôma đã tin. Sự mềm lòng của Chúa Giêsu đã chinh phục sự cứng lòng của Tôma. Nhu đã thắng cương. Trái tim mềm của Chúa Giêsu là trái tim thương xót. Trái tim ấy đã nghĩ cách riêng đến khó khăn của Tôma trong lần hiện ra này. Và Trái tim ấy được biểu thị cụ thể cho Tôma qua các dấu thương tích trên thân mình Chúa Phục sinh, nhất là vết đâm ở cạnh sườn. Trái tim ấy năn nỉ: “Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin!”…
Tôma đã tin. Thật tuyệt vời lời tuyên xưng của vị Tông đồ. Nhưng Tôma cũng đã bắt hụt phần phúc lớn hơn dành cho “những người không thấy mà tin”.
Chúng ta được nhắm cho lời chúc phúc này. Vẫn bằng ký ức và kinh nghiệm về Chúa và với Chúa, trong quá khứ và hiện tại của câu chuyện cuộc đời mình, với đủ độ mềm lòng mức nào đó, thì chúng ta sẽ tin!
Nhưng từ ‘tin’ cũng khá hàm hồ. Có ba, bốn đàng ‘tin’. Năm bảy cấp độ ‘tin’! TIN thật sự, đó là tin bằng cả con người. Còn chỉ gật đầu bâng quơ thôi thì chưa đúng là tin. Và tất cả những ai thực sự tin Chúa Giêsu Kitô sẽ là “người nhà của Thiên Chúa, bởi đã được xây dựng trên nền móng là các Tông Đồ và ngôn sứ, còn đá tảng góc tường là chính Đức Ki-tô Giê-su”. Tất cả những ai thực sự tin sẽ được “xây dựng ăn khớp với nhau và vươn lên thành ngôi đền thánh trong Chúa”!
“Ăn khớp” là một từ khoá rất quan trọng trong tuyên bố trên. Khi Tôma còn cự tuyệt không tin, Tôma không ‘ăn khớp’ trong cộng đoàn anh em Tông đồ, và do đó chưa có được sự ăn khớp của toàn thể. Chúa Giêsu Phục sinh chinh phục được đức tin của Tôma, đó cũng là đồng thời Người làm cho cả Nhóm của Người trở thành ‘ăn khớp’ với nhau, vươn lên thành ngôi đền thánh trong Chúa!
Hội Thánh hoàn vũ, Giáo hội địa phương, các cộng đoàn chúng ta… đều rất cần ăn khớp như thế. Nền tảng của sự ăn khớp là lòng tin chân thực của mỗi chúng ta đặt nơi Đức Kitô. ‘Ăn khớp’ như vậy có thể được coi như cách gọi khác của tính ‘hiệp hành’ mà chúng ta đang đặc biệt nhấn mạnh…
Lm. Lê Công Đức
Phát biểu với hãng tin SIR của Hội đồng Giám mục Ý, Cha Gabriel Romanelli, cha sở giáo xứ Công giáo Thánh Gia, giáo xứ duy nhất ở Dải Gaza, nói rằng “Không chỉ có vũ khí giết người ở Gaza, mà sự im lặng của quốc tế hiện cũng đang đè nặng lên Dải Gaza”. Ngài kêu gọi quốc tế lên tiếng về cuộc chiến và không được quen với tình trạng đang xảy ra ở Gaza.
Theo Bộ Tài chính Israel, cuộc chiến giữa Israel và Hamas, cho đến nay đã gây thiệt hại hơn 37,5 tỷ euro, thực tế là hơn 58 triệu euro cho mỗi ngày trong số 633 ngày xung đột bắt đầu sau cuộc tấn công khủng bố của Hamas vào ngày 7/10/2023.
Cha Romanelli đưa ra lời kêu gọi sau khi Israel ban hành một cảnh báo khác tại một số khu vực của Thành phố Gaza và Jabalya, về việc mở rộng các hoạt động quân sự, như đã được một số phương tiện truyền thông Israel đưa tin.
Cha nói: “Ở Gaza, chúng tôi có 2,3 triệu người. Chúng tôi không còn biết phải mong đợi điều gì nữa: một ngày chúng tôi được thông báo sẽ có lệnh ngừng bắn, một ngày khác thông báo sơ tán được ban hành cho các hoạt động quân sự sắp tới; một ngày họ nói rằng viện trợ nhân đạo sắp vào, một ngày khác Israel chặn lối vào. Dân số đang chịu áp lực tâm lý vô cùng lớn”.
Cộng đồng quốc tế biết rõ tình trạng thiếu nước, thuốc men, thực phẩm, điện, nhiên liệu của người dân Gaza nhưng dường như họ bất lực trước những sự thật này.
Trong khi Bộ trưởng Ngoại giao Israel Gideon Saar cho biết Israel “nghiêm túc trong việc đạt được thỏa thuận bắt giữ con tin và ngừng bắn ở Gaza”, Israel cam kết đạt được các mục tiêu của mình ở Gaza và “tiếp tục tạo điều kiện cho nỗ lực nhân đạo”, thì số người Palestine bị quân đội Israel giết hại khi xếp hàng nhận viện trợ nhân đạo từ Quỹ Nhân đạo Gaza, đơn vị quản lý phân phối thực phẩm thay mặt cho Israel và Hoa Kỳ, tăng lên hơn 500.
Cha xứ Thánh Gia nói: “Những gì chúng tôi biết ở đây là mọi người vẫn tiếp tục chết. Mọi người lang thang từ điểm này đến điểm khác trong Dải Gaza, kéo theo những đồ đạc còn sót lại của họ. Hy vọng của con người dường như đã kết thúc dưới những quả bom. Chúng ta có đức tin để duy trì, lời cầu nguyện để củng cố chúng ta. Chúng ta hãy cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo của các quốc gia không chỉ có quyền lên tiếng mà còn có nhiệm vụ lên án những gì đang xảy ra ở đây tại Dải Gaza. Chúng ta không được quen với cuộc chiến này.”
Nguồn. Vatican News
Sara và Abraham cư xử với mẹ con nàng hầu Agar một cách bất nhân, bất nhẫn!… Hai ông bà xua đuổi mẹ con nàng hầu… Một lần nữa, dù không muốn, Thiên Chúa cho phép điều đó xảy ra (vì tôn trọng sự tự do của Sara), nhưng Thiên Chúa can thiệp vào hoàn cảnh của mẹ con nàng Agar và quan tâm nâng đỡ. “Đừng sợ, vì Thiên Chúa đã nghe thấy tiếng đứa trẻ, ở chỗ nó nằm”… Thiên Chúa thấu cảm hoàn cảnh những con người yếu thế bị xua đuổi, bị loại trừ… Đứa trẻ đã sống sót được, và trở thành cha của một dân tộc lớn!
Câu chuyện trong Bài Tin Mừng cũng liên quan tới chủ đề ‘xua đuổi’. Chúa Giêsu gặp hai người bị quỉ ám. Quỉ biết tình hình không yên ổn, đã năn nỉ Chúa Giêsu cho chúng nhập vào đàn heo gần đó, Chúa đuổi chúng “Đi đi!”… Chuyện là, cả bầy heo từ sườn núi lao mình xuống biển, chết hết… Dân trong thành nghe biết việc Chúa Giêsu đuổi quỉ như thế, đã kéo đến và… đuổi Chúa Giêsu đi!
Ta khó mà xác định rõ lý do tại sao cư dân ở đó từ chối sự có mặt của Chúa Giêsu. Vì thiệt hại kinh tế? Vì ảnh hưởng xấu đến môi trường? Ta không chắc. Nhưng có vẻ họ khá ‘quen’ mức nào đó với hai con người bị quỉ ám đó rồi, quen ở với quỉ rồi, giờ đây lại xuất hiện một con người có thần lực chế ngự được cả quỉ, họ không quen, nên sợ… Một yếu tố mới mẻ xuất hiện trong cuộc sống, họ sợ xáo trộn, sợ mất yên ổn (dù là yên ổn trong tình trạng bất ổn). Thay vì phân định để quyết định thì họ chỉ đơn giản quyết định từ chối yếu tố mới mẻ này!
Xin cho chúng ta biết lắng nghe và phân định, trong đời sống thiêng liêng của mình cũng như trong cộng đoàn, trong Giáo hội, để không bắt hụt sự hiện diện đầy sức cứu độ của Chúa!
Lm. Lê Công Đức
Ông Lót chần chừ trong tình thế cực kỳ khẩn cấp, đến nỗi sứ thần Thiên Chúa phải lôi ông đi cùng với người nhà… Ông đề nghị đi đến thành Xôa thay vì lên núi. Chúa sẵn lòng đồng ý. Và nhờ sự có mặt của ông Lót mà dân chúng ở Xôa tránh được tai hoạ.
Nhưng ông Lót được cứu là nhờ Chúa “nhớ đến Abraham”, như chính bản văn này xác nhận. Một lần nữa, tính liên hệ/ liên đới trong số phận giữa người ta được nhìn thấy rõ. Chính Thiên Chúa muốn sự liên đới này.
Mặt khác, sự tự do cá nhân và trách nhiệm kèm theo đó của mỗi người vẫn còn nguyên: Bà vợ ông Lót quyết định “ngoái nhìn lại phía sau”, và đã trở thành cột muối! Hình ảnh ‘ngoái nhìn lại’ này thật giàu hàm nghĩa cho chúng ta trên hành trình đời sống đức tin và ơn gọi, trong những quyết định đoạn tuyệt nào đó mà vẫn còn vương vấn!…
Nếu sự có mặt của ông Lót ở Xôa đã giữ được sự an ổn cho thành này, thì mặt khác, câu chuyện trong Bài Tin Mừng cho thấy sự có mặt của Chúa Giêsu trên thuyền vẫn không trấn an được các môn đệ giữa sóng to gió lớn ở biển khơi. Các ông nghĩ Chúa ngủ thì Chúa không biết gì, Chúa vô tâm… nên các ông la ơi ới và đánh thức Chúa dậy.
Chúa Giêsu đã khiển trách các ông: Sao lại hoảng sợ? Sao kém tin thế? Và Người đã truyền cho sóng yên gió lặng. Giờ thì các môn đệ được củng cố trong lòng tin. Ồ, Thầy không phải người thường đâu, Thầy truyền khiến cả sóng gió!
Đi theo Chúa Giêsu, chúng ta hãy vững tin vào Người. Hãy đi theo và tin tưởng thật dứt khoát. Đừng chần chừ, đừng ‘ngoái lại’. Một điều quan trọng cần ý thức: không chỉ chúng ta liên đới, liên can đến nhau, mà chính Chúa Giêsu cũng liên can, liên đới với chúng ta. Vì thế, hễ có Chúa thì đừng sợ, dù điều gì xảy ra đi nữa!
Lm. Lê Công Đức
Từ 50 giảm xuống còn 10 người công chính ở Sô đôm, như điều kiện để Chúa tha cho thành. Đó là một cuộc điều đình đầy tính giằng co, căng thẳng. Nhưng cái ‘khí quyển’ của cuộc đối thoại này cho thấy một tương quan gần gũi, thân tình. Quả thật Abraham là ‘bạn’ của Thiên Chúa!
Nội dung cuộc chuyện gợi cho ta hiểu rõ về tính liên hệ, liên đới của mỗi chúng ta với cộng đồng mà mình thuộc về, và với nhân loại nói chung. Liên hệ, liên đới trong cả điều hay lẫn điều dở, trong phúc ân lẫn trong tai hoạ! Mười người công chính có thể cứu được Sôđôm, nhưng nếu chỉ có chín người công chính, thì chín người này sẽ liên luỵ với tất cả những người kia! Không có câu chuyện cuộc đời nào đứng một mình và ở ngoài mọi câu chuyện cuộc đời của người khác!
Đồng thời, lời hứa của Thiên Chúa (“vì mười người công chính, Ta sẽ không tàn phá”) là bằng chứng của lòng Chúa thương xót, từ bi (x. Tv 102). Rất tiếc là ngay cả chỉ mười người công chính thôi mà cũng không tìm được! Chúng ta có thể tò mò muốn biết trong các thành phố, các tỉnh mới sáp nhập của chúng ta hôm nay có được bao nhiêu người công chính dưới con mắt của Thiên Chúa… Và chính mình?
Trong khi Abraham điều đình ‘giảm giá’ cho sự cứu độ Sôđôm, thì trong Bài Tin Mừng, Chúa Giêsu kiên định ‘giữ giá’ chứ không ‘phá giá’ tinh thần môn đệ. Ai muốn đi theo Chúa Giêsu Kitô (sequela Christi) thì phải trả giá đáng kể, chứ không rẻ tiền. “Con chồn có hang, chim trời có tổ, Con Người không có chỗ gối đầu”… “Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết”…
Lời Chúa, như vậy, mời gọi ta vun xới tinh thần, chất lượng môn đệ trong câu chuyện cuộc đời mình, đó là cách chúng ta, dù bé nhỏ, có thể góp phần cứu xã hội, thế giới, Giáo hội này!
Lm. Lê Công Đức
Nhà tù kiên cố, những lớp cửa sắt chắc chắn, gông cùm xiềng xích khoá chặt, với hai lính canh kèm sát bên… thế mà Phêrô đã được giải thoát một cách thật đơn giản, nhẹ tênh! (x. Cv 12,1-11). Đó là một cảnh, một trích đoạn trong cả câu chuyện cuộc đời và sứ mạng của Phê rô, cho thấy vị Tông đồ này hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và kinh nghiệm sự ‘kiểm soát’ của ân sủng Thiên Chúa trên cuộc đời mình. Lời Thánh vịnh 33 (Đáp ca) được áp dụng cho Phêrô ở đây: “Chúa đã cứu tôi khỏi điều lo sợ”!…
Cần ghi nhận: sự giải thoát ngoạn mục đó chỉ là một cảnh trong toàn bộ câu chuyện cuộc đời của Phê rô, câu chuyện mà chính Thầy Giêsu trên bờ Biển Hồ đã tóm lược rằng “khi anh còn trẻ, anh tự thắt lưng và đi đâu tuỳ mình muốn, nhưng khi về già, người ta sẽ thắt lưng cho anh và đưa anh đến nơi anh chẳng muốn”! Tất cả chúng ta đều biết Phê rô đã chết cái chết như thế nào…
Về phần Phaolô, vị Tông đồ dân ngoại đã đúc kết cuộc đời sứ mạng thừa sai của mình trong lời tâm sự với Timothê: “Con thân mến, phần cha, cha đã già yếu, giờ ra đi của cha đã gần rồi. Cha đã chiến đấu trong trận chiến chính nghĩa, đã chạy đến cùng đường và đã giữ vững đức tin. Từ đây triều thiên công chính đã dành cho cha. Và trong ngày đó, Chúa là Ðấng phán xét chí công sẽ trao lại cho cha mũ triều thiên ấy, nhưng không phải cho cha mà thôi, mà còn cho những kẻ yêu mến trông đợi Người xuất hiện”… (x. 2Tm 4,6-8.17-18). Thật mỹ mãn biết bao khi một người có thể nói vào lúc cuối đời: Tôi đã chiến đấu trong trận chiến chính nghĩa, đã chạy đến cùng đường và đã giữ vững đức tin!
Cuộc đời của Phaolô, của Phêrô thật đầy ý nghĩa, bởi đó là những câu chuyện cuộc đời gắn chặt với câu chuyện của Thiên Chúa vốn được mở ra trong câu chuyện của Chúa Giêsu Kitô. Tất cả chúng ta cũng được kêu gọi làm cho câu chuyện cuộc đời mình nên thật sự có ý nghĩa theo cách như thế, tức đặt cuộc đời mình gắn chặt với câu chuyện của Chúa Giêsu. Nhưng điều này giả thiết trước hết chúng ta phải nhận diện và trả lời rõ, như Phê rô, trước câu hỏi Chúa Giêsu là ai đối với mình (x. Mt 16,13-19)…
Xin Chúa Giêsu giúp ta nhận ra Người “là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”! Người là Đấng Cứu Độ của chúng ta, không có đấng cứu độ nào khác!
Lm. Lê Công Đức
Trái Tim Chúa Giêsu là biểu tượng của tình yêu nhân loại và thần linh của Người. Các chất liệu Lời Chúa của ngày lễ rõ ràng mời gọi chúng ta nhận diện và chiêm ngắm tình yêu này như tình yêu của mục tử đối với chiên (pastoral charity)!
Trước hết, bản văn trong sách Êdekien là lời tuyên bố của Thiên Chúa: “Này chính Ta săn sóc đoàn chiên Ta và Ta sẽ kiểm soát chúng” – cùng với sự liệt kê trùng trùng điệp điệp nghe như bất tận những việc mà Thiên Chúa sẽ làm để diễn tả sự quan tâm chăm sóc đoàn chiên của Ngài (x. Ed 34,11-16).
Vì Chúa săn sóc thật kỹ, thật chu đáo như thế, nên đoàn chiên ấy cảm nhận sâu xa: “Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi” (x. Đáp ca, Tv 22). Chúa tốt lành biết mấy, vì thế được làm chiên của Chúa thật hạnh phúc biết bao! Thế nhưng, nhiều khi chiên không ngoan, tỏ ra bướng bỉnh cố chấp làm phiền lòng Chúa – thật vô cùng đáng tiếc.
Tuy nhiên, chính trong tình trạng hư hỏng lầm lạc của chiên mà tình yêu mục tử của Thiên Chúa được tỏ lộ cách kỳ diệu nhất, như thánh Phaolô xác nhận: Chúa Giêsu đã chết vì ta ngay khi ta còn là những người tội lỗi! (x. Rm 5,5-11). Chúa không chỉ thương khi chúng ta dễ thương, mà Chúa càng thương khi ta dễ ghét nữa! Thật lạ lùng, vì cách cư xử của Chúa không giống các tiêu chuẩn của con người chúng ta lắm…
Tại sao thế? Tại vì đó là… cách của Chúa! Tại vì ‘tại sao không?’! Tình yêu thương xót của Thiên Chúa thật là phi lôgic. Chúa là người mục tử để 99 con chiên trong hoang địa để đi tìm cho được con chiên lạc, và khi tìm được thì vui mừng vác nó trên vai, về nhà gọi bạn hữu ăn mừng… Hồi Năm Thánh Lòng Chúa Thương Xót, cái logo của chúng ta diễn tả hình ảnh ‘vác chiên’ này thật hay. Hoạ sĩ vẽ Chúa Giêsu vác một người tội lỗi khốn khổ trên vai, hai khuôn mặt kề bên nhau, và chỉ có 3 con mắt cho hai người, vì con mắt ở giữa là chung của cả hai. Điều này có nghĩa Chúa hoàn toàn đồng cảm với ta trong nỗi khốn khổ. Chúa nhìn và thấy điều ta nhìn và thấy. Chúa hiểu tâm trạng, cảm xúc của ta.
Và đó là động lực để vị Mục tử Tốt lành đi tìm con chiên lạc và vác nó trên vai, rồi mở tiệc ăn mừng… Hãy chiêm ngắm Trái Tim của Chúa, chúng ta sẽ được biến đổi trong trái tim của chính mình, và sẽ có khả năng yêu thương bằng tình yêu của Chúa!
Lm. Lê Công Đức
Thánh Tâm dào dạt chứa chan
Mời gọi con sống trao ban ân tình,
Yêu thương, phục vụ, hy sinh
Khiêm nhường, hiền hậu, tôn vinh danh Ngài.
Hỡi ai vất vả đường dài,
Hãy đến nương tựa được Ngài đỡ nâng.
Tâm hồn gánh nặng muôn phần
“ Ách Ta êm ái… ân cần dưỡng nuôi”.
Con xin một góc nhỏ thôi!
Trong trái tim Chúa tuyệt vời tình yêu,
Thánh Tâm từ ái, mĩ miều
Xin dạy con sống cao siêu nhiệm mầu.
Ôi! trái tim chịu đâm thâu.
Con xin góc nhỏ chìm sâu trong Ngài
Giêsu – Cha hỡi! trần ai
Còn đang mê đắm hèn tài hư vinh.
Con xin đền đáp ân tình
Lòng Thương Xót Chúa hiển vinh vô cùng,
Dẫu cho gian khó muôn trùng
Một lòng gắn bó Tôn Sùng Thánh Tâm.
Trọn đời thưa tiếng “Xin Vâng”
Xin Thánh Tâm Chúa đỡ nâng tim này,
Dặm đường xa quyết hăng say
Này con dâng trọn cho Thầy trái tim.
Têrêsa Xuân Mai
Lời Chúa hứa về một dân đông đúc vẫn còn đó, nhưng vợ chồng Abraham chờ đợi lâu, sinh sốt ruột, nên đã xúc tiến kế hoạch theo cách của mình. Được bà Sarah khuyến khích, Abraham ăn ở với nàng hầu Agar, nàng có thai. Và chúng ta thấy câu chuyện bắt đầu có những gay cấn, xung đột giữa nàng hầu với bà chủ, giữa Abraham và Sarah… Ta cũng nhận ra Thiên Chúa đứng về phía nhân văn, tử tế, khi Ngài quan tâm nâng đỡ Agar, người đang bị bà chủ giày vò ngược đãi.
Thế đó, con người nghi ngờ lời hứa của Thiên Chúa, quyết định hành động theo ý mình, thì mọi chuyện đi vào lộn xộn, rắc rối… Tội đầu tiên trong vườn Êđen không phải cũng chính là tội nghi ngờ điều Chúa nói và do đó hành động theo ý mình đó sao? Mọi tội khác, nói chung không trừ tội nào, cũng đều ẩn chứa sự bất tuân phục căn bản này.
Chúa Giêsu khẳng định: “Chỉ người thực hiện ý Cha Thầy ở trên trời, kẻ ấy mới được vào nước trời”. Và rất nhiều trường hợp, việc “thực hiện ý Cha trên trời” lại đồng nghĩa với việc để Chúa làm điều Chúa muốn, và để Chúa làm theo cách của Chúa – chứ không chèn ý mình hay cách của mình vào. Câu chuyện của vợ chồng Abraham trong Bài đọc Sáng thế là một ví dụ hùng hồn ở đây.
Chúa Giêsu dùng hình ảnh xây nhà trên đá và xây nhà trên cát để cho thấy sự khác biệt giữa ‘làmtheo ý Chúa’ và ‘không làm theo ý Chúa’. Và Người nói thẳng, đó là sự khác biệt giữa khôn và ngu!
Chúng ta nghe lời Chúa hằng ngày, ít là hằng tuần, trong các Thánh lễ. Nhiều người chúng ta còn nghe lời Chúa trong nguyện gẫm cá nhân, trong đọc sách suy niệm, cả trên phương tiện truyền thông như Youtube, Facebook, vv… Thật tốt, nhưng còn bước quyết định nữa: đó là XÂY NHÀ TRÊN ĐÁ, tức nhiệt tâm đưa lời Chúa vào trong đời sống hằng ngày của mình. Ước được như vậy.
Lm. Lê Công Đức