Này Là Con Yêu Dấu, Đẹp Lòng Ta, Các Ngươi Hãy Nghe Lời Người! (06.8.2025 Thứ Tư Tuần XVIII Thường Niên)

Trong thị kiến của mình, ngôn sứ Đanien nhìn thấy vinh quang của vị Bô Lão và của Con Người. Những hình ảnh về ngai toà, áo trắng tinh, lửa, muôn kẻ chầu chực, các quyển sách mở ra để xét xử, Con Người đến trong đám mây và được trao cho vinh quang, quyền lực, vương quốc… là những hình ảnh cho thấy vinh quang ấy (x. Đn 7,9-10.13-14).

Còn câu chuyện của Phêrô, Giacôbê và Gioan, thì không còn là thị kiến nữa, mà thực sự là chứng kiến. Các ông nhìn thấy bằng mắt trần vinh quang của Thầy mình, vẫn được biểu tượng bởi những yếu tố như áo trắng tinh như tuyết, sáng láng, sự xuất hiện của Môsê và Êlia, và đám mây bao phủ. Các ông nghe được tiếng nói của Thiên Chúa trong cuộc thần hiện này. “Ðây là Con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người”.

Xâu chuỗi các sự kiện, thì rõ ràng Thầy Giêsu của các ông chính là ‘Con Người’ mà Đanien đã thấy trước. Con Người ở trong vinh quang mà các ông chưa từng thấy – bởi đây là lần đầu, với đầy bỡ ngỡ và phấn khích.

Một kinh nghiệm như thế thì làm sao mà quên được! Phêrô, chẳng hạn, đã ghi nhớ và suy ngẫm nhiều, cũng như đã chia sẻ nhiều trong hành trình rao giảng của mình. Đoạn Thư 2Pr 1,16-19 là một ví dụ, trong đó Phê rô kể lại biến cố Hiển Dung của Chúa, và chuyển trao sứ điệp của Chúa Cha mà mình nghe được trong biến cố này: “Này là Con Ta yêu dấu, Người đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người”.

Chính Chúa Cha làm chứng cho Chúa Con. Chính Chúa Cha kêu gọi chúng ta nghe lời Con của Ngài, là Chúa Giêsu Kitô! Và nếu chúng ta thực sự mở lòng ra để lắng nghe, chúng ta cũng sẽ trở nên những người con yêu dấu và đẹp lòng Cha trên trời. Tức là nên công chính trước con mắt Thiên Chúa! Chúng ta cũng cảm nhận được vinh quang thần linh, ngay giữa thế giới phàm trần và cuộc sống còn nhiều khốn khó này…

Lm. Lê Công Đức


ĐHY Parolin: Libăng Luôn Ở Trong Lời Cầu Nguyện Của Đức Thánh Cha

Trong sứ điệp gửi đến các tín hữu tham gia giờ cầu nguyện cho các nạn nhân của vụ nổ tại cảng Beirut cách đây 5 năm, được cử hành vào ngày 3/8/2025, Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh cho biết Đức Thánh Cha bày tỏ sự gần gũi thiêng liêng với người dân Libăng, cầu nguyện cho các nạn nhân và khích lệ họ kiên vững trong hy vọng giữa thử thách. Đức Hồng y nói rằng Libăng yêu dấu và đau khổ luôn ở trong lời cầu nguyện của Đức Thánh Cha.

Trong sứ điệp, Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu suy tư về thái độ và lời nói của Chúa Giêsu trong Phúc Âm khi đứng trước cái chết của ông Ladarô. Trước cái chết, Chúa Giêsu đã khóc (x. Ga 11,35), “và nước mắt của Người hòa cùng nước mắt của chúng ta trước sự mất mát và đau khổ của những người thân yêu. Vì vậy, Chúa Kitô luôn gần gũi với mỗi người anh chị em”.

“Hãy hướng về trời, vì ở đó có Thiên Chúa Cha chúng ta!”

Đức Hồng y Parolin giải thích rằng qua sự hồi sinh của ông Ladarô, niềm hy vọng Kitô giáo tìm thấy sự đảm bảo rằng Chúa Kitô là Thiên Chúa của sự sống và rằng sự chết sẽ không bao giờ có tiếng nói cuối cùng: Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ chúng ta”. Do đó, “Nếu, trước mầu nhiệm sự chết và đau khổ, chúng ta vẫn như chìm trong bóng tối, thì Chúa ban cho chúng ta ánh sáng đức tin! Đây là niềm hy vọng của chúng ta trước cái chết. Và kể từ khi chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa tội, đối với những người tin, một cánh cửa đã mở ra dẫn vào nhà Cha, nơi chính Thiên Chúa đang chờ đợi chúng ta”. Do đó, Đức Thánh Cha mời gọi tín hữu Libăng “hãy hướng về trời, vì ở đó có Thiên Chúa Cha chúng ta!”.

Đức Thánh Cha mong mỗi tín hữu Libăng cảm nhận được tình thương của ngài và của toàn thể Giáo hội. Ngài cũng cảm ơn các giám mục, linh mục, nam nữ tu sĩ đã gần gũi với người dân và hỗ trợ họ bằng cách giúp họ hướng mắt lên trời và bước đi trên mặt đất trong hy vọng, đặc biệt là qua những thử thách. Ngài phó thác họ cho sự che chở và chuyển cầu từ mẫu của Đức Trinh Nữ Maria và các vị thánh Libăng, và ban Phép Lành Tòa Thánh cho họ như một dấu chỉ an ủi.

Nguồn: Vatican News


Một Góc Nhìn Về Chuyện Phêrô Suýt Chết Chìm (05.8.2025 Thứ Ba Tuần XVIII Thường Niên)

Miriam và Aaron nói xấu và chê trách Mô sê. Thiên Chúa đã nghiêm khắc cảnh cáo họ. Ta thấy ở đây có sự phân hoá và có mầm mống bất tuân phục ngay cả nơi các đấng bậc cao cao trong phẩm trật… Cái mà ngày nay chúng ta gọi là ‘hiệp hành’ đang trực tiếp bị đe doạ. Rất may là khi được Chúa cảnh cáo, các đấng bậc ấy đã sám hối và nhìn nhận vai trò, thế giá đặc biệt của Mô sê.

Câu chuyện Phúc Âm hôm nay cũng có liên hệ rất rõ với tính ‘hiệp hành’. Con thuyền với Phê rô và anh em môn đệ trên đó lâm nguy khốn vì biển động dữ dội. Mà lại vắng mặt Chúa Giêsu! Trong tình thế ấy Chúa đã đi trên mặt nước mà đến với họ. Ta để ý chi tiết Phê rô đòi rời thuyền, bước xuống đi đến với Chúa – và Chúa Giêsu đã để cho ông làm như vậy. Nhưng vì yếu tin, Phê rô đã suýt chìm và suýt chết. Sóng gió trôi qua, và một cơn khủng hoảng cũng trôi qua đối với cả nhóm nói chung và đối với Phê rô cách riêng.

Hãy ghi nhận:

– Con thuyền giữa biển khơi đầy sóng gió và trong đêm tối mà không có Chúa thì thật đáng sợ biết bao!

– Chúa đến với cả nhóm để trấn an trong nguy khốn, mà Phê rô lại nhanh nhẩu muốn rời anh em để đến ngay với Thầy – điều này có vẻ hay, nhưng xem xét kỹ về tính cộng đoàn và về vai trò lãnh đạo, thì lại là điều dở. Bởi không ai được cứu một mình!

-Sự việc Phêrô suýt chết chìm vì kém lòng tin cho ta thấy ngay cả vị đứng đầu nhóm cũng vẫn có thể là cá nhân yếu đuối, đầy giới hạn, và cần được cảm thông, nâng đỡ… Văn kiện Chung kết Thượng Hội đồng Giám mục về ‘hiệp hành’ đặc biệt lưu ý dân Chúa phải biết nâng đỡ và cảm thông đối với các giám mục của mình. Bởi không ai có thể một mình chu toàn trách nhiệm trong cộng đoàn!

Tóm lại, việc Thiên Chúa bảo vệ Mô sê trong tình trạng bị công kích, xem thường… và việc Phêrô yếu kém lòng tin đến suýt chết sau khi rời thuyền – hai sự kiện này có đầy hàm nghĩa nhắc nhở chúng ta về tính hiệp hành thuộc bản chất của Giáo hội. Hai chiều kích của Giáo hội, đặc sủng và cơ chế, luôn phải được bảo toàn trong sự phối kết với nhau.

Và sau tất cả, Chúa không bao giờ bỏ rơi, nhưng luôn hiện diện để bảo vệ và củng cố Giáo hội của Người!

Lm. Lê Công Đức


Anh Em Hãy Cho Họ Ăn (04.8.2025 Thứ Hai Tuần XVIII Thường Niên)

Cách đây ít lâu, chúng ta đã nghe trong sách Xuất hành câu chuyện này. Hôm nay, phiên bản của sách Dân số càng chi tiết hơn và cũng cảm động hơn. Chuyện là dân chúng kêu trách Mô sê vì ăn Manna hoài ngán quá. Mô sê ưu tư và mệt mỏi lắm trước đám dân ưa đòi hỏi này. Chúng ta phải nghe lại những lời Mô sê thưa với Chúa, để hiểu nỗi lòng của vị lãnh đạo đoàn dân trên hành trình về Đất Hứa đầy thử thách gian nan:

“Sao Chúa làm khổ tôi tớ Chúa? Sao con không được nghĩa với Chúa? Sao Chúa bắt con phải mang cả dân này? Con đâu có cưu mang cả đám dân này, con đâu có sinh ra nó, mà Chúa bảo con: ‘Hãy ẵm nó vào lòng, như vú nuôi ẵm trẻ thơ, hãy mang nó vào đất Ta đã thề hứa ban cho tổ tiên nó?’ Con biết tìm đâu ra thịt để cho cả đám dân này? Họ kêu khóc với con rằng: ‘Hãy cho chúng tôi ăn thịt’. Một mình con không mang nổi dân này vì là gánh nặng nề đối với con. Nếu Chúa muốn xử với con như thế, thì xin giết con đi, và cho con được nghĩa với Chúa, kẻo con phải khốn cực dường này”.

Ta thấy lòng Mô sê nặng trĩu. Khổ lắm. Nhưng mà bởi vì yêu nên mới khổ như thế. Là nhà lãnh đạo, Mô sê mang trách nhiệm về dân trước mặt Chúa, và trách nhiệm chuyển đạt giáo huấn của Chúa cho dân. Khó khăn không khác gì một người đi dây mà phải giữ cho được sự thăng bằng!… Chúa đã khích lệ Mô sê, nâng đỡ ông vượt qua những khốn khó, và Mô sê đã có thể chu toàn sứ vụ mục tử của mình…

Mô sê là hình ảnh của Chúa Giêsu, vị Mục tử Tốt lành. Chúa hiểu nỗi đói khát cơm bánh của dân và Người quan tâm cho họ ăn. Từ hành động có tính biểu tượng này, Người mở lòng trí họ nhận ra nhu cầu đối với lương thực sự sống đời đời, thứ lương thực là chính Thịt Máu Người sẽ trao ban cho họ. Đáng ghi nhận, Chúa Giêsu không làm một mình, mà Người muốn các môn đệ cũng chia sẻ trong tấm lòng và trách nhiệm mục tử của Người: “Chính anh em hãy cho họ ăn!”

Lệnh truyền ấy thật là thách đố, vì hoàn cảnh thực tế lúc đó chẳng có gì để nuôi đám đông hơn năm ngàn người ấy cả, ngoại trừ năm chiếc bánh và hai con cá. Chẳng khác nào nói “Hãy cho họ ăn chính anh em!” – quả thật, đây chính xác là điều Chúa Giêsu thực hiện trong Bí tích Thánh Thể. Và quả thật, đây là điều mà Người muốn các mục tử của Người trong Giáo hội cũng sẵn sàng làm cho đoàn chiên của Người qua các thế kỷ: nên tấm bánh bẻ ra để nuôi đoàn chiên!

Chúng ta vui mừng với mùa truyền chức linh mục rộn rịp mỗi năm. Tính nhẩm thì hiện nay mỗi năm Giáo hội ở Việt Nam có thêm ít nhất 250 linh mục. Tổng số linh mục ở Việt Nam hiện nay là hơn 6.000, một con số thật khích lệ. Câu chuyện sẽ hoàn toàn mỹ mãn nếu các vị mục tử của chúng ta đều là những hiện thân của Chúa Giêsu Mục tử Tốt lành, đều sẵn sàng làm tấm bánh bẻ ra cho dân chúng ăn. Đoàn chiên của Chúa sẽ lớn mạnh biết bao, và Triều đại Thiên Chúa sẽ hiện thực rõ hơn trong xã hội và đất nước này biết bao…

Thánh Gioan Maria Vianney là một hiện thân của Chúa Giêsu Mục tử Tốt lành như vậy. Xin ngài chuyển cầu và truyền cảm hứng mạnh mẽ cho các mục tử của Giáo hội tại Việt Nam và Giáo hội hoàn vũ!

Lm. Lê Công Đức


Từ Ngu Ngốc Đến Khôn Ngoan Như Chết Đi Sống Lại! (03.8.2025 Chúa Nhật XXVIII Thường Niên)

“Hư không trên các sự hư không, hư không trên các sự hư không, và mọi sự đều hư không”… Bài đọc trích sách Giảng viên (1,2;2,21-23) phảng phất một triết lý buông bỏ, phá chấp và siêu thoát. Cái nhìn về ‘tất cả đều hư không’ này được bổ sung bởi Thánh vịnh 94 (Đáp ca), trong đó chúng ta được lưu ý rằng mọi sự đều hư không, ngoại trừ Thiên Chúa là Đá Tảng cứu độ của chúng ta – vì thế ta hãy nghe tiếng Ngài và đừng cứng lòng.

Dụ ngôn của Chúa Giêsu về người phú hộ ngu ngốc (đặt điểm tựa cuộc đời mình nơi của cải vật chất) là một phiên bản xác nhận cái nhìn ‘mọi sự đều hư không’ của sách Giảng viên. Chỉ có “làm giàu trước mặt Thiên Chúa thì mới không ‘hư không’. Điểm nhấn của câu chuyện ở đây là hai tiếng ‘Đồ ngốc’. Bám víu hư không là ngu ngốc. Và Chúa kể dụ ngôn này trong bối cảnh có người kia đến gặp Chúa để xin Người can thiệp vào chuyện chia gia tài trong gia đình của anh ta! (x. Lc 12,13-21).

“Hỡi người kia, ai đã đặt Ta làm quan xét, hoặc làm người chia gia tài cho các ngươi?” Anh sai rồi, khi anh muốn dùng tôi cho việc đó của anh. Anh nông cạn quá, khi của cải vật chất là mối quan tâm đệ nhất và duy nhất của anh. Anh là ‘đồ ngốc’ đấy. Tôi có thể trao cho anh loại của cải chân thật, mà anh lại không màng. Anh đến với tôi chỉ vì chuyện của cải của anh. Anh là ‘thánh bổn mạng’ của những người chạy theo ‘tính thế tục thiêng liêng’ đấy!

Ngược lại với tình trạng ngu ngốc của người bám vào của cải đời này là sự khôn ngoan của những người biết làm giàu trước mặt Thiên Chúa. Thánh Phaolô trong Thư Côlôsê (3,1-5.9-11) gọi đây là những người biết “tìm kiếm những sự trên trời”; ngài kêu gọi: “Anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Ðức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời, chứ đừng nghĩ đến những sự dưới đất. Vì anh em đã chết, và sự sống anh em được ẩn giấu với Ðức Kitô trong Thiên Chúa”. Thì ra, sự khôn ngoan ấy là chính Đức Kitô!

Hãy để ý, thánh Phaolô nói về chết đi, sống lại ở đây. Để đạt tới sự khôn ngoan đích thực là sự sống với Đức Kitô, thì chúng ta trước hết phải chết đi đối với mọi quyến luyến phàm trần và mọi xu hướng xấu. Có những sự buông bỏ chẳng khác gì chết đi – song nếu ta không chết đi, thì làm sao sống lại?

Lm. Lê Công Đức


Suy Niệm Chúa Nhật XVIII Thường Niên, Năm C

Chúng ta đang sống trong nền kinh tế thị trường và văn minh hưởng thụ. Do đó, chúng ta bị thu hút bởi tiền bạc của cải. Nhưng của cải vật chất vừa có lợi vừa có hại. Dụ ngôn trong trang Tin Mừng hôm nay nói tới một người phú hộ đã lo tích trữ được rất nhiều của cải và cho rằng từ nay cuộc đời mình sẽ được bảo đảm. Nhận định của Chúa Giêsu về người phú hộ đó: hắn là đồ ngốc vì đã lấy của cải vốn không bền để bảo đảm cho cuộc đời mình. Chúa Giêsu đã khẳng định: “Không phải hễ ai được dư giả, thì mạng sống nhờ của cải mà được bảo đảm” (Lc 13,15).

Làm thế nào để chúng ta có thể tránh khỏi ma lực của vật chất? Chúa Giêsu đã nhắc nhở mỗi người: “Anh em phải coi chừng”. Chúa Giêsu biết rõ những yếu đuối của con người trước những cám dỗ. Ngài nhắc nhở con người phải tỉnh thức và giữ mình, đừng để vật chất hay lợi lộc trước mắt mà không biết chọn lựa những giá trị vĩnh cửu. Giống như nhà phú hộ giàu có trong bài Tin Mừng, ông nhìn thấy của cải ê hề, và muốn được ăn chơi, nghỉ ngơi nhưng ông ta lại không thấy được giá trị của hiện tại; ông không còn nhận ra giới hạn của phận người nên đưa ra một kế hoạch cho sự hưởng thụ của bản thân mà ông quên mất sự tích trữ kho tàng ở trên trời mới là đích đến.

Mọi thứ tham lam đều dẫn con người đến sự ác, ích kỷ, và đánh mất chính mình. Nhà phú hộ kia, ông đã tích trữ những kho lẫm rộng lớn nhưng lại không có được sự tự do, hạnh phúc đích thật. Cả cuộc đời ông chỉ biết lo sao cho kho lẫm mình ngày càng lớn. Vì thế, ông không chia sẻ tấm lòng của mình với người khác; ông lo sắm sửa cho bản thân, ăn chơi cho đã mà không nhìn đến những người nghèo ở bên cạnh. Ông dành hết những gì tốt nhất và cả cái không là gì cho ông. Yêu mình quá mức mà quên mất tha nhân khiến nhà phú hộ đánh mất gia tài cần cho mình là Nước Trời.

Nhìn vào xã hội hôm nay, còn vô số loại hình tham lam khác như: tham quyền lực, tham lạc thú, tham cả kiến thức… Tất cả những thứ tham lam đều khiến ta quên mất Thiên Chúa và quên đi những tương quan cần thiết của cuộc đời.

Lạy Chúa, vật chất là điều kiện cần để sinh tồn trong xã hội này, nhưng cũng trong xã hội đầy tham lam này thì tình yêu thương, sự chia sẻ mới là điều kiện cần và đủ để đảm bào kho tàng quý giá mua lấy Nước Trời. Làm giàu trước mặt Thiên Chúa chính là sống đức mến mỗi. Xin Chúa giúp chúng con biết sống bằng những cố gắng hy sinh cụ thể. Đừng chỉ nghĩ đến mình nhưng mỗi tha nhân là một kho báu Chúa ban để mỗi người chúng con biết tìm cách đem về làm giàu kho tàng bảo đảm cho cuộc sống mai sau.

Têrêsa Nguyễn Hảo


Thánh John Henry Newman Sẽ Trở Thành Tiến Sĩ Thứ 38 Của Giáo Hội

Vào ngày 31/7/2025, trong cuộc tiếp kiến dành cho Đức Hồng y Marcello Semeraro, Tổng trưởng Bộ Tuyên thánh, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã phê chuẩn quyết định tuyên bố Thánh Gioan Henry Newman, một cựu linh mục Anh giáo sống vào thế kỷ XIX đã cải đạo sang Công giáo, là Thánh Tiến sĩ thứ 38 của Giáo hội hoàn vũ.

Thông cáo của Phòng Báo chí Tòa Thánh cho biết Đức Thánh Cha đã xác nhận “ý kiến tán thành” của Phiên họp toàn thể các Hồng y và Giám mục, các thành viên của Bộ Phong thánh, liên quan đến tước hiệu Tiến sĩ Giáo hội Hoàn vũ, tước hiệu sẽ sớm được trao cho Thánh John Henry Newman.

Cho đến nay, chỉ có 37 vị, trong đó có 4 phụ nữ, được Giáo hội phong tiến sĩ, một danh hiệu được trao để ghi nhận những đóng góp quan trọng của một vị thánh đã được phong thánh trong việc phát triển kiến thức về giáo lý, thần học hoặc linh đạo của Giáo hội.

Thánh Newman sinh tại London và được rửa tội trong Giáo hội Anh giáo vào năm 1801. Khi là một linh mục Anh giáo, ngài được công nhận là một trong những bộ óc lỗi lạc nhất trong giáo hội của mình – một người thu hút bằng cả lời nói lẫn bài viết.

Cuộc đời Thánh Newman: Hành trình từ Bóng tối và Hình ảnh đến Chân lý

Chuyến đi Ý năm 1832 đã đào sâu hơn sự tìm kiếm nội tâm của ngài. Ngài mang trong lòng một khát khao được biết đến chiều sâu của Chúa, “Ánh sáng nhân từ” của Người, điều đối với ngài cũng là ánh sáng của Chân lý – chân lý về Chúa Kitô, bản chất đích thực của Giáo hội, và truyền thống của những thế kỷ đầu, khi các Giáo phụ nói với một Giáo hội vẫn còn chưa bị chia rẽ. Oxford – trung tâm đức tin của ngài và là nơi vị thánh tương lai sống và làm việc – đã trở thành con đường mà niềm tin của ngài dần dần chuyển sang Công giáo.

Năm 1845, ngài đã đúc kết hành trình tâm linh của mình vào tác phẩm “Luận về Sự Phát triển Giáo lý Kitô giáo”, thành quả của một hành trình dài theo đuổi Ánh sáng ấy, Ánh sáng mà ngài đã nhận ra trong Giáo hội Công giáo – một Giáo hội mà ngài coi là chính Giáo hội được sinh ra từ trái tim Chúa Kitô, Giáo hội của các vị tử đạo và các Giáo phụ thời xưa, giống như một cái cây, đã lớn lên và phát triển qua lịch sử. Ngay sau đó, ngài xin được gia nhập Giáo hội Công giáo, sự kiện diễn ra vào ngày 8/10/1845. Sau này ngài viết về khoảnh khắc đó: “Giống như việc cập bến sau một vùng biển động; và niềm hạnh phúc của tôi về điều đó vẫn còn mãi cho đến ngày nay”.

Vào năm 1846, ngài trở lại Ý và gia nhập chủng viện của Bộ Truyền giáo, mặc dù là một nhà thần học và nhà tư tưởng nổi tiếng quốc tế. Ngài được thụ phong linh mục Công giáo vào ngày 30/5/1847.

Năm 1879, Đức Lêô XIII thăng ngài làm Hồng y. Ngài chọn khẩu hiệu “Cor ad cor loquitur” (“Trái tim nói với trái tim”) để diễn tả sự hoán cải trong chính trái tim mình, thông qua trái tim của Thiên Chúa.

Ngài tiếp tục công việc tông đồ với cường độ không hề suy giảm cho đến khi qua đời vào ngày 11/8/1890. Trên mộ, ngài yêu cầu chỉ khắc tên mình và một câu ngắn gọn tóm tắt chặng đường phi thường của 89 năm cuộc đời: Ex umbris et imaginibus in Veritatem, “Từ bóng tối và hình ảnh đến Chân lý”.

Là một người Công giáo, Thánh Newman đã đào sâu và đóng góp vào giáo huấn của Giáo hội, nhờ kiến thức sâu rộng về thần học và sự hiểu biết sâu sắc về thời hiện đại, dựa trên Phúc Âm. Các tác phẩm của ngài bao gồm 40 cuốn sách và hơn 20.000 lá thư.

Đức Biển Đức XVI tuyên phong chân phước cho ngài vào ngày 19/9/2010, và Đức Phanxicô tuyên ngài lên hàng hiển thánh vào ngày 13/10/2019.

Nguồn: Vatican News


Năm Thánh Nhắc Ta Thực Thi Công Lý Của Thiên Chúa (02.8.2025 Thứ Bảy Tuần XVII Thường Niên)

Đoạn sách Lêvi về Năm Toàn Xá đáng được suy tư đào sâu cách đặc biệt. Người ta sẽ lại làm chủ nhà cửa, đất đai, cơ nghiệp mà vì hoàn cảnh ngặt nghèo họ đã chuyển bán hay bị thâu tóm vào tay người khác. Ngay cả đất đai canh tác cũng được nghỉ ngơi trong năm này! Cách đây ba ngàn năm mà một mạc khải, một tầm nhìn tiến bộ như thế đã được ban cho con người. Mạc khải này trao cho ta ánh sáng để nhận hiểu cách tương quan chân thực đúng đắn với của cải, tài nguyên, môi trường sinh thái, với nền kinh tế thị trường hiện hành của chúng ta – và qua tất cả, đó là ánh sáng giúp ta tương quan với con người, nhất là những người nghèo khổ túng thiếu.

Truyền thống về Năm Thánh/ Năm Toàn Xá (như Năm Thánh 2025 này) của chúng ta cắm rễ ở đây, trong tinh thần này. Đây là một nền tảng Thánh Kinh quan trọng của giáo huấn xã hội của Giáo hội – chẳng hạn, về bảo vệ và chăm sóc môi trường sinh thái, về định hướng phục vụ công ích của mọi quyền tư hữu, về phẩm giá và các quyền căn bản của con người…

Đây cũng chính là cơ sở của việc các giáo hoàng gần đây lên tiếng kêu gọi các nước chủ nợ giàu có hãy xoá nợ cho các nước nghèo không có khả năng trả nợ. Đặc biệt, Đức cố giáo hoàng Phan xi cô đã mạnh mẽ phê bình ‘nền kinh tế thị trường tự do vô giới hạn’; ngài khuyến cáo rằng phải dùng trái tim con người để thiết lập những giới hạn cho ‘thị trường tự do’, không thể để nó vận hành một cách hoàn toàn máy móc (hoàn toàn theo qui luật mạnh được yếu thua). Mối quan tâm bảo vệ di dân của vị giáo hoàng, cũng như lập trường của ngài kiên quyết chống chiến tranh/ xung đột bạo lực, cũng đặt nền trên chính mạc khải thâm sâu này của Thánh Kinh.

Nhiều người bĩu môi cho rằng chủ trương như vậy là không tưởng, ‘lãng mạn’, phi thực tế (đáng tiếc là có cả những đấng bậc nào đó trong Giáo hội cũng hùa theo để bĩu môi như vậy!). Song ta đừng quên, đây là công lý của Thiên Chúa, của Thánh Kinh, và Giáo hội có bổn phận cổ võ cho công lý này. Các nhà lãnh đạo quốc gia và quốc tế có bổn phận nghiên cứu các chính sách để hiện thực hoá công lý này. Đành rằng không dễ, nhưng không phải là không thể! Đơn giản bởi vì đó là bổn phận tôn trọng phẩm giá và sự sống của mọi con người!

Việc cổ võ cho công lý của Thiên Chúa như thế chính là chức năng ngôn sứ mà mọi người đã lãnh Phép Rửa phải đảm nhận, và nếu cần thì phải trả giá – như Gioan Tẩy giả đã bảo vệ công lý và đã trả giá bằng mạng sống mình. Nếu chúng ta bưng tai, bịt mắt, câm lặng trước sự bất công của cường quyền, thì đó là chúng ta đã chạy theo ‘công lý của kẻ mạnh’, của Hê rô đê, chứ không phải công lý đích thực của Tin Mừng.

Việc cử hành Năm Thánh/ Năm Toàn Xá 2025 này của chúng ta không thể chỉ dừng lại ở những cuộc hành hương lãnh nhận ơn toàn xá, mà còn phải bao gồm những tiếng nói và hành động ngôn sứ bảo vệ phẩm giá và quyền sống của mọi con người.

Lm. Lê Công Đức


Gặp Chúa Ở Đâu Trước Hết? (01.8.2025 Thứ Sáu Tuần XVII Thường Niên)

Tất cả lời nói và việc làm của Chúa Giêsu đều được thấy là tốt đẹp – lời nói thì đầy khôn ngoan, việc làm thì đầy uy quyền. Nhưng những người đồng hương Nadaret vẫn… không tin, vì thế Chúa Giêsu đã không làm gì nhiều ở đó. Lý do chính khiến họ không tin, đó là vì họ nghĩ mình vốn biết rõ Giêsu – theo mô hình tâm lý ứng xử này: một ngôn sứ thì không được coi trọng ở quê hương mình, giữa những người thân thuộc của mình!

Chúa Giêsu hẳn buồn nhiều, và ưu tư nữa… Sứ vụ ngôn sứ của Người không hề dễ dàng. Bởi thành kiến của người ta như bức tường sừng sững, không cho phép họ nhận ra sự thật! Mà nói cho cùng, đó là một hệ luận của cuộc Nhập thể. Con Thiên Chúa làm người ở giữa con người, gần gũi con người hết mức, và chia sẻ hoàn toàn thân phận con người, thì phải chấp nhận bị coi thường bởi phần đông những người chỉ có cái nhìn phàm trần và giới hạn.

Đó là bài học cho chúng ta, để biết nhìn quá cái kinh nghiệm phàm trần đầy giới hạn ấy, biết cởi mở để vượt qua những định kiến chủ quan, nhờ đó có thể nhận ra sự hiện diện và hành động của Thiên Chúa trong những con người, những sự vật có vẻ rất tầm thường xung quanh cuộc sống mình. Chúng ta cần đặc biệt khiêm tốn – vì kiêu căng tự mãn là cha đẻ của những định kiến chủ quan không cho phép người ta mở lòng ra đón nhận những điều mới mẻ, những bất ngờ của Chúa. Hãy nhớ lời ngợi khen, tạ ơn Cha rất nổi tiếng của Chúa Giêsu: “Con ngợi khen Cha vì Cha đã giấu các mầu nhiệm Nước Trời đối với những kẻ thông thái khôn ngoan, mà lại mặc khải cho những người bé mọn!”… Chúng ta thường tập trung quan tâm để ‘gặp Chúa’ ở nhà thờ, trong các nghi thức, các lễ mừng. Điều này chính đáng, vì chính Chúa cũng muốn như thế – như Bài đọc trích sách Lêvi hôm nay gợi ý. Song đó không phải là cách duy nhất, cũng không hẳn là cách trước nhất để thực sự gặp Chúa. Trong nhãn giới Tân ước, nhãn giới của mầu nhiệm Nhập thể, thì Thiên Chúa ưu tiên gặp gỡ chúng ta qua những con người bình thường xung quanh đời sống hằng ngày của mình. Nếu ta không gặp được Chúa ở trong nhà, ở ngoài đường, nơi lối xóm, nơi làm việc, khi đi lại, khi giải trí…, thì rất đáng ngờ việc ta có thể gặp Chúa trong nhà thờ qua các cử hành phụng tự.

Lạy Chúa Giêsu, hôm nay Chúa đặc biệt muốn gặp con qua những con người, những sự kiện nào? Xin cho con đủ tinh tế để đừng bắt hụt Chúa!

Lm. Lê Công Đức


Thư Mục Vụ Của Ủy Ban Công Lý Và Hòa Bình Gửi Cộng Đồng Dân Chúa Việt Nam Về Hình Phạt Tử Hình

avatar

Giám mục Giuse Nguyễn Đức Cường

30/06/2025

WHĐ (30/6/2025) – Ngày 29/6/2025, Đức Giám mục Giuse Nguyễn Đức Cường, Chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa bình trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, đã có thư mục vụ gửi đến Cộng đồng Dân Chúa Việt Nam nhân sự kiện Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, trong đó chính thức bãi bỏ hình phạt tử hình đối với 8 tội danh, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

ỦY BAN CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH

TRỰC THUỘC HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

Thanh Hóa, ngày 29 tháng 6 năm 2025

Kính gửi: Cộng đồng Dân Chúa Việt Nam.

Anh chị em thân mến,

Trong niềm hiệp thông với Giáo hội hoàn vũ và ý thức trách nhiệm xây dựng một xã hội công bằng nhân ái, Ủy ban Công lý và Hòa bình – trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam – xin chia sẻ với anh chị em về một chuyển biến tích cực trong hệ thống pháp luật của đất nước chúng ta.

Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội Khoá XV, ngày 25 tháng 6 năm 2025 vừa qua, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, trong đó chính thức bãi bỏ hình phạt tử hình đối với 8 tội danh, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2025. Quyết định này phản ánh một bước tiến đáng khích lệ trong nhận thức pháp lý, phù hợp với tinh thần của các Công ước quốc tế, khẳng định tính ưu việt của một nền pháp quyền hiện đại, nơi sự sống được bảo vệ, nhân phẩm được tôn trọng, và khả năng cải hóa được mở ra.

Ủy ban Công lý và Hòa bình trân trọng và hoan nghênh chủ trương mang tính nhân đạo và tiến bộ này của Quốc hội và Nhà nước Việt Nam. Giáo hội Công giáo luôn đề cao quyền sống là quyền cơ bản, bất khả xâm phạm của con người, được tôn trọng bởi lương tâm đạo đức phổ quát và truyền thống luân lý Kitô giáo. Giáo lý Hội Thánh Công giáo số 2267 nêu rõ: “Án tử hình là không thể chấp nhận được vì nó tấn công vào tính bất khả xâm phạm và phẩm giá của con người”. Bãi bỏ án tử hình cũng là điều Đức Thánh Cha Phanxicô kêu gọi trong Năm Thánh Hy vọng (Sắc chỉ “Đức Trông cậy không làm thất vọng, số 10).

Trên tinh thần tôn trọng sự sống, Ủy ban Công lý và Hòa bình ước mong Quốc hội và Chính phủ nước Việt Nam tiếp tục hoàn thiện hệ thống tư pháp, tiến tới việc bãi bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình, thay thế bằng các hình phạt nghiêm khắc nhưng vẫn bảo đảm tính giáo dục, hướng tới sự cân bằng giữa công lý, sự thật và nhân đạo.

Nguyện xin Thiên Chúa là Đấng giàu lòng xót thương ban tràn đầy ơn khôn ngoan và can đảm trên các nhà làm luật và toàn thể anh chị em, để chúng ta cùng chung tay xây dựng nền văn minh tình thương và sự sống. 

CHỦ TỊCH ỦY BAN CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH

(đã ấn ký)

+ Giuse Nguyễn Đức Cường

Giám mục Giáo phận Thanh Hóa