Hình ảnh đoàn dân vượt qua sông Giô-đan từ tả ngạn để tiến vào đất hứa, theo sau Hòm Bia và dưới sự lãnh đạo của Giô-suê, là một hình ảnh đầy phấn khích. Họ đã phải đi qua hành trình 40 năm sa mạc để có được hình ảnh hôm nay.
Điều ấn tượng nhất, đó là nước lại rẽ ra, phía dưới chảy cạn, phía trên thì nước dồn lại dựng đứng như tường thành cho đoàn người đi qua. Tất cả gợi lại cuộc vượt Biển Đỏ cách kỳ lạ thuở nào, và nhắc họ nhớ rằng chính Thiên Chúa cùng đi với họ và luôn can thiệp để hỗ trợ họ. Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương!
Vâng. Đằng sau tất cả những biến cố của cuộc hành trình 40 năm ấy, nhất là đằng sau sự cứng lòng của đoàn dân này, có một sợi chỉ đỏ xuyên suốt chính là tình thương và sự tha thứ của Thiên Chúa dành cho họ. Niềm vui vỡ oà khó tả biết bao khi đoàn người ấy về đích!
Chúng ta tự hỏi, Thiên Chúa dành cho dân Ngài trọn tấm lòng, vậy Ngài mong đợi điều gì từ họ? Hẳn nhiên là Ngài mong đợi nhìn thấy nơi họ cũng một tấm lòng, dành cho Ngài bằng cách dành cho nhau! Đây là cách đúc kết toàn bộ giáo huấn linh đạo Thánh Kinh, từ Cựu ước đến Tân ước.
Đoạn Tin Mừng hôm nay vang âm giáo huấn ấy từ chính môi miệng Chúa Giêsu. Phê rô hỏi Thầy rằng mình phải tha thứ bao nhiêu lần, Chúa Giêsu trả lời rằng không phải bảy lần, mà là bảy mươi lần bảy. Và Chúa minh hoạ bằng câu chuyện về người đầy tớ độc ác, được chủ tha món nợ lớn, nhưng lại từ chối tha thứ cho người bạn một món nợ nhỏ hơn rất nhiều. Điều này làm Chúa buồn lắm. Vì Chúa tha thứ cho ta vô điều kiện và vô giới hạn là để ta cũng biết tha thứ cho nhau!
Mỗi ngày, các Kitô hữu chúng ta vẫn xin gì với Cha trên trời nếu không phải là “xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”? Nhưng nhiều khi ta thấy mình khó tha thứ biết mấy – vì thế, điều vô cùng quyết định là ta phải xin Chúa ban cho mình khả năng tha thứ này…
Lm. Lê Công Đức
Chiều thứ Sáu (ngày 08/8) tại Cộng đoàn Mến Thánh Giá Bác Trạch đã tràn ngập tiếng cười của các bạn trẻ đến tìm hiểu on gọi trong Hội dòng Mến Thánh Giá Tân Lập, Miền Thái Bình. Các em mang theo nhiều tâm trạng: có người háo hức, có người tò mò, có người còn ngại ngùng, nhưng tất cả cùng chung một điểm: khát khao được tìm hiểu về đời tu và khám phá con đường Chúa mời gọi. Hình ảnh đơn sơ, vui tươi sống động của các em đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng quý giá!
Ngay từ giây phút đầu tiên nhìn thấy các em, tôi đã thấy thấp thoáng hình ảnh của chính mình nhiều năm về trước. Ngày ấy, tôi từ ngập ngừng rồi rụt rè bước qua cổng Nhà Dòng, lòng chứa đầy câu hỏi: “Chúa có gọi con không? Con có đủ can đảm để bước theo Ngài trong ơn gọi Mến Thánh Giá không? Con có đủ can đảm để chọn Đức Giê-su Ki-tô Chịu-Đóng-Đinh là đối tượng duy nhất của lòng trí con như câu châm ngôn của Đấng Sáng Lập mà các dì đọc mỗi ngày không?”. Những bỡ ngỡ ban đầu ấy vẫn còn in đậm trong ký ức, bởi đó là khởi đầu của một hành trình dài – hành trình mà tôi vẫn đang sống cho đến hôm nay, với tất cả niềm vui, nỗi buồn, khó khăn, thử thách và ơn lành Chúa thương ban.
Những giờ phút cùng chị em đồng hành với các bạn trẻ trong ngày tìm hiểu này đã cho tôi cơ hội được gặp gỡ và lắng nghe các em. Tôi bắt gặp nơi ánh mắt các em một sự trong sáng và khát vọng mãnh liệt: khát vọng được biết Chúa nhiều hơn, được sống cho Chúa và được hiến dâng tuổi trẻ cho một Đấng đã và đang yêu thương họ. Quả là một bức tranh đẹp và hiếm có giữa thời đại hôm nay, khi nhiều người trẻ dễ bị cuốn vào những lối sống vội vã, ồn ào, hưởng thụ, thậm chí đánh mất hướng đi cho cuộc đời.
Nhìn các em quây quần trong giờ cầu nguyện, chăm chú lắng nghe những chia sẻ về đời tu, hay hăng say tham gia các hoạt động nhóm, tôi cảm nhận được sự sống mới đang bắt đầu từ những hạt mầm nhỏ bé. Một ánh nhìn trìu mến của chị em tôi, một nụ cười, một lời mời gọi và hướng dẫn nhẹ nhàng, một tấm gương sống động – tất cả đều có thể là nhịp cầu đưa tâm hồn trẻ đến gần Chúa hơn. Và tôi thầm tạ ơn Chúa vì nơi cộng đoàn, Hội dòng và trong cuộc sống tôi vẫn gặp được những nhịp cầu như thế!
Là một nữ tu đã khấn trọn, tôi ý thức rằng sứ mạng của mình không chỉ là sống trung thành với ba lời khấn, mà còn trở thành một chứng nhân sống động để truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ. Bởi lẽ, nếu người đi trước không sống trọn vẹn, không vui tươi và không nhiệt thành, thì khó có thể mang lại sức bật cho người đi sau. Vì thế, ngày hôm nay, giữa các em, tôi thầm nguyện xin Chúa cho mình luôn biết sống một đời tu nhiệt tâm và trọn vẹn với tất cả tình yêu mến, để chính cuộc sống của tôi là lời mời gọi âm thầm nhưng mạnh mẽ: “Hãy đến và xem” (Ga 1,39).
Ngày tìm hiểu kết thúc bằng thánh lễ Misa trong tâm tình tạ ơn Thiên Chúa. Tôi tin rằng, dù các em có chọn bước vào đời tu hay sống giữa đời, thì những giờ phút này vẫn sẽ để lại trong tim các em một dấu ấn đẹp. Một niềm hy vọng lớn trào dâng trong tôi về những hạt giống ơn gọi đã được gieo hôm nay sẽ âm thầm nảy mầm, lớn lên và trổ sinh hoa trái vào một ngày nào đó trong tương lai.
Tiễn các bạn trẻ ra về trong cái nắng gay gắt của trưa hè tháng Sáu nhuận, tôi thầm dâng lên Chúa lời cầu nguyện cho các ơn gọi trẻ, cho các em đến tìm hiểu hôm nay: “Lạy Chúa! Chúa biết hơn ai hết tính mong manh của ơn gọi trong thời đại hôm nay. Chúng con xin cho những người trẻ can đảm, dám vượt qua những cám dỗ của thế gian để chọn sống cho Chúa. Chúng con xin cho những cộng đoàn tu sĩ biết nâng đỡ, đồng hành và tạo môi trường lành mạnh để các em được lớn lên trong ơn gọi. Và chúng con ước mong những tấm gương sống động từ chính chúng con – những người đi trước – để làm sáng lên vẻ đẹp của đời thánh hiến. Amen”.
Maria Hường Nguyễn
Trong bầu khí háo hức và đầy hy vọng, 112 bạn trẻ đến từ 26 giáo xứ trong Giáo phận Thái Bình đã quy tụ về Cộng đoàn Bác Trạch để tham gia sinh hoạt tìm hiểu Ơn gọi do Ban mục vụ Ơn gọi Hội dòng Mến Thánh Giá Tân lập – Miền Bắc tổ chức từ 08-09/8/2025.

Trước ngày gặp gỡ, chị em trong Hội dòng tại Miền Thái Bình đã hăng say chuẩn bị, từ trang trí, sắp xếp phòng ốc… cho đến khâu tổ chức, tất cả đều toát lên sự mong đợi yêu thương dành cho các em.
Chiều thứ Sáu (ngày 08/8) nhịp bước hân hoan đầy sức trẻ của những tấm lòng khao khát tìm hiểu Ơn gọi đã đến với cộng đoàn Bác Trạch. Từng ánh mắt, nụ cười và những cái bắt tay thật chặt trong bầu khí nhộn nhịp nơi những tâm hồn tươi trẻ là dấu chứng của sức sống và niềm hy vọng cho vườn ươm ơn gọi trong Giáo hội.





Các bạn trẻ đã có khoảng thời gian gặp gỡ giao lưu, kết nối qua những vũ điệu, trò chơi, đố vui … thật vui tươi và bổ ích.






Tâm hồn các bạn trẻ còn được đánh động khi lắng nghe những tâm tình và những thao thức về ơn gọi của Đức Ông Giêrônimô Nguyễn Phúc Hạnh – người cha đáng kính của các nữ tu Mến Thánh Giá Tân Lập, vị mục tử giàu kinh nghiệm trong đời thánh hiến.


Vị Cha già kính yêu hiện diện trong căn phòng giữa những người trẻ, chậm rãi chia sẻ những điều không phải trong sách vở nhưng rút ra từ những kinh nghiệm sâu sắc trong đời tu trong đó chất chứa mồ hôi, nước mắt và cả sự hy sinh thầm lặng. Các bạn trẻ thấy lòng mình bừng cháy không phải vì khí trời nóng bức nhưng vì ngọn lửa mến được truyền tải qua giọng thâm trầm của cha. “Ơn gọi là một món quà thiêng liêng cao cả mà Thiên Chúa ban tặng. Trước muôn nẻo đường đời, con sẽ chọn lối nào?” Cha nhắc lại lời Tin Mừng: “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”, và căn dặn mỗi bạn trẻ: “Dù sống trong bậc sống nào, ở dòng nào, các con cũng hãy làm sáng danh Chúa, nhiệt tâm phục vụ Giáo hội’. Cha hiểu được sự băn khoăn trăn trở trong lòng các bạn trẻ, nên khuyến khích từng người: “Các con hãy dũng cảm lên, chúng ta hãy cố gắng lên”. Lời động viên ấy như tiếp thêm sức mạnh cho các tâm hồn đang băn khoăn để can đảm lựa chọn và trung thành theo đuổi ước mơ của mình.


Sau giờ lắng nghe chia sẻ của Đức ông, các tham dự viên được hiểu rõ hơn về linh đạo, đặc sủng và sứ mạng của Hội Dòng Mến Thánh Giá Tân Lập qua phần trình bày đầy nhiệt huyết của dì Phụ trách ơn gọi miền Bắc. Ơn gọi Mến Thánh Giá là ơn gọi sống tình yêu: Yêu đức Giê-su Ki-tô Chịu Đóng Đinh trên Thánh Giá và say mến các linh hồn, sống sứ mạng chuyển cầu: nơi nguyện đường và trong cuộc sống…

Những câu hỏi gợi mở được các tổ chia sẻ, thảo luận đã mở ra cho các tham dự viên cơ hội để bày tỏ thao thức, cùng trao đổi và lắng nghe nhau xoay quanh nội dung về những phương thế để lắng nghe tiếng Chúa gọi, cũng như sự ảnh hưởng của truyền thông xã hội đối với bạn trẻ ngày nay.



Giây phút lắng lọng cuối ngày, các bạn trẻ cùng với các Dì quây quần bên Thánh Giá Chúa, để chiêm ngắm, để cầu nguyện, để cảm nhận tiếng gọi yêu thương của Chúa đang mời gọi mỗi người.


Sáng thứ Bảy, các tham dự viên cùng hành hương viếng Đền Thánh Lòng Thương Xót Bác Trạch, Đài Đức Mẹ La Vang. Bầu khí cầu nguyện linh thiêng giữa không gian thinh lặng của đất trời trong lòng nhà thờ nguy nga rộng lớn, cho con người cảm nhận như mình đang được chìm thật sâu trong đại dương Lòng Thương Xót của Thiên Chúa.

Khởi động ngày mới, bạn cùng hoà nhịp trong vũ điệu chủ đề, trò chơi “chiếc nón kỳ diệu”, nghe Dì đại diện miền chia sẻ tâm tình trong lần đầu tiên được đón các bạn trẻ về sinh hoạt Ơn gọi tại Cộng đoàn Bác Trạch.
Sau đó, các bạn được gặp gỡ cha Laurensô Vũ Văn Trình, MF chia sẻ với chủ đề “Vì yêu mà Chúa gọi ta”, đã chạm tới từng con tim: Lời chia sẻ chân thành của cha đã chạm đến trái tim của những người trẻ để các bạn nhận ra rằng ơn gọi khởi đi từ một tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa, mời gọi mỗi bạn trẻ cần đáp trả với tinh thần quảng đại và yêu mến.

Đỉnh cao của đợt tìm hiểu ơn gọi này là Thánh lễ Tạ ơn được cử hành trong tâm tình trang nghiêm và sốt sắng tại nguyện đường của cộng đoàn Bác Trạch. Trong bài giảng, cha Laurensô nhấn mạnh đến sự trung kiên và làm chứng cho Chúa trong mọi hoàn cảnh. Trong xã hội hôm nay, sự giả dối hiện diện khắp nơi: hàng giả, thông tin giả, tình cảm giả… Cái gì cũng có thể bị làm giả, khiến con người hoang mang, mất phương hướng. Chính vì thế, khi tìm hiểu và sống ơn gọi, chúng ta càng cần lòng tin vững vàng và trái tim chân thật, để bước đi theo Chúa cách kiên định giữa một thế giới đầy biến động.

Sau Thánh lễ là giây phút gặp gỡ, lượng giá về ngày tìm hiểu Ơn gọi và những lời căn dặn của quý Dì trong ban Mục vụ Ơn gọi dành cho các tham dự viên; cùng quây quần trong bữa cơm thân tình, đong đầy cảm xúc.

Ngày tìm hiểu ơn gọi tại cộng đoàn Bác Trạch không chỉ là một chương trình sinh hoạt, mà còn là một hành trình nội tâm sâu lắng. ‘Hãy đến mà xem’, xem và khám phá điều Chúa muốn nói với từng người – Từ những khoảnh khắc sinh hoạt vui tươi và gần gũi, những giờ chia sẻ thâm thúy, cho đến những phút giây thinh lặng trước Thánh Giá, Thánh Thể; tất cả đều góp phần giúp người tham dự nhận ra điều Chúa đang thì thầm mời gọi. Có những giọng nói nhỏ nhẹ thì thầm bên tai các dì: “Con rất vui khi được đến cộng đoàn các dì”, “con muốn được ở lại thêm vài ngày nữa”, “con mong mình sớm hoàn thành chương trình phố thông để được gia nhập Hội dòng Mến Thánh Giá Tân Lập”… Những tâm tình thật dễ thương và đầy hy vọng. Hy vọng cho các em, cho Hội dòng và cho Giáo hội. Các bạn ra về với ánh mắt long lanh mang theo vẻ lưu luyến nhưng cũng chất chứa đầy niềm tin yêu và hy vọng. Xin cho các bạn trẻ can đảm để bước theo tiếng Chúa gọi, với cả trái tim yêu mến và lòng quảng đại trong tiếng gọi gọi nhiệm mầu: “Đức Giê-su Ki-tô Chịu Đóng Đinh – là Đối tượng duy nhất của lòng trí con…”.



………………
Maria Hường Nguyễn
Chuyện về Mô sê: hồi 40 tuổi, đầy phong độ, tự ý mình hành động phụng sự đồng bào mình, nhưng vì tự ý nên không thành; 80 tuổi, đã an phận vì không còn trẻ, Chúa lại trao trọng trách lãnh đạo cuộc giải phóng dân tộc, Mô sê nghe lời, dẫn dắt dân trong hành trình rong ruổi bốn mươi năm đầy khó khăn gian khổ… Giờ đây, 120 tuổi, đã tới sát gần đất hứa, nhưng Mô sê không được vào. Ông qua đời âm thầm trên một ngọn núi bên kia sông Gio-đan, sau khi đã hướng mắt nhìn thấy toàn cảnh vùng đất mà Chúa ban cho dân tộc của mình… Mô sê trao vai trò lãnh đạo cho người kế nhiệm mình là Giôsue…
Người ta có thể cảm thấy tội nghiệp cho Mô sê. Nhưng thật ra cái chết trên đường đi của ông như vậy hàm chứa nhiều ý nghĩa. Ông chia sẻ số phận của rất nhiều người trong đoàn dân Xuất hành đã chết trên đường, trong tư cách là thủ lãnh của họ. Ông chia sẻ số phận của các tổ phụ đi trước mình, chết đi mà lời hứa của Chúa chưa được hoàn thành trong quãng đời mình, nhưng vẫn kiên trung bám vào lời hứa ấy mà không nghi ngại.
Kinh nghiệm của Mô sê, của các tổ phụ đi trước, và của mọi người tin Chúa qua các thời đại nhắc chúng ta rằng câu chuyện duy nhất của Thiên Chúa mới thực sự quan trọng. Còn câu chuyện của cá nhân mỗi người chỉ có ý nghĩa trong mức độ gắn kết với câu chuyện của Thiên Chúa. Bài học của lịch sử là: chương trình của Thiên Chúa lớn hơn cuộc đời của mỗi người chúng ta! Vì thế, hãy khiêm tốn đón nhận giới hạn của mình và đừng đòi nắm hiểu hết mọi sự. “Nhân loại khôn hơn mỗi người”, câu nói này của sử gia Will Durant áp dụng đúng ở đây, như lời Đáp ca trích từ sách Đệ nhị luật: “Ngươi hãy nhớ lại những ngày xa xưa, hãy tưởng nghĩ lại mỗi thế hệ: Hãy hỏi cha ngươi, và người sẽ loan báo cho ngươi; hãy hỏi tổ phụ ngươi, và các ngài sẽ chỉ dạy ngươi”…
Nghe như thể mỗi cá nhân chẳng có giá trị gì, như thể mỗi cuộc đời đều vô nghĩa trong chương trình quá lớn lao và quá ‘mầu nhiệm’ của Thiên Chúa, phải không? Hoàn toàn không phải thế. Mà ngược lại mới đúng. Tất cả chúng ta đều bé nhỏ, nhưng chỉ cần biết mình là ai, biết mình đang ở đâu, biết mình có sứ mạng gì trong câu chuyện của Thiên Chúa, và hoàn toàn gắn kết với câu chuyện ấy, hoàn toàn thuộc về câu chuyện ấy, thì chúng ta dù bé nhỏ đến mấy cũng đang thực hiện được ý nghĩa lớn nhất cho cuộc đời mình. Đây là hàm ý của Chúa Giêsu khi nhắc người ta tôn trọng và đừng xem thường trẻ nhỏ, đừng xem thường dù chỉ một con chiên lạc.
“Anh em hãy coi chừng, đừng khinh rẻ một ai trong những kẻ bé mọn này… Nếu ai có một trăm con chiên mà lạc mất một con, thì người đó lại không bỏ chín mươi chín con trên núi, để đi tìm con chiên lạc sao?”…
Thông điệp của lời Chúa hôm nay thật rõ: Câu chuyện cuộc đời của mỗi chúng ta có ý nghĩa không tuỳ theo những thành đạt của mình, mà tuỳ theo mức mình thuộc về và gắn kết với câu chuyện của Thiên Chúa.
Lm. Lê Công Đức
Hôm nay rước Mẹ về Trời
Là đoàn Thiên Sứ trên nơi Thiên Đình
Cung nghinh Thánh Mẫu đăng trình
Ca đoàn Thần Thánh hùng binh xếp hàng
Gót sen Thánh Mẫu nhẹ nhàng
Vượt trên lớp lớp vân đằng trời xanh
Chúc khen danh Mẹ nhân lành
Xác hồn tinh tuyết chẳng đành vương nhơ
Tung hô Mẹ Chúa con thờ
Đã cho Mẹ được bến bờ hiển vinh
Chào mừng Hoàng Mẫu đẹp xinh
Nguy nga tráng lệ Thiên binh hợp đoàn
Đoái xem con cái trần gian
Vui mừng khôn xiết tâm can rộn ràng
Khẩn cầu Hiền Mẫu Nữ Hoàng
Xin thương nâng đỡ dịu dàng chở che
Cậy trông Thánh Mẫu trọn bề
Từ nơi Thiên Quốc chẳng hề làm ngơ
Chúng con luôn vẫn mong chờ
Ngước trông lên mẹ bến bờ yêu thương
Mẹ nay về bến Thiên Đường
Uy nghi diễm lệ Thiên Hương Nước Trời
Trinh trong khả ái tuyệt vời
Huy hoàng lấp lánh rạng ngời Thánh Ân
Chúc mừng Chị Tổng chung phần
Hưởng nhờ nơi Mẹ muôn vàn ơn thiêng
Cùng hơn sáu chục chị em
Cũng xin được Mẹ trọn niềm thi ân.
Anna Đào
Trang sách Đệ nhị luật hôm nay ôn lại lịch sử dân Chúa. Đó là một lịch sử của ân huệ, bắt đầu từ đặc ân được Chúa quyến luyến, chọn lựa, chăm sóc ngay từ thời cha ông họ. Để làm gì vậy? Để họ được hạnh phúc!…
Vì thế, Mô sê kêu gọi dân hãy cắt bì lòng dạ, đừng cứng cỏi nữa… hãy yêu mến, nâng đỡ những người yếu thế (cô nhi quả phụ, khách trọ ngoại kiều…), và hãy yêu mến phụng sự một mình Thiên Chúa, Đấng đã làm cho dân những điều trọng đại!
Thánh vịnh 147 vọng lại nhận thức và tâm tình ấy. “Giêrusalem hỡi, hãy ngợi khen Chúa… Đấng đã ban lời Ngài cho Gia cóp, ban thánh chỉ Ngài cho Israel – Ngài đã không làm cho dân tộc nào như thế, không công bố cho họ các huấn lệnh của Ngài!” ‘Ngợi khen’ trong tiếng Híp-ri hoàn toàn đồng nghĩa với ‘tạ ơn’. Tâm tình thứ nhất và xứng hợp nhất của người nhìn lại và nhận thấy ân ban dạt dào mà Chúa ưu ái dành cho mình, đó là tâm tình tạ ơn Chúa, đồng thời tự nhủ mình dành cả con người và cuộc sống để ngợi khen tán tụng Chúa đến muôn đời…
Câu chuyện tình yêu thương xót ấy của Thiên Chúa, và câu chuyện của dân Ngài trong đó, đã đi tới chỗ chính Thiên Chúa đích thân đến làm người giữa họ trong câu chuyện của Chúa Giêsu Kitô… Và thật là bi kịch khi Chúa Giêsu không được đồng bào của Người đón nhận. Họ nộp Người và giết Người, như lời Chúa Giêsu báo trước trong bài Tin Mừng hôm nay… Chính Chúa Giêsu cũng không giành quyền được ưu đãi khi chấp nhận nộp thuế Đền thờ… Ta thấy thật cảm động. Nhưng chưa hết đâu, câu chuyện của Thiên Chúa sẽ còn phát triển tới mức Thiên Chúa không dung tha, nhưng thí nộp chính Con của Ngài vì tất cả chúng ta. Để cứu đầy tớ, Ngài đã hy sinh Con Một của Ngài! Thật điên rồ, phải không? Thiên Chúa ‘quyến luyến’ và ưu đãi chúng ta đến cùng như vậy đó.
Vậy thì chúng ta sẽ nghĩ gì, làm gì, nếu không phải là lấy tình yêu đáp lại tình yêu. Yêu mến Chúa hết lòng, và phụng sự Chúa qua việc yêu thương nâng đỡ những anh chị em yếu thế xung quanh cuộc đời mình!
Lm. Lê Công Đức
MỌI NGƯỜI TIN ĐỀU LÀ NHỮNG NGƯỜI LỮ HÀNH HY VỌNG – Lm. Lê Công Đức
Bài đọc trích sách Khôn ngoan nhắc lại cái ‘đêm’ lịch sử trong đó Thiên Chúa giải phóng dân Ngài, theo như chính Ngài đã hứa trước với họ qua Mô sê. Nhờ được hứa trước như vậy mà họ đã TIN TƯỞNG (tức trông cậy, hy vọng) vững vàng để trải qua biến cố lớn lao ấy. “Chính đêm ấy, cha ông chúng ta đã biết trước, để biết chắc mình đã tin tưởng vào lời thề nào mà được can đảm. Dân Chúa đã mong đợi sự giải thoát những người công chính và sự tiêu diệt kẻ thù”. (x. Kn 18,6-9). Đức cậy, hay niềm HY VỌNG, là động lực đưa dẫn người ta tiến về phía trước (tương lai) – và đức cậy ấy dựa vào lời hứa mà người ta đã kinh nghiệm (trong quá khứ và hiện tại).
Thánh vịnh 32 (Đáp ca) diễn tả điều nói trên rất rõ: “Linh hồn chúng con MONG ĐỢI Chúa, chính Ngài là Ðấng phù trợ và che chở chúng con. Lạy Chúa, xin đổ lòng từ bi xuống trên chúng con, theo như chúng con TIN CẬY ở nơi Ngài”. Mong đợi, tin cậy, vì điều cuối cùng vẫn chưa đạt được! Nhưng người ta tin tưởng rằng mình đang bước đi (hành hương/ lữ hành) về phía đó, và không gì chắc chắn bằng sự thật rằng điều cuối cùng ấy, tức sự hoàn thành chung cuộc của lời hứa, nằm ở cuối con đường mình đang đi tới…
Bài đọc trích Thư Do thái nêu các tấm gương đức cậy của các tổ phụ (Abraham, Xara, Isaac, Giacop…) trong cuộc sống của các ngài. Nhưng niềm HY VỌNG cuối cùng mà các ngài ôm ấp nâng niu thì vượt quá sinh thời của các ngài. Đây là ‘kịch tính’ (drama) của đức cậy: Các vị “đã chết trước khi nhận lãnh điều đã hứa, nhưng được nhìn thấy và đón chào từ đàng xa, đồng thời thú nhận rằng mình là lữ khách trên mặt đất”! (x. Dt 11,1-2.8-19). Đức cậy như thế rõ ràng dựa trên đức tin. Tôi tin, nên tôi tin tưởng (‘tin tưởng’ là từ ngữ nói về đức cậy, bên cạnh những từ ngữ khác như ‘tín thác’, ‘hy vọng’, trông cậy’…).
Bài Tin Mừng (Lc 12,32-48) – với dụ ngôn về những người đầy tớ đợi chủ đi ăn cưới về – là một trình bày tổng hợp các yếu tố liên quan đến đức cậy Kitô giáo. Không gì chắc chắn bằng việc ông chủ sẽ trở về (trong tương lai), vì đó là lời hứa đã được trao cho (trong quá khứ). Nhưng không biết lúc nào chủ về, vì thế thời điểm là yếu tố hoàn toàn bất ngờ! Vậy cần phải tỉnh thức sẵn sàng trong tình trạng đợi chủ (trong hiện tại). Sự tỉnh thức và sẵn sàng ấy sẽ bao gồm một tinh thần siêu thoát khỏi mọi quyến luyến làm ta xao lãng việc đợi chủ về: “Vì kho tàng anh em ở đâu, thì lòng anh em cũng ở đó!”
Lời Chúa hôm nay, như thế, soi sáng cho ta hiểu đức cậy hay niềm hy vọng Kitô giáo. Niềm hy vọng này dựa vào đức tin, dựa vào lời Chúa hứa, liên hệ đến tất cả các chiều kích quá khứ, tương lai và hiện tại của đời sống chúng ta. Theo đó, trong hiện tại của mình, chúng ta cần luôn tỉnh thức sẵn sàng, siêu thoát khỏi mọi quyến luyến, sống trong tâm thế của ‘những người lữ hành hy vọng’.
Và đừng quên, như các tổ phụ và như mọi người tin, chúng ta cũng có thể sẽ chết trong đức cậy hay niềm hy vọng ấy – nghĩa là trong tình trạng lời hứa còn dang dở, chưa hoàn thành. Nhưng không sao cả, không có gì dang dở cả, vì câu chuyện cuộc đời của tất cả chúng ta đều ở trong câu chuyện duy nhất của Thiên Chúa, và câu chuyện duy nhất này chắc chắn sẽ hoàn thành.
TỈNH THỨC VÀ SẴN SÀNG – Maria Thanh Hằng
“Hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.” (Lc 12, 40)
Nước trời là cùng đích mà mọi Kitô hữu đều mong chờ. Chúng ta được đón nhận hạnh phúc Nước Trời nhờ tình yêu và Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Đây là phần thưởng Thiên Chúa ban tặng cho những ai có tâm hồn thành tâm thiện chí, luôn ý thức sống trọn vẹn giây phút hiện tại, bằng cách nắm bắt cơ hội, chuẩn bị sẵn sàng để mua sắm và tích lũy hành trang cho đời sống vĩnh cửu mai sau.
Mặc dù ai cũng biết cuộc đời chóng qua, quy luật tất yếu của cuộc sống là: đã có ngày vào đời thì sẽ có ngày xuôi tay trở về với cát bụi. Chúng ta không biết trước được ngày nào, giờ nào tôi giã từ trần gian này. Sống từng ngày trong đời, chúng ta tự hỏi rằng: rồi cuộc đời này tôi sẽ đi về đâu? Khi ấy, tôi mang theo được gì? Phải chăng là của cải, vật chất mà mỗi ngày tôi tìm kiếm và những gì thu tích được cũng sẽ theo tôi?
Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ: “Hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn như người đầy tớ chờ đợi chủ trở về.” Trước những lo toan, bận rộn của cuộc sống, chúng ta dễ dàng bị lôi kéo, cuốn hút bởi những thú vui, say sưa và ngủ say trong vật chất, danh vọng. Lòng trí chúng ta đắm chìm trong hư ảo: lối sống bê tha, sống nửa vời, thiếu trách nhiệm vì chúng ta không lưu tâm đến tương lai, không ý thức chuẩn bị hành trang và không biết mua sắm “những túi tiền không hề cũ rách, một kho tàng không thể hao hụt ở trên trời, nơi kẻ trộm không bén mảng, mối mọt không đục phá.” (Lc 12, 33)
“… ai là người quản gia trung tín, khôn ngoan…”
Nhờ tình yêu của Chúa, chúng con được sinh ra trong cuộc đời này, chúng con đón nhận ngập tràn thánh ân của Ngài: sự sống, sức khỏe, tài năng, đức tin… Thiên Chúa hằng yêu thương, chăm sóc, nâng đỡ chúng con và chúng con chính là “người quản lý” trong việc sử dụng và sinh lợi tài năng và ân huệ Chúa ban.
Chúa ơi! con sẽ trở thành người tôi tớ bất trung khi con quên lãng và vô tâm trước ân huệ của Chúa, khi con chỉ biết thu vén và say mê tìm kiếm lợi ích cho riêng con. Xin đừng để con dại khờ trước những đam mê mà không để tâm đến lời mời gọi của Chúa, tìm sự thoải mái, ươn lười và say sưa trong yếu đuối của bản thân. Xin Chúa giúp con trở thành người tôi tớ khôn ngoan và trung tín khi mỗi ngày con biết chia sẻ, chu toàn công việc Chúa trao với lòng yêu mến. Amen.
ĐƯNG SỢ – Maria Đặng Lan
“Anh em đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước Trời cho anh em.” (Lc 12, 32)
Con người chúng ta thường lo âu, sợ hãi trước những khó khăn, thử thách trong cuộc sống hay khi nghĩ về tương lai. Là Người Cha đầy yêu thương, Chúa Giêsu thấu hiểu những tâm tư, lo lắng của con cái mình. Ngài trấn an chúng ta “Anh em đừng sợ hãi”. Chúa biết những khó khăn của chúng ta, Chúa không để chúng ta đơn độc. Ngài luôn hiện diện và ban cho chúng ta niềm hy vọng lớn lao: “Cha anh em đã vui lòng ban Nước Trời cho anh em.” Nước Trời chính là phần thưởng vĩnh cửu dành cho những ai sống trong niềm tin và lòng trung tín.
Vậy mỗi người chúng ta sống như thế nào để đón nhận ân huệ từ Thiên Chúa? Bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu chỉ ra cho chúng ta các phương thế hữu hiệu.
Trước hết, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta sống đơn giản, thanh thoát, không bận tâm, bám víu quá nhiều đến của cải vật chất, nhưng trước hết hãy tìm kiếm “Nước Thiên Chúa”. Của cải vật chất thì chóng qua, nay còn mai mất nhưng “kho tàng Nước Trời” mới là vĩnh cửu, là điều quý giá nhất
Thứ đến, Chúa mời gọi chúng ta sống tinh thần tỉnh thức trong niềm tin. Ngài dùng hình ảnh người đầy tớ trung tín và khôn ngoan, luôn sẵn sàng đón chủ trở về, để nhắc nhở chúng ta rằng “Khi chủ đến, nếu thấy đầy tớ tỉnh thức, thì người đầy tớ ấy thật có phúc.” Tỉnh là luôn sẵn sàng sống theo lời Chúa, sống trong sự tỉnh táo và chuẩn bị tinh thần để đón nhận bất kỳ thử thách nào, là biết sống trọn vẹn giây phút hiện tại, không để phí đi một giây phút nào qua đi trong vô ích vì thời giờ là cái vốn mà Chúa ban cho chúng ta để làm sinh sôi nảy nở ra các việc lành phúc đức. Khi tỉnh thức, chúng ta không chỉ chờ đợi mà còn sống trong hy vọng, sống với lòng yêu mến Chúa và tha nhân.
Cuối cùng, Chúa khuyên bảo chúng ta biết chịu trách nhiệm về hành động của mình, đặc biệt là đối với ơn gọi sứ mạng mà Chúa giao phó. “Ai được giao phó nhiều, thì sẽ bị đòi hỏi nhiều; ai được giao phó ít, thì sẽ bị đòi hỏi ít.” Đây là một lời nhắc nhở rằng cuộc sống đức tin không chỉ là việc chờ đợi ngày Chúa đến, mà còn là việc sống có trách nhiệm với những gì Chúa trao cho chúng ta mỗi ngày. Chúa cũng dạy chúng ta phải trung thành trong những việc đã được trao phó, việc lớn hay việc nhỏ không quan trọng, việc quan trọng là làm tròn trách nhiệm trong ý thức, làm nhiệt tình và thực lòng chứ không vì miễn cưỡng. Những hành động nhỏ bé nhưng đầy tình yêu, sự kiên nhẫn và trung tín, chính là những chứng nhân sống động cho Nước Trời mà Chúa muốn chúng ta xây dựng ngay trên trần gian này.
Lạy Chúa, Lời Chúa hôm nay là một lời mời gọi để chúng con tỉnh thức trong niềm tin và hy vọng. Thiên Chúa luôn đồng hành với chúng con và Ngài mời gọi chúng con sống luôn hướng về Nước Trời để đời sống của chúng con trở nên những chứng nhân sống động cho tình yêu của Ngài. Sống tỉnh thức, hy vọng và trung tín thì chúng con không bao giờ cô đơn trên hành trình đức tin. Xin Thiên Chúa là nguồn gốc của niềm hy vọng giúp chúng con sống trong niềm tin với khao khát thấy Nước Trời hiện diện ngay trong đời sống hằng ngày của chúng con. Amen.
Nếu bạn là cấp trên trong một tổ chức hay cơ chế nào đó, điều bạn cần nơi cấp dưới là tuân hành các chỉ thị của bạn, và bạn chỉ cần có thế, không cần gì hơn. Các nhà nước, các tổ chức quân đội, công an, các doanh nghiệp, hiệp hội, đoàn thể, các câu lạc bộ, các đội bóng đá, vân vân… đều chỉ cần sự tuân hành ấy, mà không đòi người ta phải yêu những người lãnh đạo hay các giới chức hữu trách trên mình.
Thiên Chúa cũng mong muốn sự tuân hành. Nhưng Ngài đòi ta trước hết phải yêu mến Ngài – và sự tuân hành của ta sẽ đặt nền trên lòng yêu mến ấy chứ không dựa trên gì khác. Đây là nét đặc biệt của Do thái-Kitô giáo mà ngưởi ta khó gặp thấy ở các khung cảnh khác, ngay cả các tôn giáo khác. “Hỡi Israel, hãy nghe đây. Chúa là Thiên Chúa chúng ta, là Chúa độc nhất. Hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết sức ngươi”. Đó là lời Mô sê phụng mệnh Thiên Chúa truyền đạt cho dân. Cốt lõi của mối tương quan với Thiên Chúa phải là YÊU MẾN. Hãy yêu, rồi sẽ biết phải làm gì! Yêu, rồi người ta sẽ tuân hành.
Nhưng lòng yêu mến Chúa lại giả thiết lòng TIN! Ta không có tấm lòng hoặc chỉ có một tấm lòng nhạt nhoà đối với Chúa, chỉ vì ta yếu tin hoặc không tin. Một lòng tin yếu ớt, đến lượt nó, sẽ làm hạn chế tấm lòng và hiệu năng phục vụ của ta đối với anh chị em mình. Chúng ta hiểu nỗi ưu tư và sự quở trách của Chúa Giêsu hôm nay trước tình trạng kém tin của các môn đệ Người. “Ôi thế hệ cứng lòng tin và hư hỏng! Ta phải ở với các ngươi đến bao giờ? Ta còn phải chịu đựng các ngươi đến bao giờ nữa?”…
“Tại sao chúng con không thể trừ quỷ ấy được?” -“Vì anh em yếu lòng tin!“… Và ta hãy nghe Chúa Giêsu mạnh mẽ bảo đảm: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì anh em có khiến núi này rằng: ‘Hãy rời khỏi đây mà sang nơi kia’, thì nó liền đi sang, và chẳng có gì anh em không làm được”.
Tất cả chúng ta cần biết không ngừng xin Chúa ban thêm lòng TIN cho mình. Chính lòng tin sẽ làm cho ta TIN TƯỞNG (đức cậy). Và chính lòng tin sẽ giúp ta YÊU MẾN, nhờ đó ta tuân hành các giáo huấn của Chúa trong đời sống mình.
Lm. Lê Công Đức
Giữa kỷ nguyên tái vũ trang toàn cầu mới, với hơn 50 cuộc xung đột đang diễn ra và chi tiêu quân sự toàn cầu tăng vọt, việc lên án đối với chiến lược răn đe vũ trang được các Giáo hoàng, những người đấu tranh cho hòa bình, và các nhà tư tưởng thế kỷ XX không ngừng lên tiếng một lần nữa trở nên thiết thực.
Từ Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII đến Đức Giáo Hoàng Phanxicô, và cả những lời gần đây của Đức Thánh Cha Lêô XIV, Học thuyết Xã hội của Giáo hội đề xuất một giải pháp thay thế mang tính Tin Mừng cho lý luận của chiến tranh.
Vào tháng 12/1976, trong lúc Chiến tranh Lạnh giữa Hoa Kỳ và Nga đang ở đỉnh điểm, đặc trưng bởi căng thẳng gia tăng và cuộc chạy đua vũ trang, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã viết những lời này trong Thông điệp nhân Ngày Hòa bình Thế giới lần thứ X: “Câu nói xưa đã từng và vẫn còn ảnh hưởng trong chính trị: ‘Si vis pacem, para bellum – Nếu bạn muốn hòa bình, hãy chuẩn bị chiến tranh’ là điều không thể chấp nhận nếu không có những dè dặt sâu sắc. Với sự táo bạo chân thành xuất phát từ các nguyên tắc của chúng tôi, chúng tôi tố cáo chương trình sai lầm và nguy hiểm của ‘cuộc chạy đua vũ trang’, của cuộc đua ngầm nhằm đạt ưu thế quân sự giữa các dân tộc”.
Đức Giáo Hoàng tiếp tục: “Ngay cả khi, thông qua một sự khôn ngoan nào đó còn sót lại, hoặc dù một cuộc ‘giằng co’ âm thầm nhưng khốc liệt giữa những lực lượng đối lập chiến tranh chưa nổ ra, thì làm sao có thể không xót xa trước sự tiêu tốn khôn lường về phương tiện kinh tế và sức lực con người chỉ để mỗi quốc gia bảo vệ cho mình một lớp áo giáp gồm những vũ khí ngày càng đắt đỏ, ngày càng tinh vi gây tổn hại nghiêm trọng đến ngân sách giáo dục, văn hóa, nông nghiệp, y tế và dân sinh?”
Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII: hòa bình thực sự, không phải là sự cân bằng của khủng bố
Lập trường được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI nhắc lại với giọng đầy tâm huyết ở đây chính là sự lên án rõ ràng đối với cái gọi là “thuyết răn đe”, đã được vị người tiền nhiệm trực tiếp của ngài, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, bày tỏ trong thông điệp nổi tiếng “Pacem in terris – Hoà bình trên thế giới”, được công bố năm 1963, ngay sau cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba, khủng hoảng đã đưa thế giới đến bên bờ vực của một cuộc chiến tranh hạt nhân.
Thánh Giáo hoàng viết trong thông điệp cuối cùng của ngài: “Như chúng ta đã biết: để biện hộ cho việc sản xuất vũ khí, người ta thường đưa ra luận điệu: chỉ có một nền hòa bình duy nhất có thể thực hiện được, đó là nền hòa bình xây trên thế quân bình về sức mạnh. Vì thế, hễ một cộng đồng võ trang, là các cộng đồng khác cũng phải võ trang theo. Nếu một cộng đồng chế tạo vũ khí nguyên tử, thì các cộng đồng khác cũng phải chế tạo vũ khí nguyên tử có sức phá hoại đồng đều. Do đó, nhân loại luôn luôn phải sống trong sự đe dọa của một cuộc chiến tranh có thể bộc phát bất cứ lúc nào, với một sức tàn phá khôn lường. Bởi vì vũ khí đã sẵn, và nếu không thể tin rằng có người dám cả gan đứng ra chịu trách nhiệm về những sự đau thương tàn khốc do chiến tranh gây ra, nhưng vẫn có thể tin được rằng chỉ một sự kiện bất ngờ và không thể kiểm soát được, thì có thể khơi ngòi cho tất cả bộ máy chiến tranh đó. Và dù người ta có thể kiểm soát các vũ khí nói đây một cách hữu hiệu, để chiến tranh không thể xảy ra được, thì cũng có đủ lý mà sợ rằng: chỉ sự liên tiếp thí nghiệm các vũ khí nguyên tử cũng có thể nguy hại cho sự sống trên trái đất”.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô và “Fratelli tutti”: Hòa bình không phải là sự cân bằng quyền lực
Nguyên tắc này, trọng tâm Huấn quyền về hòa bình của các Giáo hoàng nửa sau thế kỷ 20, đã được cập nhật trong thông điệp Fratelli tutti. Đức Giáo Hoàng Phanxicô giải thích trong văn kiện được ký vào ngày 03/10/2020 tại Assisi: “Thực tế là từ khi vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học và sinh học phát triển, chưa kể đến các công nghệ mới với những ứng dụng rộng khắp và ngày càng hữu hiệu, chiến tranh đã có được sức mạnh hủy diệt không thể kiểm soát, gây hậu quả tàn khốc cho bao dân thường vô tội. Quả là nhân loại chưa bao giờ có một thứ quyền lực lớn như thế trên chính mình, và chẳng có gì bảo đảm rằng họ sẽ luôn sử dụng quyền lực ấy cách khôn ngoan”.
Cũng trong thông điệp, ngài nhấn mạnh rằng hòa bình và ổn định quốc tế không thể dựa trên cảm giác an toàn giả tạo, trên sự đe dọa hủy diệt lẫn nhau hoặc hủy diệt hoàn toàn, hay chỉ trên việc duy trì sự cân bằng quyền lực.
Tất cả những tuyên bố này, được rút ra từ giáo huấn của các Giáo hoàng, mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hòa bình thế giới dường như bấp bênh hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là sự lỗi thời của khẩu hiệu tiếng Latinh “Si vis pacem, para bellum – Nếu bạn muốn hòa bình, hãy chuẩn bị chiến tranh” – vốn là cách diễn đạt lại một đoạn trích trong tác phẩm Epitoma rei militaris của Vegezio (thế kỷ IV–V) – đã được nhấn mạnh rộng rãi trong thế kỷ này, ngay cả trong những bối cảnh hoàn toàn khác xa với Giáo huấn xã hội của Giáo hội.
Giáo dân cũng nói không với chiến tranh
Ngay từ ngày 12/6/1909, Filippo Turati – một trong những người cha sáng lập của chủ nghĩa xã hội Ý – trong bài diễn văn “Cơn chóng mặt vì chạy đua vũ trang và các cải cách xã hội”, đọc tại Hạ viện Ý, đã khẳng định: “Câu nói nổi tiếng si vis pacem, para bellum chẳng qua chỉ là một cách chơi chữ của nhà tiên tri Delphi. Thưa quý vị, chúng ta hãy trở lại với nghĩa thường, nói rằng: ‘Si vis pacem, para pacem – Nếu bạn muốn hòa bình, hãy chuẩn bị cho hoà bình’. Hãy chấm dứt cơn điên rồ vô ích này của cuộc chạy đua vũ trang đang làm kiệt quệ các quốc gia”.
Rồi vào năm 1947, sau thảm họa Hiroshima và Nagasaki, Mahatma Gandhi đã viết: “Bài học có thể rút ra (…) là một quả bom không thể bị phá hủy bởi một quả bom khác, cũng như bạo lực không thể bị tiêu diệt bằng bạo lực”. Còn tại Ý, triết gia và chính trị gia chống phát xít Aldo Capitini – được truyền cảm hứng từ chính vị lãnh tụ Ấn Độ – đã nhấn mạnh rằng: “Mục tiêu của tình thương chỉ có thể đạt được bằng tình thương; mục tiêu của sự trung thực phải được thực hiện bằng những phương tiện trung thực; và mục tiêu của hòa bình không thể đạt được bằng luật lệ cũ đầy bất ổn ‘nếu bạn muốn hòa bình, hãy chuẩn bị chiến tranh’, nhưng bằng một luật khác: trong thời bình, hãy chuẩn bị cho hòa bình”.
Số liệu rõ ràng: vũ khí và chiến tranh không mang lại hoà bình
Theo Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm có trụ sở tại Thuỵ Điển, chi tiêu quân sự toàn cầu đã đạt mức cao nhất trong lịch sử vào năm 2024 – vượt quá 2.700 tỷ đô la – trong khi hiện nay trên thế giới đang có 56 cuộc xung đột vũ trang đang diễn ra, liên quan đến hơn 92 quốc gia, con số cao nhất kể từ khi Thế chiến thứ Hai kết thúc. Điều này khẳng định rằng việc “chuẩn bị chiến tranh” không chỉ làm tiêu tốn nguồn lực kinh tế của các quốc gia nhưng còn không mang lại hòa bình.
Trước những đau thương do các cuộc chiến, đặc biệt là tại Ucraina và Trung Đông gây ra, những lời gần đây của Đức Thánh Cha Lêô XIV vẫn là một kim chỉ nam rõ ràng và kiên định, tiếp nối giáo huấn hòa bình của các vị tiền nhiệm: “Chúng ta không được quen với chiến tranh; ngược lại, chúng ta phải từ chối sự quyến rũ của vũ khí mạnh mẽ và tinh vi như một cám dỗ”.
“Có bao giờ một dân tộc đã nghe lời Thiên Chúa từ trong lửa phán ra như các ngươi đã nghe mà còn sống chăng? Có bao giờ Chúa đã dùng sự thử thách, dấu chỉ, điềm lạ, chiến tranh, cánh tay quyền năng mạnh mẽ và những thị kiến khủng khiếp, để chọn lấy cho mình một dân tộc giữa các dân tộc khác, như Chúa là Thiên Chúa các ngươi đã làm tất cả các điều đó trước mặt các ngươi trong đất Ai-cập chăng?”
Câu hỏi trên trong đoạn sách Đệ nhị luật là một cách sơ kết những trang sử Xuất hành trong lịch sử dân Chúa. Ta thấy Thiên Chúa thiết lập dân riêng của Ngài qua một loạt những biểu lộ quyền năng mạnh mẽ. Để làm gì vậy? Để họ nhận biết rằng “Trên trời dưới đất, chính Chúa là Thiên Chúa, chứ không có Chúa nào khác”. Từ sự nhận biết ấy, họ được Chúa mời gọi: “Hãy tuân giữ các lề luật và giới răn mà hôm nay chính ta truyền dạy cho các ngươi, hầu cho các ngươi và con cháu mai sau được hạnh phúc, và tồn tại trên phần đất mà Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho các ngươi”.
Như vậy, cuối cùng, điều Chúa muốn cho dân là HẠNH PHÚC! Họ không mất gì, chỉ có được! Thiên Chúa của họ thật tốt lành – và họ mặc lấy tâm tình của Thánh vịnh 76: “Tôi hồi tưởng lại những việc làm của Chúa; tôi nhớ những điều kỳ diệu thuở trước của Ngài… Ôi Thiên Chúa, đường lối của Ngài thánh thiện; có thần minh nào vĩ đại như Thiên Chúa chúng tôi?”
Kinh nghiệm về quyền lực mạnh mẽ của Thiên Chúa trong dòng lịch sử dường như lại trở thành điều gây khó khăn cho dân này trong việc đón nhận Chúa Giêsu. Bởi vì Con Thiên Chúa làm người được thấy là yếu chứ không mạnh! Người có làm phép lạ, vâng, nhưng toàn là những phép lạ thi ân giáng phúc chứ không nhằm gây ấn tượng để chinh phục người ta bằng phép lạ. Điều thật rõ ràng là Người đi con đường thập giá và mời gọi những ai theo Người hãy vác thập giá. Người đảm nhận cái chết, và Người kêu gọi chúng ta cũng dám chết như vậy. Nghe thật là yếu đuối, phải không?
Không. Hoàn toàn không phải là yếu đuối, mà đó mới là sức mạnh thực sự! Bởi mục tiêu ở đây là sống, và chết là cách để sống. Như chính Chúa Giêsu tuyên bố: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai đành mất mạng sống mình vì Ta, thì sẽ được sự sống!”… Chỉ khi hiểu được lôgic này, chúng ta mới thấy được sức mạnh trong sự yếu đuối của Chúa Giêsu, và chúng ta mới dám đi trọn con đường thập giá như Chúa kêu gọi.
Xin Chúa giúp chúng ta hiểu cái nghịch lý ‘CHẾT ĐỂ SỐNG’, vốn là cốt tuỷ đạo của chúng ta!
Lm. Lê Công Đức
đ
“Có bao giờ một dân tộc đã nghe lời Thiên Chúa từ trong lửa phán ra như các ngươi đã nghe mà còn sống chăng? Có bao giờ Chúa đã dùng sự thử thách, dấu chỉ, điềm lạ, chiến tranh, cánh tay quyền năng mạnh mẽ và những thị kiến khủng khiếp, để chọn lấy cho mình một dân tộc giữa các dân tộc khác, như Chúa là Thiên Chúa các ngươi đã làm tất cả các điều đó trước mặt các ngươi trong đất Ai-cập chăng?”
Câu hỏi trên trong đoạn sách Đệ nhị luật là một cách sơ kết những trang sử Xuất hành trong lịch sử dân Chúa. Ta thấy Thiên Chúa thiết lập dân riêng của Ngài qua một loạt những biểu lộ quyền năng mạnh mẽ. Để làm gì vậy? Để họ nhận biết rằng “Trên trời dưới đất, chính Chúa là Thiên Chúa, chứ không có Chúa nào khác”. Từ sự nhận biết ấy, họ được Chúa mời gọi: “Hãy tuân giữ các lề luật và giới răn mà hôm nay chính ta truyền dạy cho các ngươi, hầu cho các ngươi và con cháu mai sau được hạnh phúc, và tồn tại trên phần đất mà Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho các ngươi”.
Như vậy, cuối cùng, điều Chúa muốn cho dân là HẠNH PHÚC! Họ không mất gì, chỉ có được! Thiên Chúa của họ thật tốt lành – và họ mặc lấy tâm tình của Thánh vịnh 76: “Tôi hồi tưởng lại những việc làm của Chúa; tôi nhớ những điều kỳ diệu thuở trước của Ngài… Ôi Thiên Chúa, đường lối của Ngài thánh thiện; có thần minh nào vĩ đại như Thiên Chúa chúng tôi?”
Kinh nghiệm về quyền lực mạnh mẽ của Thiên Chúa trong dòng lịch sử dường như lại trở thành điều gây khó khăn cho dân này trong việc đón nhận Chúa Giêsu. Bởi vì Con Thiên Chúa làm người được thấy là yếu chứ không mạnh! Người có làm phép lạ, vâng, nhưng toàn là những phép lạ thi ân giáng phúc chứ không nhằm gây ấn tượng để chinh phục người ta bằng phép lạ. Điều thật rõ ràng là Người đi con đường thập giá và mời gọi những ai theo Người hãy vác thập giá. Người đảm nhận cái chết, và Người kêu gọi chúng ta cũng dám chết như vậy. Nghe thật là yếu đuối, phải không?
Không. Hoàn toàn không phải là yếu đuối, mà đó mới là sức mạnh thực sự! Bởi mục tiêu ở đây là sống, và chết là cách để sống. Như chính Chúa Giêsu tuyên bố: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai đành mất mạng sống mình vì Ta, thì sẽ được sự sống!”… Chỉ khi hiểu được lôgic này, chúng ta mới thấy được sức mạnh trong sự yếu đuối của Chúa Giêsu, và chúng ta mới dám đi trọn con đường thập giá như Chúa kêu gọi.
Xin Chúa giúp chúng ta hiểu cái nghịch lý ‘CHẾT ĐỂ SỐNG’, vốn là cốt tuỷ đạo của chúng ta!