“Ðấng từ trên cao mà đến thì vượt trên hết mọi người. Kẻ bởi đất mà ra, thì thuộc về đất và nói những sự thuộc về đất… Ðấng được Thiên Chúa sai đến thì nói lời của Thiên Chúa, vì được Chúa ban cho Thần Khí vô ngần vô hạn”.
Gioan Tẩy giả làm chứng về Chúa Giêsu như thế. Chúa Giêsu, đến lượt Người, đến để nói lời của Chúa Cha và làm chứng về Chúa Cha.
Điều gì bảo đảm tính chân thật của chứng từ và chứng tá? Chính Thần Khí! Mức độ thuộc về Thần Khí của một người sẽ là mức độ chân thật nơi lời chứng của người ấy. Chúa Giêsu được ban Thần Khí vô ngần vô hạn, nên chứng từ của Người hoàn toàn chân thật, tinh ròng, không pha phôi…
Bi kịch ở chỗ người ta “không chấp nhận lời chứng của Người”! Môn đệ không hơn Thầy, nên các Tông đồ “cùng với Thánh Thần” làm chứng rằng Chúa Giêsu đã Phục sinh và được đặt làm Đấng Cứu Độ, nhưng các ngài bị cấm đoán và bắt bớ, đánh đòn (x. Cv 5,27-33)…
Thời của chúng ta hôm nay, Tin Mừng sự sống, Tin Mừng hoà bình đang bị thách thức gay gắt. Không chỉ các chính khách, các giới cầm quyền mạ lỵ Đức giáo hoàng, mà cả rất nhiều ‘cư dân mạng’ hùa theo công kích tiếng nói ngôn sứ của các vị lãnh đạo Giáo hội liên quan đến vấn đề chiến tranh, bạo lực lan tràn… Hiện tượng này cho thấy rõ rất nhiều toan tính muốn chính trị hoá tôn giáo, đồng thời cũng cho thấy rất nhiều người, kể cả nhiều Kitô hữu, bị thao túng bởi ý thức hệ, và tin theo ý thức hệ hơn là tin vào Tin Mừng!
Vâng, chúng ta cần bị thách đố như thế, để chẩn đoán mức độ thuộc về Thánh Thần của xã hội và thế giới hôm nay, cả của Giáo hội, và của chính chúng ta. Như có người nói: Nếu Giáo hội không bị chống đối bởi quyền lực thế gian, thì Giáo hội ấy không còn là Giáo hội của Thần Khí Chúa Giêsu Kitô nữa!
Chúng ta có dám lên tiếng, đương đầu hay không? Hay đó là việc của chỉ một mình Đức giáo hoàng và vài giám mục?
Lm. Lê Công Đức
Thứ Tư, ngày 15/04/2026, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã chính thức rời Algeria, bắt đầu chặng dừng chân tiếp theo tại Cộng hòa Camerun. Chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha được kỳ vọng sẽ khơi dậy hy vọng sâu sắc về hòa bình, sự hiệp nhất và đổi mới tâm linh tại một quốc gia bị ghi dấu bởi những căng thẳng và bất bình đẳng này.
Sáng ngày 15/04, sau khi cử hành Thánh lễ riêng và từ biệt Tòa Sứ thần Tòa Thánh tại Algeria, Đức Thánh Cha đã di chuyển quãng đường 22,5 km đến Sân bay quốc tế Houari Boumediene. Tại đây, Tổng thống Algeria Abdelmadjid Tebboune đã chào đón và có cuộc hội kiến ngắn với Đức Thánh Cha tại Phòng Danh dự. Sau nghi thức tiễn biệt được cử hành trọng thể theo nghi lễ cấp quốc gia, lúc 10:16 (giờ địa phương), chuyên cơ ITA A330-900neo chở Đức Thánh Cha và phái đoàn tháp tùng đã cất cánh hướng về phương Nam.

Tổng thống Algeria Abdelmadjid Tebboune hội kiến với Đức Thánh Cha tại Phòng Danh dự (@Vatican Media)
Chuyến bay khoảng 5 giờ vượt quãng đường 4.014 km qua không phận 4 quốc gia: Algeria, Niger, Chad và Nigeria trước khi hạ cánh xuống Sân bay quốc tế Yaoundé-Nsimalen, tại thủ đô Yaoundé của Camerun.
Thủ đô Yaoundé, nơi được mệnh danh là “thành phố của bảy ngọn đồi”, là trung tâm lớn thứ hai của Camerun (sau thành phố cảng Douala). Với bề dày lịch sử từ thời thuộc địa Đức, chuyển giao sang Pháp và giành độc lập vào năm 1960, Yaoundé nay trở thành điểm đến quan trọng trong sứ vụ hòa bình của Người kế vị Thánh Phêrô.

Nghi thức tiễn biệt Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Sân bay quốc tế Houari Boumediene (@Vatican Media)
Sứ thần Tòa Thánh tại Camerun và Guinea Xích Đạo là Đức Tổng Giám mục José Avelino Bettencourt, người được bổ nhiệm từ tháng 8/2023. Hiện nay, Hội đồng Giám mục Camerun (CENC), với vị Chủ tịch là Đức Tổng Giám mục Andrew Nkea Fuanya (Giáo phận Bamenda) đang điều phối hoạt động mục vụ cho 5 giáo tỉnh và 26 giáo phận trên toàn quốc, đóng vai trò then chốt trong việc kết nối Giáo hội địa phương với sứ vụ của Đức Thánh Cha.
Trong đời sống công cộng, Giáo hội Camerun không chỉ đóng vai trò tâm linh mạnh mẽ mà còn là tác nhân xã hội và tiếng nói đạo đức quan trọng. Dù đang đối mặt với nhiều thách thức về an ninh, chính trị và xã hội, Giáo hội tại đây vẫn luôn trăn trở về sứ mạng của mình, sẵn sàng trở thành nhịp cầu hòa bình và hy vọng, mang lại sự hòa giải giữa những căng thẳng hiện nay.
Đây là cốt lõi sứ điệp Kitô giáo, được Chúa Giêsu nêu ra trong cuộc chuyện của Người với Nicodemo: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Ngài, để tất cả những ai tin ở Con của Ngài, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời”.
Sứ điệp này rõ ràng được bao gồm trong lời rao giảng tiên khởi, sau Phục sinh. Chính Chúa Giêsu là ‘sự sáng đã đến thế gian’ – nhưng ngay từ đầu, thế lực của bóng tối đã chống lại sự sáng này. Và xuyên qua các thế kỷ, thời nào lời rao giảng về sự sáng này cũng bị chống đối bằng nhiều cách và nhiều mức độ. Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến lời rao giảng của Giáo hội bị các thế lực công kích trắng trợn – như cách mà người ta đang thoá mạ Đức giáo hoàng Lê ô XIV và vị tiền nhiệm của ngài…
Chính Chúa Giêsu đã trực giác ‘số phận’ của Người cũng như của các sứ giả mà Người sai đi rao giảng:
“Sự sáng đã đến thế gian và người đời đã yêu sự tối tăm hơn sự sáng, vì hành động của họ xấu xa. Thật vậy, ai hành động xấu xa thì ghét sự sáng, và không đến cùng sự sáng, sợ những việc làm của mình bị khiển trách, nhưng ai hành động trong sự thật, thì đến cùng sự sáng, để hành động của họ được sáng tỏ, là họ đã hành động trong Thiên Chúa.”
Câu chuyện trong sách Công vụ cho thấy kinh nghiệm này của các Tông đồ:
-Các ngài rao giảng Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng của Người cho dân chúng…
-Giới lãnh đạo cảnh cáo: Các anh không được giảng dạy như thế!
-Các Tông đồ vẫn giảng chứ không nao núng…
-Giới lãnh đạo dùng các biện pháp bạo lực, bách hại các ngài…
-Nhưng các ngài được Chúa can thiệp, giải cứu, để có thể tiếp tục rao giảng.
Chúng ta hãy vững tin, lời Thiên Chúa không thể bị xiềng xích, và khốn cho kẻ đưa chân đạp mũi nhọn!
Lm. Lê Công Đức
“Các ngươi phải tái sinh bởi trời”. Khẳng định này của Chúa Giêsu làm cho Nicodemo ngơ ngác không hiểu… Chúa nói tiếp: “Nếu khi Tôi nói về những sự dưới đất mà các ông không tin, khi Tôi nói những sự trên trời, các ông tin thế nào được!”…
Suy nghĩ sát đất và suy nghĩ hướng thượng là hai trường ý nghĩa hoàn toàn khác biệt nhau. Minh hoạ ‘hot’ nhất là những lời của ông Tổng thống Mỹ chế giễu Đức giáo hoàng Lê ô XIV kia kìa! Và nói chung, sự căng thẳng này thời nào cũng thế… Bởi chính Giêsu đã bị chế giễu, đến mức đã bị treo lên đó! Nhưng chính Người xác nhận, “Con Người phải bị treo lên như vậy, để những ai tin vào Người, thì không bị tiêu diệt muôn đời”!
“Không bị tiêu diệt muôn đời” là bất khả diệt – điều chỉ ứng nghiệm với những ai ‘thuộc về trời’. Bởi vì cái gì thuộc về đất thì tạm bợ, tiêu vong…
Mô tả của sách Công vụ về cộng đoàn tín hữu đầu tiên là một mô tả đặc sắc về thế nào là được tái sinh bởi trời, thuộc về trời cao, cho dù người ta vẫn còn đi trên mặt đất. Hãy hình dung:
-Tất cả đoàn tín hữu đông đảo đều đồng tâm nhất trí.
-Chẳng ai kể của gì mình có là của riêng, song để mọi sự làm của chung.
-Hết thảy đều được mến chuộng. Vì thế, trong các tín hữu, không có ai phải túng thiếu…
Lãng mạn xã hội và lãng mạn kinh tế đến thế là cùng! Nhưng đừng quên, đó là mô tả tiêu biểu về các Kitô hữu thuở ban đầu ấy…
Mới đây, có ý kiến lấy một phường/xã ở Hà Nội làm thí điểm xã hội chủ nghĩa! Người ta cười ồ. Nhưng nghĩ cho cùng, bỏ qua những khía cạnh kỹ thuật và thực tiễn, thì ý tưởng ấy không tệ đâu.
Lm. Lê Công Đức
Tuần Bát nhật Phục sinh đã trôi qua. Nhưng Mùa Phục sinh vẫn còn đó, tiếp tục réo gọi, với tiêu điểm rõ ràng hướng đến việc đón nhận hoa trái của Phục sinh là quà tặng Thánh Thần – sẵn sàng cho sứ mạng làm chứng của cộng đoàn Hội Thánh!…
Bản văn sách Công vụ kể chuyện các Tông đồ bị sách nhiễu, bị bắt giam, rồi phóng thích… Nhưng chính trong tình hình gay go đó, thật lạ lùng là các Tông đồ lại đầy phấn khích trong bầu khí sục sôi sứ mạng. Các ngài vui tươi sẵn sàng đón nhận những thử thách khi làm chứng cho Chúa Giêsu Phục sinh, bởi các ngài đang được ‘thổi mạnh’ bởi Chúa Thánh Thần – như mô tả của sách Công vụ: “Khi họ cầu nguyện xong, thì nơi họ đang tập họp liền chuyển động, mọi người được tràn đầy Thánh Thần và tin tưởng rao giảng lời Thiên Chúa” (x. Cv 4,23-31).
Quả thực, trao ban Thánh Thần là tất cả dự án của biến cố Chúa Giêsu Kitô. Người đã hoạch định từ đầu việc trao ban này, như vén mở trong cuộc trò chuyện với Nicôđêmô về việc tái sinh nhờ nước và Thánh Thần. Và việc trao ban này được Người hoàn tất trong cái chết và sự sống lại của Người. Ơn ban Thánh Thần là mùa gặt của mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô!
“Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió, nhưng chẳng biết gió từ đâu đến và đi đâu: mọi kẻ sinh bởi Thần Linh cũng vậy”. Chúa Giêsu nói về Thánh Thần như gió thổi. Bàng bạc. Tràn ngập. Hoàn toàn tự do. Vừa êm dịu vừa mạnh mẽ…!
Sống mầu nhiệm Phục sinh, đó là chúng ta giương buồm đón ngọn gió này, để cho ngọn gió này cuốn mình đi vào sứ mạng loan báo Chúa Giêsu đã chết, đã sống lại, và đang sống. Và chúng ta loan báo như vậy trong tư cách những người đã ‘sống lại’, đã được tái sinh…
Lm. Lê Công Đức
Trong trang Tin Mừng hôm nay, Thánh Gioan dẫn chúng ta trở về khoảnh khắc linh thiêng khi Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra với các tông đồ. Giữa bầu khí nặng nề của sợ hãi và hoang mang, Chúa đến, không một lời trách móc, chỉ nhẹ nhàng trao ban bình an. Cử chỉ ấy đã biến đổi các môn đệ: từ những con người run sợ, khép kín, trở nên những chứng nhân tràn đầy ánh sáng đức tin. Ngài cho các ông xem đôi tay và cạnh sườn còn mang dấu tích thương khó, với lời chúc lành“Bình an cho các con.”
1. Đức Giêsu Phục Sinh – Đấng ban bình an đích thực
Sau cái chết của Đức Giêsu, các môn đệ như rơi vào vực sâu của tuyệt vọng. “Cửa đóng then cài” không chỉ là cánh cửa của căn phòng, mà còn là cánh cửa của tâm hồn: khép kín, co cụm, đầy lo âu và sợ hãi. Họ sợ hãi đến mức quên đi tất cả những gì mình đã từng tin, từng chứng kiến. Chính trong hoàn cảnh ấy, Đấng Phục Sinh đã đến. Ngài đứng giữa họ, không ồn ào, không phô trương nhưng chỉ một lời nói nhẹ nhàng “Bình an cho anh em.” Một lời đủ để xoa dịu, đủ để chữa lành, đủ để làm sống lại niềm tin tưởng dường như đã tắt lịm.
Bình an của thế gian thường mong manh, dễ vỡ trước những biến cố bất ngờ. Đó là kinh nghiệm của các môn đệ đã từng thấy phép lạ, từng nghe lời giảng dạy của Chúa với đầy xác tín, nhưng vẫn nao núng khi đối diện với thập giá. Nỗi sợ đã làm lu mờ ký ức đức tin của họ. Phải chăng đó cũng là câu chuyện của mỗi chúng ta? Có những lúc chúng ta cảm nhận Chúa rất gần: trong những giờ cầu nguyện sốt sắng, trong bài giảng chạm đến tâm hồn, trong sự bình an sâu thẳm khi lắng nghe Lời Chúa. Nhưng rồi, khi khó khăn, thử thách ập đến, tất cả những cảm nghiệm ấy dường như tan biến.
Thế nhưng, bình an đích thực của Chúa Giêsu không phải là sự vắng bóng của đau khổ. Đó là sự hiện diện của Ngài ngay giữa những đau khổ ấy. Một sự bình an âm thầm, sâu thẳm, không ồn ào nhưng vững bền. Đó không phải là cảm giác dễ chịu nhất thời, nhưng là hoa trái của một đời sống gắn bó với Thiên Chúa. Bình an ấy đến từ việc sống theo thánh ý Thiên Chúa, và trung thành giữ Lời Chúa, dù có thể phải hy sinh, từ bỏ hay chịu thử thách. Nhưng nếu ta kiên trì bước đi trong ánh sáng Lời Chúa, bình an nội tâm sẽ dần trổ sinh trong tâm hồn.
2. Đức Giêsu Phục Sinh – Đấng khơi dậy nguồn sống mới
Không dừng lại ở lời chúc, Chúa Giêsu còn trao ban chính sự sống của Ngài. Ngài “thổi hơi” trên các môn đệ và nói: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần.”
Hơi thở ấy không chỉ là một cử chỉ, mà là sự sống. Như thuở ban đầu của công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã thổi sinh khí vào Ađam, thì giờ đây, Đức Giêsu Phục Sinh cũng thổi hơi vào những con người đang như mất hết sức sống, để làm cho họ được hồi sinh. Từ những con người co cụm trong sợ hãi, các tông đồ trở nên can đảm, mạnh mẽ. Từ căn phòng đóng kín, họ bước ra thế giới. Từ những trái tim tan vỡ, họ trở thành những con người tràn đầy hy vọng. Một sự biến đổi lạ lùng nhưng lại rất thật, vì đó là công trình của Thánh Thần. Ngày ấy không chỉ là ngày thứ nhất trong tuần, mà còn là ngày đầu tiên của một nhân loại mới, nhân loại được sống trong ân sủng và tình yêu.
Ngày hôm nay, Chúa vẫn đang âm thầm “thổi hơi” vào cuộc đời chúng ta. Trong từng biến cố, từng hoàn cảnh, Ngài vẫn ở đó – trong gia đình, nơi học tập, nơi làm việc. Điều quan trọng là: ta có mở lòng ra để đón nhận hay không?
3. Đức Giêsu Phục Sinh – Đấng củng cố đức tin
Trước sự cứng lòng của Tôma, Chúa Giêsu không trách móc, nhưng kiên nhẫn chờ đợi. Và rồi, Ngài đến, dịu dàng mời gọi: “Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.”
Ngài cho ông xem đôi tay – đôi tay đã yêu thương, đã phục vụ, đã chạm đến những nỗi đau của con người. Đôi tay ấy không chỉ mang dấu đinh, mà còn mang dấu ấn của một tình yêu tự hiến.
Ngài cũng cho ông xem cạnh sườn – nơi trái tim bị đâm thâu, nơi tình yêu tuôn chảy đến giọt cuối cùng. Từ đó phát sinh sự sống và Thần Khí, tuôn tràn trên nhân loại.
Chính khi chạm vào những dấu tích ấy, Tôma đã thốt lên lời tuyên xưng đầy xúc động: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Đó không chỉ là lời của riêng ông, mà còn là lời mà mỗi chúng ta được mời gọi thốt lên trong hành trình đức tin của mình.
Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, giữa những lo toan và thử thách của cuộc sống, chúng con nhiều khi thu mình lại trong sợ hãi, khép kín trong yếu đuối, và dần đánh mất niềm tin. Xin Chúa hãy đến, đứng giữa cuộc đời chúng con, và trao ban cho chúng con lời chúc lành:“Bình an cho con.” Xin thổi hơi Thánh Thần vào tâm hồn chúng con, để chúng con được hồi sinh, được mạnh mẽ bước ra khỏi những “căn phòng đóng kín” của chính mình. Xin ban thêm đức tin cho chúng con, để dù cuộc đời có bao sóng gió, chúng con vẫn một lòng tín thác, và can đảm phó dâng cuộc đời mình trong lòng thương xót vô biên của Chúa. Amen.
Maria Thảo An
Biến cố Chúa Giêsu Kitô, mà cao điểm là cái chết và sự sống lại của Người, có phải là một cái gì bất chợt xảy ra và chẳng cần liên quan gì đến câu chuyện dài trước đó? Không! Hoàn toàn không phải bỗng dưng đâu!
Chỉ có một câu chuyện duy nhất của Thiên Chúa, đó là lịch sử cứu độ. Và biến cố Chúa Giêsu được chuẩn bị bởi lịch sử này, đi vào lịch sử này, và cứu độ lịch sử này! Ta thấy Chúa Phục sinh đặc biệt lưu ý các môn đệ rằng “cần phải ứng nghiệm hết mọi lời đã ghi chép về Thầy trong luật Môsê, trong sách tiên tri và thánh vịnh”…
Và về cái chết Thập giá của Người, Đấng Phục sinh giải thích: “Có lời chép rằng: Ðấng Kitô sẽ phải chịu thương khó và ngày thứ ba Người sẽ từ cõi chết sống lại… Còn anh em, anh em sẽ làm chứng nhân về những điều ấy”…
Trong sách Công vụ, sau khi anh què được chữa lành, Phê rô đã phải giải thích nhiều cho mọi người. Và cả ở đây, sự giải thích của Phê rô khẳng định mạnh mẽ sự gắn kết và vai trò trọng tâm của Chúa Giêsu Phục sinh trong toàn cảnh lịch sử cứu độ. Hãy nghe Phê rô nói với thính giả Do thái:
“Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacóp, Thiên Chúa các tổ phụ chúng ta, đã làm vinh danh Chúa Giêsu, Con của Ngài, Ðấng mà anh em đã nộp và chối bỏ trước mặt Philatô trong khi Philatô xét là phải tha cho Người”… Rồi Phê rô tiếp tục:
“Thiên Chúa đã hoàn tất việc Ngài dùng miệng các tiên tri mà báo trước rằng Ðức Kitô của Ngài phải chịu khổ hình”… Phêrô hăng hái dẫn lại những lời sách thánh liên quan tới Abraham, Mô sê, Samuen, vv… để chỉ ra rằng cả một lịch sử đã chuẩn bị cho biến cố Chúa Giêsu Kitô, mà cao trào của biến cố này là cuộc Vượt qua từ đau khổ Thập giá đến Phục sinh vinh quang.
Như thế, câu chuyện Chúa Giêsu Kitô không muốn đánh đố và làm khó ai cả. Không đánh đố người Do thái, dĩ nhiên rồi – nhưng cũng không đánh đố các dân các nước khác! Vì chỉ cần một chút cố gắng nhập vai người Do thái và đọc câu chuyện của họ, thì có thể nhận ra kế hoạch của Thiên Chúa cho cả nhân loại và lịch sử này, một nhân loại và lịch sử xoay quanh Chúa Giêsu và có Người là Đấng Cứu Độ duy nhất!
Đó là một phần rất quan trọng của lời rao giảng tiên khởi (kerygma) sau Phục sinh, còn hiệu lực mãi cho chúng ta!
Lm. Lê Công Đức
Vào cuối buổi Tiếp kiến chung sáng ngày 8/4/2026, Đức Thánh Cha Lêô XIV nói rằng ngài hài lòng và hoan nghênh thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ-Israel và Iran như dấu hiệu của niềm hy vọng tha thiết. Trước đó, tối ngày 7/4/2026, ngài đã kêu gọi trở lại bàn đàm phán để theo đuổi các giải pháp hòa bình, quan tâm đến những nạn nhân vô tội và khẳng định việc đe dọa toàn dân Iran là điều không thể chấp nhận.
Tổng thống Trump đã đe dọa rằng sẽ tiêu diệt “toàn bộ nền văn minh Iran” nếu Tehran không tuân thủ thời hạn do Nhà Trắng đặt ra để đạt được thỏa thuận mở lại eo biển Hormuz. Trước thời hạn Mỹ đưa ra, 8 giờ tối giờ EDT ngày 7/4/2026, tức khoảng 7 giờ sáng ngày 8/4/2026 giờ Việt Nam, hai bên tham chiến đã đạt được thỏa thuận ngừng bắn trong hai tuần. Theo thỏa thuận, các bên liên quan sẽ ngừng tấn công trong lúc đàm phán diễn ra.
“Chỉ thông qua việc quay trở lại đàm phán, chiến tranh mới có thể chấm dứt”
Trước khi chào các tín hữu nói tiếng Ý, Đức Thánh Cha nói: “Sau những giờ phút vô cùng căng thẳng này ở Trung Đông và trên toàn thế giới, tôi hoan nghênh với sự hài lòng và như một dấu hiệu của niềm hy vọng tha thiết về thông báo ngừng bắn hai tuần ngay lập tức. Chỉ thông qua việc quay trở lại đàm phán, chiến tranh mới có thể chấm dứt”.
Đức Thánh Cha mời gọi mọi người “hãy cầu nguyện trong thời điểm ngoại giao tế nhị này, với hy vọng rằng sự cởi mở đối thoại có thể trở thành công cụ để giải quyết các xung đột khác trên thế giới” và nhắc lại lời mời mọi người cùng tham gia Buổi Canh thức Cầu Nguyện vì Hòa Bình, sẽ được cử hành tại Đền thờ Thánh Phêrô vào thứ Bảy, ngày 11/4/2026.
Lời đe dọa hủy diệt toàn dân Iran “là điều thực sự không thể chấp nhận được!”
Tối ngày 7/4/2026, nói với các nhà báo chờ đợi ngài bên ngoài Villa Barberini ở Castel Gandolfo, trong bối cảnh lời đe dọa của Tổng thống Mỹ, Đức Thánh Cha cho biết ngài chỉ muốn nhắc lại một lần nữa điều ngài đã nói trong thông điệp Urbi et Orbi hôm Chúa Nhật, “kêu gọi tất cả những người thiện chí hãy luôn tìm kiếm hòa bình chứ không phải bạo lực, hãy bác bỏ chiến tranh – đặc biệt là một cuộc chiến mà nhiều người cho là bất công, đang tiếp tục leo thang và không giải quyết được vấn đề gì”.
Đức Thánh Cha nói rằng lời đe dọa hủy diệt toàn dân Iran “là điều thực sự không thể chấp nhận được. Chắc chắn có những vấn đề về luật pháp quốc tế ở đây, nhưng hơn thế nữa, đó là một vấn đề đạo đức liên quan đến lợi ích của toàn thể người dân”.
Ngài nêu bật những hậu quả sâu rộng của cuộc xung đột và nói rằng: “Chúng ta đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, một cuộc khủng hoảng năng lượng, và một tình hình bất ổn lớn ở Trung Đông, điều này chỉ càng làm gia tăng thêm lòng thù hận trên toàn thế giới”. Do đó, ngài kêu gọi: “Hãy quay lại bàn đàm phán. Chúng ta hãy nói chuyện. Chúng ta hãy tìm kiếm các giải pháp một cách hòa bình”.
Nhớ đến những nạn nhân vô tội trong cuộc xung đột
Đức Thánh Cha nhắc nhở mọi người về những nạn nhân bị tổn hại một cách bất công trong cuộc xung đột, đặc biệt là những người vô tội như trẻ em, người già, người bệnh. Ngài khẳng định rằng các cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng dân sự là vi phạm luật pháp quốc tế, và đó cũng là dấu hiệu của lòng thù hận, sự chia rẽ và sự tàn phá mà con người có khả năng gây ra”.
Đức Thánh Cha kết thúc với lời kêu gọi: “Tôi kêu gọi công dân của tất cả các quốc gia liên quan hãy liên hệ với chính quyền – các nhà lãnh đạo chính trị, các nghị sĩ – để yêu cầu họ, để nói với họ, hãy nỗ lực vì hòa bình và bác bỏ chiến tranh và bạo lực. Xin chân thành cảm ơn”.
Ngày 13/4/2026 Đức Thánh Cha Lêô XIV sẽ bắt đầu viếng thăm châu Phi. Đầu tiên, ngài sẽ thăm Algeria, từ ngày 13-15/4/2026, nơi cộng đoàn Công giáo chỉ chiếm 0,2% trong tổng số 47,7 triệu dân, với 98% là người Hồi giáo. Sau đó, từ ngày 15 đến 18/4/2026, ngài sẽ thăm Camerun, nơi tín hữu Công giáo chiếm hơn 30% trong tổng số khoảng 31 triệu dân. Sau đó, ngài sẽ thăm Angola và Guinea Xích Đạo.
Algeria
Theo chương trình, từ 13-15/4/2026, Đức Thánh Cha sẽ thăm hai thành phố Algiers và Annaba của Algeria.
Algeria nằm ở Bắc Phi và là quốc gia có diện tích lớn nhất châu Phi; phía đông bắc giáp Tunisia, đông giáp Libya, đông nam giáp Niger, tây nam giáp Mali và Mauritania, và tây giáp Maroc và Tây Sahara. Thủ đô nước này là Algiers, thành phố lớn nhất nước.
Algeria cổ xưa được cai trị bởi vương quốc Berber Numidia và Mauretania, trước khi chịu ảnh hưởng của Phơnixia và sau đó là sự cai trị của đế quốc Roma. Đến thế kỷ thứ 7, người Ả Rập đã chinh phục nước này. Từ năm 1516-1830, Algeria trở thành một tỉnh tự trị trong đế quốc Hồi giáo Ottoman. Năm 1830, Algeria chịu sự cai trị của Pháp và chính thức sáp nhập vào Pháp năm 1848; từ đó nhiều người châu Âu đã đến định cư tại đây. Dân bản địa bị gạt ra ngoài lề về chính trị và kinh tế, dẫn đến sự kháng cự mạnh mẽ. Sau cuộc chiến tranh giành độc lập khốc liệt (1954-1962), Algeria giành được tự do vào ngày 5/7/1962.
Logo và khẩu hiệu của chuyến viếng thăm
Logo cho chuyến viếng thăm Algeria, từ ngày 13-15/4/2026, lấy cảm hứng từ một bức phù điêu cổ, có hình hai con chim bồ câu đang uống nước từ cùng một chiếc cốc, biểu tượng của hòa bình và sự hiệp thông, cùng với biểu tượng “Chi Rho” của Kitô giáo và bản đồ Algeria.
Màu xanh lá cây, đỏ và trắng gợi nhớ đến quốc kỳ Algeria, trong khi màu vàng tượng trưng cho cờ Vatican. Ở trung tâm và phía dưới là khẩu hiệu bằng tiếng Ả Rập, tiếng Amazigh và tiếng Pháp: “La paix soit avec vous” (“Bình an ở cùng anh chị em”), được dịch sang tiếng Ả Rập với lời chào “Assalamu Alaykom”.
Logo thể hiện sự đối thoại và gặp gỡ giữa Kitô hữu và người Hồi giáo, đồng thời là lời mời gọi toàn cầu cùng chung sống trong hòa bình, tình huynh đệ và sự hòa thuận.
Giáo hội Algeria bé nhỏ nhưng hiện diện mạnh mẽ về mặt thể chế
Theo Niên giám Tòa Thánh năm 2025, số tín hữu Công giáo tại Algeria chỉ có khoảng 8.700 tín hữu, chiếm khoảng 0,2% tổng dân số. Tuy là một trong những cộng đồng Công giáo nhỏ nhất ở châu Phi xét về tỷ lệ, Giáo hội Công giáo Algeria vẫn duy trì sự hiện diện rõ ràng về cơ cấu và đời sống phụng vụ. Thành phần tín hữu chủ yếu là người nước ngoài, sinh viên đến từ vùng châu Phi cận Sahara, người lao động nhập cư và nhân viên ngoại giao. Mặc dù có một số người Công giáo bản địa Algeria, nhưng vẫn rất ít, một phần vì việc cải đạo từ Hồi giáo là vấn đề nhạy cảm về mặt xã hội và bị pháp luật quy định chặt chẽ. Vì thế, vai trò của Giáo hội tại Algeria mang tính chất “chất lượng” hơn là “số lượng”.
Về tổ chức, Giáo hội tại Algeria được chia thành bốn giáo phận. Tổng giáo phận Algiers được thành lập như một giáo phận vào năm 1838 và sau khi sáp nhập với giáo phận Giulia Xêdarê, Algiers trở thành một tổng giáo phận vào năm 1866. Tổng giáo phận có 4.200 tín hữu trong khu vực hơn 12,8 triệu dân, do Đức Hồng y Jean-Paul Vesco, dòng Đaminh, lãnh đạo từ năm 2021.
Ba giáo phận còn lại là Constantino (bao gồm Annaba – thành phố Hippo cổ), có 690 tín hữu trong tổng số 16 triệu dân; Laghouat, có 2.320 tín hữu trong tổng số gần 5,5 triệu dân; và Oran, có 1.530 tín hữu Công giáo trong tổng số 11 triệu dân.
Giáo hội Algeria điều hành 14 cơ sở giáo dục và 18 cơ sở bác ái. Trong năm 2024, cả nước có 21 người được rửa tội.
Bao gồm 29 giáo xứ và 5 nhà thờ cứ điểm truyền giáo rải rác trên lãnh thổ rộng lớn, với 11 linh mục triều, 48 linh mục dòng, 1 phó tế vĩnh viễn, 2 chủng sinh, 20 tu sĩ nam và 105 nữ tu, đời sống mục vụ tại Algeria mang tính linh hoạt, gần gũi và dựa trên tương quan cá nhân hơn là các chương trình quy mô lớn. Chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha tới Algiers và Annaba được xem là dịp thu hút sự chú ý của thế giới đối với một Giáo hội hoạt động âm thầm nhưng bền bỉ.
Algeria: miền đất của Thánh Augustinô
Algeria cũng là vùng đất gắn liền với lịch sử Kitô giáo cổ đại, đặc biệt là với Thánh Augustinô, Giám mục thành Hippo từ năm 395 đến 430, một trong những nhà thần học quan trọng nhất của Giáo hội. Thành phố Annaba ngày nay, là thành Hippo cổ đại, vẫn lưu giữ những dấu tích liên hệ đến ngài, trong đó có Đền thánh Thánh Augustinô. Tuy nhiên, sau các cuộc chinh phục Ả Rập vào thế kỷ VII, Kitô giáo dần suy giảm và không còn là tôn giáo đa số. Sự hiện diện Công giáo ngày nay phần lớn là kết quả của thời kỳ thuộc địa Pháp, chứ không phải là sự tiếp nối trực tiếp của cộng đoàn cổ xưa.
Thăm Algeria, Đức Thánh Cha đến một vùng đất đóng vai trò trung tâm trong lịch sử tư tưởng Kitô giáo nhưng ngày nay lại là nơi sinh sống của một trong những cộng đồng Công giáo nhỏ nhất ở châu Phi.
Giáo hội của các vị tử đạo trong thập niên 1990
Một dấu ấn quan trọng trong đời sống Giáo hội tại Algeria là ký ức về các vị tử đạo trong cuộc nội chiến những năm 1990. Nhiều linh mục và tu sĩ đã bị sát hại, nổi bật là vụ thảm sát tại đan viện Tibhirine năm 1996 và cái chết của Đức cha Pierre Claverie của Oran. Năm 2018, 19 tu sĩ tử đạo đã được phong chân phước tại Oran, trong một nghi thức có sự tham dự của cả các lãnh đạo Hồi giáo, như một dấu chỉ hòa giải dân tộc. Các vị tử đạo được ghi nhớ không như những nhân vật chính trị, mà là những người đã chọn ở lại với dân chúng trong thời điểm nguy hiểm, trở thành chứng tá sống động cho tình liên đới và lòng trung thành. Đối với nhiều người Công giáo ở Algeria, các vị tử đạo không phải là những nhân vật xa vời mà là một phần của lịch sử cộng đồng sống động.
Sự hiện diện chứng tá của Giáo hội
Algeria có hơn 98% dân số trong tổng số 47,7 triệu dân theo Hồi giáo Sunni. Hiến pháp Algeria công nhận Hồi giáo là quốc giáo, đồng thời khẳng định tự do lương tâm và tín ngưỡng, nhưng việc thực hành tôn giáo của những người không theo đạo Hồi phải tuân theo các quy định cụ thể. Các cộng đoàn ngoài Hồi giáo phải đăng ký địa điểm thờ phượng và bị hạn chế trong việc truyền giáo, đặc biệt là cho người Hồi giáo. Việc truyền giáo công khai nhắm vào người Hồi giáo bị cấm, và việc cải đạo từ Hồi giáo có thể gây ra những hậu quả về mặt xã hội và gia đình. Do đó, Giáo hội Công giáo tại đây không tập trung vào việc gia tăng số lượng tín hữu mà nhấn mạnh đến sự hiện diện chứng tá, đối thoại liên tôn, giáo dục, y tế và phục vụ xã hội. Cách tiếp cận này phù hợp với tinh thần của Công đồng Vatican II về đối thoại giữa các tôn giáo.
Trong bối cảnh là một cộng đoàn thiểu số, đối thoại liên tôn trở thành sứ mạng cốt lõi của Giáo hội. Các linh mục và tu sĩ thường xuyên tham gia vào các hoạt động học thuật, văn hóa và xã hội nhằm xây dựng sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau với người Hồi giáo. Những địa điểm như Đền thờ Đức Mẹ Châu Phi tại Algiers mang ý nghĩa biểu tượng cho sự chung sống hòa bình giữa các tôn giáo. Lòng sùng kính Đức Mẹ ở Bắc Phi đôi khi đóng vai trò như một cầu nối văn hóa chung, mặc cho những khác biệt về thần học vẫn còn sâu sắc. Uy tín của Giáo hội không đến từ sức mạnh tổ chức mà từ các mối tương quan và sự tin tưởng.
Mặc dù nhỏ bé, Giáo hội Công giáo ở Algeria vẫn duy trì các hoạt động giáo dục và bác ái thông qua các dòng tu, dù phải đối mặt với những hạn chế và đôi khi bị đóng cửa một số cơ sở do quy định hành chính. Tuy nhiên, thay vì đối đầu, Giáo hội chọn con đường kiên trì, tuân thủ pháp luật và tiếp tục sứ mạng phục vụ một cách âm thầm.
Chuyến thăm của Đức Giáo hoàng Lêô XIV vì thế mang ý nghĩa mục vụ và biểu tượng sâu sắc. Ngài không đến với một Giáo hội đông đảo hay có ảnh hưởng xã hội lớn, mà đến với một cộng đoàn nhỏ bé, sống đức tin trong âm thầm, kiên trì và trung tín giữa những giới hạn.
Camerun

Logo và khẩu hiệu chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha tại Camerun
Chặng thứ hai trong chuyến tông du của Đức Thánh Cha tại châu Phi sẽ là Camerun. Theo chương trình, ngài sẽ thăm nước này từ ngày 15 đến 18/4/2026, với các điểm dừng tại thủ đô Yaoundé và hai tổng giáo phận lớn là Douala và Bamenda.
Camerun nằm ở phía tây của khu vực Trung Phi, phía tây giáp Nigeria, đông bắc giáp Cộng hòa Chad, đông giáp Cộng hòa Trung Phi, nam giáp Guinea Xích đạo, Gabon và Cộng hòa Congo.
Quốc gia này có lịch sử đa dạng, chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa và cường quốc châu Âu. Trước thời kỳ thuộc địa, khu vực này là nơi sinh sống của nhiều vương quốc và cộng đồng bản địa. Cuối thế kỷ XIX, nước này trở thành thuộc địa của Đức (1884). Sau Chiến tranh Thế giới I, lãnh thổ bị chia cho Pháp và Anh quản lý theo chế độ ủy trị.
Năm 1960, Camerun thuộc Pháp giành độc lập, và năm 1961, phần lãnh thổ do Anh quản lý sáp nhập một phần vào quốc gia mới. Từ đó, nước này phát triển như một nhà nước thống nhất nhưng vẫn mang dấu ấn song ngữ Pháp–Anh. Dù trải qua nhiều giai đoạn chính trị phức tạp và xung đột khu vực, đặc biệt ở vùng nói tiếng Anh, Camerun vẫn duy trì vai trò là một quốc gia quan trọng tại Trung Phi với bản sắc văn hóa đa dạng.
Logo và khẩu hiệu của chuyến viếng thăm
Logo bao gồm sáu biểu tượng mang ý nghĩa thiêng liêng và mục vụ. Nổi bật là hình bản đồ Camerun với màu sắc quốc kỳ, thể hiện thông điệp Đức Thánh Cha muốn truyền đạt cho toàn thể quốc gia. Ở góc trên bên phải là hình bóng Đức Thánh Cha, tượng trưng cho sự hiện diện và sứ vụ mục tử của ngài tại đất nước Trung Phi này. Đức Tổng Giám mục Nkea nhấn mạnh: “Đức Thánh Cha không chỉ đến đây vì các Kitô hữu. Ngài đến vì tất cả người dân Camerun”.
Ở góc trên bên trái của bản đồ là Thánh giá, nhấn mạnh chiều kích mục vụ của chuyến tông du. Bên dưới Thánh giá có biểu tượng của Đức Maria, Thánh bổn mạng của Camerun. Ở trung tâm bản đồ là hình chim bồ câu tượng trưng cho Chúa Thánh Thần, với các tia sáng lan tỏa khắp đất nước như dấu chỉ của hy vọng và sự hiệp nhất.
Tất cả các biểu tượng này được đặt trên một sách Kinh Thánh mở với dòng chữ “Xin cho tất cả nên một”, gợi lại lời cầu nguyện của Đức Kitô cho sự hiệp nhất giữa các môn đệ. Đây cũng là lời mời gọi hòa giải trong bối cảnh xã hội còn nhiều chia rẽ.
Cuối cùng, toàn bộ được bao quanh bởi một hình bán nguyệt, ở phía dưới có dòng chữ: “In illo uno unum” (Trong Đấng duy nhất chúng ta là một), gợi nhớ đến câu châm ngôn của Đức Thánh Cha.
Việc công bố logo, khẩu hiệu và lời cầu nguyện chính thức đánh dấu bước quan trọng trong quá trình chuẩn bị cho chuyến tông du. Giáo hội tại Camerun kêu gọi các tín hữu hiệp nhất trong lời cầu nguyện để chuẩn bị cho sự kiện đặc biệt của Giáo hội.
Dân số Công giáo đông đảo và ổn định
Nếu Algeria đại diện cho Giáo hội như một thiểu số đang hoạt động trong một xã hội đa số theo Hồi giáo, thì Camerun lại thể hiện một bức tranh Giáo hội khác. Giáo hội Công giáo nước này có quy mô dân số đáng kể, vị thế vững chắc, tầm ảnh hưởng xã hội và sự quan tâm chính trị. Số tín hữu Công giáo gần 10 triệu tín hữu, chiếm khoảng hơn 30% trong tổng số khoảng 31 triệu dân. Điều này giúp Giáo hội có vị thế nổi bật trong đời sống quốc gia. Mạng lưới giáo xứ phát triển rộng khắp, các phong trào giáo dân hoạt động tích cực ở cả thành thị và nông thôn. Dù tốc độ tăng trưởng không bùng nổ, nhưng đời sống Giáo hội ổn định và được nâng đỡ bởi ơn gọi linh mục và tu sĩ.
Tại Camerun, Đức Thánh Cha sẽ gặp gỡ một cộng đoàn dân Chúa không co cụm hay đứng ngoài cuộc, mà hoàn toàn hòa nhập vào xã hội quốc gia.
Giáo hội được tổ chức thành 5 giáo tỉnh lớn: Yaoundé, Douala, Bamenda, Garoua và Bertoua, dưới sự điều phối của Hội đồng Giám mục quốc gia. Mỗi khu vực phản ánh những đặc điểm mục vụ riêng, từ trung tâm chính trị đến vùng xung đột. Việc Đức Thánh Cha thăm nhiều giáo phận cho thấy sự đa dạng và phức tạp của Giáo hội tại Camerun.
Yaoundé là thủ đô chính trị và đóng vai trò là trung tâm chiến lược cho sự tương tác giữa Giáo hội và nhà nước. Đức Thánh Cha sẽ gặp gỡ chính quyền và cử hành Thánh lễ tại nơi biểu tượng cho sự hiệp nhất quốc gia.
Trong khi đó, tại Douala, trung tâm kinh tế của đất nước, Giáo hội phải đối diện với các vấn đề đô thị như thất nghiệp, di cư và bất bình đẳng. Đây là nơi thể hiện rõ vai trò xã hội của Giáo hội trong bối cảnh hiện đại hóa. Tổng giáo phận Douala đã lên tiếng mạnh mẽ về các vấn đề quốc gia, và giới lãnh đạo của họ thường có thẩm quyền đạo đức vượt ra ngoài ranh giới giáo hội.
Tại Bamenda, vùng chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng vùng nói tiếng Anh, các giáo xứ trong khu vực đã trải qua những gián đoạn và các giáo sĩ đã phải đối mặt với những rủi ro về an ninh. Giáo hội đã kêu gọi đối thoại, ngừng bắn và bảo vệ thường dân. Sự hiện diện của Đức Thánh Cha sẽ mang ý nghĩa biểu tượng, thể hiện sự liên đới với các cộng đồng bị ảnh hưởng bởi bạo lực và nhấn mạnh mối quan tâm của Giáo hội đối với hòa bình.
Lịch sử truyền giáo và bản địa hóa
Hoạt động truyền giáo ở Camerun bắt đầu từ thế kỷ XIX dưới thời thuộc địa, đặc biệt là dưới thời chính quyền thuộc địa Đức và sau đó là Pháp và Anh. Các nhà truyền giáo đã thành lập trường học, phòng khám và giáo xứ, trở thành nền tảng cho các cộng đồng địa phương.
Qua thời gian, vai trò lãnh đạo Giáo hội đã chuyển từ các hội dòng truyền giáo sang hàng giáo sĩ địa phương. Ngày nay, Giáo hội Camerun được dẫn dắt bởi chính người Camerun, tạo nên một cộng đoàn trưởng thành, tự tin và gắn bó với xã hội.
Ký ức lịch sử về sự hy sinh của các nhà truyền giáo và sự kiên trì của người dân địa phương vẫn định hình căn tính Công giáo ở Camerun. Do đó, các chuyến thăm của Giáo hoàng không phải là những can thiệp từ bên ngoài mà là những khoảnh khắc hiệp thông trong một thể chế Giáo Hội đã trưởng thành.
Vai trò của Giáo hội trong giáo dục và y tế
Giáo hội Camerun là một trong những lực lượng hàng đầu trong lĩnh vực giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Các trường học và bệnh viện Công giáo hiện diện rộng khắp, thường được đánh giá cao về kỷ luật và thành tích. Giáo hội cũng tài trợ cho các cơ sở giáo dục đại học và các trường cao đẳng sư phạm, đặc biệt ở những nơi hệ thống công còn yếu. Các bệnh viện và phòng khám Công giáo phục vụ cả các trung tâm đô thị và vùng sâu vùng xa. Ở những vùng mà hệ thống y tế công cộng quá tải, các cơ sở do Giáo hội Công giáo điều hành thường lấp đầy những khoảng trống dịch vụ.
Dấu ấn xã hội này mang lại cho Giáo hội Công giáo ảnh hưởng nhưng cũng cả trách nhiệm. Giáo hội phải đàm phán các khuôn khổ pháp lý, duy trì các tiêu chuẩn chất lượng và quản lý tính bền vững tài chính. Tại Camerun, uy tín của Giáo hội được đo lường bằng cả việc cung cấp dịch vụ lẫn sức sống phụng vụ.
Tham gia vào đời sống chính trị – xã hội
Các giám mục Camerun luôn tham gia vào các cuộc thảo luận công khai về quản trị, bầu cử, tham nhũng và đoàn kết quốc gia. Các thư mục vụ được ban hành xung quanh các chu kỳ bầu cử thường nhấn mạnh tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia hòa bình.
Mặc dù không hoạt động như một đảng chính trị, nhưng Giáo hội hoạt động như một tiếng nói đạo đức. Những tuyên bố của Giáo hội có thể thu hút cả sự ủng hộ của công chúng và sự giám sát của chính phủ.
Trong bối cảnh khủng hoảng tại các vùng nói tiếng Anh, đặc biệt là Bamenda, Giáo hội đóng vai trò trung gian kêu gọi đối thoại. Các giám mục ở các khu vực bị ảnh hưởng, đặc biệt là ở Bamenda, đã kêu gọi đối thoại và bảo vệ thường dân. Tuy nhiên, điều này cũng khiến Giáo hội phải cân bằng giữa vai trò luân lý và áp lực chính trị.
Thách đố về đa dạng văn hóa và tôn giáo
Camerun được gọi là “châu Phi thu nhỏ” với sự đa dạng ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo. Giáo hội phải phục vụ khắp các vùng nói tiếng Pháp và tiếng Anh, trong bối cảnh thành thị và nông thôn, và với nhiều bản sắc dân tộc khác nhau. Các nghi lễ có thể kết hợp ngôn ngữ và âm nhạc địa phương trong khi vẫn duy trì sự thống nhất về giáo lý.
Tại Camerun, sự cạnh tranh giữa các Giáo hội Kitô đặt ra những thách thức mục vụ. Giáo hội Công giáo phải thể hiện căn tính của mình trong một môi trường mà việc thờ phượng theo phong cách thần bí và thuyết giảng về sự thịnh vượng đang thu hút nhiều tín đồ.
Sự chung sống hòa bình với các cộng đồng Hồi giáo, đặc biệt là ở các vùng phía bắc, vẫn là một yếu tố quan trọng đối với sự ổn định quốc gia. Giáo hội thường xuyên hợp tác với các nhà lãnh đạo Hồi giáo để thúc đẩy hòa bình và chống lại chủ nghĩa cực đoan.