Thánh Lễ Phong Thánh Cho Carlo Acutis và Pier Giorgio Frassati (7/9/2025)

Sáng Chúa Nhật ngày 7/9, Đức Thánh Cha đã dâng Thánh Lễ phong thánh cho hai chân phước trẻ Pier Giorgio Frassati và Carlo Acutis, với sự tham dự của khoảng 80 ngàn tín hữu, đặc biệt có ba mẹ và các em của Carlo Acutis và gia đình của Pier Giorgio Frassati.

Bài giảng của Đức Thánh Cha Lêô XIV

Anh chị em thân mến,

Trong bài đọc I, chúng ta đã nghe một câu hỏi: “Ý định của Chúa, nào ai biết được, nếu tự chốn cao vời, chính Ngài chẳng ban Đức Khôn Ngoan, chẳng gửi thần khí thánh?” (Kn 9,17). Câu hỏi này trong bài đọc chúng ta vừa được nghe thật là ý nghĩa sau khi hai chân phước trẻ, Pier Giorgio Frassati và Carlo Acutis, được tuyên phong hiển thánh. Thật là sự quan phòng, vì trong Sách Khôn Ngoan, câu hỏi ấy được đặt nơi môi miệng của một người trẻ như họ: vua Salômôn.

Sau khi vua Đavít, thân phụ của vua, qua đời, Salômôn nhận thấy mình có rất nhiều thứ: quyền lực, giàu sang, sức khỏe, tuổi trẻ, sắc đẹp, cả một vương quốc. Nhưng chính sự dư dật ấy đã khơi dậy trong lòng ông một câu hỏi: “Tôi phải làm gì để không đánh mất tất cả?”. Và ông đã hiểu rằng con đường duy nhất để tìm ra câu trả lời chính là xin Chúa ban cho một ân huệ lớn hơn: sự Khôn Ngoan của Người, để biết được chương trình của Người và trung tín gắn bó với Người. Ông nhận ra rằng chỉ như thế mọi sự mới tìm được vị trí trong kế hoạch lớn lao của Thiên Chúa. Thật vậy, nguy cơ lớn nhất trong đời người là phung phí cuộc đời của mình ngoài dự án của Thiên Chúa.

Trong Tin Mừng, chính Chúa Giêsu cũng nói với chúng ta về một dự án cần phải gắn bó trọn vẹn. Người phán: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,27); và còn nói: “ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được” (c. 33). Người kêu gọi chúng ta bước vào cuộc phiêu lưu mà Người đề nghị, với sự khôn ngoan và sức mạnh đến từ Thánh Thần, những điều chúng ta có thể đón nhận trong mức độ chúng ta biết lột bỏ chính mình, từ bỏ những gì chúng ta bám víu, để lắng nghe Lời Người.

Biết bao người trẻ, suốt dòng lịch sử, đã phải đối diện với ngã rẽ này trong đời. Chúng ta hãy nghĩ đến Thánh Phanxicô Assisi: cũng như Salômôn, ngài là người trẻ giàu có, khao khát vinh quang và danh vọng. Vì thế, ngài đã lên đường đi chiến trận, hy vọng được phong làm “kỵ sĩ” và được che phủ bằng danh dự. Nhưng Chúa Giêsu đã hiện ra với ngài trên đường, khiến ngài suy nghĩ lại về những gì mình đang làm. Khi hồi tâm, thánh Phanxicô đã thưa với Chúa một câu hỏi đơn sơ: “Lạy Chúa, Ngài muốn con làm gì?”[1]. Từ đó, ngài quay ngược lại con đường cũ, bắt đầu viết nên một câu chuyện khác: câu chuyện nên thánh kỳ diệu mà chúng ta đều biết, khi từ bỏ tất cả để theo Chúa (x. Lc 14,33), sống khó nghèo và thay vì vàng bạc cùng lụa là quý giá của thân phụ, ngài đã chọn tình yêu thương dành cho anh chị em, nhất là những người bé nhỏ và yếu đuối.

Và biết bao vị thánh khác mà chúng ta có thể nhớ đến! Đôi khi chúng ta hình dung các ngài như những nhân vật vĩ đại, mà quên rằng tất cả đã khởi đi từ một lời “xin vâng” khi các ngài còn trẻ, trao hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa, không giữ lại gì cho riêng mình. Thánh Augustinô kể rằng, giữa “mớ bòng bong rối ren” của đời mình, ngài đã nghe một tiếng gọi sâu thẳm: “Cha muốn con”[2]. Chính tiếng gọi ấy đã ban cho ngài một hướng đi mới, một lối sống mới, một logic mới, trong đó không điều gì trong cuộc đời ngài bị bỏ phí.

Trong khung cảnh ấy, hôm nay chúng ta chiêm ngắm Thánh Pier Giorgio Frassati và Thánh Carlo Acutis: một người trẻ của đầu thế kỷ XX và một thiếu niên của thời chúng ta, cả hai đều say mê Chúa Giêsu và sẵn sàng hiến dâng tất cả cho Người.

Pier Giorgio gặp Chúa nhờ học đường và các nhóm sinh hoạt trong Hội Thánh – như Công giáo Tiến hành, Hội Bác ái Thánh Vinh Sơn, phong trào sinh viên Công giáo, Dòng Ba Đa Minh – và làm chứng cho Chúa bằng niềm vui sống, bằng lời cầu nguyện, tình bạn và đức bác ái. Người ta thường thấy ngài đi khắp các nẻo đường Torino với xe đầy hàng hóa giúp người nghèo, đến nỗi bạn bè gọi ngài là “Frassati Vận tải”! Ngày nay, đời sống của Pier Giorgio vẫn là ánh sáng cho linh đạo giáo dân: đức tin đối với ngài không phải là một việc đạo đức riêng tư, nhưng là sức mạnh Tin Mừng thôi thúc, nhờ tham gia vào các hội đoàn Công giáo, để dấn thân quảng đại trong xã hội, góp phần vào đời sống chính trị, hết mình phục vụ người nghèo.

Còn về Carlo, ngài đã gặp Chúa trong gia đình, nhờ cha mẹ là Andrea và Antonia – hôm nay hiện diện nơi đây cùng hai người con khác là Francesca và Michele – rồi cả ở trường học, và nhất là trong các Bí tích, được cử hành trong cộng đoàn giáo xứ. Nhờ đó, Carlo đã lớn lên cách tự nhiên, đưa việc cầu nguyện, thể thao, học tập và bác ái vào đời sống hằng ngày của một thiếu niên.

Cả hai, Pier Giorgio và Carlo, đều nuôi dưỡng tình yêu dành cho Thiên Chúa và tha nhân qua những phương thế đơn sơ, ai cũng có thể thực hành: Thánh lễ hằng ngày, cầu nguyện, đặc biệt là Chầu Thánh Thể. Carlo thường nói: “Đứng trước mặt trời, người ta được rám nắng. Đứng trước Thánh Thể, người ta trở nên thánh!”. Và còn nói: “Buồn sầu là khi mắt hướng về chính mình, hạnh phúc là khi mắt hướng về Thiên Chúa. Hoán cải chỉ là đổi hướng nhìn từ nhìn xuống thành nhìn lên, chỉ cần một cái ngước nhìn”. Một điều thiết yếu khác là xưng tội thường xuyên. Carlo đã viết: “Điều duy nhất chúng ta thực sự phải sợ chính là tội lỗi”; và cậu ngạc nhiên vì – vẫn theo lời của cậu – “người ta lo lắng nhiều cho vẻ đẹp thể xác, mà lại không lo cho vẻ đẹp linh hồn”. Cả hai đều có lòng sùng kính lớn lao đối với các thánh và Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, và quảng đại thi hành bác ái. Pier Giorgio từng nói: “Quanh người nghèo và bệnh nhân, tôi thấy một ánh sáng mà chúng ta không có”[3]. Ngài gọi bác ái là “nền tảng của tôn giáo chúng ta” và, như Carlo, ngài đã thực thi bằng những việc nhỏ bé, cụ thể, thường ẩn giấu, sống đúng “sự thánh thiện ở ngay bên” mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắc đến (Tông huấn Gaudete et exsultate, 7).

Ngay cả khi bệnh tật ập đến và cắt ngắn tuổi đời, điều ấy cũng không ngăn họ yêu thương, dâng hiến cho Chúa, chúc tụng và cầu nguyện cho chính mình và cho mọi người. Có lần Pier Giorgio nói: “Ngày chết sẽ là ngày đẹp nhất trong đời tôi”[4]; và trên bức ảnh cuối cùng, chụp lúc ngài leo núi ở Val di Lanzo, với khuôn mặt hướng về phía đỉnh núi, ngài đã viết: “Hướng lên cao”[5]. Còn Carlo, khi còn trẻ hơn, thường nói rằng Thiên đàng vẫn luôn chờ đợi chúng ta, và rằng yêu ngày mai chính là dâng hoa trái tốt nhất hôm nay của chúng ta.

Anh chị em rất thân mến, thánh Pier Giorgio Frassati và thánh Carlo Acutis là lời mời gọi cho tất cả chúng ta, đặc biệt là giới trẻ, đừng phung phí cuộc đời, nhưng hãy hướng đời mình lên cao và biến nó thành một kiệt tác. Các ngài khích lệ chúng ta bằng chính lời của mình: “Không phải con, mà là Thiên Chúa”, Carlo nói thế. Và Pier Giorgio: “Nếu con lấy Thiên Chúa làm trung tâm của mọi hành động, con sẽ đi đến cùng”. Đây chính là công thức đơn sơ nhưng chắc chắn của sự thánh thiện nơi các ngài. Và cũng chính là chứng tá mà chúng ta được mời gọi bước theo, để tận hưởng trọn vẹn sự sống và đi đến gặp Chúa trong niềm hân hoan trên Thiên đàng.

Nguồn. Vatican News


Mừng Sinh Nhật Đức Mẹ  (08.9.2025 Thứ Hai Tuần XXIII Thường Niên)

Đoạn sách Mikha là lời tiên tri nói về vùng đất Bêlem Ephrata. Một phụ nữ sẽ sinh con ở đó. Và mảnh đất nhỏ bé nhất này sẽ là nơi “xuất hiện một Ðấng thống trị Israel, và nguồn gốc Người có từ nguyên thuỷ, từ muôn đời… Người sẽ nên cao trọng cho đến tận cùng trái đất… Người sẽ là chính sự bình an”. Ta nhận ra một tương phản: vùng đất nhỏ bé nhưng là nơi phát sinh con người vĩ đại, cao cả – đó là chính Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa làm người.

Sự tương phản như trên đã trở thành ‘lôgic’ của Thiên Chúa. Ngài dùng những cái bé nhỏ để làm những việc trọng đại. Sinh quán của Con Thiên Chúa thật bé nhỏ. Người mẹ của Con Thiên Chúa thật hèn mọn. Nhưng chính mối gắn kết với Chúa Giêsu đã làm cho cái bé nhỏ trở thành lớn lao. Đức Maria sẽ thốt lên: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả”! Tâm tình này vang âm lời Thánh vịnh 12: “Con sẽ hớn hở mừng trong Chúa… Xin cho lòng con hân hoan vì ơn Ngài cứu độ; con sẽ hát mừng Chúa, vì Ngài ban ân huệ cho con”…

Ân huệ then chốt nhất, điều cao cả nhất giữa những điều cao cả mà Thiên Chúa thực hiện nơi Đức Maria, đó là Mẹ sinh Con Thiên Chúa và do đó Mẹ là Mẹ Thiên Chúa! “”Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. Đây là nền tảng của ý nghĩa lễ mừng hôm nay: mừng sinh nhật của Mẹ. Ai cũng đã được sinh ra, được làm người, được có một cuộc đời. Và câu chuyện cuộc đời của người ta có ý nghĩa tuỳ ở mức độ gắn kết và thuộc về câu chuyện của Thiên Chúa, câu chuyện của Chúa Giêsu. Không ai gắn kết và thuộc về như thế cho bằng Đức Maria!

Mừng sinh nhật của Mẹ, vì thế, chính là mừng tình yêu cứu độ mà Thiên Chúa dành cho chúng ta, bởi Mẹ đã sinh Đấng Cứu Độ chúng ta và đã cộng tác với Người cho đến cùng. Mừng sinh nhật của Mẹ, chúng ta tri ân – tạ ơn Chúa, cảm ơn Mẹ – và phải có đời đời để diễn tả niềm tri ân này. Mừng sinh nhật của Mẹ, chúng ta cũng được nhắc để xem lại ý nghĩa mừng sinh nhật, tức ý nghĩa cuộc đời của chính mình.

Bằng cách nào chúng ta sẽ trao ý nghĩa cao nhất, tốt nhất cho sinh nhật, cho câu chuyện cuộc đời của chúng ta?

Lm. Lê Công Đức


Dính Bén (Suy Niệm Chúa Nhật XXIII Thường Niên C)

Là con người, ai trong chúng ta cũng mong muốn mình được yêu thương, quan tâm, nhất là được mọi người biết đến, tôn trọng. Nhưng để trở thành môn đệ của Chúa Giê-su, thì con người trước hết phải dứt bỏ các mối tương quan, thứ đến là vác thập giá đi theo Chúa,  cuối cùng là từ bỏ của cải, danh vọng…(Lc 14: 25-35)

Vậy, dứt bỏ các mối tương quan phải chăng là cắt đứt tình gia đình, bạn bè, đồng nghiệp thậm chí cả với cha mẹ, con cái, anh chị em mình thì mới có thể đi theo Chúa. Không phải như vậy! Điều Chúa mong muốn người môn đệ của Chúa là vượt trên những trở ngại, dính bén của bản thân mình, những cám dỗ làm chúng ta không đạt đến tình yêu đích thực là Yêu Chúa và Yêu Người. Ngài muốn chúng ta từ bỏ những ước muốn hạn hẹp để chọn Chúa trên hết và trước hết. Quả thật khi chúng ta ưu tiên chọn Chúa là duy nhất, trên hết và trước hết trong các mối tương quan của ta, thì khi đó chúng ta lại yêu thương người khác và bản thân mình hơn bao giờ hết.

Điều thứ hai là môn đệ của Chúa thì không thể không vác thập giá: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được”. Thập giá ở đây không phải là chúng ta tự mang lấy những đau khổ, dằn vặt trong cuộc sống, lúc nào cũng phải đau khổ, chiu đựng… mà là người môn đệ của Chúa, đi theo Chúa thì luôn có những chống đối, những khó khăn, thử thách và hy sinh ngay cả sinh mạng sống mình. Chúa Giê-su khẳng định, theo Chúa không có vinh quanh, danh dự, tiền bạc, tài sản mà một người bình thường mong muốn, nhưng ngược lại là những thập giá. Chính thập giá này mang lại cho chúng ta hạnh phúc đích thật.

Cuối cùng là từ bỏ của cải, danh vọng để làm môn đệ đích thực của Chúa. Quả thật, của cải luôn là những cám dỗ ngọt ngào, vì: “Tiền bạc, của cải có thể là một đầy tớ tốt, nhưng là một ông chủ xấu”. Cũng như trong dụ ngôn về người phú hộ giàu có, ta sẽ như thế nào nếu chỉ biết thu tích cho mình những của cải chóng qua? 

Ba điều trên Chúa Giê- su đòi buộc chúng ta sống và trở thành môn đệ của Ngài, chính là để chúng ta được sống dồi dào, sống trọn niềm vui, để chúng biết yêu thương người khác và yêu thương bản thân mình.

Chúa ơi, ai trong chúng con cũng muốn tích trữ cho mình thật nhiều, nhiều tương quan, của cải, danh vọng… Lạy Chúa, làm sao để con có thể buông bỏ mọi sự để thuộc về Chúa như Chúa mời gọi con. Xin hãy giặt sạch tâm hồn con khỏi những dính bén tội lỗi, cả những tham vọng về tình cảm, vật chất, danh vọng để thuộc trọn về Chúa. Lạy Chúa, xin cho con luôn biết chọn Chúa là đối tượng duy nhất của cuộc đời con. Amen

Sao Mai


Con Người Làm Chủ Cả Ngày Sa-Bat (06.9.2025 Thứ Bảy Tuần XXII Thường Niên)

“Tại sao các ông làm điều không được phép làm trong ngày Sa-bat?”

Câu chất vấn này nại đến luật lệ, qui ước phép tắc (propriety). Như người ta vẫn thường nói ‘cái này không được phép’ hay ‘cái kia được phép’, hoặc ‘làm thế này có được phép không?’, v.v… Nó hàm nghĩa tôn trọng cơ chế, trật tự có sẵn. Câu hỏi “tại sao làm điều không được phép?” thường là câu hỏi của cảnh sát, công an, của quyền lực cai trị. Ở một mức độ nào đó, nó cần thiết để bảo vệ cơ chế và trật tự. Nhưng luôn có nguy cơ người ta đặt luật lệ lên trên hết, hoặc chỉ biết có luật lệ và không quan tâm gì khác, ngay cả không quan tâm đến con người và phẩm giá cũng như các quyền căn bản của con người.

Tình trạng nệ luật của giới biệt phái và kinh sư thời Chúa Giêsu là một ví dụ. Nhân vật thanh tra Javert trong tiểu thuyết ‘Những người khốn khổ’ của Victor Hugo là một ví dụ khác. Luôn luôn có những nạn nhân khốn khổ của não trạng nệ luật đến mức phi nhân này, như Chúa Giêsu và đám đông dân chúng trong Phúc Âm, hay như nhân vật Jean Valjean trong truyện nói trên…

Vì thế, Chúa Giêsu dứt khoát chống lại thói nệ luật. Người tuyên bố “Con Người làm chủ cả ngày sa-bat”. ‘Con Người’ ở đây là chính Chúa Giêsu, với tất cả thẩm quyền của Người. Nhưng ‘Con Người’ ở đây cũng là mọi con người, với phẩm giá của con người luôn đáng được thượng tôn trên luật lệ và phép tắc. Chính Chúa Giêsu xác nhận: Ngày sa-bat được lập ra cho con người, chứ không phải con người cho ngày sa-bat!

Con đường của Chúa Giêsu và của các môn đệ Người là con đường tương quan liên vị/liên chủ thể trong yêu thương, chứ không phải con đường nệ luật. Và sự thánh thiện tuỳ vào phẩm chất tương quan yêu thương này (với Thiên Chúa và với con người) theo khuôn mẫu của chính Chúa Giêsu, chứ không phải dựa vào luật lệ. Như thánh Phaolô diễn tả rất hàm súc với các tín hữu Cô lô sê:

“Thiên Chúa đã giao hoà anh em trong xác thịt của Ðức Kitô, nhờ cái chết của Người, làm cho anh em nên thánh thiện, tinh tuyền, không có gì đáng trách trước mặt Người, miễn là anh em được xây dựng, kiên trì trong đức tin, bền vững và không lay chuyển khỏi lòng trông cậy vào Tin Mừng”.

Ngày nay, cũng như bất cứ thời nào, chúng ta dễ bị cuốn bởi não trạng nệ luật đến mức phi nhân, do bởi thiếu tôn trọng nhân phẩm và nhân quyền của những người yếu thế, hoặc do bởi tinh thần thực dụng thể hiện nơi xu hướng muốn dẫn dụ và dùng người ta như một công cụ để được việc của mình… Ta cần nhớ rằng xem thường con người là xem thường hình ảnh Thiên Chúa, do đó cũng là xem thường Thiên Chúa – điều này hoàn toàn xa lạ với con đường của Chúa Giêsu Kitô, Đấng đi tìm cho được từng con chiên lạc, và không chấp nhận việc nhân danh xã hội để vùi dập một cá nhân, bất cứ cá nhân nào!

Lm. Lê Công Đức


Ý Nghĩa Của Các Hình Ảnh Chàng Rể, Áo Mới, Rượu Mới (05.9.2025 Thứ Sáu Tuần XXII Thường Niên)

Bạn hãy đọc hay nghe kỹ những câu trong Thư Cô lô sê hôm nay, sẽ thấy có thể tóm kết lại trong một cụm từ là: CHÚA GIÊSU KITÔ!

Vâng, Chúa Giêsu Kitô là “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” và nguyên lý của tất cả. Tất cả nhờ Người. Tất cả đạt viên mãn nơi Người. Bởi máu Người đã đổ ra trên Thập giá, Người đem lại sự giao hoà giữa Thiên Chúa và muôn loài thụ tạo, và đem lại sự bình an dưới đất cũng như trên trời! Đó là ý nghĩa của ‘qui Kitô’.

Chính Chúa Giêsu cũng một cách tế nhị xác nhận với chúng ta rằng ‘qui Kitô’ là điều thiết yếu, điều chính đáng và phải đạo. Như trong câu chuyện bài Tin Mừng hôm nay: Người ta chất vấn tại sao các môn đệ Người không ăn chay, Chúa Giêsu đã trả lời rằng lý do vì ‘Chàng Rể’ đang có mặt với họ. Người là Chàng Rể ấy. Mọi chọn lựa thực hành và mọi giá trị đều qui chiếu đến Người.

Bên cạnh hình ảnh ‘chàng rể’, Chúa Giêsu còn dùng hình ảnh ‘áo mới’ và ‘rượu mới’ để khắc hoạ rõ rằng sự có mặt của Người là yếu tố mới mẻ, đòi mọi sự phải thích nghi. Không thích nghi với yếu tố mới mẻ này là không phù hợp, và không phù hợp thì sẽ lạc điệu, lỗi nhịp, và sẽ tự đào thải!

Đó là ý nghĩa của mọi cuộc canh tân trong Giáo hội, cũng như mọi nỗ lực của Giáo hội góp phần đổi mới xã hội và thế giới. Đức Kitô hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Đức Kitô đang sống. Người luôn luôn mới mẻ. Người luôn là con đường, sự thật và sự sống. Để đón nhận và hấp thu tinh thần, sức sống của Người, chúng ta phải thoát khỏi lối mòn, khỏi sự trì trệ do nếp nghĩ bảo thủ cực đoan, thoát khỏi cái cám dỗ “rượu cũ thì ngon hơn”.

Giáo hội và thế giới của chúng ta đang rất cần đổi mới, đang có bao vấn đề cần giải quyết để phù hợp với Đức Kitô hơn. Và nếu bạn không góp phần giải quyết vấn đề, thì bạn sẽ trở thành một phần của vấn đề. Ta hiểu tại sao một Giáo hội đồng hành đồng nghị là một Giáo hội tham gia. Mọi chi thể của Thân Thể Chúa Giêsu Kitô đều có chỗ trong công cuộc xây dựng Nước của Người.

Lm. Lê Công Đức


Kính Mừng Sinh Nhật Mẹ

Chúng con nay kỷ niệm

Mừng ngày Mẹ chào đời

Ôi quả phúc tuyệt vời

Đức Trinh Nữ Maria

Hôm nay mừng kỷ niệm

Mẹ Chúa Trời sinh ra

Từ chi tộc Giuđa

Con cháu nhà Đavít

Hân hoan mừng kỷ niệm

Mẹ Chúa Trời Ngôi Hai

Mừng Đức Nữ Trinh Thai

Đấng khiêm nhường kiều diễm

Hoan ca mừng kỷ niệm

Sinh nhật Đức Maria

Lòng Mẹ rất bao la

Thương đoàn con dương thế

Từ ngàn xưa kỷ niệm

Nơi dòng tộc Giêsê

Một tỳ nữ vâng nghe

Lời Thiên Thần loan báo

Hoàn vũ mừng kỷ niệm

Đức Trinh Nữ hiển vinh

Hiền Mẫu Đấng Cứu Tinh

Đấng tiêu diệt thần chết

Đón chào sinh nhật Mẹ

Trời đất ngập ánh quang

Vang khúc hát Thiên Đàng

Mừng Bình Minh cứu độ

Anna Đào Nguyễn


Được Gặp, Được Đi Theo Chúa, Được Chúa Cứu Độ Và Sai Đi (04.9.2025 Thứ Năm Tuần XXII Thường Niên)

“Thiên Chúa đã cứu chúng ta thoát khỏi quyền lực u tối, đem chúng ta về nước Con yêu dấu của Ngài, trong Người chúng ta được ơn cứu rỗi nhờ máu Người”. Lời này của thánh Phaolô là TIN MỪNG đó. Chúng ta bị khống chế bởi ‘quyền lực u tối’, chúng ta không thể tự cứu mình, chúng ta cần được cứu, và Thiên Chúa đã cứu chúng ta nhờ máu Chúa Kitô, để đưa chúng ta vào Nước của Người! Vì thế, Tin Mừng Kitô giáo là Tin Mừng ơn cứu độ.

Thánh vịnh 97 ‘hoà âm’ với Tin Mừng ấy: “Chúa đã công bố ơn cứu độ của Ngài… Ngài nhớ lại lòng nhân hậu và trung thành để sủng ái nhà Israel”. Và không chỉ ‘nhà Israel’, mà mọi dân nước đều được bao gồm trong ơn cứu độ ấy: “Trước mặt chư dân, Ngài tỏ rõ công lý… Khắp nơi bờ cõi địa cầu đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Toàn thể địa cầu hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hỉ, mừng vui và đàn ca”…

Câu chuyện ‘đưa thuyền ra chỗ nước sâu’ và bắt được đầy cá đến độ gần rách lưới đã dẫn đến kinh nghiệm rất thâm sâu này của Simon và cũng là của các bạn dân chài hôm ấy: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là người tội lỗi!” Simon được mở lòng trí để biết Chúa Giêsu là ai và biết mình là ai. Ông nói “xin tránh xa con” vì ông ý thức khoảng cách nghìn trùng giữa mình với Chúa. Vô hình trung, “xin tránh xa con” lại có nghĩa rằng ‘Chúa ơi, con cần Chúa, chỉ có Chúa mới là sự cứu rỗi của con’…

Và Chúa Giêsu đã không tránh xa, nhưng càng sáp lại gần Simon và các đồng môn của ông. Các ông không chỉ được đi theo Chúa Giêsu, được sờ chạm ơn cứu độ của mình, mà còn được mời gọi trở thành “những kẻ chinh phục người ta”, công bố ơn cứu độ ấy cho “khắp nơi bờ cõi địa cầu” nữa.

Đó là những môn đệ thừa sai thế hệ đầu tiên cách đây hai ngàn năm. Ngày nay đến lượt chúng ta đi vào kinh nghiệm cùng một ơn gọi và cùng một sứ mạng ấy.


Là Ánh Sáng Thì Không Sợ Bất Ngờ (02.9.2025 Thứ Ba Tuần XXII Thường Niên)

Tiếp tục đề tài cánh chung, Thư 1 Thêxalonica nói về tính bất ngờ: Ngày của Chúa đến bất ngờ như kẻ trộm vào ban đêm! Để đối phó với tính bất ngờ ấy, các tín hữu phải sống đúng căn tính của mình là “con cái của ánh sáng ban ngày”, bởi họ không thuộc về ban đêm, không thuộc về bóng tối!

Đó là phong cách sống của những người hy vọng, tin tưởng rằng mình “sẽ nhìn thấy những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh”. Họ không nao núng, nhưng mạnh mẽ tuyên xưng: “Chúa là ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, tôi sợ chi ai? Chúa là thành luỹ bảo vệ đời tôi, tôi sợ gì ai?” (x. Tv 27). Lời Thánh vịnh này hoàn toàn phù hợp để diễn đạt đức cậy Kitô giáo.

Câu chuyện Chúa Giêsu tại hội đường Capharnaum cũng là một bức tranh tương phản giữa bóng tối và ánh sáng. Người kia bị khống chế bởi thần ô uế, đó là bóng tối. Anh ta gào lên: “Hỡi Giêsu Nadaret, chúng ta có liên quan gì nhau đâu mà ông đến để tiêu diệt chúng tôi? Chúng tôi biết ông là ai rồi, ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa!” Thần ô uế tinh ranh xem chừng dùng chiến thuật điều đình…

Nhưng Chúa Giêsu đã quát bảo nó: “Im đi, và hãy ra khỏi người này!” Đó là sức mạnh và cách hành động của Ánh Sáng. Chúa Giêsu là Ánh Sáng, và Ánh Sáng không thoả hiệp với bóng tối. Ở đâu có Ánh Sáng thì tự khắc bóng tối bị xua tan.

Nhưng không chỉ Chúa Giêsu, mà cả chúng ta nữa, trong Chúa Giêsu, chúng ta cũng là “ánh sáng cho các dân tộc” (lumen gentium). Có thể nói, trong cuộc hành hương hướng về cánh chung, chúng ta chỉ cần làm một việc thôi, đó là: LÀM ánh sáng, luôn LÀ ánh sáng, mọi nơi mọi lúc, đúng như bản chất của mình!

Ánh sáng thì không sợ bất cứ thứ bất ngờ nào, kể cả sự bất ngờ của việc Chúa đến lại!

Lm. Lê Công Đức


Cử Hành Thánh Lễ Cầu Cho Việc Bảo Vệ Công Trình Tạo Dựng Ngày 1 tháng 9 năm 2025

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

ỦY BAN PHỤNG TỰ

liturgy@cbc-vietnam.org

THÔNG BÁO

Cử hành Thánh lễ cầu cho việc bảo vệ công trình tạo dựng
ngày 1 tháng 9 năm 2025

Kính thưa quí cha, quí tu sĩ và cộng đoàn Dân Chúa,

Ngày 8 tháng 6 năm 2025, Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích đã ban hành Sắc lệnh phổ biến bản văn phụng vụ để cử hành Thánh lễ cầu cho việc bảo vệ công trình tạo dựng (x. Prot. N. 283/24). Năm nay, Giáo hội Công giáo kỉ niệm 10 năm công bố Thông điệp Laudato Si’ của Đức cố Giáo hoàng Phanxicô và cũng sẽ cử hành Ngày thế giới cầu nguyện cho việc bảo vệ công trình tạo dựng lần thứ X vào ngày 1 tháng 9 năm 2025.

Thánh lễ cầu cho việc bảo vệ công trình tạo dựng được đưa vào Sách lễ Rôma, ấn bản mẫu lần thứ ba (2008), nằm trong phần dành riêng cho các “Thánh lễ và lời cầu nguyện trong nhiều hoàn cảnh hoặc cầu cho những nhu cầu khác nhau”, Phần II: Cầu cho lợi ích chung. Việc sử dụng bản văn thánh lễ này được quy định theo Chương VII của Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma và các chỉ dẫn phụng vụ riêng của thánh lễ này.

Uỷ ban Phụng tự Hội đồng Giám mục Việt Nam vui mừng phổ biến bản dịch văn bản phụng vụ của Thánh lễ cầu cho việc bảo vệ công trình tạo dựng. Tại Việt Nam, Uỷ ban Phụng tự đề nghị các giáo xứ, cộng đoàn dòng tu cùng cử hành Thánh lễ cầu cho việc bảo vệ công trình tạo dựng vào ngày 1 tháng 9 để cùng hiệp thông với Giáo hội hoàn vũ. 

Ngày 12 tháng 8 năm 2025.

(đã ấn ký)

+ Emmanuel Nguyễn Hồng Sơn
Giám mục Giáo phận Bà Rịa
Chủ tịch


Suy Niệm Chúa Nhật XXII Thường Niên, Năm C

THIÊN CHÚA CHỐNG LẠI KẺ KIÊU NGẠO VÀ YÊU THÍCH KẺ KHIÊM NHƯỜNG Lm Lê Công Đức

“Càng làm lớn, con càng phải hạ mình trong mọi sự, thì con sẽ được đẹp lòng Chúa” (x. Hc 3,19-21.30-31). Khiêm nhường, tự hạ… là nhân đức nền tảng. Bởi kiêu căng ngạo mạn là mối tội cầm đầu! Chúng ta thường thích ở gần người khiêm nhường, nhưng chính chúng ta thường không thích khiêm nhường. Thay vào đó, ta dễ có xu hướng nâng mình lên, tìm kiếm sự ‘ngước nhìn’, sự khen ngợi của người khác… Điều chắc chắn, đó là Thiên Chúa yêu thích kẻ khiêm nhường tự hạ, và chống lại kẻ khoe khoang tự mãn – như lời sách Huấn ca hôm nay nêu rõ.

Ta hiểu tại sao có một truyền thống Thánh Kinh rất rõ ràng, đó là Thiên Chúa luôn đứng về phía những người nghèo hèn, bé mọn, yếu thế và bênh vực họ. Sách thánh thường khái quát họ là ‘cô nhi, quả phụ và khách ngoại kiều’. Như lời Thánh vịnh 67 (Đáp ca): “Là Cha kẻ mồ côi, là Ðấng bênh vực người quả phụ, Thiên Chúa ngự trong thánh điện của Người. Thiên Chúa tạo nhà cửa cho những người bị bỏ rơi, dẫn đưa những người tù tội ra nơi thịnh đạt”…

Tiếp nối và khẳng định mạnh mẽ truyền thống ấy, Chúa Giêsu dị ứng với thói hãnh thắng và tự đề cao của nhiều người, như khi Người đi dự tiệc và quan sát thấy người ta tranh chọn chỗ nhất. Người đã lên tiếng về việc này, và kết luận: “Ai nhắc mình lên, sẽ phải hạ xuống, và ai hạ mình xuống, sẽ được nhắc lên” (x. Lc 14,1.7-14). Ta đừng tưởng Chúa Giêsu đang dạy một chiêu thức ứng xử để đạt được mục đích giành ghế cao hơn thiên hạ. Điều Chúa đang dạy chúng ta, đó là một thái độ khiêm nhường sâu xa trong lòng mình, một tâm thế tự hạ, coi mình rốt hết. Đây là tâm thế của những người thuộc về Nước Trời.

Thật vậy, con đường khiêm nhường tự hạ ấy là con đường “tiến đến núi Sion và thành trì của Thiên Chúa hằng sống, là Giêrusalem trên trời, tiến đến giữa muôn ngàn thiên thần, và cộng đoàn các trưởng tử đã được ghi sổ trên trời, và đến cùng Thiên Chúa, Ðấng phán xét mọi người, đến cùng các linh hồn những người công chính hoàn hảo, đến cùng Ðấng trung gian của giao ước mới là Ðức Giêsu” – như cách diễn tả của Thư Do thái (x. Dt 12,18-19.22-24a).

Ai hạ mình xuống, sẽ được nâng lên! Thiên Chúa nâng những người tự hạ lên tới tận ‘Giêrusalem trên trời… giữa các thiên thần… đến cùng Thiên Chúa… giữa những người công chính hoàn hảo… đến cùng Chúa Giêsu’, Đấng là quán quân của con đường tự hạ (kenosis). Ta hiểu tại sao Chúa Giêsu nói nếu không trở nên như trẻ nhỏ thì sẽ không vào được Nước Trời. Ta cũng hiểu tại sao Người nói ai làm lớn thì phải làm người phục vụ anh chị em mình. Và ta hiểu tại sao các thánh không nghĩ mình tốt hơn người khác, mà luôn nghĩ người khác tốt hơn mình…

Lời Chúa và ý Chúa rõ ràng như vậy đó. Chúng ta sẽ chọn gì đây, tự đề cao hay tự hạ?

SỐNG KHIÊM NHƯỜNG – Maria Đỗ Khuyên

Trong Tin Mừng Luca hôm nay, Đức Giêsu được mời đến dự tiệc tại nhà một thủ lãnh biệt phái. Quan sát các khách dự tiệc, Chúa Giêsu đưa ra lời giáo huấn. Ngài khuyên họ hãy ở khiêm nhường, đừng tranh nhau chỗ nhất, chỗ danh dự trong đám tiệc. Đừng tự đánh giá mình, hãy để cho người  ta đánh giá và định đoạt.  Ngoài ra, Ngài còn khuyên họ hãy có tinh thần bác ái vô vị lợi khi mời khách đến dự tiệc, đừng tính toán hơn thiệt… Và giáo huấn của Ngài được nói đến trong câu “Ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên, ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống” (Lc 14,11).

Chúa Giê su nhắc nhở khi được mời dự tiệc cưới đừng chọn chỗ nhất mà ngồi nhưng hãy ngồi vào chỗ cuối. Chúa nói để dạy cho khách dự tiệc bài học về sự khiêm nhường. Khiêm nhường không phải là một mánh lới mà là chân thành nhìn nhận giá trị thực sự của mình. Nói rõ hơn, khiêm nhường thực sự là biết mình, biết sự thật về ưu điểm cũng như khuyết điểm của mình. Nhờ đó, chúng ta sống chan hoà với mọi người, coi người khác trọng hơn mình. Trước mặt Thiên Chúa, tâm hồn khiêm nhượng sẽ càng được đẹp lòng Chúa. Lòng khiêm nhường là nhân đức mà Đức Giê-su yêu thích và kêu gọi mọi người hãy rèn luyện cho tâm hồn mỗi người được nhân đức đó.

Tâm lý của chúng ta thường thích được nhiều người biết đến, thích được giao lưu với những người nổi tiếng, thích được ngồi ghế danh dự và nhất là thích làm quen với những người giàu có. Nhưng Chúa Giêsu nói với chúng ta: “ Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em hay bà con, hoặc láng giềng giầu có….Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù” ( Lc 14,12-13).  Bởi vì mời người giàu sang, tất yếu là sẽ theo quy luật “Hòn đất ném đi, hòn chì ném lại”. Chúa Giê-su muốn người chủ cho đi mà không cần nhận lại, trao tặng mà không mong đền đáp đó là mối phúc đáng xây dựng. Khi mời những người bị loại sang bên lề xã hội là một hành động của khiêm tốn coi mình ngang hàng với họ, hạ mình xuống với những người yếu thế đó. Khi ta cúi xuống với những người yếu thế, trong ta sẽ có cặp mắt cảm thông, cùng cái nhìn với họ. Khi đó, ta mới nhận ra những nhu cầu, những cảm xúc của họ đang cảm nhận, những khó khăn họ đang gặp phải

Câu nói của Chúa Giê-su: “ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” vừa như một câu khẳng định nhưng cũng vừa như một câu hỏi để ta nhìn lại bản thân, nhìn lại chính con người của mình. Ta có thể trả lời cho những câu hỏi để xét mình mỗi ngày như: tôi có đang nâng mình lên hay không? Tôi đã hạ mình xuống hay chưa? Hay những hành động của tôi là thực sự như con người tôi hay chỉ là vẻ bên ngoài? Và trong cuộc sống hằng ngày, tôi đã quan tâm tới những người bên cạnh chưa? Tôi đã nhận ra những nhu cầu của người xung quanh chưa, có quan tâm chia sẻ và cảm thông được với những khó khăn của mọi người? Khi tôi nhận ra những nhu cầu của người khác thì tôi có quảng đại đưa tay ra để giúp đỡ hay chỉ dừng lại ở việc “nhìn”?

Lạy Chúa, để sống thực sự lòng khiêm nhường, chúng con phải hạ mình cho tới mức thấp nhất. Xin cho con có đôi mắt của Chúa, để con biết nhìn ra xa, nhìn sang bên cạnh, những người ở gần để con nhận ra những điều Chúa muốn nơi con. Xin đừng để con chỉ biết nhìn lên những người hơn con mà tự ti, hay chỉ biết nhìn vào chính mình mà tự mãn nhưng xin cho con biết nhìn sang bên cạnh để dâng lên Chúa lời tạ ơn vì những ơn lành Người ban cho con và cho con biết sống quảng đại mở lòng, đưa tay ra đến với những anh chị em bên cạnh con. Amen.