Suy Niệm Chúa Nhật XXV Thường Niên, Năm C

LÀM TÔI THIÊN CHÚA HAY LÀM TÔI TIỀN CỦA – Linh mục Lê Công Đức

Tiền đồng Việt Nam đang trên đà mất giá. Nhiều hình ảnh cho thấy ở phía bắc người ta xếp hàng rồng rắn để mua vàng, bởi lo sợ lạm phát và không muốn cất giữ tiền mặt… Hai trong ba Bài Đọc Lời Chúa hôm nay cũng nói về tiền, nhưng không phải nói riêng về tiền mặt, mà về tiền bạc của cải cách chung. Lời Chúa cảnh giác chúng ta về thái độ đối với tiền của.

Trước hết, một cách đầy hình tượng, đoạn sách Amos (8,4-7) vạch trần lòng tham tiền của trong toan tính của người ta: “Bao giờ qua tuần trăng mới để chúng tôi bán hàng? Khi nào hết ngày Sabbat để chúng tôi bán lúa mạch. Chúng tôi sẽ giảm lường đong, tăng giá và làm cân giả. Chúng tôi sẽ lấy tiền mua người nghèo, lấy đôi dép đổi lấy người túng thiếu. Chúng tôi sẽ bán lúa mục nát”… Đó là lòng tham đến mức kiếm lợi bất chấp tất cả, kể cả “lấy tiền mua người nghèo”, nghĩa là bị ám ảnh bởi kiếm lợi đến mức sẵn sàng chà đạp phẩm giá con người.

Thái độ ấy rõ ràng chống lại đường lối của Thiên Chúa, Đấng bênh vực người nghèo vì quí trọng phẩm giá con người của họ, phẩm giá mà chính Thiên Chúa đã ban cho. Như lời Thánh vịnh 112 (Đáp ca): “Hãy ngợi khen Chúa, Đấng nâng cao kẻ túng thiếu từ chỗ bụi tro, và cất nhắc bạn cơ bần từ nơi phấn thổ, hầu cho họ ngồi với những bậc quân vương, với những bậc quân vương của dân Người”… Có thể diễn dịch: Thiên Chúa ưu ái nâng đỡ những người nghèo, không có tiền của, Ngài nâng họ lên ngang bậc quân vương (là địa vị cao nhất trên trần đời này trong ước mơ của nhiều người!)…

Giáo huấn của Chúa Giêsu về thái độ đối với tiền của thật rõ ràng, quyết liệt, và dứt khoát. Phải từ bỏ, siêu thoát… Phải dùng tiền của trong tư cách người quản lý khôn ngoan sáng suốt, chứ không để tiền của dẫn dụ và kiểm soát mình… Phải luôn cảnh giác cái nguy cơ xem tiền của là quan trọng nhất, quan trọng hơn cả Thiên Chúa trong lòng mình… Tiền của không quan trọng hơn cũng không quan trọng bằng Thiên Chúa! “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được” (x. Lc 16,1-13).

Đặt tiền của vào đúng chỗ của nó, có một thái độ và tương quan đúng đắn với nó, chúng ta mới có thể cảm nghiệm được điều mà thánh Phaolô khuyến dụ trong Thư 1 Timôthê (2,1-8), đó là “sống bằng yên vô sự, trong tinh thần đạo đức và thanh sạch”. Đó là “điều tốt lành và đẹp lòng Ðấng Cứu Ðộ chúng ta là Thiên Chúa, Người muốn cho mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lý”…

LO CHO TƯƠNG LAIMaria Thanh Hằng

“Một nhà phú hộ kia có một người quản gia. Người ta tố cáo với ông là anh này đã phung phí của cải nhà ông…” (Lc 16, 1)

Ông chủ đã tin tưởng trao phó tất cả tài sản của mình cho người quản gia, và điều ông cần nơi người quản gia là gì? Đó chính là: sự khôn ngoan, trung tín và trách nhiệm… Thế nhưng, ông chủ hoàn toàn thất vọng vì người quản gia đã tham lam, bất chính… Khi biết mình sẽ bị cắt chức, người quản gia đã tìm lối thoát cho mình: ông cho gọi các người nợ đến để giảm cho họ, mong muốn sau khi bị mất chức quản gia sẽ có người đón rước ông về, và điều đó Chúa Giêsu đã khen người quản gia ấy có cách hành xử khôn khéo: biết tính toán, dự liệu cho tương lai. Điều gây ngạc nhiên là Chúa Giêsu không khen sự gian dối, nhưng Ngài khen sự khôn khéo biết sử dụng thời cơ và phương tiện để chuẩn bị cho tương lai. Vì vậy, người môn đệ của Chúa Giêsu, đặc biệt là tu sĩ, tất cả chúng ta cũng được mời gọi hãy biết “khôn khéo” dùng của cải và đời sống hiện tại để chuẩn bị cho Nước Trời: sử dụng giây phút hiện tại để chuẩn bị cho “tương lai vĩnh hằng” ngang qua sứ mạng, mối tương quan, cách hành xử… “Hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu” (Lc 16, 9)

Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn (Lc 16, 10)

Thánh Giuse được gọi là “người quản gia trung tín” vì Chúa đã đặt Ngài cai quản gia đình Thánh Gia. Vì sao gọi Thánh Giuse là “người quản gia trung tín”? Bởi vì Thánh Giuse thi hành thánh ý Thiên Chúa: Ngài đã trung thành làm tròn bổn phận, trách nhiệm của một người chồng, người cha khi được Thiên Chúa chọn để chăm sóc, nuôi dưỡng Chúa Giêsu – với một trái tim quảng đại, vị tha…

Cũng vậy trong cuộc sống, tiền của là vấn đề được người ta lưu tâm nhiều nhất. Vì thế, chúng ta tìm kiếm, gắn bó và rất dễ bị lệ thuộc vào nó. Phải chăng tiền bạc là một phần tất yếu của cuộc sống? Hay nó là phần quan trọng không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi chúng ta? Nếu chúng ta miệt mài tìm kiếm, thu tích của cải ở đời này thì nó sẽ trở thành “ông chủ” mà chúng ta mong muốn được gắn bó. Đời tu là một sự từ bỏ để chọn lựa, không phải chọn lựa nửa vời, mà là chọn lựa dứt khoát Thiên Chúa là “Chủ duy nhất”.  Vì chính Chúa Giêsu đã kết luận: “Các con không thể làm tôi Thiên Chúa mà lại làm tôi Tiền Của được” (Lc 16,13).

Vì thế Chúa Giêsu mời gọi tất cả mọi người chúng ta, đặc biệt là đối với những người bước đi theo Chúa trong đời Thánh hiến, đây là lời nhắc nhở nền tảng: đời tu không thể vừa theo Chúa, vừa nuông chiều đam mê thế gian. Sự khôn khéo thật sự không nằm ở việc tích lũy của cải, nhưng ở việc đầu tư cho Nước Trời.

Con ​ngước mắt hướng nhìn lên Chúa, Đấng đang ngự trên trời.

Quả thật như mắt của gia nhân hướng nhìn tay ông chủ, như mắt của nữ tỳ hướng nhìn tay bà chủ…” (Tv 123, 1 – 2)

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa dạy chúng con biết sống khôn ngoan, biết chọn Chúa là đối tượng duy nhất trong cuộc đời của mình, biết sử dụng những gì chúng con có hôm nay để chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu. Xin cho chúng con là những người đi theo Chúa luôn trung tín sống các lời khuyên Phúc Âm, bác ái với nhau, biết tận dụng thời gian, khả năng và vật chất… như một phương tiện để phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân. Xin cho chúng con đừng bao giờ làm tôi hai chủ, nhưng chỉ thuộc trọn về một mình Chúa. Amen.


Cách Nghe Lời Chúa (20.9.2025 Thứ Bảy Tuần XXIV Thường Niên)

Gieo giống trên bề mặt mảnh đất như mô tả của dụ ngôn là cách làm của vùng Palestine thời Chúa Giêsu. Nó khác với cách làm của nhà nông chúng ta ngày nay, nhưng vẫn có thể dễ dàng hình dung được. Điều Chúa Giêsu muốn nêu ra để trao thông điệp cho thính giả của Người, đó là: những hạt giống không khác nhau nhưng được tiếp nhận bởi những loại mảnh đất khác nhau thì sẽ dẫn đến những kết quả rất khác nhau. Vì thế, vấn đề mảnh đất loại nào – vệ đường, sỏi đá, bụi gai hay đất tốt – là điều rất quan trọng.

Như có câu nói: “Bất cứ gì được nhận cũng được nhận theo cách của người nhận” (quid quid recipitur ad modum recipientis recipitur)! Vệ đường, sỏi đá, bụi gai không thể nhận hạt giống một cách hữu ích như đất tốt được. Ta lưu ý, trong thực tế, loại mảnh đất không thể thay đổi; nhưng mảnh đất tâm hồn con người đón nhận hạt giống lời Chúa thì có thể thay đổi. Đó là sự thay đổi CÁCH đón nhận lời Chúa. Và Chúa muốn chúng ta đạt được sự thay đổi này.

Chúa muốn chúng ta nghe lời Chúa không phải một cách vô hồn, cứng cỏi như vệ đường. Chúa muốn chúng ta nghe lời Chúa không phải một cách hời hợt, khô khan như sỏi đá. Chúa muốn chúng ta nghe lời Chúa không phải với một cõi lòng chật chội, ngột ngạt, chất đầy những đam mê sự đời như bụi gai… Bởi nghe lời Chúa theo những cách đó thì chẳng khác gì nước đổ đầu vịt hay đàn gảy tai trâu, chẳng đem lại ích lợi gì cả!

Điều Chúa muốn, đó là chúng ta nghe lời Chúa với lòng khát khao, với thái độ khiêm tốn, cởi mở, mềm mỏng và kiên nhẫn. Bằng cách này, lời Chúa sẽ thấm đượm tâm hồn, sẽ được hấp thu trọn vẹn, sẽ nảy mầm, lớn lên và sinh hoa trái…

Đừng quên, dụ ngôn về gieo giống cũng gợi ý rằng có ‘mùa gieo’ và cũng có ‘mùa gặt’. Mùa gieo không kéo dài mãi mãi. Chúng ta cần phải thay đổi cách nghe LỜI khi còn kịp. Cánh chung ‘chung’ và cánh chung ‘riêng’ còn ở phía trước!

Lm. Lê Công Đức


Các Bà Đã Lấy Của Cải Mình Mà Giúp Đức Giêsu…(19.9.2025 Thứ Sáu Tuần XXIV Thường Niên)

Đoạn Phúc Âm ngắn hôm nay kể tên nhóm phụ nữ đi theo Chúa Giêsu. Họ thuộc nhiều thành phần xuất thân khác nhau. Và thánh Luca ghi nhận họ “đã lấy của cải mình mà giúp Đức Giêsu”. Ta có thể hình dung Chúa Giêsu và các môn đệ là những người có nhu cầu tối thiểu về đời sống, vì thế sự giúp đỡ của nhóm phụ nữ này có thể là nguồn tài trợ chính, thậm chí là nguồn tài trợ duy nhất cho Thầy trò…

Bạn thử nghĩ đi, nhiều nam nữ ân nhân tốt lành và quảng đại đang giúp đỡ các linh mục, tu sĩ và các công cuộc của Giáo hội – và các vị ân nhân ấy tin cách chính đáng rằng việc mình làm thật có ý nghĩa, chẳng khác gì giúp đỡ chính Chúa… Còn ở đây, những phụ nữ này thực sự và trực tiếp giúp đỡ chính Chúa Giêsu, chứ không chỉ là qua trung gian hay chỉ có ý nghĩa tượng trưng gì hết! Đúng nghĩa đen luôn: “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; ta khát, các ngươi đã cho uống”… Vinh dự và diễm phúc biết bao. Hơn nữa, hành động chia sẻ này hoàn toàn là hy sinh vô vụ lợi, không nhằm kiếm chác lợi lộc hay tên tuổi gì. Trái lại, hành động này có thể gây liên lụy phiền phức, vì Chúa Giêsu đang là ‘đối tượng’ bị rình rập bởi các thế lực…

Hành động chia sẻ ấy cũng không hề dễ dàng, đơn giản đâu – bởi nó giả thiết một thái độ siêu thoát đối với tiền của. Tự nhiên ai mà không quyến luyến tiền bạc của cải cơ chứ – vì thế, phải vượt qua và dứt bỏ lòng quyến luyến ấy thì người ta mới chia sẻ được.

Thánh Phaolô khi cảnh giác Ti mô thê về những người mù quáng, hướng dẫn sai lạc, cũng nhấn mạnh mối tương quan đúng đắn đối với của cải vật chất: “Họ coi đạo đức là một nguồn lợi… Chúng ta đã không mang gì vào thế gian này, và chắc chắn chúng ta cũng không thể lấy ra được gì. Khi có cơm ăn và áo mặc, chúng ta hãy lấy thế làm bằng lòng. Còn như những kẻ muốn làm giàu, họ sa vào cơn cám dỗ, vào cạm bẫy và nhiều dục vọng điên rồ tác hại. Những cái đó làm con người ta chìm đắm vào chỗ điêu tàn và hư hỏng. Bởi chưng gốc rễ mọi sự dữ là lòng tham tiền bạc. Một số người vì đeo đuổi lòng tham này đã lạc mất đức tin và tự chuốc vào thân nhiều nỗi khổ đau. Phần con, hỡi người của Thiên Chúa, hãy trốn xa những chuyện đó”.

Những lời ấy vọng lại mối phúc nghèo khó của Chúa Giêsu, đồng thời cũng vang âm lời Thánh vịnh 48 (Đáp ca): “Bọn người này tin cậy vào tài sản, chúng tự hào vì có bạc vạn tiền muôn… Nhưng thực ra không ai tự cứu được bản thân, cũng không ai dâng được lên Chúa giá tiền thục mạng. Giá thục mạng quá đắt, không bao giờ có đủ, hầu mong sống mãi đời đời, không phải nhìn coi sự chết… Ðừng e ngại khi thấy ai giàu có, khi thấy tài sản nhà họ gia tăng: bởi lúc lâm chung, họ chẳng mang theo gì hết, và tài sản cũng không cùng họ chui xuống nấm mồ”…

Như vậy, nghèo khó và siêu thoát là ‘mối phúc’ xuyên suốt từ Cựu ước đến Tân ước. Đối tượng hay chân trời ý nghĩa của mối phúc này là chính Chúa Giêsu và công cuộc của Người, như được thấy nơi hành động chia sẻ của nhóm phụ nữ trong Phúc Âm. Xin Chúa cho chúng ta biết khao khát sống nghèo khó và siêu thoát vì Chúa Giêsu và vì Tin Mừng, điều vô cùng thách đố đối với bất cứ ai, nhưng cũng là chứng tá rất mạnh mẽ và rất thuyết phục cho con người mọi nơi và mọi thời.

Lm. Lê Công Đức


Sự Khôn Ngoan Cốt Ở Đâu? (18.9.2025 Thứ Năm Tuần XXIV Thường Niên)

Trong những ngày qua, cái chết do bị ám sát của Charlie Kirk, nhà hoạt động chính trị xã hội và tôn giáo ở Mỹ, đã gây bàng hoàng cho nhiều người. Điều đáng nói là anh còn rất trẻ, chỉ mới 31 tuổi – và sứ mệnh của anh đã bắt đầu cách đây khá lâu, với việc thành lập tổ chức Turning Point USA khi anh 19 tuổi, để quảng bá các giá trị căn bản truyền thống giữa các nhóm sinh viên học sinh… Sự kiện một con người trẻ nhưng tạo lập được một ảnh hưởng lớn đáng kể như thế có thể giúp chúng ta tiếp cận giáo huấn mà thánh Phaolô trao cho môn đệ Timôthê: “Con thân mến, ước gì đừng có ai khinh dể con vì con còn trẻ”…

Vị Tông đồ viết tiếp: “Con hãy nêu gương sáng cho các tín hữu, trong lời nói, cách ăn nết ở, trong đức bác ái, đức tin và đức thanh khiết… Con hãy chăm chú đọc sách, khuyên bảo và dạy giáo lý. Con chớ quên lãng ân sủng trong con, là ơn đã ban cho con bởi lời tiên tri cùng với việc đặt tay của bậc Lão thành. Con hãy suy ngắm những sự đó, hãy để tâm đến các việc ấy… Con hãy thận trọng giữ mình và giữ lấy giáo lý”…

Có thể tóm kết điều mà Phaolô kỳ vọng nơi Timôthê, đó là: sự khôn ngoan – khôn ngoan trong nhận thức và khôn ngoan trong cách ăn nết ở. Tác giả Thánh vịnh 110 (Đáp ca) thì đúc kết sự khôn ngoan ấy nơi lòng tôn sợ Thiên Chúa: “Kính sợ Chúa là đầu mối khôn ngoan, bao nhiêu người thờ Chúa đều hành động cách khôn ngoan”…

Người biệt phái tên Simon mời Chúa Giêsu đến dùng bữa đã cho rằng Chúa Giêsu không khôn ngoan nên ông đã phê phán Người: “Nếu ông này là tiên tri thì phải biết người đàn bà đang động đến mình là ai, và thuộc hạng người nào chứ: là một đứa tội lỗi (mà)!”… Nhưng câu trả lời của Chúa Giêsu cho thấy rằng người đàn bà tội lỗi kia, với cách hành động của chị, đã tỏ ra khôn ngoan hơn ông biệt phái. “Tôi bảo ông, tội bà rất nhiều mà đã được tha rồi, vì bà đã yêu mến nhiều. Kẻ được tha ít, thì yêu mến ít”.

Rốt cuộc, điều mà tác giả Thánh vịnh nói trên gọi là ‘kính sợ’ thì Chúa Giêsu gọi là ‘yêu mến’. Yêu mến nhiều, được tha nhiều; được tha ít, yêu mến ít!… Và như vậy sự khôn ngoan cốt ở trái tim, ở tấm lòng đối với Thiên Chúa và đối với con người, chứ không cốt ở bất cứ gì khác.

Xin Chúa giúp chúng ta, dù cao niên hay trẻ tuổi, biết tìm kiếm sự khôn ngoan đích thực, và không vì nhút nhát hay tự ti mà che giấu sự khôn ngoan Chúa ban, nhưng biết mạnh dạn như một ngôn sứ để rao giảng và làm chứng cho sự khôn ngoan ấy trong thế giới đang tràn ngập những ‘giá trị’ trái ngược với Tin Mừng.

Chỉ tình yêu mới cứu được thế giới này! Only love can save the world!

Lm. Lê Công Đức


Nên Hiểu Dụ Ngôn Về ‘Lũ Trẻ Ngoài Chợ’ Như Thế Nào? (17.9.2025 Thứ Tư Tuần XXIV Thường Niên)

“Vậy tôi phải ví người thế hệ này với ai? Họ giống ai?

Họ giống như lũ trẻ ngồi ngoài chợ gọi nhau mà nói: ‘Tụi tôi thổi sáo cho các anh, mà các anh không nhảy múa; tụi tôi hát bài đưa đám, mà các anh không khóc than.’ Thật vậy, ông Gio-an Tẩy Giả đến, không ăn bánh, không uống rượu, thì các ông bảo: ‘Ông ta bị quỷ ám.’ Con Người đến, cũng ăn cũng uống như ai, thì các ông lại bảo: ‘Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi.’

Nhưng Đức Khôn Ngoan đã được tất cả con cái mình biện minh cho.”

Nên hiểu dụ ngôn trên như thế nào?

Một số người hiểu dụ ngôn này theo cách tạm khái quát là có hai nhóm trẻ: Những đứa nhóm A phiền trách vì mình thổi sáo hay hát bài đưa đám đều không được hưởng ứng; nhóm B là những đứa không hưởng ứng và bị phiền trách. Theo đó, những đứa nhóm A là phía chính diện, như thể là tiêu biểu cho Gioan Tẩy giả và Chúa Giêsu. Vì thế, rút ra thông điệp: nhóm B (tức phía phản diện) không nên cứng cỏi như thế, mà nên mềm mỏng để sẵn sàng hưởng ứng những đứa nhóm A (nghĩa là, hãy hưởng ứng Gioan Tẩy giả và Chúa Giêsu).

Cách nghĩ và cách hiểu trên có lẽ do người ta nhận thấy có hai cặp tương phản, và mặc định rằng hai cặp tương phản ấy tương ứng với nhau: ‘thổi sáo’ tương phản với ‘hát bài đưa đám’, và phong cách của Chúa Giêsu tương phản với phong cách của Gioan…

Nhưng hiểu như vậy thì có phần lỏng lẻo và gượng ép. Bởi làm sao những đứa trẻ nhóm A thuộc phía chính diện được, khi mà Chúa Giêsu đã hữu ý nhấn mạnh bằng câu hỏi kép: “Tôi phải ví người thế hệ này với ai? Họ giống ai?” Rõ ràng Chúa đang phê phán ‘người thế hệ này’, và Người đang ví ‘người thế hệ này’ với ‘lũ trẻ ngồi ngoài chợ’ ấy cơ mà.

Tôi ủng hộ cách hiểu rằng ‘lũ trẻ ngồi ngoài chợ’ ở đây (xét toàn thể, không cần phân tách ra hai nhóm) đều là phản diện. Lũ trẻ ấy tiêu biểu cho một thói ấu trĩ và cố chấp vốn đặc trưng của ‘người thế hệ này’. Chúng khư khư đòi kẻ khác theo ý mình, bám vào định kiến rằng mình đúng, mình là chuẩn mực, rằng mọi người khác phải ‘múa theo điệu trống’ của mình. Chúng nhất định không nghe ai, không theo bất cứ ai khác biệt với chúng. Chúa Giêsu nhận xét về những ‘người thế hệ này’ như thế.

Theo đó, dụ ngôn muốn cho thấy vấn đề của ‘lũ trẻ ngồi ngoài chợ’, tức vấn đề của ‘người thế hệ này’, nằm ở chỗ tính cách ấu trĩ, cố chấp, khư khư lấy mình làm quy chuẩn và đòi mọi người phải theo ý mình. Tính cách ấu trĩ cố chấp ấy tự nó phơi trần mâu thuẫn khi mà người ta tẩy chay Gioan Tẩy giả và Chúa Giêsu bằng những ‘lý lẽ’ trái ngược nhau. Không chấp nhận Gioan vì Gioan không ăn không uống như người thường; không chấp nhận Giêsu vì Giêsu vẫn ăn uống như người thường!

Khoa tâm lý hiện đại càng xác nhận sự ấu trĩ cố chấp nói trên khi chỉ ra tính cách độc tài bạo chúa nơi trẻ con, nhất là những đứa trẻ vào khoảng hai tuổi. Khi trẻ càng lớn lên thì tính cách này càng giảm dần. Nhưng vẫn có những trường hợp người ta lớn lên trong tuổi tác mà tính cách độc tài bạo chúa của đứa con nít vẫn còn rất rõ nơi họ – ta gọi đó là những ‘người lớn’ ấu trĩ!

Ở tầng sâu hơn, dụ ngôn này và sự quảng diễn của Chúa Giêsu (khi móc nối với thái độ của người đương thời vừa từ khước Gioan Tẩy giả vừa tẩy chay chính Người) trao cho ta thông điệp rằng sự thật/ sự khôn ngoan siêu vượt trên những dáng dấp hay thể cách bên ngoài. Sự thật được phản ánh nơi Gioan Tẩy giả, và sự thật nằm ở nơi Chúa Giêsu, dù hai vị trông có vẻ rất khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.

Đó là hàm nghĩa của câu kết luận: “Nhưng Đức Khôn Ngoan được tất cả con cái mình biện minh cho”. Chỉ có một Sự Thật, không có hai, nhưng Sự Thật có thể ở trong những thể cách khác nhau. Chúng ta không nắm hết được, không sở hữu được Sự Thật. Điều tốt nhất ta có thể làm, đó là mềm mỏng và cởi mở để cho Sự Thật chiếm lấy và nắm lấy chúng ta.

Lm. Lê Công Đức


Trái Tim Đầy Trắc Ẩn (16.9.2025 Thứ Ba Tuần XXIV Thường Niên)

Trên đường đi đến Naim cùng với các môn đệ và đám đông dân chúng, đến chỗ gần cửa thành, Chúa Giêsu gặp một đám tang. Người ta đang khiêng đi chôn người con trai duy nhất của một bà goá. Chúa Giêsu chạnh lòng thương người mẹ, bảo bà đừng khóc nữa, và Người đã truyền cho người chết chỗi dậy…

Phép lạ thật ấn tượng, gây sửng sốt cho mọi người. Và ta lưu ý, Chúa làm phép lạ vì chạnh lòng thương! Vì cảm thương người mẹ, Chúa cho người con sống lại. Cũng như vì thương chị em Mácta và Maria, Chúa cho Ladaro sống lại. Chúng ta biết rằng những sự sống lại kiểu này chỉ là giải pháp tạm thời thôi. Đây chưa phải là sống lại và sống vĩnh viễn. Nhưng Chúa Giêsu không ngại dùng một giải pháp tạm thời như vậy, bởi Người muốn cho thấy rõ trái tim đầy trắc ẩn của Người.

Biển khổ của cõi nhân gian là mênh mông, vô bờ. Chúa Giêsu khi nhập thể làm người đi lại trên dương thế này thì cách nào đó, cũng như chúng ta, chỉ có thể chạm đến và xoa dịu một vài người đang đau khổ. Điều quan trọng là tấm lòng – Chúa muốn chúng ta tin vào tấm lòng của Chúa, tin rằng Chúa tốt lành, đầy lòng trắc ẩn và không muốn ai đau khổ. Chúa muốn chúng ta có tấm lòng của Chúa, luôn biết chạnh lòng thương và làm một cái gì đó trước những nỗi thống khổ của người khác, nhất là những anh chị em khốn khổ nhất ở xung quanh cuộc đời mình…

Ta thấy Chúa làm phép lạ lúc này lúc khác. Nhưng cũng rõ ràng rằng Chúa không lạm dụng và ‘lạm phát’ phép lạ. Ngay cả sau khi chết, sống lại và về trời, không còn bị giới hạn trong ‘điều kiện con người’ nữa, Chúa cũng không lạm dụng phép lạ. Hay nói cách khác, Chúa muốn chính chúng ta là các môn đệ Chúa hãy ‘làm phép lạ’, bằng cách cho phép Chúa tiếp tục hiện diện qua chúng ta, để Chúa tiếp tục yêu thương, quan tâm phục vụ các anh chị em bé mọn, nghèo hèn, khốn khổ trong đời. Chúng ta ‘làm phép lạ’ bằng chính lòng quảng đại và các thực hành chia sẻ của mình. Mỗi hành động quan tâm, chia sẻ, dù nhỏ bé cũng làm cho thế giới này bớt nghèo, bớt khổ và bớt buồn hơn.

Đặc biệt, Chúa tha thiết mong muốn các vị mục tử trong Giáo hội có trái tim mục tử, biết chạnh lòng thương đoàn chiên, cách riêng những con chiên tội nghiệp nhất. Mục tử phải như thế thì mới đúng là mục tử như lòng Chúa mong ước, mới đích thực là hiện thân của Chúa Giêsu, vị Mục tử Tốt lành. Ta hiểu tại sao thánh Phaolô khi viết cho Timôtheô đã căn dặn rất kỹ về các tiêu chuẩn để chọn lựa các vị lãnh đạo giáo đoàn… Ta hãy nghe một đoạn Phaolô nói về những người đứng đầu cộng đoàn:

“Đó phải là người không có ai trách cứ được, … ăn ở tiết độ, khôn ngoan, thanh lịch, đoan trang, hiếu khách, biết giảng dạy, không mê rượu chè, không gây gỗ, nhưng hoà nhã: không cạnh tranh, không tham lam… Đó phải là người đoan trang, không ăn nói nước đôi, không nghiện rượu, không tìm lợi cách đê tiện, nhưng phải nắm giữ mầu nhiệm đức tin trong lương tâm thanh sạch”…

Xin Chúa Giêsu uốn lòng tất cả chúng ta, nhất là các mục tử trong Giáo hội, nên giống Trái Tim đầy trắc ẩn của Chúa!

Lm. Lê Công Đức


Tưởng Niệm Các Vị Tử Đạo Mới Và Chứng Nhân Đức Tin

Lúc 5 giờ chiều Chúa Nhật ngày 14/9, Lễ Suy tôn Thánh giá, Đức Thánh Cha đã cùng với khoảng 4000 tín hữu và nhiều đại diện của các Giáo hội Kitô khác cử hành buổi Tưởng niệm các vị tử đạo mới và chứng nhân đức tin, những đã làm chứng cho đức tin của mình vào Chúa Kitô bằng chính sự sống của mình trong thời hiện tại. Các bài đọc được trích từ sách Khôn Ngoan (3,1-5.7-8), trích thư của thánh Phaolô gởi ông Timôthê (4,1-8) và Tin Mừng theo thánh Matthêu (5,1-12).

Bài giảng của Đức Thánh Cha

Anh chị em thân mến,

“Phần tôi, ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoại trừ thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6,14). Những lời của Tông đồ Phaolô, nơi mộ của ngài mà hôm nay chúng ta quy tụ, mở lối cho việc tưởng niệm các vị tử đạo và chứng nhân đức tin của thế kỷ XXI, trong ngày lễ Suy tôn Thánh Giá.

Dưới chân Thánh Giá Chúa Kitô, Đấng cứu độ chúng ta, được ca tụng là “niềm hy vọng của Kitô hữu” và “vinh quang của các vị tử đạo” (x. Kinh Chiều trong phụng vụ Byzantine lễ Suy tôn Thánh Giá), tôi thân ái chào các đại diện của các Giáo hội Chính Thống, các Giáo hội Cổ Đông phương, các cộng đoàn Kitô khác và các tổ chức đại kết. Tôi chân thành cảm ơn anh chị em đã nhận lời mời đến tham dự buổi cử hành này. Tôi gửi đến tất cả anh chị em nơi đây vòng tay ôm của hòa bình!

Chúng ta xác tín rằng chứng tá đến mức hiến dâng mạng sống là “sự hiệp thông chân thật nhất với Đức Kitô, Đấng đổ máu mình ra và trong hy tế ấy đã làm cho những kẻ xưa kia xa cách nay được trở nên gần gũi” (Thông điệp Ut unum sint, 84). Ngay hôm nay, chúng ta vẫn có thể lặp lại với Thánh Gioan Phaolô II rằng: nơi nào tưởng chừng hận thù bao trùm mọi khía cạnh của đời sống, thì nơi đó các tôi tớ can đảm của Tin Mừng và các vị tử đạo của đức tin đã minh chứng rõ ràng rằng “tình yêu mạnh hơn sự chết” (Tưởng niệm các chứng nhân đức tin thế kỷ XX, 7/5/2000).

Chúng ta tưởng nhớ những anh chị em này bằng ánh mắt hướng về Đấng chịu đóng đinh. Với Thánh Giá của Người, Đức Giêsu đã tỏ lộ khuôn mặt thật của Thiên Chúa, lòng xót thương vô biên của Người đối với nhân loại; Người đã mang lấy hận thù và bạo lực của thế gian để chia sẻ số phận với những ai bị sỉ nhục và áp bức: “chính Người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta” (Is 53,4).

Ngày nay, biết bao anh chị em, vì chứng tá đức tin trong những hoàn cảnh khó khăn và thù nghịch, cũng đang vác chính thập giá của Chúa: như Người, họ bị bách hại, kết án, sát hại. Về họ, Chúa Giêsu đã nói: “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại, và vu khống đủ điều xấu xa” (Mt 5,10-11). Đó là những người nữ người nam, tu sĩ và giáo sĩ, giáo dân và linh mục, đã trả giá bằng mạng sống để trung thành với Tin Mừng, dấn thân cho công lý, chiến đấu cho tự do tôn giáo ở những nơi vẫn còn bị chà đạp, sống tình liên đới với người nghèo nhất. Theo tiêu chuẩn thế gian, họ dường như là “những kẻ thất bại”. Nhưng thực ra, như Sách Khôn Ngoan nói: “Dù trước mặt người đời, họ chịu khổ hình, nhưng lòng họ tràn đầy niềm hy vọng được trường sinh bất tử” (Kn 3,4).

Anh chị em thân mến, trong Năm Thánh, chúng ta cử hành niềm hy vọng của những chứng nhân đức tin can đảm này. Đó là niềm hy vọng chan chứa sự sống bất diệt, vì máu tử đạo của họ tiếp tục gieo Tin Mừng vào một thế giới đầy hận thù, bạo lực và chiến tranh; đó là niềm hy vọng chan chứa sự sống bất diệt, vì cho dù bị giết hại phần xác, nhưng không ai có thể dập tắt tiếng nói của họ hay xóa bỏ tình yêu mà họ đã trao ban; đó là niềm hy vọng chan chứa sự sống bất diệt, vì chứng tá của họ vẫn là lời ngôn sứ loan báo chiến thắng của sự thiện trên sự dữ.

Đúng vậy, đó là niềm hy vọng không vũ khí. Họ đã làm chứng cho đức tin mà không bao giờ dùng đến bạo lực, nhưng đã ôm lấy sức mạnh yếu đuối và hiền lành của Tin Mừng, như lời Tông đồ Phaolô: “Tôi rất vui mừng và tự hào về những yếu đuối của tôi, để quyền năng của Đức Kitô ở mãi trong tôi. […] Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,9-10).

Tôi nghĩ đến sức mạnh Tin Mừng nơi nữ tu Dorothy Stang, dấn thân cho những người không có đất ở Amazon: khi kẻ sắp giết sơ hỏi về vũ khí, sơ giơ cao Kinh Thánh và trả lời: “Đây là vũ khí duy nhất của tôi”. Tôi nghĩ đến cha Ragheed Ganni, linh mục Canđê ở Mosul, Iraq, đã từ chối cầm súng để làm chứng cho cách sống của một Kitô hữu đích thực. Tôi nghĩ đến thầy Francis Tofi, tín hữu Anh giáo thuộc Huynh đoàn Melanesian, đã hy sinh mạng sống vì hòa bình ở quần đảo Solomon. Những gương sáng như thế còn rất nhiều, bởi lẽ, dù các chế độ độc tài lớn của thế kỷ XX đã chấm dứt, nhưng cho đến nay, việc bách hại Kitô hữu vẫn chưa dừng lại, thậm chí ở một số nơi còn gia tăng.

Những tôi tớ can đảm của Tin Mừng và các vị tử đạo đức tin này “làm nên như một bức họa lớn của nhân loại Kitô giáo […]. Một bức họa Tin Mừng Tám Mối Phúc, được sống cho đến mức đổ máu” (Thánh Gioan Phaolô II, Tưởng niệm các chứng nhân đức tin thế kỷ XX, 07/05/2000).

Anh chị em rất thân mến, chúng ta không thể, cũng không muốn quên. Chúng ta muốn ghi nhớ. Và chúng ta thực hiện điều đó, với niềm xác tín rằng, cũng như trong những thế kỷ đầu tiên, thì trong thiên niên kỷ thứ ba này, “máu các vị tử đạo là hạt giống trổ sinh các Kitô hữu mới” (Tertullianô). Chúng ta muốn lưu giữ ký ức ấy cùng với các anh chị em thuộc các Giáo hội và cộng đoàn Kitô khác. Tôi cũng muốn nhắc lại cam kết của Giáo hội Công giáo trong việc bảo tồn ký ức về các chứng nhân đức tin thuộc mọi truyền thống Kitô giáo. Ủy ban Các Vị Tử đạo mới, trực thuộc Bộ Phong Thánh, đang thi hành sứ vụ này, với sự cộng tác của Bộ Cổ võ sự Hiệp nhất các Kitô hữu.

Như chúng ta đã nhận định trong Thượng Hội đồng gần đây, phong trào đại kết của máu hiệp nhất “các Kitô hữu thuộc những hệ phái khác nhau, cùng nhau hiến dâng mạng sống vì đức tin vào Đức Giêsu Kitô. Chứng tá tử đạo của họ hùng hồn hơn mọi lời nói: sự hiệp nhất phát sinh từ Thánh Giá của Chúa” (Thượng Hội đồng Giám mục lần XVI, Văn kiện chung kết, số 23). Nguyện xin máu của biết bao chứng nhân rút ngắn ngày hồng phúc, khi tất cả chúng ta sẽ cùng uống chung chén cứu độ!

Anh chị em thân mến, một thiếu nhi Pakistan, Abish Masih, bị giết hại trong một vụ khủng bố nhằm vào một nhà thờ Công giáo, đã viết trong vở của mình: “Making the world a better place” – “Làm cho thế giới trở thành một nơi tốt đẹp hơn”. Ước mơ của em bé ấy khích lệ chúng ta can đảm làm chứng cho đức tin, để cùng nhau trở nên men huynh đệ và hòa bình cho nhân loại.

Nguồn: Vatican News


Chiêm Ngắm Trái Tim Mẹ Bị Đâm Thâu (15.9.2025 Thứ Hai Tuần XXIV Thường Niên)

“Khi còn sống ở đời này, Chúa Kitô đã lớn tiếng và rơi lệ dâng lời cầu xin khẩn nguyện lên Ðấng có thể cứu mình khỏi chết… Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu”…

Đoạn Thư Do thái rất cảm động này nêu bật thái độ vâng phục cho đến chết của Chúa Giêsu đối với thánh ý Chúa Cha. Ở đây, ta thấy Chúa “rơi lệ” và Chúa “đau khổ”, là những yếu tố đặc biệt khắc hoạ sự thương khó của Chúa. Không thấy đề cập nào về Đức Maria, thân mẫu Chúa! Nhưng việc chọn bản văn này cho lễ Đức Mẹ Sầu Bi muốn gợi ý rằng sự sầu bi (hay sự thương khó) của Đức Mẹ sở dĩ có ý nghĩa và đáng chiêm ngắm bởi vì được gắn kết, tháp nhập với cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, Con của Mẹ.

Sự thương khó hay đau khổ của Mẹ đã được tiên báo bởi cụ Simêon: “Về phần bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà, để tâm hồn nhiều người được biểu lộ”. Và như vậy, kể từ lời tiên báo ấy, xuyên suốt hơn ba mươi năm, Mẹ mang theo với mình hình ảnh lưỡi gươm đâm thâu trái tim, mà không rõ sự việc sẽ xảy ra thế nào. Cuối cùng, mọi sự được vén mở và rõ dần khi Mẹ đứng dưới chân Thập giá của Chúa Giêsu. Mẹ đau khổ vì Con đau khổ. Và Mẹ đau khổ cùng Con đau khổ!

Lời tiên tri bí nhiệm của cụ già Simêon giờ đây đã rõ. Nhưng còn lời Thiên Chúa hứa qua miệng thiên sứ Gabriel trong biến cố Truyền Tin thì vẫn mịt mùng! Đâu là ngai vàng Đavit sẽ trao cho người Con của Mẹ? Đâu là “triều đại Người sẽ vô cùng tận”? Lời hứa ấy, và đức tin của Mẹ, chưa bao giờ lọt thỏm trong bóng tối dày đặc như lúc này… Chưa bao giờ Mẹ đau lòng như lúc này… nhưng Mẹ vẫn tin tưởng và hy vọng!

Chiêm ngắm Mẹ sầu bi đứng bên Thánh giá, chúng ta học biết cách gắn kết những đau khổ trong cuộc đời mình với cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, trao ý nghĩa cho những đau khổ ấy – và vững tin vào kế hoạch tốt lành của Thiên Chúa ngay trong đêm tối dày đặc nhất của tâm hồn mình.

Lm. Lê Công Đức


HDMTG Tân Lập – Thánh Lễ Gia Nhập Hiệp Hội Tín Hữu Mến Thánh Giá

Mừng lễ Suy tôn Thánh Giá, Giáo Hội mời gọi con cái mình cùng chiêm ngắm Thánh Giá – dấu chỉ của tình yêu cứu độ, nơi Thiên Chúa đã bày tỏ trọn vẹn lòng thương xót cho nhân loại. Hòa chung với niềm vui của Giáo Hội, vào lúc 5h30 ngày 14.9.2025, Hội Dòng Mến Thánh Giá Tân Lập hân hoan cử hành Thánh lễ Suy Tôn Thánh Giá – Tước Hiệu của Hội Dòng. Niềm vui được tăng lên gấp bội khi Hội Dòng hân hoan chào đón 6 anh chị gia nhập Hiệp hội tín hữu Mến Thánh Giá.

Sau thời gian tìm hiểu, học hỏi về linh đạo Mến Thánh Giá, 6 anh chị đáp trả lời mời gọi của Chúa “Hãy theo Thầy” và xác tín “Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh là đối tượng duy nhất của lòng trí anh chị”. Qua lời thưa “Lạy Chúa, con đây”, anh chị luôn làm chứng nhân của Chúa giữa đời trong đời sống gia đình, trong công việc xã hội.

Chị Phó Tổng Phụ Trách trao sách quy chế và thánh giá cho các ứng viên. Ước gì quyển quy chế này như kim chỉ nam giúp anh chị nên trọn lành theo linh đạo Mến Thánh Giá và cây Thánh Giá anh chị nhận hôm nay luôn là ngọn hải đăng giúp anh chị vượt biển bình an để tiến về quê hương vĩnh cửu.

Sau nghi thức gia nhập, Thánh lễ diễn ra trong bầu khí linh thiêng, sốt sắng với sự hiện diện của cha Vinh Sơn Phạm Thái Bình chủ tế thánh lễ.

Trong bài giảng, Cha nhấn mạnh bài đọc 1: con rắn biểu tượng cho sự chữa lành linh hồn “Hễ ai nhìn lên con rắn đồng sẽ được cứu sống”. Nhưng trong thời đại kỹ thuật số ngày nay, con rắn trở nên tinh vi, đầy cám dỗ đã giết chết tâm hồn của cả trẻ con và người lớn, làm rạn nứt mối tương quan giữa người với người qua. Giữa biết bao sự chọn lựa của thế gian, Chúa Giêsu đã chọn con đường thập giá, một sáng kiến tuyệt đỉnh để cứu độ con người. Ngài thay thế đau khổ bằng niềm hy vọng “Ai tin vào Chúa Giêsu sẽ được sự sống muôn đời”.

Tạ ơn Chúa vẫn luôn đồng hành và tuôn đổ muôn ơn lành xuống trên Hội Dòng. Hôm nay, Hội Dòng đón nhận thêm được nhiều tín hữu quảng đại bước theo Chúa trong Linh đạo Mến Thánh Giá. Cầu chúc các anh chị gia nhập hôm nay, được tràn đầy ơn lành của Chúa và trở nên chứng nhân của Chúa giữa lòng thế giới hôm nay.

Truyền Thông MTG Tân Lập


Suy Tôn Thánh Giá Là Suy Tôn Gì? (14.9.2025 Chúa Nhật XXIV Thường Niên)

Câu chuyện Môsê treo con rắn đồng trong sa mạc là thông điệp về sự nhẫn nại, kiềm chế, và sự từ bi tha thứ của Thiên Chúa. Thiên Chúa bị xúc phạm do tội lỗi của dân, Ngài để rắn độc cắn họ, nhưng khi họ thống thiết xin tha thì Ngài nhận lời và tha thứ (x. Ds 21,4-9).

Thánh vịnh 77 (Đáp ca) là lời ‘chú giải’ trình thuật trên đây trong ý nghĩa ấy. “Ðối với Người, lòng họ không ngay thẳng; họ không trung thành giữ lời minh ước của Người… Nhưng Người từ bi, tha lỗi và không huỷ diệt họ … Người đã tự kiềm chế… và không trút cơn thịnh nộ”…

Ta cần được Thiên Chúa tha thứ biết bao. Và quả thực là Chúa tha thứ cho ta. Sự tha thứ của Thiên Chúa – trong đó Ngài bỏ qua, không huỷ diệt ta – thật là điều tốt lành cho ta biết bao!

Thế nhưng, đó cũng chưa phải là điều tốt lành, điều kỳ diệu nhất. Bởi Thiên Chúa không chỉ tha thứ, mà Ngài còn đồng thời cho thấy Ngài yêu thương, quí trọng và quan tâm đến chúng ta hết mực. Không chỉ là con rắn đồng treo lên để chữa lành, mà thực sự là Chúa Giêsu, Con Một của Chúa Cha, phải bị treo lên Thập giá để trao ban sự sống cho chúng ta. Mà Chúa hy sinh Con Một như thế vì ta trong khi ta đang chìm trong tội, đang hoàn toàn bất xứng!

Rõ ràng, con rắn đồng treo lên trong sa mạc thuở xưa là hình ảnh báo trước cái chết Thập giá của Chúa Giêsu, như chính Chúa Giêsu xác nhận. Nhưng ý nghĩa báo trước ấy vẫn mờ nhạt và khiếm khuyết lắm, vì con rắn đồng trao thông điệp tha thứ, trong khi thập giá Chúa Giêsu chuyển tải trọn tình yêu thương xót đến mức điên rồ của Thiên Chúa. Như thánh Phaolô diễn tả: “Chết vì một người công chính, lương thiện là điều thật hoạ hiếm lắm. Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi – đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta”! (x. Rm 5,7-8).

Cái chết ấy của Chúa Giêsu là hành động “không dung tha, nhưng phó nộp chính Con mình” của Thiên Chúa. Song Chúa Giêsu không bị áp đặt, không bị bức tử bởi Chúa Cha, mà Người hoàn toàn tự nguyện – như lời thánh Phaolô trong Thư Philipphê: “Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người” (x. Pl 2,6-11).

Thiên Chúa tôn vinh Chúa Giêsu Kitô đã chết và sống lại. Đó là nền tảng ý nghĩa của việc chúng ta Suy tôn Thánh Giá. Và suy tôn Thánh Giá nghĩa là tạ ơn Thiên Chúa về ơn tha thứ và về tình yêu thương xót của Ngài dành cho chúng ta. Ta ý thức mình bất xứng, nhưng ta không thể cho phép mình lì lợm tiếp tục đóng đinh Chúa Giêsu bằng tội lỗi mình.

Lm. Lê Công Đức