Khai Mạc Hội Thao – Niềm Vui Lan Tỏa
Trong niềm hân hoan của toàn thể Giáo Hội mừng kính Lễ Các Thánh Nam Nữ – ngày tôn vinh những vị thánh đã trung thành bước theo Đức Kitô và xứng đáng hưởng phúc vinh quang Thiên Đàng. Đây cũng là cơ hội để mỗi chị em noi gương các ngài trong đời sống yêu thương, khiêm nhường và kiên vững trong đức tin.


Hòa chung niềm vui ấy, Hội Dòng đã tổ chức Buổi Hội Thao với chủ đề “Vui – Khỏe Cùng Nhau” nhằm tạo sân chơi lành mạnh, nâng cao sức khỏe, gắn kết tình thân và lan tỏa tình yêu thương trong đời sống cộng đoàn.
Ngay từ những giây phút đầu, bầu khí tràn ngập năng lượng và tiếng cười. Chị em cùng nắm tay nhau, trao gửi những lời chúc tốt đẹp, những nụ cười rạng rỡ và lời động viên chân thành, làm cho ngày hội thao trở nên ấm áp tình gia đình.



Sôi Nổi và Đoàn Kết Trong Các Trò Chơi
Buổi hội thao diễn ra với nhiều trò chơi phong phú, hấp dẫn và mang đậm tinh thần đồng đội.
Những bàn tay khéo léo, những bước chân nhanh nhẹn cùng tinh thần đoàn kết, hiểu ý nhau đã giúp chị em vượt qua mọi thử thách, mang lại niềm vui và tiếng cười rộn ràng.









Gắn Kết Các Thế Hệ Trong Yêu Thương
Niềm vui hội thao càng được nhân đôi khi có sự hiện diện và tham gia của quý Dì cao niên cùng toàn thể chị em trong Hội Dòng.
Những trò chơi đã trở thành nhịp cầu gắn kết. Không còn khoảng cách giữa các thế hệ, mà chỉ còn tình yêu thương. Không còn khác biệt về sở thích hay cá tính, mà chỉ còn sự hiệp nhất nên một để cùng nâng đỡ nhau trong niềm vui chung.




Khép Lại Hội Thao – Mở Ra Niềm Vui Văn Nghệ
Hội thao khép lại trong tiếng cười và niềm vui lan tỏa trên từng gương mặt, những ánh mắt lấp lánh niềm tự hào. Dù mệt nhưng niềm vui vẫn ánh lên trong từng nụ cười, bởi chị em đã vui hết mình – chơi hết sức – và yêu thương trọn vẹn.


Khi mặt trời dần ngả bóng, bầu khí rộn ràng của buổi hội thao được tiếp nối bằng chương trình văn nghệ mừng Lễ Các Thánh với chủ đề: YÊU!
Từ sân chơi thể thao sôi động, chị em bước vào không gian linh thiêng với những tiết mục múa, kịch, thời trang, talk show – như lời tri ân và ca tụng Thiên Chúa, tôn vinh đời sống chứng nhân của các Thánh, và khơi dậy niềm khát vọng bước theo Chúa trong đời sống hằng ngày.








Kết thúc ngày hội thao, niềm vui vẫn còn đọng lại trong ánh mắt và nụ cười của mỗi chị em.
Từ những trò chơi vận động đến đêm văn nghệ linh thiêng, tất cả đã hòa quyện thành bản tình ca của niềm vui và tình thân thương trong đời dâng hiến.

Ước mong rằng, tinh thần “Chị em vui khỏe cùng nhau” sẽ tiếp tục lan tỏa, để mỗi ngày sống của chị em trở thành một ngày hội thao của yêu thương, hiệp nhất và thánh thiện trong đời dâng hiến.

Ban Truyền Thông Hội Dòng
Trong ca khúc “Điều tuyệt vời”, ca sĩ Mỹ Tâm viết: “Những điều tuyệt vời nằm ở nơi chính ta…” như một lời nhắc nhở rằng hạnh phúc không ở đâu xa, mà ở ngay trong những điều bình dị mỗi ngày. Với người tu sĩ, đó là câu hỏi luôn vang lên trong lòng: “Tôi có thực sự hạnh phúc với ơn gọi mà tôi đang sống không?” Chọn đời tu không phải vì đời tu dễ dàng hay tràn đầy niềm vui, nhưng vì được thuộc trọn về Chúa, về Giáo Hội và về Hội Dòng.
Trước hết, mỗi người tu sĩ nhận ra rằng mình là một thụ tạo duy nhất được Thiên Chúa yêu thương và chọn gọi. Giữa hàng tỷ con người, không ai giống ai hoàn toàn, điều đó cho thấy tình yêu cá vị của Chúa dành cho mỗi người. Chính vì thế, người tu sĩ cảm nhận được niềm hạnh phúc được làm con Chúa, được sống trong lòng Giáo Hội và đáp lại tình yêu ấy bằng đời sống tận hiến.
Thứ đến, hạnh phúc đời tu còn là được ở gần Chúa mỗi ngày. Từ sáng sớm, họ thức dậy để dâng lời ca tụng, tạ ơn và cầu nguyện cho gia đình, cho những người thân yêu, những người họ sẽ gặp gỡ. Trong những giờ cầu nguyện riêng, họ chia sẻ với Chúa niềm vui, nỗi buồn, thao thức của bản thân và cộng đoàn. Có lẽ, ai đã yêu mới hiểu giá trị của sự hiện diện, càng yêu Chúa, người tu sĩ càng cảm thấy hạnh phúc khi được ở gần Ngài.
Tuy nhiên, hạnh phúc không chỉ có trong niềm vui mà còn trong khó khăn, thử thách. Những hiểu lầm, trái ý, ganh tỵ…trên hành trình dâng hiến đều là cơ hội để người tu sĩ sống đức tin, tìm kiếm Thánh Ý Chúa trong chính thập giá của đời mình bởi hạnh phúc đời tu không chỉ nhìn bằng đôi mắt thể lý, mà bằng con mắt của đức tin.
Cuối cùng, hạnh phúc đích thật của đời tu là biết đón nhận và bằng lòng với tất cả những gì Chúa trao. Biết chấp nhận chính bản thân mình, sống như Chúa và giống Chúa trong từng việc nhỏ bé, âm thầm dấn thân với tình yêu lớn nhất. Như Thánh Têtêsa Hài Đồng Giêsu đã nói “không có gì là nhỏ mọn trước mắt Thiên Chúa”. Khi đã hạnh phúc với Chúa, người tu sĩ không còn tìm kiếm hạnh phúc nào khác, và niềm vui ấy sẽ lan tỏa đến mọi người xung quanh.
Hạnh phúc đời tu là ân huệ cao quý Thiên Chúa dành cho những ai trung tín bước theo Ngài giữa những điều bình dị của cuộc sống. Nhờ ơn Chúa và lòng quảng đại đáp trả, người tu sĩ luôn tìm thấy niềm vui và bình an trên con đường ơn gọi. Nhờ đó, người tu sĩ có thể thốt lên như Đức Cha Pierre Lambert de la Motte: “Lạy Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh, Chúa là đối tượng duy nhất của lòng trí con.”
Tập Sinh Maria Duyên
Chúa Giêsu tiếp tục bị rình rập về vấn đề vi phạm luật ngày Sa-bát. Lần này, Người hầu như công khai ‘tuyên chiến’ với những kẻ rình rập kia, khi Người đưa bệnh nhân mắc chứng phù thũng ra trước mặt mọi người, chữa lành người ấy, và cho về. Người hỏi thẳng những người xung quanh: “Trong ngày sa-bát, có được phép chữa bệnh không?… Trong ngày Sabbat, ai trong các ông có con lừa hay con bò rơi xuống giếng mà không lập tức kéo nó lên sao?” Tất cả họ làm thinh, không thể trả lời được.
Tuyên chiến công khai như vậy thì càng chuốc lấy nguy hiểm. Bởi quyền lực ở trong tay họ, những đối thủ của Chúa Giêsu, còn chính Chúa Giêsu chỉ là dân trơn! Nhưng Chúa Giêsu không sợ nguy hiểm. Người chấp nhận mọi rủi ro, để bảo vệ phẩm giá con người và lòng tử tế trong đối xử với con người dựa trên phẩm giá ấy, đồng thời chống lại não trạng nệ luật đến mức phi nhân.
Thánh Phaolô là học trò mẫu mực của Chúa Giêsu trong tinh thần vị tha bất chấp nguy hiểm này. Phaolô được mệnh danh là ‘Tông đồ dân ngoại’, nhưng điều đó không có nghĩa là ngài không dành cho đồng bào Israel của ngài trọn một tấm lòng. Ngài đau đớn vì họ từ chối đón nhận Chúa Kitô. Thậm chí ngài dám “ao ước được loại khỏi Đức Kitô, vì phần ích của anh em mình”. Thật là một tấm lòng như bát nước đầy!
Chính tấm lòng ấy đem lại sức mạnh/ động lực cho Phaolô trong sứ vụ Tông đồ cũng như trong cuộc dâng hiến cuối cùng và dứt khoát của ngài. Cũng như chính Chúa Giêsu đã cảm thương người đau khổ bằng cả tấm lòng, cho dù phải trả giá cao nhất là cái chết. ‘Tình yêu mạnh hơn sự chết’, đó là lôgic của Chúa Giêsu, của Phaolô, và của mọi môn đệ chân truyền của Chúa qua các thời đại.
Là Kitô hữu, chúng ta có sống với một tấm lòng yêu thương anh chị em nghèo khổ xung quanh đời mình không? (xem Tông huấn Dilexi Te của ĐGH Lê ô XIV). Chúng ta có hiểu lôgic ‘tình yêu mạnh hơn sự chết’ không?
Lm. Lê Công Đức
Chiều tối 28/10, tại Vatican, chủ sự sự kiện “Cùng Nhau Bước Đi Trong Hy Vọng”, được tổ chức tại Hội trường Phaolô VI nhân kỷ niệm 60 năm Tuyên ngôn “Nostra Aetate” của Công đồng Vaticanô II, Đức Thánh Cha Lêô XIV mời gọi các nhà lãnh đạo tôn giáo thế giới và các thành viên ngoại giao: “Chúng ta hãy giúp mọi người trở thành những tiếng nói tố cáo bạo lực và bất công, hàn gắn chia rẽ và loan báo hòa bình”.
Trong diễn văn, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã ca ngợi Tuyên ngôn là một “hạt giống hy vọng” đã phát triển thành “một cây cổ thụ hùng vĩ”, mang lại “những hoa trái phong phú của sự hiểu biết lẫn nhau, của tình bạn, hợp tác và hòa bình”. Ngài bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người đã vun trồng đối thoại trong suốt sáu thập kỷ qua, bao gồm cả “các vị tử đạo vì đối thoại, những người đã chống lại bạo lực và hận thù”.
Đức Thánh Cha khẳng định thông điệp của Nostra Aetate, một tài liệu nền tảng về quan hệ của Giáo hội Công giáo với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, vẫn còn nguyên giá trị: Đối thoại không phải là một chiến thuật hay công cụ, mà là một lối sống, một hành trình của trái tim. Ngài nêu bật bốn giáo huấn cốt lõi của tài liệu, bao gồm việc nhân loại thuộc về một gia đình duy nhất với cùng một nguồn gốc và cùng đích, và Giáo hội Công giáo không loại trừ bất cứ điều gì là “chân thật và thánh thiện” trong các tôn giáo khác, xem đó là “một tia sáng của Chân lý”.
Đức Thánh Cha cũng nhấn mạnh rằng chương IV về Do Thái giáo là “trái tim và hạt nhân tạo ra” Tuyên ngôn, minh họa nguồn gốc Do Thái của Kitô giáo và kiên quyết chống lại mọi hình thức của chủ nghĩa bài Do Thái.
Trước bối cảnh thế giới đang phải đối mặt với “những bức tường lại trỗi dậy giữa các quốc gia”, chiến tranh, nghèo đói và sự tuyệt vọng, Đức Thánh Cha đã đưa ra một lời kêu gọi mạnh mẽ gửi đến các nhà lãnh đạo tôn giáo. Ngài nhấn mạnh họ có “trách nhiệm thiêng liêng” là giúp người dân thoát khỏi định kiến, giận dữ, và lòng tham; trở thành “những ngôn sứ của thời đại” để lên tiếng “tố cáo bạo lực và bất công, hàn gắn những chia rẽ và công bố hòa bình”.
Kết thúc bài diễn văn, Đức Thánh Cha mời gọi tất cả các đại diện cùng nhau bước đi trên con đường hy vọng. Ngài nhắc lại lời của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II: “Nếu thế giới muốn tiếp tục tồn tại thì thế giới không thể thiếu lời cầu nguyện”, và mời gọi mọi người tham dự dành một khoảnh khắc cầu nguyện trong thinh lặng, mong “bình an ngự xuống trên chúng ta và lấp đầy trái tim chúng ta”.
Nguồn. Vatican News
Bản văn Thư Rôma hôm nay (8,31b-39) như một chuỗi ngọc lấp lánh, chỉ cần đọc, thưởng thức, lắng đọng, chứ không cần diễn giải gì thêm. Cần nhớ, đây là bản văn đặc biệt quan trọng, hùng hồn thuyết phục chúng ta về tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta: để cứu đầy tớ, Thiên Chúa đã thí nộp chính Con một yêu dấu của Ngài!
“Nếu Thiên Chúa ủng hộ chúng ta, thì ai có thể chống lại chúng ta? Người không dung tha chính Con Mình, nhưng lại phó thác Con vì tất cả chúng ta, há Người lại chẳng ban cho chúng ta mọi sự cùng với Con của Người sao?”
“Ai sẽ tách biệt chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðức Kitô được? Hay là gian truân, buồn sầu, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, bắt bớ, gươm giáo sao?… Nhưng chúng ta vượt thắng được tất cả những sự ấy vì Ðấng đã yêu thương chúng ta.”
“Tôi chắc chắn rằng dù sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay các bậc quyền quý, tài sức, dù những sự hiện tại hay tương lai, hoặc sức mạnh, dù cao hay sâu, dù tạo vật nào khác, cũng không có thể tách biệt chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”…
Thế nhưng, thật buồn… vì tình yêu lạ lùng ấy của Thiên Chúa lại được đáp trả bằng sự mù quáng và ác tâm của con người! Chúa Giêsu nói về ‘số phận’ của Người: “Không lẽ một ngôn sứ lại chết ở ngoài Giêrusalem?” Và từ góc độ của Thiên Chúa, Người than thở: “Ôi Giêrusalem, Giêrusalem! Ngươi giết hại các ngôn sứ và ném đá những người đã được sai đến cùng ngươi. Ðã bao lần Ta muốn tụ họp con cái ngươi, như gà mẹ ấp ủ gà con dưới cánh, thế mà ngươi đã không muốn. Thì đây, nhà các ngươi sẽ bị bỏ hoang vu”…
Con người giết Con Thiên Chúa. Bị giết thì… chết! Và ở đây chết là cách tột đỉnh để nói rằng ‘Ta yêu ngươi’. Chúng ta có quyết định tiếp tục giết Con Thiên Chúa nữa không, bằng tội lỗi của chính chúng ta?
Lm. Lê Công Đức
“Lạy Thầy, phải chăng chỉ có một số ít sẽ được cứu độ?” Câu hỏi có tính thăm dò, thống kê, đồng thời phản ánh sự tò mò muốn biết thông tin chung chung về khả năng được cứu độ của mọi người…
Chúng ta thường tò mò như vậy. Nhưng Chúa Giêsu muốn hướng mối quan tâm của ta vào đúng trọng tâm hơn. Người nhắc ta rằng chính mình hãy cố gắng để vào được qua cửa hẹp. Người lưu ý những sự thật: nhiều người sẽ tìm vào mà không được; chủ sẽ đóng cửa, và có những người bị bỏ lại bên ngoài. Và Chúa Giêsu đúc kết: người ta sẽ từ đông chí tây, từ bắc chí nam đến dự tiệc trong nước Thiên Chúa…, còn các ngươi, tưởng nắm chắc sẽ ở trong, nhưng bị loại ra ngoài!
Chuyện này cũng tương tự như chuyện người ta báo tin cho Chúa Giêsu về những người Galilê bị Philatô sát hại, với lối nghĩ rằng đó là do tội lỗi của những người ấy – nhưng Chúa Giêsu hướng người ta đến thông điệp căn bản, đúng đắn và thiết thực hơn: “Các ngươi hãy hối cải, nếu không thì sẽ chết hết như vậy!”
Vì thế, câu hỏi quan trọng không phải là nhiều người hay ít người sẽ được cứu độ, nhưng là: Tôi có sẽ được cứu độ? Tôi sẽ được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa hay sẽ bị loại ra ngoài?… Tự hỏi như vậy cũng chính là tự hỏi mình phải làm gì đây để không bắt hụt ơn cứu độ của Chúa. Thánh Phaolô, trong Thư Rôma, gợi ý chúng ta trả lời bằng lòng ‘yêu mến Thiên Chúa’: “Những kẻ yêu mến Thiên Chúa, thì Người giúp họ được sự lành, họ là những người theo dự định của Chúa, được kêu gọi nên thánh”.
Cuối cùng, chìa khoá của tất cả là khả năng yêu mến. Lòng yêu mến Thiên Chúa và sự diễn tả của nó là tấm lòng yêu thương con người! Ơn cứu độ dành cho những ai yêu thương!
Lm. Lê Công Đức
Thánh Simon và Giu đa, cùng với mười anh em khác, là những con người được ân phúc rất đặc biệt. Con Thiên Chúa làm người đã chọn các ngài giữa bao người khác, để sống gần gũi mật thiết cũng như để chia sẻ sứ vụ rao giảng và thi ân giáng phúc. Đó là một sự chọn lựa rất nghiêm túc; Chúa Giêsu đã thức suốt đêm cầu nguyện, tham vấn thánh ý Cha, trước khi đưa ra sự chọn lựa này.
Ân phúc ấy đã được các tông đồ – trừ Giu đa Iscariot – trân trọng gìn giữ và làm triển nở, dù với bao trầy trật ở buổi ban đầu. Các ngài trở thành mãi mãi là nền móng cho công trình của Chúa là Giáo hội, cộng đoàn môn đệ thừa sai.
Vâng, các ngài là một cộng đoàn. Các ngài đã được chọn và được làm nên một nhóm, một cộng đoàn, chứ không phải là những cá nhân rời rạc. Đành rằng trước sau các ngài vẫn là những cá nhân, với những đặc nét riêng của mỗi người, nhưng từ nay các ngài cùng với nhau đón nhận một căn tính mới là căn tính ‘cộng đoàn của Chúa Giêsu’, căn tính này đem lại cho cuộc đời các ngài một chiều hướng mới và một ý nghĩa quyết định. Nói cách khác, từ nay nếu tách ra khỏi cộng đoàn thì các ngài không còn là mình nữa – (đây là điều thật đáng tiếc đã xảy ra với Giu đa Iscariot).
Thánh Phaolô dùng hình ảnh ‘toà nhà’ và ‘đền thánh’ rất hàm súc để nói về cộng đoàn này. Mỗi chúng ta là một thành phần, một chi tiết trong toàn bộ kết cấu của ‘toà nhà’ duy nhất ấy. “Anh em đã được xây dựng trên nền tảng của các Tông đồ và Tiên tri, và chính Ðức Kitô làm đá góc tường. Trong Người, tất cả toà nhà được xây dựng cao lên thành đền thánh trong Chúa, trong Người, cả anh em cũng được xây dựng làm một với nhau, để trở thành nơi Thiên Chúa ngự trong Thánh Thần”…
Không phải Tông đồ nào cũng danh tiếng lừng lẫy. Thánh Simon và Giuđa là ví dụ cho điều đó. Ta không biết nhiều thông tin về các ngài. Ta không có nhiều chuyện đầy ấn tượng để kể về các ngài. Nhưng như đã nói trên, điều quan trọng là các ngài thuộc về Nhóm của Chúa Giêsu thiết lập, trong tư cách là nền móng của Nhóm ấy. Danh giá của các ngài là danh giá của Nhóm ấy. Trong Nhóm ấy, hoàn toàn không có chỗ cho chủ nghĩa cá nhân, đơn giản bởi vì Nhóm ấy là một Thân Thể, một Nhiệm Thể!
Mừng kính các thánh Tông Đồ, chúng ta được mời gọi đào sâu cảm thức Giáo hội để sống phong cách đồng hành đồng nghị (tức phong cách hiệp thông/ tham gia/ sứ mạng) nhiều hơn. Chính chúng ta nối tiếp các Tông Đồ để ‘xây lên’ cao toà nhà đền thánh Thiên Chúa ngự. Chính chúng ta làm cho ‘tiếng’ các Tông Đồ thực sự ‘vang cùng trái đất’…
Lm. Lê Công Đức
Người đàn bà bị quỉ ám, khòm lưng đã 18 năm, nay gặp Chúa Giêsu và được Người đặt tay chữa lành. Bà đứng thẳng lên và tôn vinh Thiên Chúa… Viên trưởng hội đường không hài lòng, vì sự việc trên diễn ra vào ngày Sa-bát! Ông lên tiếng nhắc mọi người tôn trọng ngày Sa-bát, rằng hãy đến xin chữa bệnh vào những ngày khác, cần tránh ngày này…
Chúng ta thấy một sự tương phản đến cùng cực. Trong khi vị chức sắc ở đây bảo vệ lề luật đến mức phi nhân, bất chấp nỗi khổ đau của những người bị đè bẹp bởi hoàn cảnh khốn cùng, thì Chúa Giêsu tự tỏ lộ chính Người là Đấng giải phóng, biết thương cảm và cứu chữa người ta, trả lại cho họ sự tự do và phẩm giá, sẵn sàng bất chấp những qui định của lề luật!
Đây là luận lý của Chúa Giêsu: “Hỡi những kẻ giả hình, chớ thì trong ngày Sabbat, mỗi người trong các ông không thả bò hay lừa của mình ra khỏi chuồng mà dẫn nó đi uống nước sao? Phương chi người con gái của Abraham này, Satan cột trói nó đã mười tám năm nay, chớ thì không nên tháo xiềng xích buộc nó trong ngày Sabbat sao?” Vậy đó, thật rõ, và chúng ta hãy nghe lại lời tuyên bố đanh thép này mỗi khi bị cám dỗ nệ luật một cách mù quáng và phi nhân. Chúng ta không ngạc nhiên khi những kẻ chống đối Chúa đều hổ thẹn, còn dân chúng thì rất đỗi vui mừng!
Cách nào đó, thánh Phaolô đang giải thích sự tương phản trên khi nói những lời này: “Những ai sống theo Thánh Thần Thiên Chúa, thì là con cái Thiên Chúa. Vì không phải anh em đã nhận tinh thần nô lệ trong sợ hãi nữa, nhưng đã nhận tinh thần nghĩa tử; trong tinh thần ấy, chúng ta kêu lên rằng: ‘Abba, lạy Cha’”. Quả thật, Chúa Giêsu cho ta thấy thế nào là sống trong tự do của con cái Thiên Chúa, thế nào là vượt qua sự sợ hãi của người nô lệ. Người phụ nữ được Chúa chữa lành, hết khòm lưng, có thể đứng thẳng lên để tôn vinh Thiên Chúa, đó là hình ảnh biểu tượng của sự giải phóng toàn diện mà Chúa Giêsu đem lại.
Kitô hữu là những người tự do vì đã được Chúa Kitô giải phóng. Đó là nói trên danh nghĩa. Còn thực tế, mỗi chúng ta hãy tự hỏi mình có sự tự do của con cái Thiên Chúa hay không…
Lm. Lê Công Đức