Lòng Thương Xót

Tuần hai mừng Chúa Phục Sinh,

Mừng Lòng Thương Xót uy linh nhân lành:

Nhu cầu thương xót thường tình,

Con người ai cũng cần mình được thương.

Thế nên ta phải biết đường,

Cũng là thương xót tỏ tường tha nhân.

Tập tành nếp sống ân cần,

Tỏ ra thông cảm thấy gần nhau hơn.

Kiên tâm nhường nhịn luôn luôn,

Mãi hoài nhẫn nại, tạo nguồn thân thương.

Giêsu Ngài đã làm gương,

Về lòng thương xót trên đường trần gian

Trước là tiêu chuẩn tương quan,

Trở thành tiêu chí nguồn căn hàng đầu.

Đỉnh cao tha thứ đậm mầu,

Quên đi lầm lỗi thâm sâu thắm tình.

Con tim đón nhận hy sinh,

Con tim phục vụ hành trình yêu thương.

Ki-tô Đức Chúa là đường,

Đường Lòng Thương Xót, nêu gương khiêm nhường.

Tôi nay tập sống yêu thương

Cảm thông tha thứ một lòng xót thương.

Học bài: Lòng Chúa Xót Thương,

Hưởng Lòng Thương Xót và thương xót người.

Hưởng ơn: hạnh phúc tuyệt vời,

Nước Trời: Điểm tới đời đời hân hoan.

Phỏng theo ý chia sẻ

Của Đức Cha Giuse Nguyễn Tấn Tước


Cảm nghiệm tình yêu người Mục tử sau một lần tĩnh tâm tháng

Cừu Puto

Đó là tên mọi người quen gọi tôi, tôi là một chú cừu nhỏ trong một đàn cừu thuộc một nhà tập Dòng Tên ở Rôma. Tôi không giống như những chú cừu khác, tôi có một chân bị tật từ lúc mới sinh, một cái chân nó ngắn hơn các chân khác nên việc di chuyển làm tôi khổ sở, chính vết thương đấy nhiều lần làm tôi đau đớn, chậm chạp và luôn thấy mình mặc cảm tự ti. Không hiểu sao mà tôi gia nhập đoàn cừu ở đây, có một vị mục tử được phân công chăm sóc chúng tôi. Cuộc đời của tôi bắt đầu nở hoa từ đây, nhờ tình yêu thương sâu sắc của vị mục tử, tôi biết cười nhiều hơn và thấy mình hữu ích. Tuy tôi chậm chạp, nhưng ngài không bỏ tôi. Khi các bạn cừu của tôi bỏ tôi mà đi vì tôi chậm chạp, thì ngài chờ đợi và kiên nhẫn với tôi, để cho tôi theo kịp đàn. Khi tôi cô đơn, chán chường thì ngài đến. Ngài giúp tôi nhận ra những khả năng mà tôi không biết từ chính cái yếu của tôi…

Và đây là câu chuyện của tôi

֍Ngày thứ nhất

Tôi đang nằm vất vưởng chán chường ở một góc chuồng. Tôi chẳng muốn làm gì cả cũng chẳng thèm đoái hoài đến các bạn cừu khác. Bỗng nhiên một luồng ánh sáng chiếu thẳng vào chuồng, bóng một người đàn ông vạm vỡ từ cửa bước vào. Tôi nghe ông nói với giọng hùng hồn nhưng ấm áp: “Thức dậy thôi, nào các bạn, nhanh nào, đi dùng bữa sáng thôi”. “Các bạn” ư, lần đầu tôi nghe có người gọi chúng tôi là bạn. Rồi ông lùa cừu ra ngoài đồng cỏ gần đó. Ông lẩm bẩm đếm từng con một, 1, 2, 3…38, 39, còn một con nữa đâu? Ông ngó khắp chuồng, tôi biết là ông đang tìm tôi, tôi hững hờ chẳng thèm nhúc nhích. “A đây rồi, trốn kỹ quá nhỉ”, tôi đã bị ông phát hiện dưới đống rạ khô. Sau khi quan sát tôi, vẻ mặt ông ra vẻ đăm chiêu lắm, rồi ông đem tôi ra đồng cỏ…

֍Ngày thứ 2

Tôi còn đang ngủ vùi thì…

“Đứng dậy, ra đây nào”

“Đứng dậy”

“Đứng dậy mau”

Là tiếng ông ấy đấy. Tôi từ từ mở mắt ra. Hình ảnh ông đập vào mắt tôi. Thì ra ông đang nói tôi đấy à, ông cha. Tôi chán chường bước ra, vì chẳng thiết tha gì với cuộc sống này, nó làm tôi mệt mỏi. Sao ông trời lại cho tôi đôi chân tật nguyền này chứ? Tôi bước đi chậm chạp phía sau đàn cừu và ông vẫn đi theo sau tôi. Sao ông không xách tôi lên đi cho nhanh mà chỉ đỡ tôi dậy sau những lần tôi ngã và … chờ tôi đi tiếp? Điều này làm tôi luôn suy nghĩ! Chiều, ông lại đến. Trên tay ông cầm một cái xô và một cái bàn chà. Tôi không biết trong xô đựng gì và ông định làm gì. Ông lấy vòi nước xịt tắm cho từng con một. Đến lượt tôi, tôi vùng vẫy chẳng chịu để ông tắm cho yên. Tôi lên tiếng, “bebe: dừng lại”, vì tôi sợ hãi nước. Nhưng ông nào có hiểu tôi đang nói gì. Là cha tiến sĩ mà có mỗi tiếng cừu cũng không hiểu… thật là…! Nhưng chẳng vì thế mà ông nổi cáu, gương mặt ông vẫn nhân hiền, vẫn kiên nhẫn với tôi. Ông tắm cho tôi kĩ lắm, nhất là cái chân tật nguyền của tôi, có vẻ như tôi được tắm lâu hơn các bạn cừu khác. Trước giờ chưa ai để ý, yêu thương tôi như vậy, điều đó lại làm tôi suy nghĩ…!

֍Ngày thứ 3

Hôm nay cũng thế, sáng dậy là ông đến với chúng tôi. Kỳ lạ thay, hôm nay không hiểu sao tôi không bướng bỉnh như bình thường. Tôi xôn xao chạy theo các bạn cừu đi ra đồng. Tuy  chậm chạp nhưng tôi cố gắng chạy theo các bạn. Tôi không tách rời và cô lập mình nữa, tôi tự nhập đoàn và điều này làm tôi hạnh phúc. Hôm nay tôi thấy trời như mở rộng hơn, cỏ như xanh hơn. Nụ cười của ông chủ làm tôi ngây ngất, nụ cười ấy một lần nữa như muốn nói tôi cố lên, mạnh mẽ tiến về phía trước, dù đường có gập ghềnh hay sỏi đá.

Hôm nay có phái đoàn đến tĩnh tâm, mỗi tháng đều có những phái đoàn đến tĩnh tâm như thế. Tôi thấy có một số người nhìn tôi mà cười. Có lẽ do đôi chân khập khiễng của tôi trông ngộ nghĩnh, hay họ thấy được chính mình qua hình bóng của tôi, những con người mang trái tim dễ bị tổn thương và cần đến sự cảm thông nâng đỡ như tôi. Nhưng nhờ tình thương vô bờ từ vị mục tử, tôi đã không còn mặc cảm tự ti nữa. Lúc này hãnh diện và biết mình có thể là nguồn động lực cho ai đó. “Bebe” lòng tôi nhẹ tênh như đang bay thẳng lên bầu trời xanh. Ngày hôm nay tôi được sinh ra lần nữa…

Tâm sự của người mục tử

֍Ngày đầu tiên

Hôm nay tôi đảm trách thêm một nhiệm vụ mới là chăm nuôi đàn cừu mới của Cha Bề trên bên Rôma gửi tặng. Chiều tôi ra chuồng nhận đàn cừu, nhìn qua đàn cừu này cũng mập tròn béo tốt, và cũng đẹp, “chắc nhẹ nhàng đây”. Tôi nghĩ mà không nghĩ đến sự biếng nhác của mình, chợt ánh mắt tôi bị cuốn vào một chú cừu con nằm co ro góc chuồng, lặng lẽ…

֍Ngày thứ nhất

Tôi ra chuồng sớm, ngay sau giờ kinh thần vụ chung. Ra thăm những đứa con tinh thần của tôi, vì tôi muốn chúng quen với nề nếp tôi lập ra cho chúng. Tôi lùa đàn vật ra ngoài và không quên đếm sỉ số, 1, 2, 3…38, 39. “Ơ, sao lại thiếu mất một con rồi, chẳng phải cha giám đốc giao cho mình 40 con hay sao”. Tôi đếm lại lần nữa, biết đâu mình đếm nhầm, vẫn thiếu, mới nhận mà để cho chết thì không hay lắm. Tôi lục soát quanh chuồng thì thấy một chú cừu nằm ngủ dưới đống rạ khô. Giận điên lên định quất cho chú ấy vài roi, nhưng khi xách chú ấy lên nhìn đôi chân chú làm tôi khựng lại…

֍Ngày thứ 2

Tôi lại ra sớm đưa đàn cừu ra đồng. Lại chú cừu đấy không chịu ra. Tôi lại gần chờ đợi, vì tôi thương cậu ấy bởi đôi chân tật nguyền của cậu.. Chiều trong giờ vệ sinh, cậu ta lăng xăng như một chú chó, chẳng chịu nằm yên cho tôi tắm. Bình thường tôi sẽ cáu lên nhưng nhìn đến đôi chân khập khiễng, tự nhiên tôi càng thương cậu ta hơn. Thương vì cậu không biết mình may mắn và được yêu thương như thế nào. Tôi vẫn nhẹ nhàng…

֍Ngày thứ 3

Bất ngờ quá, hôm nay cậu ta không bướng bỉnh như những lần trước nữa, hôm nay cậu ta ngoan lạ thường, thấy cậu ấy vui tôi cũng vui lắm, hay là tôi đã “cảm hóa được chú sói” rồi.

Hôm nay có phái đoàn đến tĩnh tâm ở dòng, tôi dẫn đoàn đi tham quan khuôn viên nhà dòng, và không quên trang trại cừu của tôi. Mọi người rất phấn khởi. Tôi thấy một số người còn rất hứng thú và rất chú ý đến chú cừu non đặc biệt của tôi.

֍֍Con cừu bị thương là ai? Chú cừu non ấy đó là tôi, là bạn, là mọi người chúng ta. Đôi khi vì kiêu hãnh, tự tôn, chúng ta không chấp nhận được những giới hạn “tật nguyền” của bản thân. Chúng ta than trách ông trời sao mình lại như thế, mà không nhận ra cái đẹp, cái quý giá, cái đặc biệt trong chính cái “tật nguyền” ấy. Ta khóc lóc, đau khổ, than trách, mặc cảm tự ti… Nhưng ta không nhận ra rằng, chính cái “tật nguyền” đó làm cho ta nên khác biệt, cái riêng nơi ta. Ta là ta. Đối với lòng thương xót vô biên của Chúa, vị mục tử nhân lành trong cuộc đời ta, thì những gì gọi là “xấu xí” hay “đáng ghét” thì đều là ân huệ, đáng được trân trọng và yêu thương. Người kiên nhẫn chờ đợi và giúp ta nhận ra giá trị nơi những “tật nguyền”của mỗi người. “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích cho những ai yêu mến Người” (Rm 8, 28). Trong cuộc sống đôi khi cũng cần “phải bị” tổn thương, “bị” yếu đi để thấu hiểu và đón nhận tình yêu thương. Để sau khi hồi phục, ta nên mạnh mẽ hơn và có thể trở thành nguồn động lực, bờ vai cảm thông cho ai đó bị thương như ta đã từng.

  • Mỗi một người đều là nguồn cảm hứng cho một ai đó

Lê Thị Minh Nguyệt , Tiền Tập


Ký ức trực viện về người mẹ trẻ – thao thức cho sứ vụ ơn gọi

Cơn mưa đầu mùa mang theo cái se lạnh của hơi nước hòa quyện với làn gió trong đêm. Trong tâm trí tôi lại hiện lên những kỉ niệm một thời sinh viên đã qua. Nhớ ngày đầu lên thành phố nhập học, trời cũng đổ mưa trong đêm đầu tiên tôi ở trọ một mình. Cơn mưa đêm nay như nhắc tôi nhớ về những bỡ ngỡ, lo lắng đan xen với niềm háo hức của một cô bé lần đầu rời xa vòng tay cha mẹ để đi học xa nhà; nhớ những buổi làm thêm vất vả và khó khăn để kiếm thêm chút tiền sinh hoạt, nhưng bù lại là những bài học kinh nghiệm mà có lẽ chỉ ở trường đời mới dạy được cho tôi; nhớ những kỉ niệm vui buồn cùng lũ bạn thân và nhớ cả những lần trực viện của một sinh viên trường y.

 Cùng chiếc xe đạp yêu quý của mình trên đoạn đường từ phòng trọ tới bệnh viện, tôi co ro chống chọi với cái giá rét đang đan quyện cùng những hạt mưa phùn của tiết trời cuối năm nơi đất trời miền Bắc. Tôi thấy mệt và chán chường vì nghĩ đến đêm nay chắc sẽ phải thức cả đêm mất. Trực phòng sơ sinh thì tôi khó mà được yên tĩnh nhưng cũng háo hức với đêm trực đầu tiên tại Bệnh viện Nhi này. Tôi tưởng tượng lần đầu tiên được bế trẻ con không biết cái cảm giác nó sẽ như thế nào đây? Mãi mân mê với những suy tưởng ấy, tôi đã đến cổng bệnh viện lúc nào không hay. Khi tôi và cô bạn cùng lớp cùng với ba bạn sinh viên khác được chia trực tại phòng bệnh nặng, chúng tôi lại thêm phần ngao ngán hơn vì ai cũng hiểu phòng trực bệnh nhân nặng sẽ bận rộn như thế nào. Bước vào phòng bệnh, hình ảnh một bé gái đang nằm ngủ ngoan trong chiếc lồng kính đã thu hút sự chú ý không chỉ của riêng tôi nhưng là cả với nhóm sinh viên trực đêm hôm đó. Chúng tôi thấy ngạc nhiên khi cô bé khá bụ bẫm, da dẻ hồng hào đang nằm ngủ ngoan hiền. Tôi đoán chắc cô bé đang có một giấc mơ thật đẹp khi thấy em nhoẻn miệng cười và cái má núm đồng tiền xuất hiện trên khuôn mặt ấy lại làm tăng thêm vẻ duyên dáng của em. Bị thu hút, tôi và cô bạn cùng lớp đang mân mê đi đến với bé thì chúng tôi được chị y tá nhắc nhở: “Không được lại gần khu vực bé vì bé đang là trường hợp cách li đặc biệt”.

“Cách li đặc biệt”? Tôi ngạc nhiên hỏi lại chị vì chỉ khi có bệnh truyền nhiễm hoặc bệnh tình đặc biệt bé mới được sắp xếp vào khu cách li. Với đánh giá bề ngoài, tôi không hề nhận thấy có dấu hiệu bất thường từ bé. Sau một hồi tìm hiểu, tôi được biết cô bé ấy tên Bảo Trâm và lí do mà Bảo Trâm được “đặc cách” như thế là vì bé bị nhiễm HIV do di truyền từ mẹ sang con. Khi nghe chị điều dưỡng nói, tôi và các bạn cùng nhóm trực đều quay lại nhìn bé với một tâm trạng buồn và xót xa. Buồn và xót xa cho số phận của một đứa trẻ vừa mới sinh ra đã phải gánh lấy căn bệnh thế kỉ ấy.

Hình ảnh một cô gái trẻ xuất hiện trước cửa phòng bệnh trong một vài phút ngắn ngủi đang nhìn về phía lồng kính nơi Bảo Trâm nằm, tôi đoán đây chắc là mẹ cô bé. Tôi chào em bằng một cái gật đầu và hỏi thăm xem tôi có thể giúp gì được em hay không. Tuy nhiên, em đáp lại tôi với một ánh mắt ái ngại và bằng một cái lắc đầu, quay lưng bỏ đi. Và rồi tôi cũng hỏi thăm được hoàn cảnh của em qua các nhân viên y tế tại khoa. Em đang là cô sinh viên năm nhất, cuộc sống tự do tự tại của sinh viên đã cuốn em vào những cuộc tình chóng vánh, ăn chơi đua đòi và kết quả là giờ em đã là mẹ mà con em lại chẳng xác định được đâu là cha nó. Khi biết mình đã mang thai, em đã hơn một lần muốn phá bỏ nhưng có lẽ bản năng của người mẹ đã làm em quyết định giữ lại cái thai trong bụng. Mặc cho những lời dị nghị của bạn bè và cả sự phản đối của cha mẹ, em vẫn quyết giữ lại sinh linh bé nhỏ đang trong bụng mình. Giờ đây khi biết con và cả chính em đang mang trong mình căn bệnh thế kỉ, có lẽ em không thể đón nhận được sự thật nghiệt ngã ấy. Liệu rồi đây, em và con sẽ ra sao khi phải sống với những hiểm nguy luôn rình chờ của căn bệnh; Phải đối diện thế nào với những lời đàm tiếu, những ánh nhìn khinh miệt, và cả những lời nói kì thị của những người thân quen; Liệu rồi đây cha mẹ em sẽ phải sống thế nào với họ hàng với làng xóm láng giềng; Và cũng bởi vì giờ đây không công ăn việc làm, không nơi nương tựa nên em muốn bỏ lại đứa con mình đã mang nặng đẻ đau. Tôi thầm cám ơn em vì dù thế nào em cũng đã cho Bảo Trâm cơ hội để được đến với cuộc đời, cám ơn em vì đã dũng cảm đối diện với những khó khăn trong thời gian thai kì ấy… nhưng trong tôi lại chợt nhói lên nỗi đau cho số phận của một cô gái đã tự tay hủy hoại cuộc đời mình. Và tôi lại càng thấy đau hơn khi nhìn vào lồng kính bên trong phòng bệnh, tôi tự hỏi rồi đây cô bé Bảo Trâm dễ thương, ngoan hiền này sẽ ra sao, liệu con sẽ đối diện với cuộc sống khắc nghiệt này như thế nào và cuộc đời của con sẽ đi về đâu?

 Trải qua quãng đời sinh viên, giờ này nhìn lại tôi có cảm nhận đó là quãng thời gian thật đẹp với những kỉ niệm vui buồn sướng khổ. Tôi cảm nhận được có rất nhiều khó khăn và cám dỗ thách đố mà người trẻ luôn phải đối diện trong thế giới hiện nay. Và để vượt lên được những lời mời gọi ấy, chính tôi cũng không ít lần phải đánh vật với chính mình. Trước cuộc sống tự do và đầy giẫy những cám dỗ ấy của các bạn trẻ hiện nay, tôi tự hỏi liệu sẽ còn bao nhiêu đứa trẻ có số phận giống như Bảo Trâm? Sẽ còn bao nhiêu người trẻ chạy theo những cám dỗ giống như người mẹ của cô bé ấy; Và liệu rằng người mẹ ấy giờ đây có đủ dũng cảm để đối diện với cuộc đời, với chính mình và với đứa con mình đã sinh ra chăng?

Catarina Trần Luyên


Lễ Phục Sinh

  1. Nguồn gốc

Lễ Phục Sinh có nguồn gốc từ lễ Vượt qua của Do Thái Giáo. Người Kitô hữu nhận ra qua cái chết và sự phục sinh, Đức Giêsu giải phóng con người khỏi sự dữ và đưa họ vào cuộc sống mới. Lễ mừng Chúa Giêsu sống lại được cử hành vào mỗi ngày Chúa Nhật.

Lễ Phục Sinh được xem là một trong những ngày lễ quan trọng nhất trong năm của người Kitô giáo, để tưởng niệm biến cố Phục Sinh của Chúa Giêsu. Phục Sinh cũng được dùng để chỉ một mùa trong năm phụng vụ Công giáo gọi là Mùa Phục Sinh, kéo dài đúng 50 ngày, từ Chúa Nhật Phục Sinh đến Lễ Hiện Xuống.

Mùa Phục Sinh bắt đầu với Chúa Nhật Phục Sinh, cũng là ngày cuối của Tam Nhật Vượt Qua và ngày đầu của bát nhật Phục Sinh hay tuần lễ áo trắng (in albis), để kết thúc vào ngày thứ 50, tức Chúa nhật VIII Phục sinh.

2. Ý nghĩa

Hiệp nhất Kitô hữu trong Đức Tin

Trước tiên, về ngày tháng: Tất cả các Giáo Hội Kitô đều mừng Lễ Phục Sinh vào Chúa Nhật. Nhưng ngày tháng có thể khác nhau. Điểm chính yếu Lễ Phục Sinh nêu cao Hiệp Nhất Kitô Giáo trong đức tin: tất cả các Giáo Hội Kitô cùng xác tín một niềm tin về Chúa Giêsu Phục Sinh đã có từ Hội Thánh tiên khởi, được tuyên xưng trong Kinh Tin Kính các Thánh Tông đồ: “Chúa Giêsu Kitô ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại.” Sau đó, ông Phêrô cùng đứng chung với mười một Tông đồ rao giảng: “Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại” (Cv 2, 24).

Giáo Lý và chiều sâu Phụng vụ Phục Sinh

Vì là “lễ trọng trên hết các lễ trọng” và “Chúa Nhật Phục Sinh là Chúa Nhật vĩ đại” (GLHTCG, 1169), nên Lễ Phục Sinh là điểm tựa để thực hiện Niên Lịch Phụng Vụ mỗi năm.

Phụng Vụ Thánh đề cao hiệp nhất và Giáo Lý gọi “mầu nhiệm Phục Sinh là chân lý chóp đỉnh của đức tin” (GLHTCG, 638). Theo Công Đồng Vaticanô II, “Từ ngày Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, ngày Giáo Hội xuất hiện nơi trần gian, các giáo hữu kiên tâm theo lời giáo huấn của các tông đồ, cùng nhau qui tụ để cử hành Mầu nhiệm Phục Sinh, loan truyền sứ điệp cứu rỗi để mọi người nhận biết một Thiên Chúa duy nhất và chân thật, cùng Đấng Ngài sai là Chúa Giêsu Kitô” (Hiến Chế Phụng Vụ 6, 9).
Lễ Phục Sinh nêu rõ liên hệ giữa Do Thái Giáo và Kitô Giáo, như trong Sách lễ Rôma, Lễ Phục Sinh là “Pascha Resurrectionis”, hoặc “Dominica Resurrectionis” với Pascha có nghĩa Lễ Vượt Qua của Do Thái Giáo và Dominica là ngày của Chúa đi theo Resurrectio (Phục Sinh).

Bài ca Tiếp Liên của Thánh Lễ trong ngày, cũng nêu cao liên hệ giữa “Hy Lễ Vượt Qua” và “Đức Kitô Phục Sinh”: “Các Kitô hữu hãy tiến dâng lời khen ngợi hy lễ Vượt Qua. Chiên con đã cứu chuộc đoàn chiên: Đức Kitô vô tội đã hòa giải tội nhân với Chúa Cha. Sống và chết hai bên song đấu cách diệu kỳ, tướng lãnh sự sống đã chết đi, nhưng vẫn sống mà cai trị. Tôi đã thấy mồ Đức Kitô đang sống và vinh quang của Đấng phục sinh.”

Về mầu nhiệm Phục Sinh, Giáo Lý khai triển chiều sâu đức tin, từ Thánh Truyền đến Thánh Kinh: “Sự Phục Sinh là chân lý chóp đỉnh của đức tin về Chúa Kitô, là điều được tin và sống như chân lý trung tâm trong cộng đoàn Kitô giáo nguyên thủy; được truyền đạt như chân lý nền tảng bởi Truyền Thống, được xác định bởi các tài liệu Tân Ước, được giảng dạy như thành phần chủ yếu của mầu nhiệm Vượt Qua cùng với mầu nhiệm Thánh Giá” (GLHTCG, 638).

“Nếu Đức Kitô đã không chỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng… Nếu Đức Kitô đã không chỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em hãy còn sống trong tội lỗi của anh em” (1Cr, 15: 14-17). Niềm tin duy nhất của Kitô hữu: “Không có Phục Sinh thì không có Kitô Giáo” (GLHTCG, 639).

Hai điều cơ bản trong ý nghĩa thần học của biến cố Phục Sinh, mà thần học trước đây ít lưu ý tới, nay được Huấn Quyền làm nổi bật trong Sách Giáo Lý mới là: chiều kích Ba Ngôi của sự Phục Sinh, giá trị cứu độ của sự Phục Sinh.

Giáo Hội tiếp tục rao giảng

Xác tín của Thánh Tông đồ về mầu nhiệm Phục Sinh được Đức GH. Bênêđíctô XVI diễn giải: Nếu Chúa Giêsu không sống lại thì khổ nạn của Ngài mất hết ý nghĩa cao trọng thiêng liêng. Như thế, Thập giá chỉ là bi kịch khổ hình và Đức Kitô chịu chết đã làm cuộc sống trở thành phi lý. Trái lại, mầu nhiệm Phục Sinh chứng tỏ Người chịu nạn chịu chết “đã được mai táng và ngày thứ ba đã chỗi dậy, đúng như lời Thánh Kinh” (1Cr 15: 4)

Đức Kitô phục sinh là sự kiện căn bản Tông đồ Phaolô dựa vào để tuyên xưng “Người là Đấng đã chịu chết và chứng tỏ lòng yêu thương vô hạn của Thiên Chúa đối với con người; Đấng đã chỗi đậy và sống ở giữa chúng ta.” Như thế, tuyên xưng của Thánh Phaolô minh chứng truyền thống đức tin vào mầu nhiệm phục sinh đã có từ Kinh Thánh về Chúa Giêsu chịu chết, được mai táng và ngày thứ ba đã chỗi dậy, mà Phaolô là người lãnh nhận và truyền lại: “Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng và ngày thứ ba đã chỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh” (1Cr 15: 3-4).

Như vậy: Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh là nền tảng đức tin Kitô giáo vì, nếu không có Phục Sinh thì Phúc Âm không còn là Tin Mừng vì rao giảng và đức tin trở nên vô ích.

Sống mầu nhiệm Phục Sinh là sống giới răn Yêu Thương, nền tảng Kitô Giáo, như Chúa Giêsu dạy bảo: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga, 13: 14).

Trích lược nguồn: ngoiloivn.net


Tình yêu Mai Đệ Liên

Mai – Liên mến Chúa Giêsu

Tâm tư chẳng biết Thầy như thế nào?

Tình yêu mến Chúa dạt dào,

Tình sương đã vội chạy vào viếng thăm

Gót sen rảo bước âm thầm,

Đến nơi mộ Chúa vừa tầm rạng đông

Đá lăn ra!.. Mộ trống không!

Lòng cô hoảng hốt, khôn lường lo âu!

Tim hồng khắc khoải buồn rầu,

Xác Thầy nào biết tìm đâu bây giờ?

Chạy về khẩn báo Phê-rô,

Đồng thời nói với môn đồ Gio-an…

Mai-Liên: người nữ truyền rao:

“Thầy tôi nay đã khải hoàn Phục Sinh”!

Mai-Liên yêu Chúa trọn tình,

Đầu tiên loan báo hành trình “tin vui”.

Tình yêu thăng tiến không lùi

Tâm hồn phấn khởi tới lui loan truyền

Lòng tôi cảm ái Mai-Liên

Thực lòng yêu Chúa trọn niềm không phai.

Bây giờ mãi mãi tương lai,

Noi gương Thánh nữ: Yêu Ngài Giêsu.

Nt. Anna Nguyễn Thị Đào


Ba cơn cám dỗ cuối cùng của Chúa Giêsu trên thập giá

Trước khi thi hành sứ vụ, Chúa Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa và chịu ma quỷ cám dỗ. Cơn cám dỗ đánh vào nhu cầu thiết yếu của con người là cơm bánh, cơn cám dỗ cũng đụng chạm đến khát vọng sâu xa nơi con người là vinh hoa và quyền lực. Còn trước khi kết thúc sứ vụ trên trần thế, trên thập giá, Chúa Giêsu lại trải qua ba cơn cám dỗ. Lần cám dỗ này không đến từ ma quỷ nhưng đến từ những con người đang hiện diện nơi đồi Sọ. Ba cám dỗ đến từ ba thành phần khác nhau nhưng chung một mục đích là kéo người trên thập giá xuống khỏi đó.

Cám dỗ đầu tiên đến từ các thủ lãnh. “Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo: Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn” (Lc 23, 35). Tiếp đến là cám dỗ của lính tráng: “Nếu ông là Vua dân Do thái thì cứu lấy mình đi” (Lc 23, 37). “Cứu lấy mình” nghĩa là hãy xuống khỏi thập giá đi! Cuối cùng là lời cám dỗ của tên gian phi dưới dáng dấp của sự nhục mạ: “Ông không phải là Đấng Kitô sao! Hãy tự cứu mình đi và cứu cả chúng tôi với” (Lc 23, 40). Những cám dỗ trên đánh vào cái tôi của một con người, là muốn thể hiện mình. Chúa Giêsu là người thật và là Thiên Chúa thật, Ngài quyền năng vô biên. Những lời gợi ý trên đều dưới quyền năng của Ngài. Chúa Giêsu có thể chọn xuống khỏi Thập Giá, chắc chắn Ngài sẽ nhận được những lời tung hô còn vang dội hơn lúc người Do thái đón Chúa vào thành thánh và họ sẽ tin vào Ngài: “Chúng ta tin hắn liền” (Mt 27, 42). Nếu Chúa Giêsu chấp nhận thách thức của họ, thì đồi Calvê sẽ không còn là đồi bi thương nhưng thành đồi “chiến thắng”! Nhưng cái giá đổi lấy chiến thắng của nhân loại là sự thất bại trước thánh Ý Cha, nguyên lý duy nhất mà Giêsu đến trần gian.

Chúa Giêsu đã cúi đầu vâng theo thánh ý Cha đến trọn và hoàn tất thánh ý  Cha.

Cám dỗ xuống khỏi Thập Giá là cơn cám dỗ cuối cùng Satan đã nhăm nhe đợi chờ từ thất bại trong hoang địa năm xưa. Satan đã thất bại trước con Thiên Chúa, nhưng Satan vẫn tiếp tục kế sách của mình trước nhân loại. Con người chúng ta rất dễ bị cám dỗ về tiền tài, danh vọng và quyền lực. Làm sao chúng ta biết khước từ chúng và dùng nén bạc Chúa trao cho chúng ta để tôi tôn vinh Chúa và giúp anh chị em được hạnh phúc.

Ngước nhìn lên Giêsu, Đấng quyền năng vô biên đã từ chối cám dỗ thách thức xuống khỏi thập giá để chứng tỏ cho thiên hạ thấy, tôi được mời gọi sống theo gương Giêsu: khiêm nhường, tinh tế, nhạy bén và đầy tình yêu qua việc kết hợp mật thiết với Chúa trong đời sống cầu nguyện. Đứng trước những chọn lựa trong cuộc sống, những điều như đang thách thức tôi thực hiện để cho mọi người thấy bản thân mình có giá trị, có khả năng… Nhưng tôi có một dây cương là Thánh ý Chúa. Xin Chúacho con biết noi gương Chúa Giêsu trên Thập Giá: biết lắng nghe và thực hiện ý Chúa, dẫu cho hành động đó có dẫn chúng ta đến điều thế gian cho là thất bại ê chề thì trong Chúa con  toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến con.

Nguyễn Hường


Hành động yêu thương của bà Vêrônica đã đánh động lòng tôi

Khi suy niệm chặng Đàng Thánh Giá nơi thứ sáu: “Bà Vêrônica lau mặt Chúa”, tôi miên man tưởng tượng được trò chuyện với Chị ấy. Một người phụ nữ xứ Kyrênê, đầy lòng can đảm. Chị đã vượt qua nỗi sợ hãi của tiếng la hét trên đường phố, cùng với những khuôn mặt đầy hung dữ của bọn lính. Chị chạy thật nhanh, đến quỳ bên Giêsu để lau đi những vết máu đang thấm đẫm trên khuôn mặt của Ngài. Tôi thật ngưỡng mộ Chị và đã đến bên chị để nói lời cảm ơn Chị vì đã lau mặt cho Thầy Giêsu của tôi. Chị thật là can đảm, Chị không sợ sao? Động lực nào giúp Chị có thể làm được điều đó? Chị nói: “Tôi cũng sợ những người lính sẽ bắt và đánh đập tôi, nhưng lúc ấy nhìn thấy khuôn mặt đầy thương tích máu của Chúa Giêsu, tôi xót xa không nghĩ gì đến những người xung quanh nữa. Vì quá yêu Ngài, tôi đã vượt qua mọi trở ngại để đến được bên Ngài và lau mặt cho Ngài. Lúc đó ánh mắt Ngài đã chạm vào lòng tôi, tôi thấy mình không còn nhút nhát và sợ hãi nữa, tôi cảm nhận được nỗi buồn và những thao thức của Ngài. Khi lau mặt cho Ngài, khuôn mặt đầy máu và nước mắt của Ngài, đã cho tôi rất nhiều niềm hy vọng.”

Những tượng tượng ấy bỗng dưng như đánh thức tôi, tôi giật mình tỉnh lại và nghĩ về mình, nghĩ đến những tâm tư của Vêrônica. Tôi hiện tại có là một “Vêrônica” của Chúa? Mối tương quan của tôi với Giêsu, tình yêu của tôi dành cho Ngài thế nào?

Ánh mắt Chúa đã chạm vào lòng tôi?

Ánh mắt của Chúa đã đánh động trái tim Vêrônica và biến đổi bà. Còn tôi thì sao? Tôi có thấy được ánh mắt của Chúa và để cho ánh mắt Ngài chạm vào lòng mình? Tôi vừa muốn vừa sợ. Tôi sợ ánh mắt của Ngài chạm vào lòng tôi và bắt tôi phải hành động như bà Vêrônica đã làm cho Chúa và dám đối diện với những quân lính với bộ mặt sát khí, gươm giáo bên mình đang nhục hình Chúa. Tôi thật ích kỷ và hèn hạ. Tôi chưa để cho Ngài biến đổi cuộc đời, chưa mở lòng để Giêsu chạm vào trái tim. Vì thế tôi có tham dự thánh lễ thường xuyên, làm tốt công việc mục vụ, nhưng tôi vẫn xa cách Chúa. Thật nguy hiểm biết bao, tôi vẫn thường tự hào về những gì mình làm được. Sự kiêu căng, tự mãn cùng với những lời khen thưởng đã làm cho tôi sống trong ảo tưởng, ngộ nhận về bản thân mình. Tôi cứ tưởng mình đang có Giêsu bên cạnh nhưng sự thật, lòng tôi có quá nhiều ngổn ngang và chẳng còn chỗ cho Ngài.

Ánh mắt Chúa cho tôi cảm nhận được nỗi buồn và những thao thức của Ngài?

Nhìn vào ánh mắt Chúa, Vêrônica nhận thấy được nỗi buồn và thao thức của Ngài chỉ trong những giây phút ngắn ngủi. Còn tôi, có lẽ rất ít khi tôi nghĩ đến sự đau đớn của Ngài, có chăng đôi khi cảm được chút ít qua những trang Kinh Thánh. Chưa lúc nào tôi thật lòng hỏi Chúa: Chúa có đau lắm không? Chúa có buồn không? Chúa có đang băn khoăn, thổn thức gì không? Chúa muốn tôi làm gì?… Đôi khi tôi vô tình coi Chúa như một vị khách. Tôi mời Ngài vào căn nhà nội tâm của mình nhưng lại hời hợt, thiếu tình yêu để giữ Chúa ở lại. Tôi chỉ chăm chăm nghĩ đến nhu cầu cá nhân của mình mà thôi. Có lẽ, Chúa đã rất buồn vì con người thiếu chân thành của tôi. Nếu trái tim tôi đủ nhạy bén, tình yêu tôi đủ lớn, thì tôi đã trở nên khí cụ đắc lực Chúa dùng để thực hiện những thao thức của Ngài.

Khuôn mặt đầy máu và nước mắt của Chúa cho tôi niềm hy vọng?

Vêrônica nhìn vào khuôn mặt đầy máu và nước mắt của Chúa, đã nghiệm được rất nhiều niềm hy vọng. Làm sao Vêrônica lại cảm nghiệm được niềm hy vọng qua khuôn mặt đau khổ ấy? Trước những khó khăn, thử thách trên đường đời, những khi bị hiểu lầm, tổn thương, đau khổ, tôi có còn đặt niềm hy vọng vào Chúa? Tôi có thấy được giá trị của sự đau khổ? Chúa muốn tôi hy vọng vì được thông phần vào mầu nhiệm vượt qua của Chúa.

Lạy Chúa Giêsu! Giống như Veronica năm xưa, xin ánh mắt Chúa dõi theo cuộc đời con để con được biến đổi. Xin giúp con nhận ra khuôn mặt tình yêu Chúa ngang qua mọi biến cố vui buồn của cuộc sống, để con biết cách thánh hóa và thăng hoa chúng. Xin cho con cảm nghiệm được sự đồng hành, nâng đỡ của Chúa luôn, để con biết chọn Chúa là niềm vui và hạnh phúc của đời con.

Thảo An (Học Viện MTG Tân Lập)


Biểu tượng Thánh Giá

Nhìn lên Thánh Giá bạn thấy gì?

Câu hỏi tưởng như đơn giản nhưng khi đặt Thánh Giá làm tâm điểm đời mình thì khi nhìn lên Thánh Giá bạn thấy gì? Chắc hẳn sẽ có rất nhiều câu trả lời: thấy Chúa Giêsu chịu đóng đinh; thấy tình yêu; sự hy sinh; tự hủy; thấy đau khổ cái chết; sự khiêm hạ; khổ hình; thấy sợ;…giật mình nhìn lại những gì tôi thấy dường như tất cả đó là những gì tôi được học. Đâu mới là ý nghĩa đích thực của biểu tưởng Thánh Giá trong đời tôi?

Chọn Chúa Giêsu chịu đóng đinh là đối tượng duy nhất của lòng trí tôi thì biểu tượng Thánh Giá phải rất quen thuộc và gắn kết với đời mình. Mỗi ngày tham dự Thánh lễ và các giờ kinh tôi luôn hướng về Thánh Giá Chúa. Mỗi lần mặc tu phục tôi cố tình sờ lên Thánh Giá nhỏ trên tu phục. Cầm chuỗi mâm côi với thói quen hôn kính Thánh Giá mỗi ngày. Ngồi vào bàn học Thánh Giá được đặt ngay trước mặt. Khi đi đường bắt gặp hình Thánh Giá nơi các nhà thờ thường thu hút tầm nhìn của tôi. Trong khi giao tiếp với mọi người, thói quen mâm mê Thánh Giá nơi tràng chuỗi đeo tay hay sợi dây chuyền trên cổ. Mỗi tối đi ngủ, Thánh Giá được đặt kề bên gối. Thánh Giá luôn có trong mỗi hoạt động hằng ngày của tôi.

Nhưng hôm nay có người hỏi tôi “nhìn lên Thánh Giá bạn thấy gì?”. Tôi cảm thấy bối rối, tôi thấy gì nơi Thánh Giá? Để trả lời theo như những gì tôi biết, tôi đã được học thì rất dễ dàng. Nhưng khi để trả lời cho chính mình thì tôi lại bối rối. Tôi đã thấy gì khi muốn gắn bó với Thánh Giá Chúa? Tôi đã thấy gì khi đã chọn và hằng ngày tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là đối tượng duy nhất của lòng trí? Tôi thấy gì mà mỗi khi cảm thấy bất an lo lắng và lại muốn ôm lấy cây Thánh Giá? Và nhất là tôi đã thấy gì mỗi  khi hôn kính Thánh Giá, tôi lại cảm thấy thật hạnh phúc, hoan lạc?. Cuối cùng tôi đã thấy gì?

Để tìm câu trả lời chỉ chính mình, tôi phải bắt đầu cùng đi vào cuộc khổ nạn của Chúa. Với 15 sự thương khó, với bài Tin Mừng về cuộc thương khó của Chúa, Thánh Lễ Tiệc Ly, và 14 chặng đàng Thánh Giá. Cuối cùng đỉnh cao là Sự Phục Sinh vinh hiển. Tôi tin rằng mình sẽ tìm ra câu trả lời cho chính mình.

Têrêsa Thanh Xuyên


Suy Niệm Đường Thương Khó

Lòng con yêu Chúa dạt dào

Suy tư Tuần Thánh tràn trào mến thương

Gẫm xưa Con Chúa trên đường

Can-vê Núi Sọ dặm trường khổ đau

Trước Tòa Tổng Trấn năm nào

Giê-su Cứu Chúa chịu bao nhục hình

Đoàn con chiêm ngắm lặng thinh

Chúa mang khổ giá hành trình Tình Yêu

Bước đi loạng choạng ngã xiêu

Thân hình tiều tụy chịu nhiều đòn roi

Lý hình hò hét kéo lôi

Đẩy xô, đấm đá Chúa tôi ngã nhoài

Đoàn con hối lỗi khẩn nài

Chúa thương tha thứ khoan thai hải hà

Mẹ hiền đón gặp xót xa

Ngước trông con Mẹ bao là khổ đau

Mẹ Con bốn mắt nhìn nhau

Tựa như dao sắc đâm thâu cõi lòng

Thân mình Con Chúa thảm thương

Chẳng còn đủ sức trên đường Tình yêu

Toàn thân rướm máu tiêu điều

Lý hình liền bắt phu tiều vác thay

Si-mong vác Giá giúp Thầy

Đỡ nâng tiếp sức công này Thầy ghi

Chập chừng lê bước chân đi

Dung nhan Con Chúa từ bi thảm hình

Có người phụ nữ ngước nhìn

Trao khăn thấm mặt Chúa in vẹn toàn

Lòng người nữ ấy hân hoan

Vui mừng vì được ngập tràn tình yêu

Đường đi khúc khuỷu cheo leo

Chúa đã ngã xuống tiêu điều bao phen

Chúng con phụ nữ mọn hèn

Khóc thương con Chúa ưu phiền đớn đau

Chúa bèn nhắn nhủ mau mau

Về răn con cháu, ngõ hầu ăn năn

Chúa tôi sức cạn, lực tàn

Toàn thân đổ xuống, đôi chân rã rời

Vì yêu dấn bước khôn nguôi

Lý hình hung dữ kéo Người đứng lên

Khóc thương con Chúa nhân hiền

Tấm thân rách nát, trọn niềm hy sinh

Bấy giờ đông đảo lý hình

Lột ngay áo Chúa, máu mình chảy ra

Cho con thoát khỏi quỷ ma

Ngày đêm cám dỗ đường tà tránh ngay

Lính xô Chúa ngã thảm thay

Nằm trên Thập Giá, xác Thầy nát tan

Lý hình kéo giãn tay chân

Lỗ đinh đã sẵn, tăng phần đớn đau

Đoàn con tha thiết ngước đầu

Ngắm nhìn Con Chúa thương đau thảm hình

Này con sám hối tội mình

Khóc thương Chúa chịu cực hình vì con

Giờ đây Chúa phó linh hồn

Thành toàn Thánh ý, ban ơn cứu đời

Môn đồ tháo gỡ xác Người

Trao vào tay mẹ trọn đời yêu thương

Mẹ tôi ẵm Chúa Thiên Đường

Từ ngày thơ bé… trọn đường…Can-vê

Hôm nay tim Mẹ tràn trề

Tin yêu ủ ấp, trọn bề “xin vâng”

Môn đồ táng xác đàng hoàng

Dầu thơm, vải sạch, gọn gàng, chỉn chu

Tạ ơn lòng Chúa nhân từ

Giúp con gẫm niệm suy tư tận tường

Lòng con tràn ngập yêu thương

Trọn đời tận hiến can trường trung trinh.

Nt. Anna Nguyễn Thị Đào


Bữa ăn- bữa tiệc tình yêu

Thứ Năm Tuần Thánh, Phụng vụ Giáo hội mời gọi chúng ta cùng nhau cử hành “bữa tiệc cuối cùng” cùng với Chúa Giêsu. Bữa tiệc Thánh Thể, bữa tiệc của Tình Yêu, bữa tiệc đem lại nguồn sống cho con người. Thấu hiểu và khao khát bữa tiệc sự sống này, khi chúng ta thấy được giá trị của bữa ăn vật chất hằng ngày.

Giá trị của bữa ăn là gì? Bữa ăn là hoạt động căn bản của đời sống con người, không chỉ mang tính cá nhân, nhưng còn hàm chứa chiều kích cộng đoàn, vì bữa ăn là cơ hội tạo lập và xây dựng mối tương quan. Trên thực tế, “bữa ăn là trọng tâm của Thánh Kinh vì chúng là trọng tâm của cuộc sống con người”.[1] Trong Phúc Âm, bữa ăn đóng vai trò quan trọng trong đời sống và sứ vụ của Chúa Giêsu. [2] Ban đầu, bữa ăn và Thánh Thể là một, điều này diễn tả rất rõ trong Bữa Tiệc Ly cho đến thời Giáo Hội sơ khai. Nhưng về sau, chúng bị tách ra thành hai vì những lý do thực tế. Bữa ăn không còn sự thánh thiện nội tại và nguyên thủy của nó, vì đã bị tục hóa…”.[3]

Cha Frank Mihalic,[4] nhà truyền giáo tại Papua New Guinea cho rằng, bữa ăn là một nghi lễ, là một khoảng thời gian hoặc là một dịp đặc biệt. Bữa ăn mang ý nghĩa ở lại với nhau như một gia đình, và nó cũng ngụ ý là gặp gỡ với đối phương hay kẻ thù, đặc biệt với những trưởng tộc, họ ký kết hiệp ước bằng cách ăn thức ăn của đối phương. Chung quy, tất cả việc ăn uống đều mang ý nghĩa chia sẻ. Bạn không thể có một lễ hội, mà không có bữa ăn. Mọi sự kiện lớn thường chào đón và chia tay bằng bữa ăn. Một thương gia muốn bàn chuyện lớn, một người bạn muốn kết nối chuyện bất bình, hoặc người đàn ông muốn thông tin đặc biệt đến người phụ nữ, họ đều gặp gỡ qua bữa ăn… Bữa ăn tạo cầu nối gắn kết đôi bên. Điều này được ẩn chứa thánh thiêng trong bữa ăn Thánh Thể. Bữa ăn mà mỗi người Kitô hữu chúng ta được lãnh nhận qua Bí Tích Thánh Thể mỗi khi tham dự Thánh lễ.

Để hiểu hơn về ý nghĩa của Thánh Thể, đặc biệt trên bình diện cộng đoàn và xã hội, trước hết chúng ta phải đề cao giá trị của bữa ăn thường ngày, bữa ăn gia đình và cộng đoàn. Nếu không, Thánh thể có thể chỉ đơn thuần là chuyện của Chúa Giêsu và tôi. Ngày nay, có rất nhiều gia đình đã không còn cùng ăn chung với nhau nữa. Hoặc có ăn chung thì cũng phần ai nấy ăn, cha mẹ con cái, mỗi người một chiếc điện thoại. Các cộng đoàn hay tập thể cũng vậy, ăn chung nhưng không có sự tương tác. “Tôi lấy phần ăn của tôi và bạn lấy phần ăn của bạn”.

Trong Thư thứ nhất gửi cộng đoàn Côrintô, Thánh Phaolô đã tức giận vì họ đã không cử hành Thánh Thể đúng cách và chân thật (x. 1Cor 11, 20 – 22), vì không có tình yêu, sự chia sẻ và hiệp thông mà chỉ có chia rẽ. Những người giàu đến rất sớm, ăn thức ăn của riêng họ, rồi rời đi mà không để lại chút gì cho những người nghèo. Ở đây Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta đang vi phạm sự hiện diện của Chúa trong Thánh Thể, khi chúng ta sống chủ nghĩa cá nhân, chia rẽ, và coi thường lẫn nhau, đặc biệt đối với người nghèo và người yếu đuối ở giữa chúng ta. Khi chúng ta quây quần bên bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta là anh chị em với những hình thức đói khác nhau. Chia sẻ Thánh Thể là chia sẻ sự hiện diện thật của của Thiên Chúa và của chính chúng ta với nhau. Không chỉ khi chúng ta thờ phượng trong nhà thờ, nhưng khi chúng ta ở bất cứ nơi đâu. Khi chúng ta chia sẻ Thánh Thể với ngưới khác, chúng ta không còn là những người xa lạ, nhưng là anh chị em trong cùng một thân thể của Chúa Kitô. Chúng ta không thể chia sẻ Thánh Thể trong khi chúng ta đang tự tách biệt cuộc sống của chúng ta, và không nỗ lực để xây dựng cộng đoàn giữa chúng ta với những người khác.

Bữa ăn, giá trị không hệ tại ở cái “bụng”, ăn cho “bụng”, mà là chia sẻ sự hiện diện. Trong bàn tiệc, khi chuyển thức ăn cho người khác, cách tượng trưng, tôi đang chuyển trao chính bản thân mình. Khi nhận thức ăn, tôi đang đón nhận sự hiện diện của người khác. Một bữa ăn đúng nghĩa, là bữa ăn mà chúng ta dâng hiến chính mình cho những người xung quanh như những gì Chúa Giêsu đã làm: “Đây là mình Thầy” (Mt 26, 26; Lc 22. 19. 1Cor 11, 24). Điều này nhắc nhở ta mỗi khi cử hành Phụng vụ Thánh Thể, đặc biệt là cùng nhau Tham dự Thánh lễ. Mỗi lần tham dự Thánh lễ là tham dự bàn tiệc Lời Chúa và Thánh Thể, là cùng nhau kín múc nguồn mạch sự sống từ chính Thiên Chúa Tình yêu và chia sẻ nguồn sự sống đó cho nhau.

 Maria Trần


[1] Edward Mazich, “Meals in the Bible”, The Bible Today [“Bữa ăn trong Thánh kinh”, Kinh thánh Hôm nay],vol. 57, no. 6, (November/December 2019): 347.

[2] Cf. Bruce Chilton, A Feast of Meanings: Eucharistic Theologies from Jesus through Johannine Circles [Một ngày lễ ý nghĩa: Thần học Thánh thể qua các vòng tròn Gioan] (New York: E. J. Brill, 1994), 39.

[3] Cf. Thomas O’Loughlin, “The Grammar of Meals and the ‘Bread of Life’”, Scripture in Church [Cấu trúc của Bữa ăn và ‘Bánh của Sự sống’”, Kinh thánh trong Giáo hội], vol. 45, no. 179, (2015): 118.

[4] Cha Frank Mihalic, SVD, A Divine Word Missionary [Một nhà truyền giáo-Dòng Ngôi Lời], tại Papua New Guinea.