Mỗi năm đến ngày của mẹ, tôi thường nghĩ về những tâm tư của mẹ dành cho tôi trong ơn goi thánh hiến. Năm nay cũng thế, ngày của mẹ trùng vào Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, cầu nguyện cho ơn thiên triệu, cảm xúc của tôi lại tràn về. Mẹ tôi từng nói với tôi “gia đình mình nghèo không có gì để dâng cho Chúa, con là của lễ mẹ dâng lên cho Chúa”, lời này vẫn luôn đi theo tôi trên hành trình theo Chúa, nhất là mỗi khi tôi gặp khó khăn hay nản lòng. Tôi phải sống xứng đáng là của lễ dâng cho Chúa.
Nhìn lại hành trình theo Chúa, phải khó khăn lắm tôi mới đi đến quyết định bước theo Chúa trong ơn gọi đời sống Thánh hiến. Với hoàn cảnh khó khăn của gia đình, ba mẹ tôi phải lao nhọc với đàn em nhỏ, tôi đã không dám tự quyết định rời gia đình để bước vào nhà Dòng. Tôi đã từ chối trở lại nhà dòng sau dịp tĩnh tâm. Nhưng lòng tôi vẫn thấy khắc khoải không yên, tôi đã tự nhủ rồi đây chắc chắn mình sẽ phải hối hận cho quyết định này. Nhưng khi nhận được lá thư của chị giáo thanh tuyển, hai điều làm tôi không thể cưỡng lại lời mời gọi này. Trong thư chị nói “mọi thứ Chúa đã chuẩn bị sẵn sàng để đón em” và “em đừng ích kỷ chỉ yêu có một người”. Tôi đã khóc khi đọc đi đọc lại hai câu này. Vậy là tôi quyết định nói với ba mẹ “con đi tu nhé”. Mẹ tôi cũng đã khóc khi đọc lá thư, ba tôi thì trầm ngâm, nhưng tôi biết ba mẹ cũng rất vui khi tôi quyết định đi tu.
Mẹ tôi cố gắng vay mượn để chuẩn bị mọi đồ dùng cá nhân cho tôi. Mẹ đã đưa tôi từ quê lên Sài gòn để vào nhà Dòng. Lúc này, lòng tôi rạo rực muốn nhanh được vào nhà Dòng. Tôi đã vô tư không để ý đến cảm nhận của mẹ, mẹ vẫn tỏ ra bình thản gửi gắm tôi cho chị giáo. Sau này tôi mới biết sau khi tôi đi, mẹ tôi đã khóc thật nhiều, tôi đã tự trách về sự vô tâm của mình. Thời điểm đó, phương tiện liên lạc còn khó khăn, thỉnh thoảng tôi nhận được điện thoại của mẹ gọi cho tôi. Cũng chỉ hỏi thăm qua loa, mẹ không dám nói chuyện nhiều sợ tôi bận học. Khi tôi gọi điện về thì mẹ lo tốn tiền điện thoại nên cũng chỉ nói những gì cần thiết.
Sau một năm được về thăm nhà, tôi mới có dịp tâm sự nhiều với mẹ mình. Tôi hào hứng kể cho mẹ nghe cuộc sống của tôi trong nhà Dòng. Mẹ cũng vui mừng khi thấy tôi thích ứng được nếp sống của đời tu. Và Mẹ không ngừng nhắc tôi chịu khó học hỏi, chịu khó cầu nguyện nhiều. Mẹ cười hiền nói với tôi “nhà mình nghèo, mẹ không có gì dâng cho Chúa hết, con là của lễ mẹ dâng lên cho Chúa, nên cố gắng đừng để Chúa buồn”. Tôi ngỡ ngàng khi nghe những lời này của mẹ, tôi không nghĩ mình lại trở nên quan trọng như vậy “tôi chính là của lễ dâng Chúa” với chút hãnh diện vì mình được chọn là của lễ của mẹ.
Tôi đã suy nghĩ rất nhiều về câu nói này của mẹ tôi. Tôi là của lễ của mẹ, liệu tôi có xứng đáng không? Tôi phải làm gì để xứng đáng là của lễ dâng Chúa? Đời tu còn dài liệu tôi có mãi là của lễ để mẹ dâng cho Chúa không?
Câu nói của mẹ vẫn luôn theo tôi trong suốt hành trình dâng hiến. Những lúc nản lòng, thất vọng về bản thân, hay đi lạc hướng thì tôi lại nghĩ về mẹ, nhớ đến câu nói của mẹ “con là của lễ dâng Chúa”. Tôi lại có nghị lực để vươn lên, để vượt qua, cố gắng, xác định hướng đi cho mình. Tôi luôn tự nhắc nhở bản thân phải sống sao để xứng đáng là của lễ của mẹ dâng lên Chúa.
Têrêsa Thanh Xuyên
Con lên đường theo tiếng gọi Tình Yêu
Bài toán khó, con đi tìm đáp số
Ngài là ẩn của phương trình vô định
Căn bậc hai nối kết con đường tình
Tiếng chuông chiều nghe vọng lại lời kinh
Nến thắp sáng, lòng con luôn thao thức
Giao điểm tình, hội tụ, tim bất biến
Con đi tìm tâm điểm của cuộc đời
Tình Ngài tròn hình đường tròn lượng giác
Con tung hoành như đồ thị hàm sin
Ở bên Ngài đường cong thành một nét
Đời con là tiệm cận sát kề bên
Yêu là chết là triệt tiêu tất cả
Từ bỏ mình theo Thập Giá Giêsu
Ngài chẳng muốn đời con hàm gián đoạn
Sống khép tròn trong cộng trừ nhân chia
Ngài biết con là một miền xác định
Sống trên đời như một số tự nhiên
Và lắm khi đường thẳng lại hóa xiên
Tình con đó biến thiên theo hàm số…
Nhưng tình Chúa mang hình cấp số nhân
Với công bội luôn luôn hơn một
Mãi Ngài ơi phương trình không mẫu mực
Ngài là nghiệm duy nhất của đời con.
M.H. MTG Tân Lập
Con còn nhớ, ngày còn nhỏ mẹ đã từng chỉ về hướng cửa sổ và nói: “Con hãy lớn lên nhanh nào, thế giới bao la, rộng lớn đang chờ con đấy.” Ấy vậy mà thời gian như thoi đưa… thoáng một chút con đã xa rời vòng tay, xa cái nôi yêu thương và ấm áp của mẹ để đi tìm cho mình một bầu trời riêng. Con cứ thế mà bay đi theo tiếng gọi của tuổi trẻ, của đam mê và ước vọng, bỏ lại sau lưng một bóng hình ngày đêm vẫn không ngừng dõi theo hành trình của đời con.
Năm tháng trôi qua, cuộc chạy đua với những đòi hỏi tàn khốc của xã hội đã “bắt” con phải lớn lên. Giờ đây con đã khác xưa nhiều lắm. Con không còn là đứa bé hay khóc nhè như trước nữa. Bởi, giờ con đã biết tự lau nước mắt cho mình. Con đã mạnh mẽ hơn nhiều, đã biết tự chăm sóc bản thân và đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã. Vì con hiểu ra rằng mẹ sẽ không luôn bên cạnh con mãi.
Con giờ đây đã tìm được ước mơ và con đường riêng cho mình. Còn mẹ – mẹ vẫn giống như ngày xưa ấy, vẫn đôi vòng tay giang rộng và ánh mắt yêu thương dõi theo con. Dù rằng mẹ chẳng nói, nhưng con biết ngày mà con tung cánh bay đi để được thỏa niềm vui, hy vọng và khát khao tràn đầy trong tim mình…thì trong sâu thẳm trái tim mẹ lại mang đầy những nỗi buồn và lo âu không kể xiết. Mẹ lo cho con sẽ phải đối mặt với vô vàn khó khăn đang chờ sẵn trước thế giới mênh mông rộng lớn kia. Mẹ biết rằng không ít những cạm bẫy ngọt ngào vẫn đang rình rập, chờ đợi con yêu của mẹ. Mẹ biết đứa con của mẹ vẫn chưa đủ khôn ngoan để nhận ra được những điều đó. Mỗi bước đi của con mẹ đều ‘theo dõi’, là những đêm trằn trọc không ngủ.
Mẹ à! Mẹ biết không, có những khi con thấy thật mệt mỏi, con muốn buông xuôi tất cả để trở về với mẹ. Trở về với giây phút mẹ nắm tay con, dìu bước con đi, trở về với sự ân cần, yêu thương và chăm sóc của mẹ. Con muốn nghe những lời mẹ mắng, những lời mà lúc trước con đã chẳng muốn nghe, vậy mà giờ đây chính những lời nói đó lại là hành trang giúp cho con trưởng thành và vững vàng hơn khi bước về phía trước. Con ước bản thân mình có phép màu để con có thể lấy lại được cho mẹ những gì là tuổi xuân – những tháng ngày đẹp đẽ của cuộc đời mẹ đã dành hết cho con! Giờ đây mẹ đã không còn trẻ như trước nữa, nhưng tình yêu mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. Nghĩ đến những gì mà mẹ đã và đang dành cho con, trong lòng con bỗng trào dâng những cảm xúc thật khó tả. Có cả niềmvui xen lẫn nhớ thương, cả hoài niệm quá khứ và hạnh phúc hiện tại.
Giờ đây, con đã trưởng thành hơn nhiều. Dẫu khó khăn cuộc sống đôi khi làm con vấp ngã, muốn buông xuôi tất cả, nhưng hình ảnh mẹ cười: “cố lên con nhé!”, đã giúp con can đảm đứng dậy và vững vàng bước tiếp trên hành trình đi tìm lý tưởng cuộc đời. Cảm ơn mẹ đã thắp sáng trong con ngọn lửa yêu thương. Ngọn lửa ấy sẽ còn sáng mãi trong suốt cuộc đời con. Mẹ là bến bờ hạnh phúc của con. Thời gian qua đi, có những thứ lấy lại được, có những thứ sẽ mãi mang tên quá khứ, nhưng cũng có những thứ sẽ luôn đọng lại trong trái tim, mang tên “Hạnh Phúc”: Mẹ của con.
Maria Đặng Thị Hoài, Thanh Tuyển viện.
“Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”(Lc 1, 28). Lời chào cũng là lời khen ngợi khi Sứ Thần đến với Mẹ Maria để chuẩn bị cho Đấng Cứu Thế vào đời. Bước vào tháng hoa kính Đức Mẹ, chúng ta cùng tìm hiểu thêm về lời khen ngợi đặc biệt này mà Sứ thần đã dành riêng cho Mẹ Maria.
Lời khen ở đời
Trước hết, chúng ta cùng nhìn lại ý nghĩa tiếng khen, sự ca tụng, tính chất hão huyền của chúng để từ đó rút ra kết luận về việc khen chê ở đời này.
Việc ở đời, người ta ca tụng, khen ngợi nhau, không phải là điều vô ích. Nhưng nó khích lệ cố gắng, bù đắp những hy sinh, bày tỏ mối thiện cảm, làm người ta xích lại gần nhau. Để được như thế thì lời khen ngợi, việc ca tụng phải thành tâm và xứng đáng. Còn về sự hão huyền, tuy có thể có ích như những sự lành khác, lời khen ngợi cũng là một trong những sự hư vô huyền hoặc ở đời này. Cho nên ta không nên để mình bị nó nô dịch. Bởi vì nhiều lúc người ta khen vì giả hình, phỉnh phờ, khen mà thật ra là nhạo, hoặc khen vì người khen có lợi, hay vì khen mà người được khen không đáng khen. Vì thế những bậc Thánh nhân, nhà thông thái thường lấy làm hổ thẹn khi thấy người ta khen ngợi mình. Bởi các Thánh thì thấy rõ mình có nhiều khuyết điểm, nhà thông thái thì biết mình còn dốt nát nhiều mặt. Thậm chí nhiều lúc lẽ ra phải lên án, người ta lại khen tội ác, nết hư. Hơn nữa ngay cả nhiều lúc người được khen không có nhiều khuyết điểm, lời khen ngợi ở đời cũng hão huyền, vì nó mong manh quá. Người khen chóng đổi ý, nay khen mai chê.
Vậy thái độ chúng ta phải có đối với lời khen ở đời là: Khi khen ai, chúng ta phải thẳng thắn chân thành và đúng mức. Thẳng thắn nghĩa là vì chủ ý trung thực. Chân thành là miệng ta, lòng ta cũng phải khen. Đúng mức nghĩa là vừa, không quá lời, không xu nịnh. Ta đừng bao giờ đi tìm tiếng khen, đừng làm cách nọ cách kia để người ta khen. Khi ai khen ta, ta hãy đơn sơ đón nhận, vì đó là dấu chỉ của mỗi thiện cảm. Nhưng chú ý đừng dừng lại nơi đó, tốt nhất là lợi dụng sự tín nhiệm của người ta để mưu ích cho kẻ khác hoặc cho công ích.
Lời khen Sứ Thần dành cho Mẹ
Trên đây là lời khen của người đời, còn lời khen của Sứ Thần thì khác xa biết bao. Lời khen của Sứ Thần dành cho Mẹ được xuất phát tự chính Thiên Chúa khôn ngoan và thông hiểu vô cùng, mà Sứ Thần chỉ là người phát ngôn. Lời Sứ Thần Khen chính là Thiên Chúa khen. Vậy Thiên Chúa khen “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà” (Lc 1, 28). Quý hóa biết bao: Đức Mẹ được đầy ơn Chúa, tức là được đầy Chúa, được Chúa ở cùng. Chính Mẹ cũng ý thức điều đó và thực tế cho đến nay, và đến muôn đời, lời khen đó còn vang vọng mãi.
Phần chúng ta, khi lãnh Bí tích Thánh tẩy, chúng ta cũng diễm phúc có Chúa trong lòng, được Chúa ở cùng. Nhưng chúng ta cần phải khổ công gìn giữ, bảo vệ và phát huy ơn đặc biệt đó. Chúng ta cùng noi gương và mượn lời Sứ Thần Gabrien cùng ca ngợi Mẹ từ nay đến muôn đời.
“Nghe lời đó, Trinh nữ bối rối”. Mẹ đã bối rối không vì thấy Sứ Thần, nhưng Mẹ bối rối vì khiêm tốn. Mẹ cho mình là nhỏ bé hèn mọn, không hề nghĩ đến chuyện một Sứ Thần đến chào, khen ngợi mình như vậy. Sứ Thần cố làm cho Mẹ an tâm. Phần chúng ta, chúng ta chỉ nên bối rối lo lắng một điều là ở sao cho đẹp lòng Chúa. Chúng ta cũng nên biểu lộ lòng ta khen ngợi Mẹ bằng thái độ tôn trọng hết mọi người, đặc biệt là đối với nữ giới.
Lạy Mẹ Maria, bài Tin Mừng đầu tiên nói về Mẹ, đã cho con thấy Mẹ đáng kính, đáng trọng dường bao. Vì chính Thiên Chúa đã ca khen Mẹ. Ngày nay, hằng ngày, chúng con ca khen Mẹ, thì cũng chỉ là lặp lại lời của Thiên Sứ. Mẹ thật xứng đáng với lời khen ngợi của Thiên Thần, nhưng Mẹ càng tỏ ra xứng đáng khi Mẹ bối rối trước lời ca khen. Xin Mẹ giúp chúng con giữ chặt lấy Chúa ở trong linh hồn chúng con và biết sống xứng đáng với ơn trọng đó. Xin giúp chúng con biết thành thật và xây dựng khi phải khen ngợi người khác. Amen
(Trích trong tuyển tập “Tháng Hoa Suy Niệm Về Mẹ Maria Theo Tin Mừng” của Lm P.Lê Duy Lượng)
Têrêsa Thanh Xuyên
“Tháng Năm là tháng mà lòng đạo đức của người Kitô hữu kính dâng cách riêng cho Đức Mẹ. Đây đó là dịp mà người Công Giáo khắp nơi trên thế giới bày tỏ niềm tin và lòng kính mến đối với Đức Mẹ Nữ Vương Thiên đàng. Trong tháng này, các Kitô hữu, ở trong và ngoài thánh đường tận đáy lòng dâng lên Mẹ những lời cầu nguyện và lòng tôn kính mến yêu cách đặc biệt. Trong tháng này, những ơn phúc của Thiên Chúa nhân từ cũng đổ tràn trên chúng ta từ ngai toà rất dồi dào của Đức Mẹ” (Tông huấn về việc tôn kính Đức Mẹ, số 1).
Gốc tích tháng hoa
Tháng Năm là thời điểm chuyển giao của mùa Xuân và mùa Hè. Từ những thế kỷ đầu, tại Rôma, thời điểm này, người ta tôn kính sự thức giấc sau mùa Đông dài của thiên nhiên, bằng những cuộc rước linh đình để tôn kính Hoa – nữ thần của mùa Xuân. Người Công Giáo thời điểm đó đã tôn giáo hóa ý nghĩa này và thánh hóa tập tục đó bằng cách rước kiệu hoa và cầu nguyện cho mùa màng tốt tươi… Ở nhiều nơi, người ta rước những cành lá có nụ, có hoa ở đầu cành, gọi là “Rước xanh”. Những cành hoa, lá, được đưa về nhà thờ trang trí và nhất là nơi ngai tòa Mẹ Maria.
Đến thế kỷ 14, linh mục Henri Suzo dòng Đaminh, đã khởi xướng việc trang hoàng hoa muôn sắc chung quanh tượng Mẹ vào ngày đầu tháng 05.
Thánh Philiphê Nêri, vào ngày 01 tháng 05, đã quy tụ các trẻ em lại quanh bàn thờ Mẹ, và hướng dẫn các em dâng lên Mẹ những bông hoa tươi sắc. Ngài cũng dâng các em lên Mẹ, như những đóa hoa lòng còn trong trắng đơn sơ để Mẹ dìu dắt các em.
Sang thế kỷ thứ 17, việc dâng hoa kính Mẹ được cử hành trong dòng kín Clara. Dần được lan rộng ra bên ngoài nơi các xứ đạo lân cận.
Đầu thế kỷ 19, việc tôn kính Mẹ được lan rộng nhiều nơi. Các bài giảng về Đức Mẹ của các nhà giảng thuyết đã làm lan rộng lòng tôn sùng Đức Mẹ, đặc biệt tại nước Pháp và một số nước lân cận.
Các Đức Giáo Hoàng có lòng sùng kính Đức Maria cách đặc biệt: Đức Giáo Hoàng Piô VII, đã cổ võ việc sùng kính Mẹ vào tháng Năm. Đức Piô IX đã ban ơn toàn xá cho những ai tham dự vào việc đạo đức này. Đến thời Đức Piô XII, trong Thông điệp “Đấng Trung gian Thiên Chúa”, đã khuyến khích việc tôn kính Đức Mẹ trong tháng Năm là việc đạo đức được thêm vào nghi thức Phụng vụ, được Giáo hội công nhận và cổ võ.
Đầu thế kỷ 20, Tông huấn về việc tôn kính Đức Mẹ được Đức Phaolô VI ban hành, trong đó có đoạn viết: “Tháng Năm là tháng mà lòng đạo đức của giáo dân đã kính dâng cách riêng cho Đức Mẹ. Đó là dịp để bày tỏ niềm tin và lòng kính mến mà người Công Giáo khắp nơi trên thế giới có đối với Đức Mẹ Nữ Vương Thiên đàng. Trong tháng này, các kitô hữu, cả ở trong thánh đường cũng như nơi tư gia, dâng lên Mẹ từ những tấm lòng của họ những lời cầu nguyện và tôn kính sốt sắng và mến yêu cách đặc biệt. Trong tháng này, những ơn phúc của Thiên Chúa nhân từ cũng đổ tràn trên chúng ta từ ngai toà rất dồi dào của Đức Mẹ” (Tông huấn về việc tôn kính Đức Mẹ, số 1 của Đức Phaolô VI).
Ý nghĩa của tháng hoa
Mẹ Maria được ví như Người Nữ vẹn toàn. Sắc đẹp và mùi thơm của hoa, tượng trưng cho các nhân đức nơi Mẹ. Đồng thời, các màu sắc của hoa tượng trưng cho Mẹ – là Mẹ muôn loài khi đón nhận vai trò làm Mẹ Thiên Chúa.
Đức Mẹ còn được ví như Hòm Bia của Thiên Chúa, mà hoa lại là vật được dùng để trang trí cho Hòm Bia Giao Ước thời Cựu Ước. Như thế, Đức Mẹ luôn ở bên Thiên Chúa. Và hoa lại ở bên Mẹ…!
Nhờ ơn Chúa, Mẹ đã trở nên đóa hoa kiệt tác như: ơn vô nhiễm nguyên tội, ơn đồng trinh trọn đời, Mẹ Thiên Chúa, Hồn xác lên trời và Mẹ như “hoa hường mầu nhiệm vậy”.
Ý nghĩa của việc dâng hoa kính Mẹ
Các tín hữu Công giáo đã mựơn chính những cảnh sắc thiên nhiên, những đoá hoa tươi đẹp để như gói ghém trọn tâm tình của mình dâng lên Đức Mẹ. Người ta đi cắt các cành cây xanh tươi đang nở hoa, đưa về trang hoàng trước tượng Đức Mẹ. Hoa tươi, biểu tượng cho lòng tôn sùng biết ơn của chúng ta dâng về Mẹ, biểu tượng cho sự đổi mới cuộc đời của mỗi người chúng ta sau những tháng ngày “ngủ vùi” trong “mùa đông” của những lỗi lầm sa ngã, của sự xa lìa ơn thánh Chúa. Hoa thiên nhiên đồng nội cuộn lẫn với hoa lòng tỏa hương thơm và khoe sắc trên bàn thờ kính Mẹ.
Tại sao lại dâng hoa mà không dâng những thứ khác? Vì hoa là thứ đẹp nhất trong mọi loài Chúa dựng nên, Đức Giêsu đã ví sự lộng lẫy, tươi đẹp của hoa còn hơn cả vua Salomon: “Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng, chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Sa-lô-môn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy” (Mt 6, 28-29). Màu sắc của hoa tượng trưng cho các nhân đức của Mẹ.
Hoa huệ trắng biểu trưng sự trong sạch khiết trinh nơi Mẹ;
Hoa hồng diễn tả lòng mến nồng nàn mà Mẹ dành cho Chúa;
Hoa lan toát lên sự trung thành, mạnh mẽ và can đảm nơi Mẹ;
Hoa sen tượng trưng phó thác, đại lượng và cung kính nơi Mẹ;
Hoa màu tím tượng trưng cho sự khiêm tốn:
…
Lòng sùng kính Đức Mẹ đem lại hy vọng được sự sống đời đời.
Nhà thần học Hans Urs von Balthasar đã viết: “Sự tôn sùng Mẹ Maria là con đường chắc chắn nhất và ngắn nhất dẫn đưa chúng ta đến gần Chúa Giêsu cách cụ thể.” Và thánh Phaolô cũng đã minh định: “Vai trò làm mẹ của Ðức Maria đối với loài người không hề làm lu mờ hay làm giảm thiểu vai trò trung gian duy nhất của Ðức Kitô (x. 1Tm 2, 5-6) Ðức Phaolô VI trong Tông Thư Marialis cultus về lòng tôn sùng Mẹ Maria, đã quả quyết: “Việc tôn sùng Ðức Maria là thành phần cơ bản của Kitô Giáo”.
Công Đồng Vaticanô II đã khẳng định: “Trong nhiệm cục ân sủng, kể từ khi Mẹ tin tưởng ưng thuận trong ngày truyền tin, sự ưng thuận mà Mẹ đã kiên quyết giữ trọn cho đến bên Thập Giá. Đức Maria tiếp tục thiên chức làm Mẹ cho tới lúc vĩnh viễn hoàn tất việc cứu độ mọi người được tuyển chọn. Thực vậy, sau khi về trời, vai trò của Ngài trong việc cứu độ không chấm dứt, nhưng Ngài vẫn tiếp tục liên lỉ chuyển cầu để đem lại cho chúng ta những ân huệ giúp chúng ta được cứu độ đời đời … Vì thế, trong Hội Thánh, Đức Trinh Nữ được kêu cầu qua các tước hiệu: Trạng Sư, vị Bảo Trợ, Đấng Phù Hộ và Đấng Trung Gian” (LG 62).
Các kinh nguyện về Mẹ Maria trong Phụng Vụ của Giáo Hội cũng như những lời kinh của các tín hữu qua mọi thời đại đều nói lên lòng sùng kính Mẹ Thiên Chúa. Lòng sùng kính Đức Mẹ đã ăn sâu vào đời sống của Giáo Hội, đến nỗi không thể nói đến Giáo Hội Công Giáo mà lại bỏ qua sự tôn sùng Mẹ Maria. Hình ảnh Mẹ Maria xuất hiện ngay từ buổi đầu của Giáo Hội: lúc 12 Thánh Tông Ðồ, 12 cột trụ của Giáo Hội, cùng quây quần bên Mẹ Maria để hiệp thông trong kinh nguyện chờ đón Chúa Thánh Thần trong Ngày Lễ Hiện Xuống đầu tiên (x. Cv 1,12-14). Trong các kinh nguyện thì trước hết phải kể đến ca vịnh Magnificat và Kinh Kính Mừng. Magnificat là kinh nguyện được hầu hết các Kitô hữu đón nhận và sốt sắng đọc hay hát để tung hô Mẹ Maria. Còn Kinh Kính Mừng là một lời chào đẹp nhất, vắn tắt nhất và có nội dung phong phú đầy đủ nhất về cuộc đời thánh đức của Ðức Trinh Nữ Maria trong địa vị là Mẹ Chúa Cứu Thế. Người Kitô hữu hằng ngày, hằng giờ đọc Kinh Kính Mừng để cùng Mẹ suy gẫm các mầu nhiệm của cuộc đời Chúa Giêsu.
Ca tụng Mẹ Maria chính là sự tôn thờ Thiên Chúa Ba Ngôi. Tôn thờ Chúa Cha, Ðấng đã kén chọn Mẹ trong muôn ngàn người nữ để thực hiện nơi Mẹ bao điều trọng đại (Lc 1,49). Ca tụng và tôn thờ Chúa Con, Ðấng Mẹ đã cưu mang trong cung lòng trinh khiết của Mẹ và nhờ Mẹ đã trở nên Ðấng Cứu Chuộc muôn dân. Và sau cùng, làm vinh danh Chúa Thánh Thần, Ðấng đã yêu thương che chở Mẹ và đã tô điểm cung lòng Mẹ bằng các ơn thánh, nên ngai toà cho Ngôi Hai ngự trị.
Công Đồng Vaticanô II nhắc nhở: “Lòng tôn sùng chân chính không hệ tại ở những tình cảm chóng qua và vô bổ, cũng không hệ tại ở sự dễ tin phù phiếm, nhưng phát sinh từ một đức tin chân thật. Đức tin dẫn chúng ta đến chỗ nhìn nhận địa vị cao cả của Mẹ Thiên Chúa, và thúc đẩy chúng ta lấy tình con thảo yêu mến và noi gương các nhân đức của Mẹ chúng ta” (LG 67).
Dựa trên các Giáo huấn của Giáo Hội, chúng ta có quyền tin tưởng sẽ được cứu độ khi tôn sùng Đức Mẹ cách chính đáng và hợp với ý định và trong chương trình của Thiên Chúa. Thánh Alphonsô kêu gọi các tội nhân đến với Mẹ bằng lời tha thiết: “Bạn hãy yêu mến Mẹ Maria! Hãy cầu xin Mẹ, thì bạn sẽ được cứu rỗi”; “Chúng ta được rỗi là do Mẹ cầu bầu”; “Tôi tớ Mẹ không ai có thể hư mất đời đời”.
Đối với người Việt Nam lòng tôn kính Đức Mẹ bắt nguồn từ truyền thống tốt đẹp của dân tộc qua hình ảnh người mẹ trong đời thường. Mẹ là dòng suối ngọt ngào, mẹ là bóng mát dịu dàng, mẹ là nguồn thương yêu bất tận,… Lòng sùng kính Đức Mẹ của chúng ta nặng tình mẫu tử. Qua hình ảnh người mẹ trần gian, thôi thúc chúng ta hướng về Mẹ trên trời. Trong cuộc sống, những lúc gặp khó khăn hay hoạn nạn, nhiều người chúng ta đã cầu xin Mẹ bằng những bài hát quen thuộc như: “Lạy Mẹ là ngôi sao sáng, soi lối cho con lúc vượt biển… “; “Mẹ ơi, đoái thương xem nước Việt Nam…”; “Lạy Mẹ, xin yên ủi chúng con luôn luôn…”, rồi những kinh Kính Mừng, tràng chuỗi Mân Côi được đọc lên râm ran trong các thánh đường, nơi các gia đình, và trong mọi biến cố vui buồn, thành công hay thất bại… Các cuộc rước linh đình, nhiều đền đài được mọc lên, nhiều nhà thờ được mang tước hiệu của Mẹ. Những thói quen đó đã đem lại cho Giáo Hội Việt Nam một tinh thần sốt sắng, giàu đức tin, lòng mến và trung kiên giữ đạo dù trải qua trăm nghìn thử thách gian truân.
Mong sao, những việc tôn sùng Đức Mẹ của chúng ta sẽ dẫn đến việc noi gương Mẹ để sống cho đẹp lòng Thiên Chúa như Mẹ đã sống. Dâng lên Mẹ những đóa hoa tươi, hoa lòng thánh thiện là những việc lành, những nghĩa cử bác ái đối với nhau, không chỉ là “nhịp cầu” dẫn đưa chúng ta đến với Mẹ với Chúa, mà còn nối kết chúng ta lại với nhau bằng tình yêu đích thực, bằng sự liên đới huynh đệ.
Tổng hợp từ nhiều nguồn
Hiểu một cách bình dân, “đối thoại liên tôn” là gặp gỡ, trao đổi giữa những người không cùng tôn giáo, để tuy không cùng niềm tin, nhưng thêm hiểu biết, tin tưởng, cảm thông… Nhờ đó, tránh được những xung khắc, thậm chí tránh nguy cơ mà nhiều người thường nói đến, đó là: chiến tranh tôn giáo.
Vì thế khi nói “đối thoại liên tôn”, người ta dễ liên tưởng đến các cuộc gặp gỡ giữa những vị lãnh đạo cao cấp của các tôn giáo. Điều đó tuy đúng, nhưng còn thiếu một khoảng trống rất lớn. Thật vậy, các vị lãnh đạo cấp cao của các tôn giáo, ít có điều kiện gặp gỡ để trao đổi với nhau, nhưng tín đồ của các tôn giáo lại thường xuyên gặp nhau. Họ học chung trường, làm chung một xí nghiệp, một văn phòng. Họ gặp nhau tại phố chợ, trên cùng chuyến xe… Họ có hàng vạn câu chuyện để trao đổi với nhau, trong đó có cả vấn đề tôn giáo.
…
Tại một ngôi thánh đường vừa được cung hiến. Quá trưa, khi khách dự lễ đã về hết, Cha xứ ra nhà thờ để cầu nguyện, và cũng để khép các cửa nhà thờ. Ngài thấy một em thiếu nhi trong giáo xứ ngồi cạnh một người bạn, em vừa nói, vừa chỉ các ảnh tượng và các biểu tượng trong thánh đường.
Hơi khó chịu, vị linh mục nhắc: “Sao chúng con lại vào nhà thờ nói chuyện?” Có chút sợ, nhưng em thiếu nhi Công Giáo bình tĩnh trả lời: “Thưa Cha, bạn này bên lương, bạn hay thắc mắc về đạo. Hôm nay, đi học sớm, con dẫn bạn này vào đây để cắt nghĩa cho bạn hiểu ạ.”
…
Ô, hay thiệt! Hai em thiếu nhi đang “đối thoại liên tôn” đấy!
Chúng ta không còn sống kiểu “lũy tre làng” như xưa nữa. Sự phát triển của cuộc sống ngày nay giúp chúng ta mở rộng các mối tương quan. Sự hiểu biết lẫn nhau trong mọi lĩnh vực, cả lĩnh vực tôn giáo, sẽ giúp chúng ta hiểu, cảm thông, chia sẻ, nâng đỡ và quý mến nhau nhiều hơn. Nhưng về sự đối thoại, nhất là đối thoại tôn giáo thật không dễ, cần đôi bên có tấm lòng chân thành, một con tim biết lắng nghe và cùng chung nhịp yêu thương.
Cẩm nang cho thượng Hội đồng về tính hiệp hành, khi nói về “đối thoại trong Giáo Hội và xã hội” đã viết: “Đối thoại đòi hỏi kiên trì và nhẫn nại, nhưng cũng giúp hiểu biết lẫn nhau.” Cẩm nang còn đặt những câu hỏi gợi ý: “Chúng ta có những kinh nghiệm nào trong việc đối thoại và hợp tác với tín đồ của các tôn giáo khác và với những người không gia nhập tôn giáo nào?” Câu hỏi này gợi cho chúng ta những câu hỏi khác: Đã có lần nào tôi chân thành trao đổi về niềm tin của mình với người không cùng tôn giáo? Và có khi nào tôi thấy việc trao đổi về niềm tin của mình với những anh chị em không cùng tôn giáo là việc cần thiết?
Nếu cuộc đối thoại và hợp tác của chúng ta với anh chị em không cùng tôn giáo diễn ra thường xuyên và tốt đẹp, chắc chắn tình xóm làng, nghĩa bạn bè, đồng nghiệp sẽ thêm vị mến thương và tình tương thân tương ái sẽ được nhân lên rất nhiều.
Một Linh Mục gửi đến: info@mtgtanlap.vn
Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta bắt gặp biết bao cái nhìn. Có những cái nhìn để chào nhau, để làm quen, đem lại niềm vui, sự động viên và khích lệ nhưng cũng có những cái nhìn tức giận hay đem lại sự lo lắng, sợ hãi như để báo trước một điều gì đó sắp và sẽ xảy ra.
Trong các trang Tin Mừng, ta thấy cái nhìn của Chúa Giêsu. Ngài dành cho Mátthêu cái nhìn trìu mến khi ông đang ngồi thu thuế kèm theo lời mời gọi: “Anh hãy theo tôi” (x. Mt 9, 9); Trong cuộc thương khó, cái nhìn của Chúa Giêsu đã giúp Phêrô nhận ra sự phản bội phũ phàng của mình và giúp ông quay trở về với Ngài (x. Lc 22, 61).
Với tôi, Chúa cũng đã rất nhiều lần nhìn tôi. Ngài đã nhìn tôi khi tôi còn là một cô học sinh đang tung tăng thơ ngây trong tà áo trắng vui đùa với chúng bạn, và Ngài đã ươm mầm trong tôi ước muốn đi theo Ngài. Ngài đã nhìn tôi khi tôi bắt đầu có những rung động đầu đời của tuổi mới lớn, thích yêu và được yêu, và Ngài đã gìn giữ tôi cho riêng Ngài. Ngài đã nhìn tôi khi tôi đang đứng ở bờ vực của sự thất vọng và chòng chành, bấp bênh trong việc định hướng cuộc đời tôi, và Ngài hướng tôi ngước nhìn lên Ngài trên Thánh Giá. Ngài đã nhìn tôi khi tôi đang đi lạc xa Ngài, khi tôi yếu đuối và tội lỗi với lời yêu thương “hãy trở về với Ta, hỡi con yêu”. Ngài đã nhìn tôi vào một buổi trưa oi bức, bụi bặm và ồn ào của quán xá khi tôi đang tất bật với mớ công việc mưu sinh và Ngài gọi tôi:“Hãy theo Thầy”(Ga 21, 19).
Ngài đã nhìn tôi khi tôi chập chững bước vào đời tu với bao bỡ ngỡ và lo lắng, khi tôi muốn chạy trốn khỏi Ngài và Ngài khích lệ tôi “hãy ở lại trong Tình yêu của Ngài”(Ga 15, 9-17). Ngài đã nhìn tôi khi tôi được khoác lên mình chiếc lúp trắng tinh khôi của đời dâng hiến và chiếc áo dòng màu đen của sự hy sinh và từ bỏ. Chúa đã nhìn tôi là “phận nữ tì hèn mọn” (Lc 1, 48b) khi mời tôi cam kết với Ngài bằng lời khấn dòng để tôi được thuộc về Ngài là “đối tượng duy nhất của lòng trí tôi”(Đc Lambert). Chúa đã nhìn tôi như thế đó. Ngài đã nhìn tôi khi vui, khi buồn, khi tôi gặp thử thách bằng cái nhìn âu yếm và đầy yêu thương.
Hôm nay, Ngài vẫn đang tiếp tục nhìn tôi và mời gọi tôi hãy tin tưởng phó thác cuộc đời tôi trong bàn tay Ngài, trong sự kết hiệp với Ngài trên Thánh giá. Tôi rất thích những lời trích trong Mảnh Trời riêng của nhà văn Tigon Doãn: “Cuộc đời là những chuyến đi đầy thú vị và ý nghĩa. Hãy lên đường, chiêm niệm và cảm nghiệm bạn sẽ thấy Chúa ở khắp mọi nơi và hạnh phúc chẳng là điều xa xôi diệu vợi. Hạnh phúc chỉ đơn giản là tất cả những gì ta thấy và cảm nghiệm được tình Chúa yêu ta. Vậy thôi”. (Mảnh trời riêng – Tigon Doãn).
Hoài Hoàng
Trong niềm vui những ngày mừng Chúa Phục Sinh, đặc biệt nhân ngày mừng lễ Lòng Chúa Thương Xót, ngày 23.04. 2022, Hội dòng Mến Thánh Giá Tân Lập đã gửi trao một chút “lòng thương xót” đến những người có hoàn cảnh khó khăn.



Ban Bác Ái Xã Hội của Hội dòng, qua sự hỗ trợ của một vị ân nhân, đã quy tụ hơn 200 người có hoàn cảnh khó khăn từ rất nhiều nơi đến Sài Gòn sinh sống. Hầu hết mỗi người đều có một hoàn cảnh khác nhau. Họ là những người đau bệnh, khuyết tật đến khám chữa bệnh tại Phòng Chẩn Trị Y Học Cổ Truyền Phước Lập Đường của Hội dòng; những người già neo đơn, không còn con cháu và người thân chăm sóc; những người nghèo không có công ăn việc làm lên Sài Gòn bán vé số; những người vô gia cư, không cửa không nhà, tạm bợ đâu đó kiếm sống qua ngày; những nạn nhân của đại dịch Covid-19, mất đi người thân không còn chỗ dựa tinh thần và vật chất…




Trước khi gởi trao những món quà yêu thương đến các vị khách, các Sơ trong Hội dòng đã chào đón họ một vũ khúc, cử điệu vui tươi để tạo niềm vui và nối kết tình thân với họ.


Tuy mỗi phần quà trị giá 300 ngàn đồng không đủ để làm no họ, nhưng việc sẻ chia yêu thương và trao tặng cho nhau những món quà nhỏ luôn đem lại niềm vui cho người trao tặng cũng như người được đón nhận. Việc làm này càng thêm ý nghĩa trong những ngày mừng lễ Chúa Phục Sinh và lễ Lòng Chúa Thương Xót. Chúa đã chiến thắng sự chết, mang lại niềm vui và ơn cứu độ đến cho mọi người. Hy vọng những phần quà này như là món quà Phục Sinh của Chúa sưởi ấm cõi lòng những người đang phải vật lộn với muôn vàn khó khăn của cuộc sống và khơi lên những nhịp cầu nhân ái cho những ai muốn trao ban “lòng thương xót”.







Xin Thiên Chúa là Đấng giàu lòng Thương xót thấu hiểu mọi nhu cầu và sự đau khổ của phận người, tiếp tục tuôn đổ lòng nhân ái nơi các nhà hảo tâm để ngọn lửa tình yêu luôn được thắp sáng, đặc biệt những nơi còn nhiều u sầu và thiếu vắng niềm tin.




Ban Truyền Thông MTGTL
“Lòng thương xót là lời mặc khải mầu nhiệm Ba Ngôi Chí Thánh. Lòng thương xót là hành động chung cuộc và tối thượng, qua đó Thiên Chúa đến với chúng ta. Lòng thương xót là luật căn bản được đặt vào trái tim của những ai biết dùng đôi mắt chân thành để nhìn vào người anh em gặp thấy trên đường đời. Lòng thương xót là con đường nối kết Thiên Chúa với con người, hướng lòng chúng ta về niềm hy vọng sẽ được yêu thương luôn mãi, bất chấp tội lỗi của chúng ta.” (MV, 2), Đức Thánh Cha đã viết như thế trong tông sắc “Misericordiae Vultus – Dung mạo Lòng Thương Xót”. Lòng thương xót của Thiên Chúa được Mạc khải trong Kinh Thánh,[1] được biểu lộ nơi cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu, đặc biệt nơi sứ vụ, và mầu nhiệm vượt qua của Ngài. Thiên Chúa là Đấng nhân từ (x. Lc 6,36), Chúa Giêsu – Con Một Người là hiện thân của Lòng thương xót. Chúng ta, những người bước theo Ngài, cũng phải phản ánh lòng thương xót ấy trong thế giới này. Đức Thánh Cha Phanxicô tuyên bố: đó là một sứ mạng của Giáo hội[2] trong việc phúc âm hóa.
Trong thế giới hôm nay, người ta cần đến chứng nhân hơn những lời dạy, những hành động cụ thể là cách thiết thực nhất động chạm đến trái tim người xung quanh. Tình thương và lòng trắc ẩn là ngôn ngữ và diễn tả chân thực nhất sự hiện diện của Thiên Chúa giữa lòng thế giới – một thế giới đã và đang đối diện với những thực tại xót xa trên bình diện cá nhân cũng như “cộng đoàn nhân loại”. Chúng ta, là những “sứ giả tin mừng” được chính Thiên Chúa sai đi, là cánh tay nối dài của Chúa Giêsu Kitô, “hãy biết thương xót như Thiên Chúa”. Một lòng thương xót vô giới hạn. Lòng thương xót vượt qua tội lỗi và sự lạc hướng của con người. Người giận đó, trách phạt đó, nhưng vượt lên trên sự trừng phạt, là lòng xót thương. “Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, chậm giận, giàu nhân nghĩa (x. Tv 86, 15; 103,8; 145,8; Gn 4,2; Nkm 1,5; Ge 2,13). Thiên Chúa luôn nhìn chúng ta với trái tim nhân hậu, Ngài cũng muốn chúng ta dùng thái độ đó để đối xử với nhau.
Tin mừng Ga 20, 19 – 31, Chúa Giêsu phục sinh xuất hiện hai lần với các Tông đồ, cả hai lần đều diễn tả tình thương, lòng nhân từ và tha thứ, không một lời xét đoán hay nhắc lại lỗi lầm của các ông. Câu đầu tiên Chúa Giêsu nói trong cả hai lần hiện ra là “bình an cho anh em” (Ga 20, 19.21. 26). Trong lần hiện ra lần thứ nhất, Ngài trao cho các môn đệ lời chúc bình an hai lần (Ga 20,19. 21). Trong khi các ông trước đó đều đã bỏ rơi Ngài lúc khốn khó nhất, khi Ngài đi vào cuộc khổ nạn và tử nạn. Phêrô thì chối Ngài ba lần (Mt 26, 31-35; Ga 18, 15-17), và Giuda It-ca-ri-ốt thì phản bội Ngài (x. Mt 26, 14-16; Lc 22, 1-6). Sau khi Ngài trao cho các môn đệ lời chúc bình an lần thứ hai, Chúa Giêsu đưa cho họ xem tay và cạnh sườn Ngài (x.Ga 20, 20.27). Đó không chỉ là dấu hiệu chứng tỏ rằng Ngài đã sống lại, nhưng còn là một dấu chỉ của lòng thương xót của Thiên Chúa cho chúng ta. Những vết thương mà Chúa Giêsu mang trên mình và cái chết của Ngài vì chúng ta là tất cả dấu chỉ của sự thánh thiện, lòng từ bi và tình yêu cứu độ của Thiên Chúa Cha đối với nhân loại.
Thay vì bỏ rơi và phản bội của các môn đệ, Chúa Giêsu, trong sự tha thứ và tình yêu nhân từ, Ngài vẫn nhìn họ xứng đáng được trao ban nhiệm vụ và tiếp tục sứ mạng của Ngài: loan truyền Nước Thiên Chúa, được đón nhận sức mạnh và sự thánh hóa từ Chúa Thánh Thần, tham dự vào sứ mạng của Thiên Chúa, và được trao ban quyền để tha thứ tội lỗi cho người khác (x. 20, 22-23). Chúng ta chỉ có thể hiểu những gì Chúa Giêsu sẵn sàng làm cho các môn đệ của Ngài bất chấp tất cả những gì họ đã làm với cái nhìn của lòng thương xót của thiên Chúa trong và qua Ngài.
Lòng thương xót của Thiên Chúa được tỏ lộ cho tất cả mọi người cách chung và cho từng cá nhân cách riêng. Lòng nhân từ ấy được mở ra cho tất cả mọi người. Cách đặc biệt, trao ban cho những người lầm lạc, thấp kém, và nhỏ bé. Khi thánh Tôma vắng mặt trong lần thứ nhất hiện ra của Ngài với các môn đệ (x. Ga 20, 24), Chúa Giêsu cần trở lại lần nữa để kiếm tìm Tôma (x. Ga 20, 24). Lần thứ hai hiện ra với các mộn đệ. Tôma cũng đang hiện diện (Ga 20, 26-29). Sau khi trao các môn đệ cùng một lời chúc bình an (x. Ga 20, 26), Chúa Giêsu đưa các vết thương của Ngài cho Tôma xem. Tôma sau khi gặp gỡ Chúa Phục sinh cách cá vị, ông diễn tả đức tin mãnh liệt vào Thiên Chúa: “Lạy Chúa của con, Lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20, 28).
Chúa Giêsu đến thế gian để mang lòng thương xót và Ngài là lòng thương xót của Cha. Sự phục sinh của Ngài là niềm vui và bình an. Ngài đến và trao ban cho các môn đệ quyền tha thứ và cầm giữ. Ngài cũng ban quyền ấy cho mỗi người chúng ta. Tha thứ hay cầm giữ, đó lại là tự do lựa chọn của con người. Chúa đã sống lại, chúng ta cũng được sống lại với Người với một quả tim mới và một thần khí mới. Quả tim biết yêu thương, chạnh lòng và tha thứ. Một tình thần hợp nhất và chia sẻ, tinh thần của sự cảm thông, cho đi và chữa lành. Chúa Phục sinh đang mời gọi mỗi người chúng ta mang tâm tư và tiếp nối sứ mạng của Ngài nơi môi trường chúng ta đang hiện diện. Khởi đi từ cái nhìn của lòng thương cảm và thấu hiểu, để đi tới hành động, cùng đồng hành – chia sẻ, và cúi xuống, vươn ra để chạm vào. Cái chạm của sự chữa lành và xoa dịu những vết thương tâm linh cũng như thể lý.
Maria Trần
[2] Pope Francis,Tông sắc “Dung Mạo Lòng Thương Xót”, Misericordiae Vultus, no.12.
Cha Giuse Tạ Duy Tuyền từng viết: thương xót là sự biểu lộ lòng xót xa đồng cảm với những hoàn cảnh khó khăn. Lòng thương xót của Thiên Chúa còn là sự khao khát muốn làm vơi đi những nỗi đau khổ đó. Hay nói cách khác lòng thương xót của Chúa là sự biểu lộ tình thương trước mọi hoàn cảnh khó khăn, đau thương, bất hạnh… của con người.
Theo khái niệm trên thì mỗi một chúng ta đều mang trong mình sự thương xót trước những hoàn cảnh đau khổ của tha nhân. Chúng ta thường thốt lên “Chúa ơi tội họ quá” hay thấy đau lòng trước những biến cố đau thương nào đó đang diễn ra như: hậu quả nghiêm trọng của chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai, mâu thuẫn trong gia đình, tai nạn thương tâm…
Lòng thương xót là một ân ban, là hoa trái mà Thiên Chúa đã gieo nơi lòng mỗi người. Chúng ta luôn được thúc đẩy thể hiện lòng thương xót, mong muốn làm vơi đi những đau khổ mà tha nhân đang phải gánh chịu. Chứng nhân cụ thể như Mẹ Têrêsa Calcutta, Mẹ đã dành cả một đời để xoa dịu nỗi đau của những con người nghèo hèn khốn khổ nhất. Còn có nhiều linh mục, tu sĩ dấn thân phục vụ nơi những đất nước còn lạc hậu, nghèo khổ, cũng chỉ với ước mong có thể giúp vơi đi bớt những nỗi khốn khổ của những con người nơi đó.
Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật II Phục Sinh, (Gioan 20,19-31) cho thấy lòng thương xót của Thiên Chúa cách cụ thể và rõ ràng nơi Tông Đồ Tôma. Chúa đã “chiều” ông đến nỗi hiện ra một lần nữa, là chủ ý để “dành riêng” cho ông. Vì ông đã xác quyết “Nếu tôi không thấy tôi không tin” (x. Ga 20, 25). Chính vì thế khi hiện ra với các Tông đồ lần sau, Đức Giêsu đã nhắm thẳng vào Tôma, Ngài bảo Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy” (Ga 20, 27). Đứng trước tình huống sợ hãi này Tôma đã không thể: xỏ tay vào vết đinh, thọc tay vào cạnh sườn…, mà ngay lập tức, ông đã quỳ mọp xuống và tuyên xưng niềm tin của mình “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !” (Ga 20, 28). Lúc này Tôma đã cảm nghiệm được tình thương cách đặc biệt Chúa Giêsu dành cho mình. Điều quan trọng hơn, ông được khôi phục và gia tăng đức tin vào Chúa của mình.
Biến cố “thương xót” nơi Tôma cho thấy, Thiên Chúa đã trực tiếp gieo vào từng tâm hồn con người lòng thương xót của Ngài, nhất là với những tâm hồn yếu kém, cứng cỏi… Để sau khi cảm nhận được tình thương Thiên Chúa, họ chuyển tải tình thương ấy qua chính kinh nghiệm và lòng tin của họ.
Như thế, đối với chúng ta, muốn thực thi lòng thương xót của mình trước hết phải nhận ra chính mình đã và luôn được Thiên Chúa xót thương. Nhận ra bản thân mình vốn nghèo hèn, đầy yếu đuối, lỗi phạm. Thế nhưng Chúa vẫn đón nhận, xót thương, để cho chúng ta được biết Chúa, được trở thành con cái của Ngài, và nhất là Ngài đã sẵn sàng chịu chết và Phục Sinh vì chúng ta. Thiên Chúa vẫn tiếp tục thương xót chúng ta trên hành trình dương thế này. Ngài vẫn tiếp tục đồng hành và thể hiện lòng thương xót của Ngài với chúng ta trong mọi hoàn cảnh của đời sống. Có điều chúng ta có nhận ra lòng thương xót của Ngài hay không?.
Còn chúng ta, một khi thể hiện lòng thương xót thì chúng ta sẽ nhận ra nhu cầu của anh chị em mình để chia sẻ, cảm thông, nâng đỡ, xoa dịu hay chữa lành họ. Chúng ta biết rằng tất cả mọi người đều cần đến lòng thương xót của nhau. Vì thế hãy cùng nhau xây dựng nền văn minh tình thương, cùng làm vơi đi mọi nỗi gian nan thử thách trong cuộc sống. Cùng nhau thực thi lòng thương xót như chính chúng ta đã được xót thương.
Lớp Lòng Chúa Thương Xót